Thứ Hai, 23 tháng 10, 2017

MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÒNG, CHỐNG HOẠT  ĐỘNG LI KHAI, TỰ TRỊ TRONG DÂN TỘC THIỂU SỐ KHU VỰC BIÊN GIỚI TÂY BẮC HIỆN NAY
                                                                   Thanh Thiên
 
  Biên giới phía Bắc nước ta có đường biên giới dài 1.125 km, trong đó có 515 km tiếp giáp với Trung Quốc và 610 km tiếp giáp với Lào, bao gồm các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La (gồm 96 xã, phường biên giới của 19 huyện, thành phố biên giới). Khu vực BGPB có 23 dân tộc anh em sinh sống, trong đó chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số (DTTS) như: Mông, Dao, Hà Nhì, Dáy, La Hủ… Đây là địa bàn có địa hình phức tạp, hiểm trở nhưng có vị trí chiến lược rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại của đất nước; đồng thời đây cũng là địa bàn trọng điểm phức tạp về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội (ANCT, TTATXH).
  Đặc điểm nổi bật của đồng bào khu vực BGTB là trình độ dân trí thấp, tỉ lệ hộ nghèo và mù chữ cao, tín ngưỡng, tôn giáo đa dạng và phức tạp, mê tín dị đoan và các hủ tục lạc hậu còn nặng nề… Lợi dụng vấn đề trên, các thế lực phản động, thù địch đã tuyên truyền, kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan, li khai, tự trị dân tộc hòng phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc; đe đọa đến chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Đặc biệt, chúng tập trung kích động, lôi kéo đồng bào DTTS “đòi quyền lợi dân tộc”, “khôi phục vị thế, sức mạnh dân tộc”… Điển hình như vụ việc xảy ra tại bản Huổi Khon, xã Nậm Kè, huyện Mường Nhé (Điện Biên); chúng đã kích động, lôi kéo, lừa gạt, ép buộc người Mông từ các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Thanh Hóa, Đắc Nông, Đắc Lắk…về thành lập “Nhà nước Mông”, “Vương quốc Mông tự trị”. Thủ đoạn hoạt động của chúng rất tinh vi, xảo quyệt như: Kích động tư tưởng li khai, tự trị, hướng tư tưởng của đồng bào Mông đi tìm Tổ quốc riêng cho mình; chỉ đạo một số đối tượng trong đạo Tin Lành ở các địa bàn tuyển chọn người Mông gửi ra nước ngoài huấn luyện quân sự, xây dựng nguồn cán bộ lâu dài cho “Nhà nước Mông”, v.v..
Trước tình hình trên, Đảng và Nhà Nước ta đã triển khai đồng bộ các biện pháp công tác nghiệp vụ, kịp thời phát hiện, xử lý các vấn đề phức tạp nảy sinh, không để bị động bất ngờ, kiểm soát tốt tình hình, kiềm chế các đối tượng không để hình thành các tổ chức phản động ở KVBG. Đặc biệt, các lực lượng vũ trang trên địa bàn đã làm tốt công tác tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương và thực hiện tốt công tác phối hợp với các lực lượng chức năng có liên quan kiên quyết đấu tranh làm thất bại các hoạt động li khai, tự trị trong DTTS; giữ vững ANCT, TTATXH, chủ quyền lãnh thổ ở KVBG các tỉnh Tây Bắc.
Tuy nhiên, quá trình đấu tranh phòng, chống hoạt động li khai, tự trị trong DTTS của BĐBP ở KVBG các tỉnh Tây Bắc vẫn còn một số hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới trong tình hình mới. Đó là việc nắm tình hình, diễn biến tư tưởng của đồng bào DTTS, đặc biệt là hoạt động li khai, tự trị dân tộc có lúc, có nơi chưa kịp thời; việc tham mưu, phối kết hợp với các lực lượng tham gia củng cố hệ thống chính trị cơ sở, phát triển kinh tế - xã hội ở các xã, phường, thị trấn biên giới có nội dung chưa thực sự đồng bộ, chất lượng, hiệu quả có mặt còn hạn chế...
  Trong thời gian tới, các thế lực thù địch tiếp tục lợi dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, “quyền tự quyết dân tộc” để chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta. Âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của chúng là vừa chia rẽ, kích động, khơi dậy tư tưởng hẹp hòi, khoét sâu vào hiềm khích dân tộc để phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc; kích động tư tưởng li khai, tự trị dân tộc, dụ dỗ, mua chuộc, lôi kéo đồng bào DTTS chống lại chính quyền, gây mất ANCT, TTATXH; móc nối gây dựng và tiếp sức cho các phần tử xấu, nhen nhóm các tổ chức phản động trong các DTTS... Để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống hoạt động li khai, tự trị; giảm thiểu tác động tiêu cực, từng bước hạn chế tư tưởng li khai, tự trị trong một bộ phận đồng bào DTTS ở KVBG Tây Bắc, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau:
  Một là, làm tốt công tác nắm tình hình, kịp thời phát hiện, ngăn chặn sớm hoạt động li khai, tự trị trong đồng bào DTTS ở KVB.
Đây là yêu cầu quan trọng mang tính tiên quyết, là cơ sở để đề ra chủ trương, đối sách đấu tranh đúng đắn với hoạt động li khai, tự trị trong đồng bào DTTS. Theo đó, Cấp ủy, chính quyền địa phương và các lực lượng vũ trang đóng quân trên địa bàn, cần tăng cường bám nắm địa bàn, vận dụng linh hoạt các biện pháp công tác để nắm toàn diện tình hình cả nội và ngoại biên, tình hình của đồng bào dân tộc Mông, nhất là nắm về âm mưu, hoạt động của số cầm đầu các nhóm phản động ở KVBG; kiểm soát chặt chẽ biên giới không để chúng trốn ra nước ngoài. Kết hợp chặt chẽ và sử dụng đồng bộ các biện pháp công tác nghiệp vụ ngăn chặn không cho số đối tượng này tác động, lôi kéo đồng bào các dân tộc, tôn giáo, nhất là đồng bào DTTS đưa người ra nước ngoài huấn luyện cho các tổ chức phản động hoặc đưa về nước hoạt động.
  Hai là, tăng cường tuyên truyền cho đồng bào hiểu về các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước liên quan đến các dân tộc thiểu số; cảnh giác với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, bọn phản động hoạt động tuyên truyền tư tưởng li khai, tự trị dân tộc ở KVBG.
  Cấp ủy, chính quyền địa phương và các lực lực lượng vũ trang các tỉnh Tây Bắc cần thường xuyên tổ chức những hình thức tuyên truyền cho phù hợp với vùng DTTS ở KVBG; qua đó giáo dục, nâng cao nhận thức cho đồng bào các dân tộc ở KVBG về lịch sử, truyền thống đoàn kết của các dân tộc Việt Nam trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; giải thích những vấn đề nhạy cảm, chưa được đồng bào nhận thức chuẩn xác về mối quan hệ dân tộc trong lịch sử; vạch trần các luận điệu xuyên tạc, sai trái, phản động về vấn đề dân tộc.
Công tác tyên truyền, vận động cần được tiến hành thường xuyên để đồng bào nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, chủ động phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh với các thế lực thù địch, bọn phản động hoạt động tuyên truyền tư tưởng li khai, tự trị và kích động, lôi kéo đồng bào DTTS tham gia các hoạt động chống chính quyền, đòi li khai, tự trị dân tộc.
Ba là, tích cực bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ chuyên trách làm công tác vận động quần chúng trong đấu tranh phòng, chống hoạt động li khai, tự trị trong DTTS ở KVBG.
  Cấp ủy, chính quyền các tỉnh Tây Bắc cần lựa chọn những cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có phẩm chất đạo đức tốt; có phẩm chất, năng lực vận động quần chúng (VĐQC), có ý thức tổ chức kỷ luật; biết hòa đồng, cảm phục, gần gũi, tôn trọng quần chúng nhân dân; có đức tính “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, miệng nói, tay làm, chân đi”. Trong đó, đặc biệt coi trọng công tác quy hoạch, lựa chọn, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ làm công tác VĐQC là người địa phương, người DTTS. Tập trung bồi dưỡng cho lực lượng này nắm vững yêu cầu, nhiệm vụ công tác VĐQC ở vùng DTTS. Chú trọng bồi dưỡng tác phong tiếp xúc với đồng bào, kỹ năng tiến hành công tác VĐQC; thực hiện tốt phương châm “nghe được đồng bào nói, nói cho đồng bào hiểu và làm cho đồng bào tin”. Trên cơ sở đó nắm vững địa bàn, nắm vững tình hình ngăn ngừa sự phát sinh mâu thuẫn, xung đột dân tộc dẫn đến li khai, tự trị dân tộc.
  Bốn là, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở KVBG vững mạnh, thực sự là hạt nhân của khối đại đoàn kết dân tộc.
  Hệ thống chính trị là chỗ dựa đáng tin cậy của quần chúng nhân dân các dân tộc, là nơi tổ chức thực hiện thắng lợi mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ở địa phương nói chung và nhiệm vụ bảo vệ biên giới nói riêng. Thời gian tới, các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể các tỉnh Tây Bắc cần thường xuyên đổi mới, trong đó, tập trung đổi mới phương pháp lãnh đạo, quản lý, làm cho cơ quan, đơn vị mình VMTD, tạo niềm tin tưởng của nhân dân với Đảng, chính quyền. Cần      xây dựng phong cách làm việc của hệ thống chính trị theo hướng “gần dân, trọng dân, nghe dân và hiểu dân”; mọi cán bộ, đảng viên là người thân, là bạn, là chỗ dựa trong mọi điều kiện, hoàn cảnh của đồng bào DTTS. Coi trọng việc tạo nguồn, đào tạo, bố trí sử dụng phù hợp để phát huy tối đa khả năng của đội ngũ cán bộ là người DTTS trong hệ thống chính trị nhằm xây dựng lực lượng chính trị cốt cán vững mạnh, đủ khả năng vận động, tập hợp quần chúng người DTTS đi theo cách mạng.
Năm là, tiếp tục thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ở KVBG
  Thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ở KVBG sẽ góp phần tạo ra sự bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau giữa các dân tộc; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các DTTS. Cần phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị trong việc thực hiện tốt các kế hoạch, chương trình, dự án phát triển nhanh, bền vững, toàn diện đời sống kinh tế - xã hội của đồng bào các DTTS ở KVBG, nhất là ở những địa bàn còn nhiều khó khăn. Tập trung giải quyết nhu cầu bức xúc của đồng bào DTTS như: Đất sản xuất và đất ở ổn định, vốn, kỹ thuật sản xuất, việc làm, chăm sóc y tế. Tích cực xóa đói và giảm nhanh số hộ nghèo người DTTS, thu hẹp khoảng cách về mức sống của người DTTS so với mặt bằng chung cả nước. Tạo điều kiện kiện thuận lợi để đồng bào DTTS tham gia sâu rộng hơn vào đời sống chính trị - xã hội; thể hiện tâm tư, nguyện vọng của mình về các vấn đề của xã hội thông qua đại diện là số trí thức, cán bộ đảng viên người DTTS trong hệ thống chính trị các cấp ở KVBG với số lượng tương xứng tỉ lệ dân số các DTTS ở từng địa bàn cụ thể. Hướng dẫn đồng bào DTTS sinh hoạt tôn giáo đúng pháp luật./.


