Thứ Tư, 22 tháng 7, 2020

QUÂN ĐỘI TÍCH CỰC THAM GIA TÌM KIẾM CỨU NẠN TRÊN BIỂN


Việt Nam là quốc gia ven biển, nằm trong vùng xích đạo và dải nhiệt đới phía Tây Thái Bình Dương - khu vực trọng điểm ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu; có nhiều tuyến hàng hải quốc tế đi qua, lại đang trong quá trình đẩy mạnh phát triển kinh tế biển, nên tình hình thiên tai, tai nạn, sự cố ở vùng biển nước ta xảy ra với tần suất cao, tính chất phức tạp, gây thiệt hại nghiêm trọng về người, tài sản, ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế - xã hội và hoạt động quân sự, quốc phòng. Điều đáng nói là, trong mấy năm gần đây, tình hình tai nạn, sự cố trên vùng biển nước ta không chỉ gia tăng về số vụ, quy mô mà còn phức tạp về tính chất, diễn biến khó lường, nhất là sự cố về hóa chất, tràn dầu có thể hủy hoại môi trường trên phạm vi rộng, v.v.

Nhận thức rõ tác hại của thiên tai, biến đổi khí hậu và quán triệt sâu sắc chức năng, nhiệm vụ được giao, Quân đội đã tích cực, chủ động khắc phục khó khăn, thực hiện nhiệm vụ phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn nói chung và tìm kiếm cứu nạn trên biển nói riêng đạt nhiều kết quả tích cực. Nổi bật là, công tác lãnh đạo, chỉ đạo được cấp ủy, chỉ huy các cấp quan tâm, tiến hành chặt chẽ. Các lực lượng (nòng cốt là Cảnh sát biển, Hải quân, Bộ đội Biên phòng, Phòng không - Không quân và các quân khu có biển,...) chủ động chuẩn bị lực lượng, vật chất, phương tiện, xây dưng kế hoạch, phương án, phòng, chống thiên tai, sự cố, tìm kiếm cứu nạn phù hợp với nhiệm vụ, sát đặc điểm địa bàn và thường xuyên rà soát, bổ sung, điều chỉnh, tổ chức luyện tập, diễn tập, ứng trực nghiêm túc.

Với tinh thần không quản ngại nguy hiểm, tất cả “vì nhân dân phục vụ”, lực lượng quân đội luôn đi đầu, có mặt kịp thời ở nơi xảy ra thiên tai, sự cố, thể hiện rõ vai trò là lực lượng xung kích, nòng cốt, trong ứng phó sự cố, khắc phục hậu quả thiên tai, cứu hộ, cứu nạn trên biển. Từ ngày 15/8/2018 đến nay, các đơn vị quân đội đã huy động 125.056 lượt cán bộ, chiến sĩ, 3.364 lượt phương tiện phối hợp cùng các cơ quan chức năng, các lực lượng, địa phương tham gia tìm kiếm cứu nạn 1.480 vụ, cứu được 1.722 người, 96 phương tiện và kêu gọi, hướng dẫn 2.060.716 lượt người, 447.015 phương tiện đang hoạt động trên biển di chuyển ra khỏi vùng ảnh hưởng của bão, neo đậu tránh, trú an toàn. Đặc biệt, chúng ta đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ xử lý sự cố tràn dầu tại khu dân phố 5, phường Quảng Hưng, thành phố Thanh Hóa; vụ cháy tàu APL Vancouver, Quốc tịch Singapore; tìm kiếm, khắc phục hậu quả vụ tai nạn nghiêm trọng tàu cá NA-95899 TS bị tàu Pacific 01 đâm chìm, làm 09 ngư dân mất tích; ứng phó sự cố tàu BV-98459 TS chở khoảng 50.000 lít dầu DO bị chìm tại vùng biển Phú Quý, tỉnh Bình Thuận; ứng phó tràn dầu vụ tàu vận tải VIETSUN INTERGRITY bị chìm tại phao số 28, luồng Sài Gòn - Vũng Tàu, sông Lòng Tàu, huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh,... được cấp ủy, chính quyền địa phương, nhân dân và bạn bè quốc tế đánh giá cao. Không dừng lại ở đó, các cơ quan, đơn vị quân đội luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, trực tiếp động viên, sẻ chia, giúp đỡ người bị nạn, nhân dân địa phương ven biển, trên các đảo bị ảnh hưởng bởi thiên tai, khắc phục hậu quả, ổn định đời sống và sản xuất, góp phần tô thắm thêm truyền thống tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”.

Thời gian tới, dự báo tình hình thời tiết, khí hậu, thủy văn trên các vùng biển nước ta sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp, cực đoan và khó lường; các hoạt động giao thương, phát triển kinh tế biển ngày càng sôi động, tiềm ẩn nhiều nguy cơ tai nạn, sự cố. Để nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả ứng phó sự cố, phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn trên biển, giảm thiểu thiệt hại về người và tài sản của nhân dân, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, các cơ quan, đơn vị cần quán triệt, thực hiện tốt nội dung, giải pháp chủ yếu sau:

Một là, đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm cho bộ đội và nhân dân về công tác bảo đảm an toàn hàng hải và tìm kiếm cứu nạn trên biển. Tìm kiếm cứu nạn trên biển là hoạt động có tính đặc thù cao, luôn phải tiến hành trong điều kiện khó khăn, nguy hiểm trực tiếp đến tính mạng của cán bộ, chiến sĩ. Vì vậy, để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị cần quán triệt cho cán bộ, chiến sĩ nắm vững đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trực tiếp là các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng về bảo đảm an toàn hàng hải, tìm kiếm cứu nạn trên biển. Trọng tâm là, Nghị định số 30/2017/NĐ-CP, ngày 21/3/2017 của Chính phủ về “Quy định tổ chức, hoạt động ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn”; Quyết định số 506/2019/QĐ-TTg, ngày 04/5/2019 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt bổ sung danh mục các nhiệm vụ triển khai thực hiện Công ước quốc tế về tìm kiếm cứu nạn hàng hải năm 1979 (SAR 79) theo Quyết định số 06/2009/QĐ-TTg, ngày 15/01/2009 giai đoạn 2019 - 2025 trong Quân đội; mệnh lệnh, chỉ thị, hướng dẫn của cấp trên về nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn trên biển, cũng như kết quả, kinh nghiệm trong thực hiện nhiệm vụ này của các lực lượng, v.v. Qua đó, làm cho cán bộ, chiến sĩ nắm vững quan điểm, nguyên tắc, phương châm, yêu cầu cấp thiết đặt ra trong phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn trên biển; xác định đây là nhiệm vụ chính trị - “nhiệm vụ chiến đấu” trong thời bình; xây dựng động cơ, trách nhiệm, quyết tâm, lòng dũng cảm trong thực hiện nhiệm vụ quan trọng này. Đồng thời, chủ động đấu tranh với tư tưởng chủ quan, xem nhẹ, ngại khó khăn, gian khổ, nguy hiểm.