PHẢI CHĂNG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG KHÔNG THỂ KẾT DUYÊN ĐƯỢC VỚI ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA?
                                                                                          Khánh Anh
Có quan điểm cho rằng: “ Làm gì có cái gọi là kinh tế thị trường định hướng XHCN”, “kinh tế thị trường là gắn với chủ nghĩa tư bản”, “là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản”, đưa thêm đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa” vào là một sự gán ghép khiên cưỡng, tiến tới bài xích, phủ nhận vấn đề này. Để chứng minh cho luận điệu này, “họ” đã đưa ra quan điểm: “kinh tế thị trường và CNXH là hai ý tưởng hoàn toàn mâu thuẫn nhau; kinh tế tư nhân lẫn kinh tế nhà nước gọi chung là kinh tế quốc dân không có kinh tế nào là chủ đạo cả…Nói đến CNXH làm cho cả dân tộc lạnh xương sống”.
Xin thưa với “họ” rằng: kinh tế thị trường và CNXH hoàn toàn không mâu thuẫn nhau. Kinh tế thị trường không phải là cái riêng có của chủ nghĩa tư bản, mà là thành tựu chung của nhân loại, nó được tồn tại và phát triển qua các phương thức sản xuất khác nhau. Dưới chủ nghĩa tư bản, kinh tế thị trường thì lợi nhuận được coi là mục tiêu và động lực của sự phát triển. Vì vậy, CNTB lợi dụng tối đa ưu thế của kinh tế thị trường để bóc lột sức lao động của giai cấp công nhân phục vụ cho mục đích của giai cấp tư sản, chiếm đoạt lợi nhuận càng nhiều càng tốt. Vai trò thống soái của chủ nghĩa tư bản trong cơn lốc tìm kiếm thị trường và toàn cầu hóa kinh tế đã đe dọa lợi ích đến tất cả các quốc gia dân tộc trên thế giới. Tự cho mình quyền tự do chiếm đoạt, tự do xâm lược, tự do bóc lột, tự do khủng bố, tự do phân biệt chủng tộc…Bất chấp tất cả miễn sao chiếm đoạt được nhiều lợi nhuận. Đối với chúng ta, kinh tế thị trường được coi là phương tiện, cách thức để xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH gắn chặt với việc không ngừng nâng cao đời sống toàn diện của nhân dân, tuyệt nhiên không phải là mục đích giành lấy lợi nhuận tối đa bằng mọi giá như CNTB đã làm. Vậy thì kinh tế thị trường và CNXH làm gì có mâu thuẫn.
Quan điểm của “họ” cho rằng: “kinh tế tư nhân lẫn kinh tế nhà nước gọi chung là kinh tế quốc dân không có kinh tế nào là chủ đạo cả”. Thực chất của quan điểm này chính là tìm mọi cách để phủ nhận vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước, tuyệt đối hóa kinh tế tư nhân, xóa bỏ định hướng XHCN, tiến tới xóa bỏ CNXH ở nước ta. Xung quanh vấn đề này xin trả lời với “họ” rằng: nếu không có kinh tế Nhà nước đủ mạnh thì lấy gì để hỗ trợ cho các thành phần kinh tế khác vươn lên đứng vững trong cạnh tranh với các đối tác nước ngoài để xây dựng một nền kinh tế phát triển thống nhất trong đa dạng, hội nhập toàn cầu hiện nay ở nước ta. Những người có quan điểm trên cũng nên nhớ rằng: ngay cả các nước tư bản chủ nghĩa, kinh tế Nhà nước luôn đóng vai trò là “bà đỡ”, “người cứu tử” đối với các doanh nghiệp khi họ rơi vào tình trạng khó khăn, có nguy cơ sụp đổ, làm chao đảo nền kinh tế quốc dân như: (Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc…) trong những năm gần đây, đã không dưới hai lần Nhà nước của các quốc gia này phải dùng sức mạnh kinh tế của mình để cứu lấy hàng trăm công ty trên các lĩnh vực kinh tế quan trọng của họ lâm vào cảnh phá sản, đổ vỡ trước “cơn bão tài chính” và các vụ thăng trầm của thị trường chứng khoán thế giới những năm qua. Đối với Việt Nam, trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nhà nước luôn luôn khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế cùng phát triển, hợp tác cạnh tranh bình đẳng. Xin hỏi “Họ”: hãy đánh giá một cách vô tư xem đã có mấy doanh nghiệp tư nhân trong nước hay nước ngoài đầu tư vào phát triển các ngành kinh tế thuộc kết cấu hạ tầng quan trọng như các nhà máy thủy điện ở vùng sâu, vùng xa. Khi hàng loạt “cơn sốt ác tính” của thị trường bất động sản, xi măng, sắt thép… đồng loạt bùng phát, tưởng như không vượt qua, có nguy cơ tàn phá kinh tế đất nước, trước nguy cơ đó đã có mấy ông kinh tế tư nhân ra tay cứu trợ, nếu không phải là kinh tế Nhà nước gánh vác thành công trọng trách đầy cam go đó. Trong việc giải quyết những vấn đề xã hội ở tầm vĩ mô, có ông kinh tế tư nhân nào sẵn sàng vô tư nhảy vào làm những việc cứu hộ, cứu nạn, khắc phục sự tàn phá khốc liệt của thiên tai không? Trên thực tế, việc đó chỉ có thể được giải quyết tốt khi kinh tế Nhà nước chủ động ra tay giải quyết. Vậy thì tại sao “vai trò chủ đạo lại không thuộc về kinh tế Nhà nước”
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay của đất nước, kinh tế Nhà nước xứng đáng là chỗ dựa cho Nhà nước của dân, do dân, vì dân trong điều tiết, phát triển nền kinh tế, ngày càng chủ động trong lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế, vì lợi ích của toàn dân, bảo đảm sự hài hòa, thống nhất giữa phát triển kinh tế với giải quyết những vấn đề xã hội, thực hiện dân chủ, công bằng xã hội (đây là một tiêu chí then chốt của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN) mà chúng ta đã và đang thực hiện. Kể từ khi Việt Nam bước vào thực hiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, làm thay đổi khá rõ tình hình đất nước. Kinh tế ra khỏi tình trạng khủng hoảng, hoạt động ngày càng năng động và có hiệu quả. Của cải xã hội ngày càng nhiều, hàng hóa ngày càng phong phú. Đời sống nhân dân từng bước được cải thiện. Đất nước không những giữ vững được sự ổn định trước những chấn động kinh tế lớn trên thế giới mà còn có bước phát triển đi lên. Kinh tế tăng trưởng khá, chính trị – xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được tăng cường, văn hóa, xã hội được phát triển. Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên. Vị thế uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Điều này minh chứng rõ ràng, KTTT không chỉ thích ứng với định hướng XHCN mà nó còn kết duyên “ngọt ngào”  với định hướng XHCN. Thế mà tại sao “họ” lại cho rằng: “nói đến CNXH làm cho cả dân tộc lạnh xương sống”. Thật là sự hồ đồ hết chỗ nói.