Bộ Chỉ huy Quân sự các tỉnh có biển chủ động tham mưu cho cấp ủy, chính quyền và phối hợp chặt chẽ với lực lượng Bộ đội Biên phòng, Hải quân, Cảnh sát biển, Công an, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Hiệp hội nghề cá, làm tốt công tác tuyên truyền cho ngư dân về công tác bảo đảm an toàn hàng hải, tìm kiếm cứu nạn; tổ chức xây dựng và phát huy vai trò của các tổ, đội tàu thuyền đoàn kết hoạt động trên biển trong công tác hỗ trợ cứu kéo lẫn nhau, tìm kiếm cứu nạn khi gặp sự cố, thực hiện tốt phương châm “Tự cứu mình là chính”; đồng thời, hướng dẫn ngư dân sử dụng các phương tiện thông tin, tín hiệu báo khẩn cấp khi gặp sự cố, v.v.

Hai là, chuẩn bị đầy đủ, chu đáo, phát huy tốt “4 tại chỗ”1 trong tìm kiếm cứu nạn trên biển. Thiên tai, sự cố trên biển ngày càng phức tạp, khó dự báo, diễn biến thất thường, đột biến cao. Vì vậy, để ứng phó, xử lý kịp thời, có hiệu quả, cần chủ động làm tốt công tác chuẩn bị về mọi mặt, phát huy tốt “4 tại chỗ”. Theo đó, các cơ quan, đơn vị thường xuyên kiện toàn Ban Chỉ huy phòng, chống thiên tai - tìm kiếm cứu nạn ở các cấp; duy trì nghiêm chế độ ứng trực, nắm chắc tình hình, tham mưu đề xuất, xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống xảy ra; chú trọng rà soát, bổ sung, điều chỉnh các phương án, kế hoạch sát tình hình thực tế, địa bàn và yêu cầu nhiệm vụ; chuẩn bị đầy đủ công tác bảo đảm, hiệp đồng chặt chẽ với chính quyền địa phương và các lực lượng đứng trên địa bàn, kịp thời cơ động ứng phó các tình huống không để bị động, bất ngờ. Để đạt hiệu quả cao, thời gian tới, Cục Cứu hộ - Cứu nạn tiếp tục phối hợp với các quân khu chỉ đạo Bộ Chỉ huy quân sự các tỉnh, thành phố có biển tham mưu cho Ban Chỉ huy phòng, chống thiên tai - tìm kiếm cứu nạn địa phương chỉ đạo các sở, ngành hoàn thành xây dựng Kế hoạch ứng phó với 12 tình huống sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn theo Quyết định số 1041/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Nghị định 30/2017/NĐ-CP của Chính phủ quy định tổ chức, hoạt động ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn; Quyết định số 19/2017/QĐ-BQP của Bộ Quốc phòng về thực hiện Nghị định 30/2017/NĐ-CP của Chính phủ. Trên cơ sở đó, kiện toàn lực lượng tham gia phòng, chống thiên tai, sự cố, tìm kiếm cứu nạn, từng bước xây dựng, phát triển mô hình các đội, trung tâm tìm kiếm cứu nạn trên biển chuyên trách, kiêm nhiệm, lấy lực lượng Hải quân, Cảnh sát biển và Bộ đội Biên phòng làm nòng cốt.

Cục Cứu hộ - Cứu nạn tiếp tục phối hợp với Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng, chống thiên tai đề xuất Chính phủ xin chủ trương đầu tư xây dựng một số trạm phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn trên các đảo; phối hợp với các cơ quan chức năng của bộ, ngành liên quan triển khai xây dựng Chương trình Quốc gia nghiên cứu, ứng dụng và huy động nguồn lực khoa học công nghệ ứng phó động đất, sóng thần. Triển khai thực hiện hiệu quả các dự án trọng điểm, mua sắm trang thiết bị chuyên dụng phục vụ công tác ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn theo kế hoạch đầu tư trung hạn 05 năm (2016 - 2020) đã được phê duyệt; chú trọng đổi mới trang bị, đầu tư mua sắm trang bị cứu hộ, cứu nạn trên biển với phương châm: “hiện đại, nhanh gọn, linh hoạt”, hoạt động  trong mọi điều kiện thời tiết, cả trên mặt nước và dưới mặt nước. Từng bước hiện đại hoá cơ sở vật chất, phương tiện, trang thiết bị phục vụ huấn luyện, diễn tập và tổ chức tìm kiếm cứu nạn trên biển.

Do tính chất nhiệm vụ phức tạp, vùng biển rộng, nên để phát huy “4 tại chỗ” trong tìm kiếm cứu nạn trên biển, Cục Cứu hộ - Cứu nạn phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng tham mưu giúp Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Văn phòng Ủy ban Quốc gia Ứng phó sự cố, thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn ban hành Quy chế phối hợp giữa các lực lượng Hải quân, Cảnh sát biển Việt Nam, Bộ đội biên phòng với các Trung tâm phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng hải; kết hợp các hoạt động huấn luyện, tuần tra, kiểm soát quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo với sẵn sàng tham gia tìm kiếm cứu nạn, v.v.

Ba là, nâng cao chất lượng công tác huấn luyện, diễn tập tìm kiếm cứu nạn trên biển cho bộ đội, nhất là lực lượng chuyên trách trên các địa bàn. Tìm kiếm cứu nạn trên biển là “nhiệm vụ chiến đấu” của Quân đội trong thời bình. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, các cơ quan, đơn vị cần đẩy mạnh đổi mới, nâng cao hơn nữa chất lượng huấn luyện, diễn tập; bồi dưỡng về kinh nghiệm tổ chức, điều hành, kỹ năng, quy trình xử lý sự cố, thiên tai, tìm kiếm cứu nạn cho các lực lượng. Trong đó, tập trung huấn luyện chuyên sâu, nâng cao năng lực 05 đội hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thiên tai; huấn luyện nâng cao kỹ năng điều khiển, sử dụng các phương tiện tìm kiếm cứu nạn hiện đại và kỹ năng thực hành khắc phục sự cố tràn dầu, chống cháy nổ cho nhân viên chuyên môn kỹ thuật. Để đạt hiệu quả cao, các cơ quan, đơn vị tập trung nghiên cứu xây dựng kế hoạch, chương trình, nội dung, phương pháp huấn luyện, diễn tập sát với thực tiễn địa bàn; quan tâm đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, hiện đại hóa mô hình huấn luyện, kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện cơ bản với ứng dụng khoa học công nghệ thông tin. Cục Cứu hộ - Cứu nạn phối hợp với Cục Quân huấn tham mưu giúp Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, Ủy ban Quốc gia Ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn tổ chức tập huấn nâng cao nghiệp vụ công tác cứu hộ, cứu nạn, triển khai hướng dẫn các mẫu kế hoạch về ứng phó sự cố, thiên tai, thảm họa và tìm kiếm cứu nạn trong toàn quân và Ban chỉ huy phòng, chống thiên tai - tìm kiếm cứu nạn các bộ, ngành và địa phương. Tiếp tục chỉ đạo Trung tâm huấn luyện tìm kiếm cứu nạn đường biển, Học viện Hải quân; Trung tâm huấn luyện quốc gia tìm kiếm cứu nạn đường không, Quân chủng Phòng không - Không quân tổ chức lớp đào tạo, huấn luyện nhân viên chuyên môn điều khiển phương tiện thuỷ nội địa, tìm kiếm cứu nạn; huấn luyện tìm kiếm cứu nạn đường không, đường biển. Đồng thời, tích cực nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện giáo trình, tài liệu huấn luyện về tìm kiếm cứu nạn trên biển, bảo đảm tính chuyên sâu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.

Cùng với các nội dung, giải pháp trên, Quân đội tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế với quân đội các nước, nhất là các nước trong khu vực, nhằm chia sẻ thông tin, ứng dụng khoa học công nghệ, tổ chức diễn tập, xử lý các tình huống tìm kiếm cứu nạn, cứu trợ thảm họa trên biển; chủ động phối hợp với các bộ, ngành, địa phương đề xuất xây dựng phương án đàm phán với các nước có chung Biển Đông về phân vùng tìm kiếm cứu nạn trên biển, thực hiện tốt trách nhiệm quốc gia thành viên của Tổ chức Hàng hải quốc tế, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Thiếu tướng DOÃN THÁI ĐỨC, Cục trưởng Cục Cứu hộ - Cứu nạn, Chánh Văn phòng Ủy ban Quốc gia ứng phó sự cố, thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn
_____________

1 - “4 tại chỗ”: lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ, hậu cần tại chỗ và chỉ huy tại chỗ.

 http://tapchiqptd.vn/vi/nhung-chu-truong-cong-tac-lon/quan-doi-tich-cuc-tham-gia-tim-kiem-cuu-nan-tren-bien/15692.html

 


TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC BẢO VỆ CHÍNH TRỊ NỘI BỘ QUÂN ĐỘI TRONG TÌNH HÌNH MỚI


Công tác bảo vệ chính trị nội bộ Quân đội là một nội dung công tác đảng, công tác chính trị; khâu cơ bản, quan trọng của công tác bảo vệ an ninh Quân đội, góp phần bảo đảm cho Quân đội luôn vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện tốt hơn nữa công tác bảo vệ chính trị nội bộ Quân đội.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, trực tiếp là Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, công tác bảo vệ chính trị nội bộ Quân đội thời gian qua được cấp ủy, tổ chức đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện chặt chẽ, hiệu quả theo đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của Quân đội. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội được đẩy mạnh. Tích cực, chủ động đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; bảo đảm bí mật, an toàn cho mọi hoạt động, hiệu quả công tác quản lý tình hình chính trị nội bộ của các đơn vị được nâng cao. Công tác thẩm tra, xác minh, thẩm định, kết luận về tiêu chuẩn chính trị, nhất là vấn đề chính trị hiện nay đối với cán bộ, đảng viên được tiến hành chặt chẽ, có chất lượng tốt. Kịp thời phát hiện, xử lý các vi phạm, làm trong sạch nội bộ phục vụ công tác chuẩn bị nhân sự đại hội đảng các cấp trong Đảng bộ Quân đội tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng,… góp phần quan trọng xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Tuy nhiên, công tác bảo vệ chính trị nội bộ Quân đội thời gian qua vẫn còn những điểm tồn tại, hạn chế. Nhận thức về yêu cầu, nhiệm vụ công tác bảo vệ chính trị nội bộ của một số cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ chủ trì cơ quan, đơn vị chưa đầy đủ, sâu sắc; chất lượng nắm, quản lý tình hình chính trị nội bộ, quản lý con người còn hạn chế; thực hiện các quy định về bảo vệ bí mật Nhà nước, bí mật quân sự có lúc, có nơi vẫn còn sơ hở, mất cảnh giác.

Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đang đứng trước những thời cơ, thuận lợi và cả khó khăn, thách thức đan xen. Các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, cán bộ; chúng gia tăng các hoạt động móc nối, cài cắm vào nội bộ, thu thập tình báo trên các lĩnh vực trọng yếu, cơ mật,... nhất là trong dịp chuẩn bị nhân sự đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới công tác bảo vệ an ninh Quân đội nói chung, công tác bảo vệ chính trị nội bộ Quân đội nói riêng cần tập trung thực hiện tốt những nội dung sau:

Một làtiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Tập trung vào: Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; Chỉ thị số 39-CT/TW, ngày 18/8/2014 của Bộ Chính trị về “Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình hiện nay”; Quy định số 126-QĐ/TW, ngày 28/02/2018 của Bộ Chính trị “Một số vấn đề về bảo vệ chính trị nội Đảng”; Chỉ thị số 118-CT/QUTW, ngày 20/02/2017 của Thường vụ Quân ủy Trung ương “Về tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ Quân đội trong tình hình hiện nay”; Thông tư số 11/2015/TT-BQP, ngày 17/3/2015 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành Điều lệ công tác bảo vệ an ninh Quân đội nhân dân Việt Nam và các văn bản có liên quan; ngăn chặn, đẩy lùi biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, phi chính trị hóa” Quân đội. Việc quán triệt, giáo dục phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, phù hợp với từng đối tượng; gắn nhận thức với hành động, “xây” đi đôi với “chống”, “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”. Trên cơ sở đó, phát huy tinh thần trách nhiệm trong tổ chức thực hiện, duy trì nền nếp chế độ theo quy định, quy chế đã ban hành; chủ động phối hợp với các lực lượng trong Quân đội và ngoài Quân đội, sử dụng đồng bộ các phương tiện, biện pháp nghiệp vụ để nắm chắc tình hình, xử lý kịp thời, chính xác mọi tình huống. Đồng thời, nêu cao tinh thần cảnh giác, kịp thời phát hiện và đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, hành động chống phá của các thế lực thù địch và hoạt động của các loại tội phạm; tích cực đấu tranh phản bác luận điệu sai trái, phản động. Trong đó, phải có giải pháp phù hợp làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, luận điệu “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch, bảo đảm cơ quan, đơn vị an toàn tuyệt đối về chính trị, vững mạnh về tổ chức.