Để thay cho lời kết tác giả xin mượn lời của bài báo đăng trên Mạng tin châu Âu (Europe Presse Image) ngày 26-9-2017 như sau: Diện mạo đất nước Việt Nam thay đổi gần như hoàn toàn, kinh tế tăng trưởng mạnh; công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển, nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa được đẩy nhanh; mức sống của người dân được nâng lên rõ rệt, đưa Việt Nam ra khỏi nhóm các nước kém phát triển, trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình. Về đối ngoại, Việt Nam vừa ký thỏa thuận tiến tới thành lập khu vực mậu dịch thương mại tự do với Liên minh châu Âu (EU), giúp thúc đẩy quan hệ thương mại với các nền kinh tế năng động của châu Á, giữa EU và Đông Nam Á và có thể trở thành hình mẫu để EU thiết lập các thỏa thuận tương tự với các nền kinh tế đang phát triển khác. Tác giả đánh giá cao sự ổn định chính trị ở Việt Nam, coi đây là điều cần thiết và không thể thiếu để phát triển kinh tế – xã hội. Theo nghiên cứu của bộ phận nghiên cứu đầu tư trực tiếp nước ngoài của báo Financial Times, nhờ môi trường chính trị ổn định, Việt Nam đứng đầu trong các nền kinh tế nước ngoài về thu hút vốn nước ngoài cho các dự án mới. Công ty Kiểm toán Price Waterhouse Coopers nhận định, từ nay đến năm 2050, Việt Nam sẽ nằm trong nhóm các quốc gia có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới./.

Thứ Năm, 19 tháng 10, 2017

NHẬN THỨC ĐÚNG VỀ BẢO VỆ CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
TRONG TÌNH HÌNH MỚI
                                                       Trần Trí Nam
Kể từ khi học thuyết Mác xác lập trong đời sống xã hội từ những năm 40 của thế kỉ XIX, đặc biệt sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công năm 1917 đến nay, các thế lực thù địch không lúc nào ngừng công kích, chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa xã hội (CNXH). Vậy tại sao những kẻ thù của cách mạng lại lo sợ, và luôn tìm mọi cách để phản bác chủ nghĩa Mác - Lênin và CNXH một cách liên tục như vậy?
Chúng ta biết rằng, học thuyết Mác - Lênin với bản chất cách mạng và khoa học đã trang bị cho giai cấp vô sản, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới vũ khí tư tưởng, lý luận sắc bén để đấu tranh vì mục tiêu cao cả của nhân loại là xóa bỏ chế độ thống trị của giai cấp tư sản, tiến lên xây dựng một xã hội mới không còn áp bức, bóc lột, bất công. Đó là xã hội xã hội chủ nghĩa (XHCN) và cộng sản chủ nghĩa. Vì vậy, giai cấp tư sản không bao giờ đi chung con đường mà C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I. Lênin đã vạch ra cho nhân loại.
Từ sau sự kiện “động đất chính trị” ở Liên Xô và các nước Đông Âu những năm 90 của thế kỷ XX, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đã nhân cơ hội đó ra sức tuyên truyền đề cao xã hội tư bản, nhất là giá trị của văn minh tư sản. Họ lớn tiếng hô hào và vận động quần chúng nhân dân rời bỏ CNXH để đi theo con đường tư bản chủ nghĩa (TBCN). Và để đạt mục đích đó, họ ra sức xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin và CNXH. Đáng nói hơn, họ còn vạch ra lộ trình và thời gian cụ thể làm sụp đổ chế độ XHCN ở những nước còn lại, trong đó có Việt Nam. Trong hàng ngũ những người cộng sản và nhân dân ở các nước XHCN còn lại, đã có một số người bị dao động, thậm chí “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trước những luận điệu tuyên truyền hết sức tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch. Từ đó, nảy sinh t­ư tưởng sùng bái lối sống và giá trị văn minh tư sản, đánh mất niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin và CNXH. Tình hình này, đặt ra cho những người cộng sản chân chính phải có nhận thức đúng và cần bình tĩnh, tăng cường đoàn kết thống nhất ý chí và hành động, để bảo vệ các giá trị đích thực của chủ nghĩa Mác - Lênin và toàn bộ thành quả của cuộc cách mạng XHCN.
Trong nhiều thập kỷ qua, các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội, xét lại liên tục công kích, chống phá quyết liệt học thuyết Mác - Lênin cả về lý luận và thực tiễn. Trên phương diện lý luận, chúng tìm mọi cách bác bỏ từng luận điểm riêng lẻ, từng bộ phận rồi đi đến phủ nhận toàn bộ học thuyết Mác - Lênin. Trên phương diện thực tiễn, chúng mượn cớ sự sụp đổ của mô hình CNXH ở các nước Đông Âu và Liên Xô (trước đây), để suy xét và rao giảng một cách võ đoán rằng, “mô hình đổ thì học thuyết cũng đổ theo”; từ đó tung ra không ít luận điệu để cổ xúy cho cái gọi là nội dung thời đại ngày nay đã thay đổi? Thế nhưng thực tiễn lịch sử cách mạng thế giới đã chứng minh, những tư tưởng, lý luận mà các nhà kinh điển mác-xít nêu ra được dựa trên cơ sở nghiên cứu và phát hiện những quy luật khách quan trong tự nhiên, xã hội, tư duy và những thành tựu khoa học-kỹ thuật của nhân loại. Trong đó, nổi bật là học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của C.Mác, đã luận giải một cách khoa học về quy luật vận động, phát triển tự nhiên của xã hội loài người là một quá trình từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện và trải qua các giai đoạn khác nhau. Sự thay thế nhau của các hình thái kinh tế-xã hội, từ thấp lên cao trong lịch sử đã chứng minh rất thuyết phục tính cách mạng và khoa học của học thuyết hình thái kinh tế-xã hội của C.Mác. Chính sự phát hiện chính xác quy luật vận động khách quan của lịch sử loài người mà học thuyết hình thái kinh tế-xã hội luôn tràn đầy sức sống, trở thành linh hồn của chủ nghĩa duy vật lịch sử. Vì vậy, không thể mượn cớ sự sụp đổ mô hình CNXH cụ thể ở một quốc gia nào đó để bài bác và phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin và CNXH.
Trên thực tế, khi nghiên cứu về sự tan rã của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga (Liên Xô trước đây) và các nước Đông Âu, nhiều chính khách và nhà khoa học đã phân tích sâu sắc và thuyết phục, nêu ra một trong những nguyên nhân chủ quan của sự sụp đổ, nó chính là việc các Đảng Cộng sản ở những nước đó đã vận dụng học thuyết Mác - Lênin một cách cứng nhắc, giáo điều, duy ý chí, nên mắc hết sai lầm này đến sai lầm khác, đã đẩy đất nước tới bờ vực thẳm. Sự sụp đổ chế độ XHCN ở một số nước trong mấy thập kỷ trước đây, thực chất chỉ là sự sụp đổ của mô hình cụ thể, nó là sự sụp đổ mang tính tất yếu khách quan, chứ không làm xoay chuyển được nội dung, tính chất thời đại ngày nay, và càng không phải là sự thất bại của chủ nghĩa Mác – Lênin. Từ khái quát quy luật vận động, phát triển của lịch sử, Đảng ta luôn nhất quán khẳng định: Thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới, được mở đầu bằng Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại năm 1917. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định tính tất yếu: “Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”[1].
Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, nhiều nước TBCN đã và đang tự điều chỉnh để thích nghi, cũng như tận dụng thành quả của cách mạng khoa học, công nghệ và còn tiếp tục phát triển. Bên cạnh đó, CNXH vẫn đang tạm thời gặp những khó khăn nhất định để tìm ra con đường phát triển. Nếu chỉ xét về bề ngoài, có không ít người ngộ nhận bản chất CNTB đã thay đổi, không còn bóc lột nữa và đã dân chủ, nhân đạo hơn. Nhưng, như C.Mác đã phân tích, dù CNTB có thay hình đổi dạng, xét đến cùng thì quá trình tồn tại của CNTB vẫn dựa trên sự bóc lột giá trị thặng dư. Cho dù khoa học và công nghệ trên thế giới ngày càng phát triển, giá trị thặng dư được che đậy rất tinh vi trong quá trình khai thác các thiết bị máy móc và những quan hệ kinh tế-xã hội rất phức tạp, đa chiều, làm cho không ít người lầm tưởng quy luật giá trị thặng dư đã biến mất. Song, C.Mác đã vạch rõ, suy cho cùng chỉ có lao động sống mới tạo ra lợi nhuận là giá trị thặng dư. Vì vậy, học thuyết về giá trị thặng dư của C.Mác vẫn luôn là “hòn đá tảng”, là cơ sở để phân tích, xem xét bản chất kinh tế-chính trị của CNTB hiện đại.
Mặt khác, các thế lực thù địch vẫn không ngớt công kích, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, đề cao CNTB hiện đại, ra sức tán dương các quan điểm ngoài mác-xít. Nhưng hãy đặt câu hỏi, trong lịch sử nhân loại từ trước đến nay, có học thuyết nào mang tính nhân văn, nhân đạo cao cả và có sức cổ vũ, thuyết phục, tập hợp được hàng trăm dân tộc, cùng hàng tỷ người trên thế giới đứng lên đấu tranh để xóa bỏ mọi áp bức, bóc lột, lệ thuộc, như học thuyết Mác - Lênin? Thử hỏi, nếu không có Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, không có CNXH được xây dựng và phát triển trên đất nước Nga Xô viết, thì làm sao nhân loại có thể tiêu diệt được chủ nghĩa phát xít trong Chiến tranh thế giới thứ hai (Vết đen lớn nhất trong lịch sử nhân loại) để bảo vệ cho hòa bình của thế giới? Và, nếu không có một hệ thống XHCN hùng mạnh trong nhiều thập kỷ trong thế kỷ XX trước đây, với Liên Xô làm trụ cột đối trọng với CNTB, thì nhân loại sẽ ra sao khi mà những tên đế quốc hiếu chiến tự cho mình quyền định đoạt số phận các dân tộc nhỏ yếu, kém phát triển? Khi ấy, chắc chắn nhân loại sẽ còn phải chứng kiến không ít cuộc chiến tranh thảm khốc, mang tính hủy diệt do các thế lực hiếu chiến quốc tế gây ra.
Trong những thập kỷ tới của thế kỷ XXI, nhất là nhân loại tiếp tục bước vào cuộc cách mạng khoa học công nghệ 4.0, và CNXH được dự báo sẽ tiếp tục gặp nhiều khó khăn trên con đường phát triển. Song, cần phải khẳng định rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn có ảnh hưởng rất sâu sắc và mạnh mẽ trong đời sống của nhân loại tiến bộ; sẽ vẫn luôn đứng vững trong cuộc đấu tranh của những người cộng sản và nhân dân lao động, kể cả ở những nước mà chế độ XHCN đã tan rã...
Đối với cách mạng Việt Nam, sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin đã thể hiện trong toàn bộ tiến trình vận động và phát triển của cách mạng, từ khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930 đến nay. Chủ tịch Hồ Chí Minh, người có công truyền bá và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể của cách mạng nước ta, Người đã cùng Đảng ta luôn giữ vững sự trung thành, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin trở thành kim chỉ nam dẫn dắt cách mạng Việt Nam đi tới thắng lợi. Thực tiễn của cách mạng Việt Nam trong gần 90 năm qua, đặc biệt những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới đất nước hơn 30 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, càng củng cố vững chắc niềm tin, niềm tự hào của mỗi đảng viên, cán bộ và nhân dân vào chủ nghĩa Mác - Lênin, vào con đường đi lên CNXH mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Vậy nên, mọi luận điệu rêu rao, tuyên truyền, công kích, phá hoại, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin xét đến cùng chỉ là sự che đậy và áp đặt hệ tư tưởng tư sản trong đời sống xã hội. Do vậy, trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận đầy cam go và phức tạp hiện nay, những người cộng sản và nhân loại tiến bộ cần nhận thức đúng về bản chất không hề thay đổi của CNTB. Từ đó, nâng cao nhận thức để bảo vệ nền tảng tư tưởng của mình là học thuyết Mác – Lênin. Và ở Việt Nam, hơn lúc nào hết, chúng ta cần có nhận thức sâu sắc về vấn đề này, trên cơ sở đó, cần chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Cần làm cho nền tảng tư tưởng đó ngày càng được củng cố vững chắc và giữ vị trí thống trị trong đời sống xã hội. Có như vậy, chúng ta mới có thể vững bước trên con đường mà Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định và được nhân dân ta ủng hộ, đi theo./.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.69.