Hai làtăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, sự quản lý của cán bộ chủ trì các cấp đối với công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Thấm nhuần lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh “… Chúng do thám tỉ mỉ về tình hình quân sự, chính trị và kinh tế của ta. Để làm gì? Để chúng tìm cách phá hoại! Để ngăn chặn âm mưu của kẻ địch, thì cán bộ, bộ đội và nhân dân ta cần phải luôn luôn nâng cao cảnh giác. Đó là một nghĩa vụ quan trọng mà mọi người công dân phải làm trọn để chống lại âm mưu của đế quốc và bè lũ tay sai, để bảo vệ nhân dân và bảo vệ Tổ quốc”1. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải coi công tác bảo vệ chính trị nội bộ là nội dung quan trọng trong nghị quyết lãnh đạo của cấp ủy, chi bộ, kế hoạch hoạt động của chính ủy, chính trị viên và người chỉ huy. Bám sát các nghị quyết, chỉ thị, quyết định của trên, sự phát triển của yêu cầu nhiệm vụ, tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn để bổ sung, hoàn thiện nội dung, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo phù hợp. Cấp có thẩm quyền cần nghiên cứu, ban hành các quy chế, quy định về công tác bảo vệ chính trị nội bộ sát với đặc điểm, tình hình nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị; triển khai toàn diện, đồng bộ các nội dung, biện pháp bảo đảm chặt chẽ, nền nếp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bảo vệ chính trị nội bộ ở từng cơ quan, đơn vị và toàn quân. Thường xuyên nắm vững tình hình, dự báo chính xác những vấn đề có thể xảy ra, kịp thời có phương án xử lý hiệu quả, không để bị động, bất ngờ về chính trị trong mọi tình huống. Đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, phát hiện, ngăn chặn kịp thời những biểu hiện lệch lạc về nhận thức, tư tưởng và hành động; phát huy vai trò nêu gương, tiền phong, gương mẫu về lời nói cũng như việc làm, nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì các cấp trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Quá trình thực hiện, cấp ủy, chỉ huy các cấp chú trọng gắn chặt hoạt động lãnh đạo của tổ chức đảng với công tác quản lý, điều hành của cán bộ chủ trì và tinh thần tích cực, tự giác của cán bộ, đảng viên, bảo đảm trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, công tác bảo vệ chính trị nội bộ luôn đạt hiệu quả thiết thực, góp phần giữ vững ổn định chính trị nội bộ cơ quan, đơn vị.

Ba làthực hiện nghiêm túc, chặt chẽ, kỹ lưỡng công tác rà soát, thẩm định, thẩm tra, xác minh và kết luận tiêu chuẩn chính trị của cán bộ, đảng viên, nhân sự tham gia cấp ủy các cấp, nhân sự Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, cán bộ, đảng viên ở các cơ quan, đơn vị trọng yếu và trong công tác quy hoạch, đề bạt, bổ nhiệm theo phân cấp quản lý cán bộ. Đây là một nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, có liên hệ mật thiết với nhiều lĩnh vực công tác trong Quân đội và ngoài Quân đội. Bởi vậy, trong thực hiện cần phải có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, xây dựng kế hoạch cụ thể, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng ngành; chú trọng phối hợp giữa công tác bảo vệ chính trị nội bộ với công tác tuyên huấn, tổ chức, cán bộ, kiểm tra, quân lực, điều tra hình sự và hoạt động của các tổ chức, lực lượng khác theo quy chế đã xác định để rà soát, thẩm định, thẩm tra, xác minh và kết luận tiêu chuẩn chính trị của cán bộ, đảng viên; đặc biệt là những vấn đề về lịch sử chính trị, chính trị hiện nay, các trường hợp có biểu hiện thoái hóa, biến chất, có vấn đề cần xem xét về chính trị. Tuyệt đối không để lọt vào cấp ủy, đội ngũ cán bộ chủ trì, cán bộ, nhân viên, chiến sĩ làm việc ở cơ quan, đơn vị, vị trí trọng yếu, cơ mật những người không đủ tiêu chuẩn chính trị, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, vi phạm những điều đảng viên không được làm, uy tín thấp. Đồng thời, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan có liên quan triển khai thực hiện tốt việc xét duyệt, thẩm tra tiêu chuẩn chính trị trong tuyển quân, tuyển sinh quân sự, tuyển người vào các cơ quan, đơn vị trọng yếu, cơ mật, đi công tác, học tập, thăm thân ở nước ngoài, v.v.

Bốn làthường xuyên nắm và quản lý chặt chẽ tình hình chính trị nội bộ, nhất là vấn đề chính trị hiện nay của cán bộ, đảng viên. Cấp ủy, chỉ huy các cấp duy trì nghiêm nền nếp chế độ quản lý, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên; chủ động phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn các hoạt động xâm nhập, cài cắm, móc nối, lôi kéo, mua chuộc, khống chế hoạt động và thu thập tin tức tình báo của nước ngoài. Trong đó, lấy phòng ngừa, ngăn chặn, triệt tiêu các nguy cơ từ gốc là nhiệm vụ cơ bản; lấy đấu tranh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Phải nắm chắc tình hình, nhận diện, phân loại đối tượng, xác định nội dung, hình thức và phương pháp đấu tranh phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội bộ hiện nay. Đồng thời, duy trì nghiêm chế độ báo cáo, trao đổi, giao ban, rút kinh nghiệm, chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện; khắc phục mọi biểu hiện chủ quan, mất cảnh giác, sơ hở, để kẻ địch, phần tử xấu tác động, lôi kéo, phá hoại nội bộ. Để đạt hiệu quả, các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị cần nghiên cứu, ban hành các quy chế, quy định, triển khai toàn diện, đồng bộ các nội dung, biện pháp bảo vệ chính trị nội bộ, trong xét duyệt tiêu chuẩn chính trị đối với các đối tượng.

Năm là, quán triệt và thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị, quy chế, quy định của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, quy định của Quân đội về công tác bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật quân sự; xây dựng đơn vị an toàn, địa bàn an toàn. Khi tiến hành phải nắm vững và thực hiện tốt phương châm: nhất quán về nguyên tắc; cụ thể về yêu cầu nhiệm vụ, mục tiêu, nội dung công tác; phù hợp về bước đi và cách làm. Thực hiện nghiêm các quy định về bảo vệ bí mật khi tham gia mạng xã hội, bảo đảm an toàn, an ninh mạng khi sử dụng các thiết bị công nghệ thông tin. Lực lượng bảo vệ chính trị nội bộ Quân đội phải tăng cường bám sát cơ sở, các địa bàn xung yếu, chiến lược về quốc phòng, an ninh, các tuyến biên giới, biển, đảo để nắm tình hình, dự báo chính xác những tình huống có thể xảy ra; gắn xây dựng đơn vị an toàn, địa bàn an toàn với xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện. Tích cực, chủ động phát hiện, ngăn ngừa, xử lý kịp thời các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội. Cơ quan bảo vệ an ninh các cấp chủ động tham mưu cho cấp ủy, chỉ huy triển khai có hiệu quả các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn các hoạt động khủng bố, phá hoại, không để lộ, lọt, mất công văn, tài liệu, con dấu, vũ khí, khí tài, trang bị, tài sản của Quân đội. Thực hiện nghiêm quy định trong quan hệ, tiếp xúc với các tổ chức, cá nhân nước ngoài có liên quan đến Quân đội; đấu tranh có hiệu quả với việc lợi dụng quan hệ, hợp tác trong lĩnh vực đối ngoại quân sự để thu thập tình báo, bí mật, cài cắm, móc nối, lôi kéo người trong nội bộ. Việc giải quyết, xử lý các vấn đề liên quan đến an ninh Quân đội, an ninh quốc gia phải bảo đảm đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy chế, quy định của Quân đội.

Sáu làxây dựng cơ quan và đội ngũ cán bộ chuyên trách vững mạnh, thực sự là lực lượng nòng cốt trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Cấp ủy các cấp cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng cơ quan bảo vệ an ninh có tổ chức bộ máy tinh, gọn, mạnh, hoạt động theo đúng chức năng, nhiệm vụ, giữ vững nguyên tắc, linh hoạt, nhạy bén trong xử lý các tình huống, thực hiện tốt chức năng tham mưu cho cấp ủy, cán bộ chủ trì về công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Thường xuyên quan tâm đào tạo, bồi dưỡng xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách bảo vệ an ninh có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức, lối sống tốt, trung thực, tận tụy với công việc, không ngại khó khăn, gian khổ, hy sinh; có phương pháp, tác phong công tác tốt; nắm chắc luật pháp, tinh thông về nghiệp vụ, thực sự là nòng cốt, chuyên trách bảo vệ an ninh ở đơn vị. Việc sắp xếp cán bộ bảo vệ an ninh phải đúng khả năng, sở trường của từng người; tăng cường công tác tập huấn, sơ kết, tổng kết, nghiên cứu khoa học để nâng cao trình độ tham mưu, hướng dẫn về công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong toàn quân. Đồng thời, tạo điều kiện cho cán bộ rèn luyện thực tế ở cơ sở, trau dồi kinh nghiệm thực tiễn, phát huy năng lực, sở trường trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ.

Trước yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ chế độ và Quân đội trong tình hình mới, công tác bảo vệ chính trị nội bộ Quân đội phải được cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ; không ngừng đổi mới nội dung, hình thức, nâng cao chất lượng công tác theo đúng yêu cầu mà Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quân ủy Trung ương đã đề ra. Thực hiện tốt nhiệm vụ này, không chỉ góp phần quan trọng vào việc tổ chức thành công đại hội đảng ở các cấp tiến tới Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng mà còn bảo đảm an ninh, an toàn trong xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội, thực sự là lực lượng nòng cốt bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thân yêu của chúng ta.

_____________

1 - Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 12, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 389.

http://tapchiqptd.vn/vi/nhung-chu-truong-cong-tac-lon/tang-cuong-cong-tac-bao-ve-chinh-tri-noi-bo-quan-doi-trong-tinh-hinh-moi/15732.html


KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC QUY TRÌNH XÂY DỰNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM


QĐND - Kỳ họp thứ chín, Quốc hội khóa XIV (bế mạc vào cuối tuần qua) đã thông qua 10 luật, 21 nghị quyết, cho ý kiến về 6 dự án luật khác. Đây là một trong những thành công lớn của kỳ họp lần này, đáp ứng lòng mong mỏi của đông đảo cử tri. Thế nhưng một số ít người có thể vì không hiểu hoặc cố tình không hiểu đã xuyên tạc quy trình xây dựng pháp luật ở Việt Nam, gây bức xúc trong dư luận…

 “Góp ý, phê bình về quy trình xây dựng luật” nhưng lại không hiểu luật

Ngày 18-6 vừa qua, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Luật BHVBQPPL) với 92,96% đại biểu Quốc hội (ĐBQH) tham gia biểu quyết tán thành. Đây là một trong những dự án luật được đông đảo cử tri quan tâm. Dự án luật này cũng được một số đối tượng chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta “soi xét” khá kỹ. Những người này từng có những bản “góp ý phê bình về quy trình xây dựng luật ở Việt Nam” đăng tải trên mạng xã hội và một số cơ quan báo chí nước ngoài, trong đó phê bình trực tiếp quy trình xây dựng Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật BHVBQPPL.

Có lẽ họ không nhớ vào ngày 22-5-2020, Quốc hội đã thảo luận trực tuyến về dự án Luật BHVBQPPL. Tại cuộc họp này, về cơ bản, các vị ĐBQH đã tán thành với báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý và nhiều nội dung của dự thảo luật; đồng thời đóng góp thêm ý kiến về một số điều, khoản cụ thể. Trên cơ sở ý kiến của các vị ĐBQH, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đã chỉ đạo các cơ quan hữu quan nghiên cứu, tiếp thu để chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo luật. Có ý kiến đề nghị quy định rõ hơn về thời gian cơ quan chủ trì soạn thảo gửi văn bản tới Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam và phạm vi, chủ thể, thời hạn thực hiện phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam để bảo đảm tính khả thi. UBTVQH đã báo cáo: Việc phản biện xã hội đối với dự thảo Luật BHVBQPPL đang được thực hiện theo quy định của Luật MTTQ Việt Nam. Dự thảo luật đã tiếp thu, bổ sung quy định về hoạt động phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên trong quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật tại Điều 6. Các vấn đề về thời gian gửi văn bản, phạm vi, chủ thể, thời hạn phản biện xã hội thuộc trình tự, thủ tục thực hiện phản biện xã hội, hiện đang được quy định tại Nghị quyết liên tịch số 403/2017/NQLT-UBTVQH14-CP-ĐCTUBTWMTTQVN. Do đó, UBTVQH xin tiếp thu ý kiến của các ĐBQH để chỉ đạo các cơ quan liên quan rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung, quy định rõ trong Nghị quyết liên tịch số 403.