Thứ Năm, 5 tháng 10, 2017

PHẢI CHĂNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY CẦN
“KHẮC PHỤC SAI LẦM VỀ XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI”?
Bạch Long
Hiện nay, các thế lực thù địch đang tăng cường thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, tấn công trên mặt trận tư tưởng, văn hóa hòng làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về lý luận và tư tưởng. Trong đó, chúng hòng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, nhân dân ta đã lựa chọn. Đó là điều không thể.
Trong những năm gần đây, âm mưu, thủ đoạn chống phá Việt Nam trên lĩnh vực tư tưởng của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, xảo quyệt và nguy hiểm. Một trong những biểu hiện chủ yếu là phủ nhận, chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh mà thực chất đó là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng đòi thay vào đó bằng hệ tư tưởng tư sản, xoá bỏ vị trí thống trị của hệ tư tưởng XHCN trong Đảng và trong xã hội ta. Chúng phủ định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước khi cho rằng: “Kinh tế thị trường sẽ từng bước làm thay đổi bản chất chế độ xã hội chủ nghĩa còn non trẻ và ốm yếu ở Việt Nam. Nếu Mỹ chờ đợi thêm ít lâu nữa thì sẽ tới một ngày Chính phủ Việt Nam chỉ còn là cộng sản trên danh nghĩa”. Những quan điểm sai trái mà các thế lực thù địch đã tung ra, nhìn chung có sự thống nhất căn bản về bản chất và mục đích, nhưng hình thức thể hiện khá đa dạng. Có quan điểm công khai trắng trợn, thể hiện rõ sự thù địch, hằn học với Đảng, với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; có quan điểm thừa nhận giá trị lịch sử nhưng lại phủ nhận giá trị thời sự của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay; có quan điểm xuyên tạc trắng trợn rằng: “Việt Nam hiện nay đang bế tắc về phát triển kinh tế của đất nước nên đến lúc phải có một lực lượng chính trị mới lãnh đạo đất nước, chứ không phải là Đảng Cộng sản Việt Nam”; “Độc tài, đảng trị là cái gốc sai chính của Nhà nước cầm quyền Việt Nam hiện đại”, “Đảng không nên giữ vai trò lãnh đạo chính trị, không nên và không thể lãnh đạo tuyệt đối”. Gần đây xuất hiện nhiều tài liệu tung ra bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo cao cấp nhằm “đề cao” người này, “hạ thấp” người kia để chia rẽ nội bộ, làm mất lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đáng chú ý vào thời điểm ĐCSVN tiến hành đẩy mạnh công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII, các thế lực cơ hội thù định coi đây là thời cơ để tập trung mở các chiến dịch chống phá Đảng và Nhà nước ta quyết liệt;... Trong các quan điểm sai trái trên, quan điểm cố tình phủ định mục tiêu lý tưởng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta lựa chọn, từ đó đề cao một cách giả tạo chủ nghĩa tư bản là có tính ngụy biện dễ làm cho một số người ngộ nhận, tin theo.
Thực tế đã và đang khẳng định rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời đến nay đã thể hiện rõ vai trò của mình trong mọi hoàn cảnh, giá trị và sức sống bền vững của nó. Hơn 87 năm qua, ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội do Đảng ta giương cao đã đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Với những thành tựu hơn 30 năm đổi mới do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, nhân dân Việt Nam vững vàng, tự tin hướng tới tương lai. Nhiều chính khách, nhà khoa học ở cả trong và ngoài nước có những bài nói, bài viết, công trình khoa học nghiên cứu khẳng định chủ nghĩa xã hội vẫn giữ nguyên ý nghĩa và tầm quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Một số học giả tư sản đã thừa nhận, tinh thần của chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn toả sáng và dù muốn hay không người ta vẫn phải dựa vào chủ nghĩa Mác - Lênin mới có thể phân tích đúng CNTB đương đại và CNXH lâm vào thoái trào sau sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống XHCN ở Đông Âu.
Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, một số người tự cho mình là “thực sự yêu nước”, “tâm huyết trăn trở với vận mệnh của đất nước” muốn “khắc phục sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Họ bày tỏ các quan điểm lệch lạc, sai trái, hoặc công khai, hoặc che dấu kín đáo, nhưng đều chứa đựng dã tâm đòi “thay đổi chế độ chính trị”, mà thực chất là xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng và bảo vệ.
Người ta đưa ra những câu hỏi đại loại là: “giá như dân tộc Việt Nam không tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, không đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, mà đi theo con đường khác thì đất nước đã phát triển hơn”. Từ đó họ quy kết:  “Đảng Cộng sản là thủ phạm đã gây ra cuộc chiến tranh ý thức hệ, đẩy hàng triệu con em người miền Bắc vào “lò nướng thịt” Trường Sơn, kéo lùi sự phát triển của đất nước”…
Thoảng qua, có người lầm tưởng thái độ của họ là thực sự “vì dân, vì nước”,  nhưng thực ra không phải như vậy, họ đang cổ súy cho chủ nghĩa tư bản, muốn hướng đất nước ta đi theo con đường chủ nghĩa tư bản. Họ đã coi thường, phủ nhận những hy sinh, mất mát to lớn của nhiều thế hệ người Việt Nam đã làm nên kỳ tích vĩ đại trong lịch sử dân tộc ở thế kỷ XX khiến cả thế giới khâm phục và gọi Việt Nam là “lương tri của thời đại”. Nhân dân Việt Nam đã đứng “nơi đầu ngọn sóng” trong cuộc đấu tranh của các dân tộc trên thế giới chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới ở thế kỷ XX. Ai là kẻ gây ra chiến tranh khi tuyên bố đưa Việt Nam “quay lại thời kỳ đồ đá”? Ai đã trút hàng triệu tấn bom đạn lên đầu người dân Việt Nam mà hậu quả của nó đến nay vẫn còn tồn tại dai dẳng ở nhiều thế hệ?. Ai nấy cũng đều thấy rằng, kẻ gây ra mấy chục năm “binh đao, khói lửa” đối với dân tộc Việt Nam không ai khác chính là thực dân, đế quốc. Song, nhân dân ta với ý chí “không có gì quý hơn độc lập tự do” đã đứng lên chiến đấu, chấp nhận gian khổ hy sinh để bảo vệ quyền được sống trong tự do và độc lập. Cả dân tộc Việt Nam đứng lên chiến đấu chống xâm lược để giải phóng dân tộc thống nhất đất nước là phi nghĩa, là vô ích hay sao?