Cũng có ý kiến đề nghị Hội đồng Dân tộc (HDDT), các ủy ban của Quốc hội chỉ nên có ý kiến mà không nên quy định trách nhiệm thẩm tra đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh và tham gia thẩm tra dự án, dự thảo thuộc lĩnh vực phụ trách, UBTVQH cho rằng, theo quy định của Hiến pháp và Luật Tổ chức Quốc hội, HĐDT, ủy ban của Quốc hội có nhiệm vụ thẩm tra các dự án luật thuộc lĩnh vực phụ trách nhằm bảo đảm tất cả nội dung liên quan của dự án luật đều được xem xét để báo cáo Quốc hội, UBTVQH. Tương tự như vậy, trong việc thẩm tra đề nghị xây dựng luật, ngoài trách nhiệm chung của Ủy ban Pháp luật thì rất cần ý kiến thẩm tra chuyên môn sâu của HĐDT, các ủy ban khác của Quốc hội với vai trò là cơ quan phụ trách lĩnh vực. Đây cũng là sự đổi mới hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội trong công tác lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh từ đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV nhằm nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật và đã đạt được những kết quả tích cực. Việc quy định như vậy cũng là nhằm đề cao, làm rõ hơn trách nhiệm của các cơ quan tham gia trong quy trình xây dựng, ban hành luật như yêu cầu của Ban Bí thư tại Thông báo số 26-TB/TW ngày 19-4-2017.

Như vậy UBTVQH đã tiếp thu tối đa ý kiến đóng góp của các ĐBQH theo hướng mở rộng dân chủ, phát huy trí tuệ tập thể của các cơ quan của Quốc hội, ĐBQH và toàn dân trong xây dựng các dự án luật, điều này trái với ý kiến của một số người cho rằng Quốc hội áp đặt ý chí của một số ít người trong xây dựng luật. Điều đáng phê phán là có người “góp ý, phê bình về quy trình xây dựng luật ở Việt Nam” nhưng lại không hiểu quy trình xây dựng luật ở Việt Nam.

Thành quả xây dựng pháp luật ở Việt Nam là điều không thể phủ nhận

Lập hiến và lập pháp là một trong những hoạt động quan trọng và đặc trưng nhất của Quốc hội Việt Nam. Chức năng này đã được thể hiện xuyên suốt qua các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và Hiến pháp năm 2013. Ngoài Hiến pháp năm 1946 quy định nguyên tắc chung “Nghị viện nhân dân đặt ra các pháp luật”, thì cả 4 bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 và 2013 đều khẳng định Quốc hội là cơ quan lập hiến và lập pháp. Qua mỗi bản Hiến pháp, cơ chế thực hiện chức năng lập pháp của Quốc hội được kế thừa, phát triển và ngày càng được làm rõ hơn. Hiến pháp năm 2013 (hiện hành) đã khẳng định, Quốc hội là cơ quan làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp, làm luật, sửa đổi luật; thực hiện quyền lập hiến, lập pháp. Trên thực tế, quy định này của Hiến pháp được thực hiện khá chặt chẽ, cụ thể theo trình tự như sau: Hàng năm, trên cơ sở đề nghị của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền trình dự án luật, pháp lệnh, UBTVQH lập và trình Quốc hội xem xét, quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh. Trên cơ sở đó, UBTVQH phân công, chỉ đạo, đôn đốc và giám sát các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện chương trình này. HĐDT, các ủy ban của Quốc hội, bên cạnh việc thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh, còn dành nhiều thời gian, công sức cho việc chỉnh lý, hoàn thiện các dự án luật trên cơ sở ý kiến của các vị ĐBQH, ý kiến của nhân dân, của các cơ quan, tổ chức hữu quan. Để phục vụ cho công tác này, HĐDT, các ủy ban của Quốc hội đã tham gia ngay từ đầu vào quá trình xây dựng dự án luật. UBTVQH với tư cách là cơ quan chuẩn bị và chủ trì kỳ họp Quốc hội, thường xuyên cho ý kiến đối với các dự án luật, pháp lệnh. Giữa hai kỳ họp, các đoàn ĐBQH đã tổ chức các hội nghị để trao đổi, thảo luận và lấy ý kiến của các đối tượng có liên quan. Ý kiến của ĐBQH là cơ sở quan trọng mang tính quyết định trong việc hoạch định chính sách, chỉnh lý và hoàn thiện từng nội dung của dự án luật. Theo trình tự này, Quốc hội đã nắm trọn quyền lập pháp, vì thế ý kiến một số người cho rằng Quốc hội chỉ là cơ quan thông qua luật là không có cơ sở lý luận và thực tiễn. Thực tế cho thấy, nếu so sánh giữa dự án luật trình Quốc hội với các dự án luật đã được các cơ quan của Quốc hội thẩm tra, chỉnh lý, hoàn thiện và Quốc hội thông qua thì chất lượng được nâng cao đáng kể, phù hợp với điều kiện thực tiễn, nhất là về các chính sách, cả về mặt nội dung cũng như hình thức văn bản. Quy trình xây dựng luật của Việt Nam cũng phù hợp với thông lệ quốc tế. Theo quy trình này, pháp luật đã ban hành giúp chúng ta đã thu được nhiều thành quả mà các thế lực thù địch dù có cố tình xuyên tạc nhưng cũng không thể phủ nhận.  

Tại Kỳ họp thứ chín mới đây, Quốc hội đã thông qua 10 luật, 21 nghị quyết, cho ý kiến về 6 dự án luật khác. Các dự án luật, nghị quyết trình Quốc hội xem xét, thông qua và cho ý kiến tại Kỳ họp thứ chín đã bám sát chủ trương, đường lối của Đảng, tiếp tục thể chế hóa Hiến pháp, góp phần bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường; tổ chức bộ máy; quan hệ lao động; bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, tăng cường công tác nội luật hóa các điều ước, cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, tiến trình hội nhập quốc tế.   