Chủ nghĩa tư bản, ngay từ đầu thế kỷ XX và cho đến bây giờ, vẫn không phải và không thể là sự lựa chọn và là lời giải cho sự phát triển của dân tộc Việt Nam. Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú của mình kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Hồ Chí Minh đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng, chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc. Người quan niệm CNXH là “xã hội ngày càng tiến, vật chất càng tăng, tinh thần ngày càng tốt”, đó là CNXH mà “bất kỳ ai” cũng đều mong muốn trở thành hiện thực.
Một vài nhà “thông thái” khuyên rằng, Việt Nam nên đi theo chủ nghĩa tư bản, vì chủ nghĩa tư bản hiện đại là tiêu biểu nhất cho sự tiến bộ, văn minh của xã hội loài người. Thực ra, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản không phải như vậy. Nó vẫn là chế độ bóc lột, bất công và đầy mâu thuẫn. Trong điều kiện mới, chủ nghĩa tư bản đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong lĩnh vực giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học - công nghệ, nhưng bản chất bóc lột, phản động của nó không thay đổi. Các cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính vẫn diễn ra theo chu kỳ ngày càng ngắn hơn; kèm theo đó là khủng hoảng năng lượng, lương thực, sự cạn kiệt của các nguồn tài nguyên thiên nhiên; sự suy thoái của môi trường sinh thái đang đặt ra những thách thức vô cùng lớn cho sự tồn tại và phát triển của nhân loại. Và không những thế, chúng ta đang chứng kiến một thế giới không ở đâu có thể coi là an toàn bởi sự ám ảnh của - “bóng ma chủ nghĩa khủng bố”- sự phản ứng lại đối với những chính sách cường quyền mới về chính trị, kinh tế và cả quân sự của chủ nghĩa thế giới. Sự đói khổ của hàng tỷ người trên trái đất, những cảnh chết chóc, các cuộc di cư ồ ạt như là bản cáo trạng, vạch rõ bản chất bóc lột xấu xa và phản động của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thế giới. Những người khuyên chúng ta đi theo chủ nghĩa tư bản sao cố tình làm ngơ sự thật đó? Tại sao họ lại nghĩ rằng thứ chủ nghĩa ấy, chế độ ấy là con đường để chúng ta lựa chọn?
Cũng có một số nhà “yêu nước” khéo léo hơn. Thấy không thể trực diện “thức tỉnh” nhân dân ta đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, họ lại quay  sang thủ đoạn khác tinh vi hơn. Họ mượn danh “góp ý cho Đảng”, “khắc phục bệnh quan liêu, tham nhũng”, cố tỏ ra là người “yêu nước thực sự, đầy tâm huyết”, làm ra vẻ vẫn trung thành với con đường mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn, nhưng lại cho rằng đường lối phát triển đất nước hiện nay là đã huy động đến mức “bão hòa” các động lực phát triển của đất nước. Họ cho rằng Việt Nam sẽ ở trong vòng luẩn quẩn bởi lựa con đường chủ nghĩa xã hội. Họ lập luận một cách vô căn cứ, nào là phát triển kinh tế thị trường mâu thuẫn với định hướng xã hội chủ nghĩa … Nói tóm lại, họ muốn xóa bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa.
Rõ ràng đây không thể thái độ của người “yêu nước thực sự, đầy tâm huyết” như họ tự xưng. Người Việt Nam yêu nước hiện nay phải đồng thời là người yêu chủ nghĩa xã hội, là người phấn đấu cống hiến hết năng lực của mình để thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Thế giới biết đến Việt Nam không chỉ vì nhân dân Việt Nam anh dũng, kiên cường và chiến thắng các đế quốc to, mà còn vì chúng ta gặt hái được những thành tựu đáng khích lệ trong sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Thành tựu của Việt Nam của hơn 30 năm đổi mới vừa qua được bạn bè quốc tế đánh giá cao.
Phải có tình cảm yêu nước, yêu quê hương sâu sắc và một thái độ có văn hóa mới thấm thía hết giá trị những thành tựu của đất nước. Lịch sử phát triển của dân tộc là một dòng chảy liên tục có sự chọn lọc và kế thừa. Quay lưng với lịch sử, phủ nhận sự lựa chọn con đường đi của dân tộc là một thái độ vô trách nhiệm và cách xem xét thiếu căn cứ.
Nước ta vừa mới ra khỏi tình trạng kém phát triển, đời sống của nhân dân tuy có được cải thiện, nhưng còn những khó khăn. Song, điều đó tuyệt nhiên không phải là lỗi ở sự lựa chọn con đường mà chúng ta đang đi, không phải là bản chất của chế độ mà chúng ta đang xây dựng như một số người cố tình gán ghép. Chiến tranh và sự đô hộ thực dân, đế quốc đã kéo lùi sự phát triển của đất nước chúng ta. Thái độ đúng đắn ở đây, không phải là kêu ca, phàn nàn, oán trách, đòi “ khắc phục sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội” để hòng “thay đổi chế độ chính trị”, mà phải ghé vai vào cùng với Đảng, với nhân dân đẩy lùi nghèo, đói, chấn hưng đất nước.
Trong điều kiện mới, trước sự phát triển của cách mạng khoa học - công nghệ và xu thế toàn cầu hóa, trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, chúng ta kiên định con đường xã hội chủ nghĩa mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Sự kiên định đó không phải chỉ là tình cảm cách mạng, không chỉ là sự trung thành với truyền thống lịch sử cách mạng của dân tộc, mà dựa trên sự đánh giá phân tích bối cảnh trong nước và quốc tế một cách tỉnh táo và đúng đắn. Kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, đi tiếp con đường đó là giải pháp tổng quát duy nhất đúng, tối ưu nhất, nhanh nhất và hiệu quả nhất để xây dựng một nước Việt Nam thực sự giàu mạnh, văn minh, nhân dân Việt nam thực sự tự do, ấm no, hạnh phúc.
Dù trong những năm tới, tình hình sẽ còn nhiều diễn biến phức tạp nhưng chủ nghĩa xã hội vẫn là xu thế phát triển của lịch sử xã hội loài người, là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sự nghiệp xây dựng xã hội mới là một quá trình cách mạng sâu sắc, triệt để, đấu tranh phức tạp giữa cái cũ và cái mới nhằm tạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Với thế và lực của đất nước ta hiện nay, với sức mạnh thống nhất của khối đại đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân sẽ tận dụng được thuận lợi, tranh thủ được thời cơ, khắc phục nguy cơ, vượt qua thách thức, thực hiện thắng lợi những mục tiêu theo con đường xã hội chủ nghĩa đã lựa chọn./.



ĐÁNH GIÁ SAI LỆNH VỀ TỰ DO, DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM CỦA FH
                                                      Trần Trí Nam
Thời gian qua, rất nhiều tổ chức phi chính phủ dựa vào các thông tin thiếu khách quan, trung thực trên các phương tiện thông tin truyền thông để quy kết, đánh giá sai lệnh về tình hình tự do, dân chủ ở Việt Nam. Mà một trong số đó là đánh giá của tổ chức phi chính phủ Freedom House (FH).
Ngày 31/1/2017, FH - một tổ chức tự cho mình chức năng là “theo dõi tiến trình dân chủ hóa toàn cầu, cũng như khảo sát và nghiên cứu về tình trạng thực thi tự do chính trị cũng như các quyền tự do cơ bản của công dân tại các quốc gia trên thế giới”, đã công bố phúc trình về tự do toàn cầu với 195 quốc gia trên thế giới. Trong đó, FH đã liệt Việt Nam vào 1 trong số 49 quốc gia trên thế giới hoàn toàn không được tự do về nhiều mặt. Trong lời tuyên bố của mình, bà Sarah Repucci (Giám đốc chuyên trách xuất bản toàn cầu của FH), nói rằng: “Chúng tôi nhận thấy, năm nay Việt Nam chẳng có thay đổi nào đáng kể so với năm ngoái, nhiều người đối lập vẫn bị bắt giữ, tiếng nói của các xã hội dân sự hay của những nhà hoạt động độc lập bị dập tắt”. Nếu theo dõi đầy đủ các bản báo cáo của FH, chúng ta có thể nhận thấy hầu như năm nào, FH cũng cho rằng Việt Nam là nước không có tự do, dân chủ. Đây chính là đánh giá hoàn toàn sai lệch về tình hình tự do, dân chủ ở Việt Nam. Nói cách khác, đó chính là sự vu cáo trắng trợn, mang tính áp đặt, thể hiện rõ ý đồ muốn lợi dụng chiêu bài dân chủ - nhân quyền, hòng can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Vậy vì sao FH lại đánh giá hoàn toàn sai lệch về tình hình tự do, dân chủ ở Việt Nam?
Thứ nhất, có thể trả lời một cách chắc chắn cho bà Sarah Repucci cũng như toàn thể tổ chức FH rằng, Việt Nam là một nước có tự do, dân chủ và đang ngày càng mở rộng, đảm bảo quyền tự do, dân chủ của người dân. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn khẳng định nhất quán việc phát triển giá trị tự do, dân chủ. Và tự do là một trong 3 tiêu chí để xây dựng nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Độc lập – Tự do – Hạnh phúc). Tự do, dân chủ còn được văn bản có giá trị pháp lý cao nhất ở Việt Nam là Hiến pháp hiến định từ khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời năm 1945 đến nay. Trong đó, riêng ở bản Hiến pháp mới nhất của Việt Nam - Hiến pháp năm 2013, đã dành hẳn 1 chương để hiến định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Điều này, phản ánh nội dung quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân thông qua các chế định từ Điều 14 đến Điều 49, chương II (36 điều), hiến định một cách đầy đủ, toàn diện các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân ở Việt Nam, cũng như việc bảo đảm các quyền đó. Đề cập về quyền tự do, Điều 23, 24, 25, Hiến pháp 2013 hiến định các quyền tự do về đi lại và cư trú; tự do tín ngưỡng, tôn giáo; tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Tuy nhiên các quyền tự do này đều phải tuân theo pháp luật, chứ không chấp nhận tự do tùy tiện, vô nguyên tắc dẫn tới xâm hại đến lợi ích, quyền của con người, cũng như lợi ích của quốc gia dân tộc.
Thứ hai, thực tế trong những năm vừa qua, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn chú ý đảm bảo quyền tự do, dân chủ về chính trị của nhân dân. Người dân được trực tiếp lựa chọn người lãnh đạo của mình, được trực tiếp tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội – cơ quan quyền lực cao nhất, thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân và tham gia bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân các cấp. Người dân được quyền cho ý kiến về hoạt động của cơ quan công quyền thông qua hình thức dân chủ đại diện hoặc dân chủ trực tiếp. Vì vậy, quan điểm của FH cho rằng có rất nhiều nhà hoạt động đối lập bị bắt giữ, bị phạt tù là hoàn toàn vô lý. Bởi lẽ, nhà hoạt động đối lập đó là ai khác ngoài Cấn Thị Thêu, Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Trần Thị Nga,… Đây là những đối tượng đã nhận tiền từ các tổ chức phản động bên ngoài, lợi dụng tự do ngôn luận để tuyên truyền xuyên tạc, kích động người dân gây rối trật tự công cộng, gây dư luận xấu trong nhân dân, vi phạm pháp luật Việt Nam. Mặc dù đã được các cơ quan chức năng nhắc nhở nhiều lần nhưng vẫn quyết tâm chống đối, hòng nhận thêm tiền viện trợ từ bên ngoài. Việc bắt giữ các đối tượng trên là thực hiện đúng quy định của pháp luật, được nhân dân địa phương ủng hộ, hoàn toàn không phải là đàn áp người bất đồng với chính quyền. Đây là một hành động nhằm đảm bảo đúng đắn việc thực hiện quyền tự do, dân chủ của nhân dân Việt Nam. Và trên thực tế, rất nhiều quốc gia đều tiến hành bắt giữ các đối tượng lợi dụng tự do ngôn luận để xuyên tạc, vu cáo chính quyền, kích động người dân gây rối như: Singgapo, Anh, Nga,… và cả ở Mỹ.
Thứ ba, tình hình tự do báo chí, tự do thông tin ở Việt Nam ngày càng được thực thi hiệu quả. Những năm qua, hầu hết người dân Việt Nam đều được thụ hưởng thành tựu về sự phát triển như vũ bão của các cơ quan thông tin đại chúng, mà nổi bật là báo chí, xuất bản. Trong đó, báo mạng có sự phát triển hết sức mạnh mẽ. Theo số liệu của Bộ Thông tin và truyền thông, đến hết năm 2015, Việt Nam có 858 cơ quan báo chí. Trong đó có: 199 cơ quan báo in chiếm 24% (86 báo trung ương và các bộ, ngành, đoàn thể; 113 báo địa phương) và 659 tạp chí chiếm 76% (522 tạp chí trung ương, các bộ, ngành, trường đại học và viện nghiên cứu; 137 tạp chí địa phương); 105 cơ quan báo điện tử (Trong đó có: 83 báo, tạp chí điện tử của cơ quan báo chí in và 22 báo, tạp chí điện tử độc lập), 207 trang thông tin điện tử tổng hợp của các cơ quan báo chí; 66 đài phát thanh, truyền hình (Trong đó có: 02 đài Trung ương, 64 đài địa phương (riêng TP. Hồ Chí Minh có 02 đài: Đài Truyền hình TP. Hồ Chí Minh và Đài Tiếng nói nhân dân TP. Hồ Chí Minh); có gần 18.000 nhà báo được cấp thẻ đang hoạt động trên khắp mọi vùng miền của Tổ quốc và ở nước ngoài[1]. 
Hiện nay, Việt Nam trở thành nước dẫn đầu trong khu vực về sự phát triển của Internet, với gần 50 triệu người dùng (chiếm 52% dân số cả nước[2]). Tỉ lệ phủ sóng phát thanh đạt 98%; tỉ lệ phủ sóng truyền hình đạt 98%[3]. Đây cũng chính là kênh thông tin để người dân nâng cao nhận thức về tình hình mọi mặt của đất nước, cũng như quốc tế. Và từ lâu Việt Nam đã không có vùng cấm trong báo chí, báo chí đã tham gia tích cực vào công cuộc xây dựng đất nước, góp phần  vào việc thực hiện đúng đắn chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, phanh phui ra hàng trăm trường hợp các quan chức tham ô, tham nhũng, trực tiếp đấu tranh vào những mảng tối nhất của xã hội. Vậy nếu Nhà nước không đảm bảo quyền tự do báo chí, liệu báo chí Việt Nam có phát triển như vậy không? Vì thế, đánh giá của FH khi cho rằng Việt Nam không có tự do báo chí, tự do thông tin và tự do mạng là thiếu khách quan và áp đặt.
Thứ tư, thực chất nguyên tắc tổ chức và hoạt động của FH chỉ là tổ chức do Chính phủ Mỹ dựng ra nhằm mục đích áp đặt quan điểm chính trị về tự do kiểu Mỹ. Xem lại lịch sử, dễ nhận thấy rằng, từ khi bắt đầu được thành lập năm1941, FH đã là “cỗ máy tuyên truyền” do cố Tổng thống Roosevelt lập ra, nhằm thực hiện những ý đồ chính trị của chính quyền Mĩ, cổ súy giá trị tự do của Mĩ. Trong chiến tranh lạnh, FH phát động chương trình đào tạo về nhân quyền cho các phần tử chống đối ở Ðông và Trung Âu; khuyến khích công đoàn và người lao động tham gia các hoạt động bí mật, qua đó can thiệp vào công việc nội bộ của một số nước ở Ðông và Trung Âu. Hầu hết kinh phí của FH do Chính phủ Hoa Kỳ tài trợ, và có liên quan trực tiếp tới rất nhiều các quan chức của Chính phủ Mỹ. Do vậy, có thể khẳng định, đứng sau FH chính là Chính phủ Mỹ, nhằm sử dụng tổ chức này như một công cụ, núp dưới chiêu bài dân chủ, nhân quyền, coi “nhân quyền” cao hơn chủ quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác.
Như vậy, đánh giá của FH về tự do, dân chủ ở Việt Nam năm 2017, là hoàn toàn sai lệch và mang tính áp đặt về chính trị. Đánh giá đó đi ngược lại với kết quả về thực hiện quyền tự do, dân chủ ở Việt Nam những năm qua. Và về thực chất thì FH chẳng qua cũng chỉ là công cụ mà Chính phủ Mỹ lợi dụng để xuyên tạc tình hình tự do, dân chủ trên thế giới, tuyên truyền giá trị tự do kiểu Mĩ với các quốc gia khác, trong đó có Việt Nam. Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam không chấp nhận các đánh giá mang tính bịa đặt, vu cáo và xuyên tạc, bóp méo tình hình tự do, dân chủ ở Việt Nam. Thực tiễn tình hình tự do, dân chủ ở Việt Nam đã khẳng định quyền tự do, dân chủ là quyền cơ bản của con người, công dân và luôn được Đảng, Nhà nước Việt Nam quan tâm thông qua các chính sách nhất quán và được pháp luật quy định, cũng như bảo đảm thực thi trên thực tế./.