Tiếp tục hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật ở Việt Nam

Có thể nói hệ thống pháp luật Việt Nam kể từ thời điểm đổi mới đất nước năm 1986 đến nay đã phát triển không ngừng và còn phải tiếp tục hoàn thiện. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHVBQPPL mà Quốc hội vừa thông qua sẽ tạo cơ sở pháp lý cho việc tiếp tục hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Theo đó, cơ quan trình dự án luật được quyền bảo vệ quan điểm của mình trong toàn bộ quá trình soạn thảo và trình thông qua dự án luật. Còn cơ quan thẩm tra, dù đó là các ủy ban của Quốc hội hay UBTVQH thì phải làm đúng chức năng của cơ quan thẩm tra, giúp Quốc hội xem xét, thậm chí có thể đề nghị Quốc hội không thông qua một dự án luật là điều hoàn toàn có thể xảy ra nhưng không nên làm thay và tước đi quyền của cơ quan soạn thảo dự án luật.   

Luật BHVBQPPL năm 1996 được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2002 đã quy định hồ sơ dự án luật trình Quốc hội phải có dự thảo văn bản quy định chi tiết. Luật BHVBQPPL năm 2008 đã bỏ quy định này. Tuy nhiên, năm 2013, qua giám sát tối cao việc ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành luật, Quốc hội thấy rằng tình trạng nợ đọng, chậm ban hành văn bản quy định chi tiết có xu hướng gia tăng, dẫn đến luật chậm được triển khai thực hiện. Do đó, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 67/2013/QH13 yêu cầu trong hồ sơ dự án luật phải trình kèm theo dự thảo văn bản quy định chi tiết. Quy định này tiếp tục được thể hiện trong Luật BHVBQPPL sửa đổi, bổ sung. Đồng thời, tiếp thu ý kiến của các vị ĐBQH, UBTVQH đã đề nghị cơ quan trình, cơ quan soạn thảo thời gian tới cần quan tâm hơn nữa việc chuẩn bị dự thảo văn bản quy định chi tiết nhằm bảo đảm chất lượng văn bản, tránh hình thức, lãng phí.

Để xử lý tình trạng còn xảy ra một số mâu thuẫn, chồng chéo trong quy định giữa các luật do ngay từ giai đoạn tổng kết, đánh giá, xây dựng dự thảo văn bản mới, các cơ quan liên quan chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm trong việc rà soát, phát hiện và xử lý kịp thời các nội dung có quy định khác nhau trong các văn bản luật ban hành trước, UBTVQH đã chỉ đạo bổ sung vào Luật sửa đổi bổ sung Luật BHVBQPPL quy định hồ sơ dự án luật gửi thẩm định, thẩm tra, trình Quốc hội phải có báo cáo về rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến dự án, dự thảo; đồng thời bổ sung vào Khoản 2, Điều 12 quy định “trường hợp văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành có quy định khác với văn bản mới nhưng cần tiếp tục được áp dụng thì phải được chỉ rõ trong văn bản mới đó”.

Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật. Đảng và Nhà nước ta luôn nhận thức sâu sắc sự cần thiết xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, toàn diện, là cơ sở xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh. Pháp luật của Việt Nam đã có những quy định rất cụ thể bảo đảm cho mọi công dân được tiếp cận thông tin đa dạng, nhiều chiều, công khai, chủ động tham gia góp ý kiến trong các giai đoạn của quy trình xây dựng pháp luật; đồng thời, các cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền xây dựng pháp luật phải lắng nghe, tiếp thu ý kiến, phản hồi ý kiến của người dân công khai minh bạch; trường hợp tiếp thu ý kiến thì cụ thể ý kiến về nội dung gì, nếu không tiếp thu thì phải giải trình rõ tại sao không tiếp thu. Qua đó, một mặt bảo đảm quyền dân chủ của người dân trong xây dựng pháp luật, mặt khác, những ý kiến góp ý từ người dân, từ cộng đồng sẽ giúp các cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền xây dựng văn bản quy phạm pháp luật bảo đảm đáp ứng yêu cầu từ thực tiễn, phản ánh được ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Không thể xuyên tạc thành quả và quy trình xây dựng pháp luật ở Việt Nam.

https://www.qdnd.vn/chong-dien-bien-hoa-binh/khong-the-xuyen-tac-quy-trinh-xay-dung-phap-luat-viet-nam-623994


BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG LÀ NHIỆM VỤ CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN


Hiện nay, có một số người băn khoăn về nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa thuộc về những thành phần nào, hay nói cách khác là nhiệm vụ đó thuộc cơ quan, tổ chức, cá nhân nào.

Cần phải khẳng định rằng, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và mọi tầng lớp nhân dân. Trong đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên là lực lượng tiên phong. Để đấu tranh, bảo vệ thành công nền tảng tư tưởng của Đảng, trước hết phải bảo vệ vững chắc nội bộ. Nội bộ đoàn kết, không dao động, không "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" thì thế lực thù địch dù có nhiều âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt đến mấy cũng khó bề làm lung lạc ý chí, niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Vì thế, việc đầu tiên là cần có biện pháp đấu tranh, khắc phục thực trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lý không chỉ phai nhạt lý tưởng mà còn thiếu niềm tin vào con đường xã hội chủ nghĩa.

Quá trình "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong mỗi cá nhân, tổ chức thường bắt đầu từ mất niềm tin, mất phương hướng, từ bỏ lý tưởng, mục tiêu cách mạng, tiến tới du nhập tư tưởng, lý luận phi mác-xít, sẵn sàng "trở cờ" phản bội, đưa đất nước đi theo hướng khác, con đường khác phi xã hội chủ nghĩa. Thực tế là nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa vẫn tồn tại trong cả nhận thức và hành động của một số người. Nhận thức đó có thể bắt nguồn từ những vấn đề còn chưa tỏ tường về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, kết hợp với sự xuất hiện những thế mạnh của chủ nghĩa tư bản hiện đại trong quá trình toàn cầu hóa. Những điều đó đã tác động mạnh tới nhận thức của một số người, trong đó có một số văn nghệ sĩ, trí thức, làm cho nhận thức của họ trở nên mông lung, như người "đứng giữa ngã ba đường".