[1] http://mic.gov.vn/Pages/TinTuc/116095/Tinh-hinh-phat-trien-linh-vuc-bao-chi-va-phat-thanh-truyen-hinh-nam-2015.html
[2] http://mic.gov.vn/Pages/TinTuc/116095/Tinh-hinh-phat-trien-linh-vuc-bao-chi-va-phat-thanh-truyen-hinh-nam-2015.html
[3] http://mic.gov.vn/Pages/TinTuc/116095/Tinh-hinh-phat-trien-linh-vuc-bao-chi-va-phat-thanh-truyen-hinh-nam-2015.html

Thứ Ba, 3 tháng 10, 2017

HÃY CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG HOẠT ĐỘNG CHỐNG PHÁ QUÂN ĐỘI CỦA TỔ CHỨC PHẢN ĐỘNG "VIỆT TÂN"

                                                              Thiên Thanh (St)

Ngày 30-4-1980, Hoàng Cơ Minh, nguyên chuẩn tướng, phó đề đốc Hải quân ngụy cùng một số ngụy quân lập ra một tổ chức, gọi là “Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam” (Việt Tân). Tổ chức này được sự hậu thuẫn trực tiếp của các phần tử cực đoan Mỹ và các phần tử người Việt lưu vong ở nước ngoài có khuynh hướng chống đối cách mạng Việt Nam. Ngay từ khi thành lập, Việt Tân đã lộ rõ bản chất phản động, với những “mưu hèn, kế bẩn” của một tổ chức khủng bố quốc tế.
Thời gian gần đây, trước những biến động của tình hình an ninh chính trị quốc tế, khu vực, những vấn đề nảy sinh, và những khó khăn thách thức về kinh tế, xã hội khi nước ta tham gia hội nhập sâu rộng vào kinh tế thế giới, những vấn đề phức tạp nảy sinh từ các mâu thuẫn, tranh chấp biên giới lãnh thổ, biển đảo… các thế lực thù địch và tổ chức phản động Việt Tân không những không từ bỏ âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước, quân đội mà chúng còn triệt để lợi dụng các vấn đề trên, gia tăng các hoạt động chống phá với tính chất ngày càng quyết liệt và tinh vi hơn. Đối với quân đội ta, chúng tập trung vào một số vấn đề sau:
- Triệt để lợi dụng sự phát triển của khoa học công nghệ, nhất là sự bùng nổ của công nghệ thông tin để tiến hành các hoạt động thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ quân đội, tích cực tuyên truyền phá hoại tư tưởng, kích động để hướng lái cán bộ, chiến sĩ xa rời mục tiêu lý tưởng chiến đấu, “thoát ly” sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện “phi chính trị hóa” quân đội.
- Lợi dụng vấn đề “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền” để gia tăng các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc bản chất quân đội, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với quân đội, chia rẽ khối đoàn kết quân dân, làm rạn vỡ các cơ sở chính trị, xã hội  của quân đội ta.
- Chú trọng lôi kéo, móc nối cán bộ, chiến sĩ đang tại ngũ và cán bộ đã nghỉ hưu để tham gia vào các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội.
Với các âm mưu đó, Việt Tân đã tiến hành hàng loạt các hoạt động chống phá quân đội, cụ thể như sau:
Thứ nhất, chúng phát tán các thông tin, tài liệu có nội dung, quan điểm đả kích chế độ XHCN, xuyên tạc và phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng, lý tưởng chiến đấu của quân đội. Chúng khoét sâu vào những khó khăn, yếu kém của ta, nhất là những vấn đề hệ trọng, nhạy cảm; thổi phồng những sự việc, những vấn đề mà chúng cho là “khuyết tật” thuộc về “bản chất của chế độ” XHCN để tác động làm suy giảm lòng tin của cán bộ, chiến sĩ với Đảng, Nhà nước và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta; tác động làm cho cán bộ, chiến sĩ dao động, giảm sút ý chí chiến đấu, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, phụ họa theo những nhận thức, hàng động, việc làm sai trái, từ đó rơi vào chủ nghĩa cơ hội, nhất là cơ hội về chính trị, hướng và lái cán bộ, chiến sĩ tự “từ bỏ” mục tiêu lý tưởng chiến đấu.
Thứ hai, chúng tập trung xuyên tạc, công kích vào nội bộ, bôi nhọ, nói xấu, hạ uy tín cá nhân các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy cấp cao trong quân đội, xuyên tạc nội bộ, tình hình quân đội nhằm gây tâm lý hoài nghi trong cán bộ, chiến sĩ; xuyên tạc, phủ nhận quan điểm, đường lối và những vấn đề có tính nguyên tắc xây dựng quân đội, bài xích cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, kích động khuynh hướng đòi “Quốc gia hóa quân đội”, “Dân sự hóa quân đội”, “Quân đội chỉ hành động theo sự điều hành của Nhà nước và tuân theo pháp luật”, nhằm làm cho quân đội mất định hướng chính trị, bị tha hóa, biến chất, suy giảm sức mạnh chiến đấu.
Thứ ba, chúng lợi dụng mạng xã hội trên Internet để tuyên truyền bôi nhọ hình ảnh và bản chất truyền thống tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”.
Số liệu thống kê cho thấy, chỉ riêng năm 2016 và đầu năm 2017, thông qua các phương tiện truyền thông, các Website, mạng xã hội của Việt Tân (Đài phát thanh “Chân trời mới”, trang Website “Việt tân”, facebook “Việt Tân”, “Chân trời mới”...), Việt Tân đã tán phát, tuyên truyền hàng trăm tin bài, tài liệu, hình ảnh, clip xuyên tạc nội bộ, xuyên tạc sai sự thật về các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy, các tướng lĩnh cấp cao trong quân đội, xuyên tạc chức năng, nhiệm vụ của quân đội. Trong đó hoạt động bôi nhọ bản chất, truyền thống quân đội được chúng tiến hành một cách rầm rộ như một chiến dịch chống phá với việc tán phát hàng trăm hình ảnh, video vi phạm pháp luật, kỷ luật, phản cảm của quân nhân, thậm chí chúng còn lợi dụng hình ảnh cán bộ, chiến sĩ để lồng ghép, bịa đặt các quan điểm, những ý kiến trái chiều, phản động…
Thứ tư, chúng triệt để lợi dụng vấn đề “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền” để gia tăng các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc bản chất quân đội, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với quân đội, chia rẽ khối đoàn kết quân dân, làm rạn vỡ các cơ sở chính trị, xã hội của quân đội ta.
Lợi dụng việc ta mở rộng dân chủ để tấn công trực diện vào hệ thống pháp luật, thông qua pháp luật để hướng lái, chia tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, hạ thấp vai trò quân đội. Chúng gia tăng sức ép đòi sửa đổi Hiến pháp, pháp luật, trong đó có hủy bỏ các quy định về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với lực lượng vũ trang; chúng vu cáo Đảng, Nhà nước ta “Vi phạm dân chủ, nhân quyền”, “Hạn chế tự do” để tạo tâm lý hoài nghi của cán bộ, chiến sĩ về chủ trương và cách thức giải quyết các vấn đề nảy sinh của Đảng, Nhà nước, từ đó lôi kéo cán bộ, chiến sĩ vào các hoạt động chống phá của chúng. Chúng thường xuyên lợi dụng việc quân đội tham gia phối hợp bảo đảm an ninh, trật tự để tuyên truyền, xuyên tạc về chức năng, nhiệm vụ của quân đội, vu cáo quân đội “đàn áp” nhân dân, sao nhãng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; đồng thời tuyên truyền, khuyếch đại những hiện tượng tiêu cực nảy sinh trong quân đội, cho rằng những phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” đã bị phai nhạt bởi cơ chế thị trường và lối sống thực dụng, làm suy giảm lòng tin của nhân dân với quân đội, chia rẽ quân đội với nhân dân, làm rạn vỡ các cơ sở chính trị, xã hội của quân đội ta.
Bên cạnh đó Việt Tân còn đẩy mạnh tuyên truyền, xuyên tạc mối quan hệ giữa quân đội với công an, hạ thấp vai trò của quân đội trong điều kiện hiện nay, đề cao vai trò của lực lượng công an nhằm gây chia rẽ và làm giảm sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang.
Mặc dù trong thời gian qua, trước sự tuyên truyền lôi kéo chống phá của tổ chức phản động Việt Tân, cán bộ, chiến sỹ trong quân đội không bị lay động, mà luôn tỏ rõ lập trường quan điểm kiên định vững vàng, tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, thực sự là công cụ bạo lực sắc bén bảo vệ Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Đến nay, chúng ta chưa phát hiện trường hợp quân nhân nào bị móc nối, tham gia vào tổ chức này và có các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, quân đội. Tuy nhiên trước các hoạt động tuyên truyền phá hoại tư tưởng chính trị của Việt Tân và các thế lực thù địch, mỗi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội cần nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, không để kẻ địch lôi kéo trong bất kỳ hoàn cảnh nào./.


Chủ Nhật, 1 tháng 10, 2017

CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN – GIÁ TRỊ VẸN NGUYÊN VÀ SỨC SỐNG TRƯỜNG TỒN
                                                 Bạch Long
Chủ nghĩa Mác - Lê-nin là thành tựu nổi bật và vĩ đại của trí tuệ loài người về lý luận phát triển xã hội trong lịch sử thế giới hiện đại. Sức sống và ảnh hưởng của nó không chỉ được minh chứng bởi những biến đổi trong thế kỷ XIX, mà còn cả trong thế kỷ XX với cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, mở ra thời đại mới - thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH. Thời đại ấy vẫn đang là chiều hướng vận động, phát triển của lịch sử thế giới ngày nay. Vì vậy, quan điểm cho rằng, hiện nay “chủ nghĩa Mác - Lênin” không còn phù hợp nữa là hoàn toàn phi lý, phiến diện.
1.Cách mạng XHCN Tháng Mười Nga năm 1917 là một sự kiện “rung chuyển thế giới”, có tầm ảnh hưởng lớn lao quyết định đến tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại; khẳng định thắng lợi của chủ nghĩa Mác – Lênin trong thực tiễn. Nó đã biến “bóng ma ám ảnh châu Âu” thành sức mạnh hiện hữu, chủ nghĩa Mác – Lênin từ lý luận trở thành hiện thực sinh động trên một vùng đất rộng lớn. Lần đầu tiên thế giới biết đến một chế độ xã hội mới, rồi một hệ thống thế giới mới-hệ thống xã hội chủ nghĩa-mà ở đó, quyền làm chủ của con người được bảo đảm và ngày càng thể hiện sinh động trong thực tế.
Sự sụp đổ CNXH ở Liên Xô và Đông Âu đến nay vẫn như là một cái “cớ” không thể tốt hơn để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, công kích và phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin; và có vẻ như chúng ngày càng tìm thấy trong sự sụp đổ đó những “lý lẽ” có sức “thuyết phục” để xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin. Những luận điệu công kích, bóp méo ý nghĩa và tầm vóc của Cách mạng Tháng Mười, phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, cho đó là học thuyết “viển vông”, “phi thực tế”, cùng những luận điệu cho rằng CNXH đã “cáo chung”, rằng “CNXH mà Mác nêu ra chỉ là một lý tưởng, một CNXH “không tưởng”, không bao giờ thực hiện được”[1]... được tung ra trên khắp các châu lục, được tuyên truyền trên khắp các phương tiện thông tin từ thô sơ đến hiện đại, được “mớm” lời cho tất cả các phần tử chống đối, thù địch ở mọi nơi, mọi chỗ.
2. CNXH ra đời dựa trên học thuyết cách mạng và khoa học, một học thuyết ra đời trên cơ sở “mảnh đất hiện thực khách quan”. C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã phát hiện ra một sự thật lịch sử: “Không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ”[2]. Trên cơ sở đó, các ông đã từng bước tìm ra được quy luật vận động, phát triển của lịch sử, chỉ ra tính tất yếu diệt vong của CNTB và tính tất yếu thắng lợi của chủ nghĩa xã hội. Các ông cho rằng: CNXH là “một phong trào hiện thực”[3], CNXH“không cần phải thực hiện một lý tưởng nào cả, mà chỉ cần giải phóng những nhân tố của xã hội mới đã phát triển trong lòng xã hội tư sản cũ đang sụp đổ”[4]. Cách mạng Tháng Mười Nga thành công là sản phẩm trực tiếp, hiện thực của chủ nghĩa Mác - Lênin; là kết quả của việc giải quyết các mâu thuẫn thời đại ở nước Nga những năm đầu thế kỷ XX; là sự “giải phóng những nhân tố của xã hội mới đã phát triển trong lòng xã hội” Nga đương thời. CNXH được sinh ra từ cuộc cách mạng ấy là sinh ra từ hiện thực, thực tế; chủ nghĩa Mác – Lênin không phải là “ảo tưởng”, “viển vông”, “phi thực tế”, chủ nghĩa Mác – Lênin là sản phẩm từ “hiện thực khách quan”, nó dẫn dắt các lực lượng xã hội tiến bộ thúc đẩy lịch sử phát triển và cải tạo “hiện thực khách quan”.  
3. Không thể vì sự đổ vỡ của một hiện thực mà cho rằng học thuyết là ảo tưởng. Không thể vì sự sụp đổ của một mô hình cụ thể mà đồng nhất với sự sụp đổ của học thuyết. Cũng không thể vì những sai lầm, giáo điều, máy móc trong vận dụng và tổ chức thực hiện mà nói bừa rằng học thuyết sai lầm. Sự sụp đổ CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu không phải là do sai lầm của học thuyết, không đồng nghĩa với sự sụp đổ, sự  “cáo chung” của chủ nghĩa Mác - Lênin. Lý luận về CNXH của chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn giữ nguyên giá trị, tiếp tục soi sáng cho nhân loại trên hành trình đi đến tương lai xã hội chủ nghĩa.
Ở đây, vẫn cần nhắc lại cho rõ: Sự sụp đổ CNXH ở Liên Xô và Đông Âu không phải do chủ nghĩa Mác – Lênin lỗi thời, không phải là “lỗi” của học thuyết; mà đó thực sự là do đã hiểu sai, vận dụng sai, làm sai và cả sự phản động của Ban lãnh đạo ở các nước đó trong quá trình cải tổ, cải cách cùng với sự thúc đẩy của “diễn biến hòa bình”. Đáng lý phải thực hiện quyền lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản, thì lại thực hiện “đa nguyên chính trị”; đáng lý phải giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, thì lại buông lỏng, cắt xén và từ bỏ sự lãnh đạo ấy; đáng lý phải củng cố Đảng trên nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lênin, nâng cao sức chiến đấu, bảo đảm Đảng thực sự là đội tiền phong của giai cấp công nhân, của nhân dân và dân tộc, thì lại “biến” Đảng thành “một tổ chức chính trị-xã hội tự quản”, thành một “câu lạc bộ” đơn thuần, mất sức chiến đấu và đi đến tan rã. Đó là vấn đề quyết định làm sụp đổ CNXH ở Liên Xô và Đông Âu.
4. Trong bối cảnh mới hiện nay, chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn tỏ rõ sức sống và giá trị trường tồn cùng thời đại của nó. Chủ nghĩa Mác – Lênin không phải là giáo điều, CNXH không phải là một khuôn mẫu có sẵn, CNXH sinh động và sáng tạo trong đời sống hiện thực. Những người cộng sản không hề coi lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin như một cái gì đã “xong xuôi hẳn” và “bất khả xâm phạm”, mà phải “đẩy” nó lên, phát triển nó phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn. Không có CNXH chung chung, trừu tượng, mà bao giờ cũng phải dựa trên mảnh đất hiện thực, được thể hiện sinh động cụ thể trong từng quốc gia dân tộc.
CNXH hiện thực đang ở thập kỷ thứ mười của sự phát triển với những bước thăng trầm gồm cả những thành tựu, công lao to lớn đối với nhân loại và cả những tổn thất nặng nề, để rồi một số nước còn lại đang tiếp tục trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, tạo cho CNXH hiện thực một diện mạo mới năng động, sáng tạo và phong phú hơn. Dù còn nhiều khó khăn, phức tạp, nhưng sự phát triển của các nước XHCN còn lại đã chứng minh một cách rõ ràng: CNXH là hiện thực, thực tế, đã và đang đổi mới, được xây dựng, phát triển trên cơ sở từ những bài học kinh nghiệm rút ra trong quá khứ; từ sự nhận thức lại và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin trong điều kiện mới, dựa trên cơ sở “hiện thực khách quan” mới, dựa chắc vào đặc điểm, đặc thù của từng quốc gia dân tộc. Điều đó cho thấy sức sống bất diệt của chủ nghĩa Mác – Lênin trong bối cảnh lịch sử mới.
Mục tiêu giải phóng con người khỏi mọi ách áp bức, bóc lột, đưa con người lên làm chủ, đem lại cuộc đời tự do, hạnh phúc thực sự cho quần chúng nhân dân bằng con đường cách mạng XHCN mà chủ nghĩa Mác – Lênin đã vạch ra là mục tiêu hiện thực, là con đường thực tiễn, hợp quy luật, đã và đang diễn ra trên thế giới và ở Việt Nam. Điều đó cho thấy sức sống bất diệt và giá trị trường tồn của chủ nghĩa Mác - Lênin; tỏ rõ con đường mà nhân dân ta đang đi là đúng đắn, chứ không phải là chúng ta “cố tình phải theo” một “học thuyết viển vông”, “phi thực tế” như sự bịa đặt, xuyên tạc của một số người.
5. Gần chín thập kỷ qua dư­ới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, do Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Nhân dân ta đã hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thống nhất Tổ quốc, đưa cả n­ư­ớc đi lên chủ nghĩa xã hội; ngày nay, trước những biến động phức tạp của tình hình, sự nghiệp đổi mới đất nước ta vẫn tiếp tục phát triển và đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Điều đó có được là bởi vì cách mạng Việt Nam được dẫn dắt và được soi sáng bởi chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Những điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, tư tưởng của thế giới đương đại vừa đòi hỏi, vừa tạo điều kiện cho sự phát triển mới của chủ nghĩa Mác - Lênin. Bản chất cách mạng và khoa học, giá trị và sức sống của chủ nghĩa Mác – Lênin đòi hỏi và đặt ra yêu cầu rất cao đối với chúng ta hôm nay là phải trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa ấy, thúc đẩy sự nghiệp cách mạng tiến lên. Vấn đề quan trọng là từ những thành công và thất bại của CNXH hiện thực, cần nghiêm túc phân tích, rút ra những bài học, những vấn đề lý luận, tiếp tục bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin. Đó là yêu cầu sống còn của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Trung thành, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đặt nó trên “cơ sở hiện thực” mới đương đại, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn, thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đất nước là câu trả lời rõ ràng của chúng ta, làm thất bại, phá sản mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Đó là trung thành, đi theo một học thuyết cách mạng và khoa học, một học thuyết thực tế; là đi tiếp lịch sử dân tộc ta đã từng đi gần chín thập kỷ qua; là sự nối tiếp hiện thực-thực tiễn CNXH đã có, đang có ở Việt Nam, chứ không phải là “khư khư giữ lấy” một “chủ nghĩa hết thời”, “phi hiện thực”, một “lý tưởng mơ hồ”, cũng không phải là để “tự trấn an” như sự xuyên tạc, bóp méo sự thật của các thế lực thù địch.




[1]Ban Tuyên giáo Trung ương, Phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb CTQG, H. 2007, tr. 48.
[2]C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 13, Nxb CTQG, H. 1995, tr. 15.
[3]C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 3, Nxb CTQG, H. 1995, tr. 51.
[4]C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 17, Nxb CTQG, H. 1995, tr. 445 - 446.

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...