Để bảo vệ hiệu quả nền tảng tư tưởng của Đảng, thì toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cần kiên trì tiến hành cuộc đấu tranh phê phán triệt để hệ tư tưởng tư sản, tư tưởng xã hội dân chủ, chủ nghĩa thực dụng tồn tại trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Tiếp tục khẳng định chế độ và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn là con đường duy nhất đúng, bởi nó vừa thể hiện tính cách mạng triệt để, vừa phù hợp với quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội. Bên cạnh đó, cần có biện pháp thiết thực củng cố và phát triển mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với các tổ chức trong hệ thống chính trị, hệ thống chính trị xã hội và nhân dân. Phê phán, bác bỏ các quan điểm, tư tưởng và ý đồ thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Phát hiện, xử lý kịp thời những âm mưu phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng từ các thế lực thù địch, vạch mặt những phần tử cơ hội chính trị, ngăn chặn những hành vi xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, ngăn chặn sự chia rẽ mối đoàn kết gắn bó giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân và lực lượng vũ trang. Phải tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý, điều hành của Nhà nước, cụ thể là của bộ máy chính quyền các cấp; xử lý đúng đắn những mâu thuẫn nội bộ trong các tầng lớp nhân dân, không để tích tụ, tạo tâm lý bất bình và các "điểm nóng" về an ninh trật tự trong xã hội. Đồng thời đẩy mạnh việc đấu tranh, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng, chủ nghĩa cơ hội, thực dụng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Quyết tâm làm trong sạch từ nhận thức đến hành động của đội ngũ cán bộ, đảng viên-đội ngũ vừa là đối tượng, vừa là chủ thể của phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", để tạo cơ sở nền tảng đấu tranh hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn hoạt động "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch.

https://www.qdnd.vn/chong-dien-bien-hoa-binh/bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang-la-nhiem-vu-cua-can-bo-dang-vien-626933


NGÀN NĂM TIẾN BIỂN, GIỮ VỮNG CHỦ QUYỀN



Từ thuở hồng hoang, cuộc sống của người Việt đã gắn liền với biển. Ba vùng văn hóa lớn (Đông Sơn ở miền Bắc, Sa Huỳnh ở miền Trung và Nam Trung bộ, Óc Eo ở niềm Nam) đều lưu giữ những dấu tích người Việt Nam mở đất, lấn biển; sống cùng biển và vươn ra biển để mưu sinh, để mở mang lãnh thổ. Do đó, quá trình dựng nước và giữ của người Việt từ ngàn năm nay là một quá trình lấn biển và chinh phục biển khơi. Muốn giữ biển phải gắn với chinh phục, khai thác, làm giàu từ biển.

Nằm trong khu vực Biển Đông, Việt Nam có ba mặt Đông, Nam và Tây-Nam trông ra biển với bờ biển dài 3.260 km, có nhiều đảo và quần đảo lớn nhỏ bao bọc. Với vị trí biển địa chiến lược đặc biệt quan trọng, Việt Nam không chỉ có nguồn tài nguyên phong phú với giá trị khai thác kinh tế lớn, vùng biển nước ta còn giữ vị trí địa chiến lược, an ninh quốc phòng quan trọng.
Để làm rõ những vấn đề được nêu ra trong loạt bài “Đánh thức “mặt tiền” Biển Đông của Báo Quân đội nhân dân Điện tử, phóng viên đã có cuộc trao đổi với TS sử học Nguyễn Nhã, tác giả nổi tiếng với nhiều tác phẩm đặc khảo về Trường Sa, Hoàng Sa và những bằng chứng về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này.
TS Nguyễn Nhã: Đối với người Trung Hoa mà các nhà Nho xưa kia chúng ta ảnh hưởng cho Giang Sơn (Sông núi) là biểu tượng Quốc gia hay Tổ quốc. Song trong dân gian Việt Nam lại thường gọi Đất Nước là biểu tượng cho Quốc gia, Tổ quốc. Đất bao gồm cả núi, đồng bằng; nước gồm cả nước sông ngòi và nước biển.
Ngoài ra theo truyền thuyết về Lạc Long Quân sinh 100 người con, thì 50 con lên núi, 50 con xuống biển. Người con đầu lên núi đã lập ra nước Văn Lang, tức Quốc tổ Hùng Vương, còn 50 con xuống biển đã đi khắp nơi. Từ đó, Bốn biển anh em một nhà. Nên Việt Nam có triết lý “bầu bí” như “Bầu ơi thương lấy bí cùng tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”, giàn đây có thể là giàn Trái đất”.
Như thế trong dân gian Việt Nam rất quan tâm, tôn trọng biển, chứ không chỉ quan tâm đến Giang (Sông) như người Trung Quốc.
Chính vì lẽ đó, đường biển có ý nghĩa trọng yếu trong bảo vệ quốc gia. Thời Trần đã có hang “Đầu gỗ” ở Vịnh Hạ Long, dùng cọc gỗ chặn vào cửa sông, cùng với đó cắt cử quan Trần Khánh Dư canh giữ biển. Ngoài ra, còn có Cảng Vân Đồn để giao lưu thương mại qua biển. Đến khi thế kỷ 17, khi các thương gia phương Tây cũng như người Hoa, người Nhật đến giao thương, nếu ở Đàng Ngoài có Phố Hiến (Hưng Yên), thì Đàng Trong có cảng Hội An (Quảng Nam), đều ở xa Thủ phủ kinh kỳ vì đề phòng giặc ngoại xâm.
Hiện nay, 28 tỉnh thành của Việt Nam có mặt tiền là bờ biển, nên có thể nói kinh tế biển từ nuôi trồng thủy hải sản, đến nghề đánh bắt cá biển, đặc biệt là đánh bắt xa bờ đang trở thành động lực phát triển đất nước. Mặt khác, Việt Nam có nhiều cảng biển, như cảng Vân Phong - cảng nước sâu nhất thế giới tới 40m, 60m, hay cảng Cam Ranh - cảng quân sự tốt nhất thế giới với thành phố biển xinh đẹp Nha Trang.
Nói một cách dễ hiểu về tầm quan trọng của biển Đông, đó là cứ 4 chiếc tàu đi trên biển thì chắc chắn có 1 chiếc đi qua biển Đông. Do đó, giao thương biển Đông quan trọng hàng đầu thế giới và tất nhiên rất quan trọng với phát triển kinh tế Việt Nam, khi đây là cửa ngõ của đất nước ra thế giới.
TS Nguyễn Nhã: Vào thế kỷ 16, 17, người phương Tây bắt đầu quan tâm đến biển Đông và giao thương với Đàng Ngoài như Phố Hiến, ở Đàng Trong như ở Hội An. Chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã lập Đội Dân binh Hoàng Sa kiêm quản đội Bắc Hải (Trường Sa) đi kiếm sản vật tàu đắm ở Hoàng Sa, trong đó có nhiều súng ống, chủ yếu lấy người ở Cù Lao Ré, tức đảo Lý Sơn nhô ra biển Đông xa nhất, gần với Hoàng Sa nhất. Tại Lý Sơn, có Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa vào cuối tháng 2 âm lịch.
Đến năm 1816, Triều Nguyễn còn cử thủy quân với sự hướng dẫn của Đội Hoàng Sa đi cắm cột mốc chủ quyền, dựng bia, đào giếng, xây dựng miếu thờ và trồng cây... ở Hoàng Sa. Các tài liệu phương Tây còn nói Vua Gia Long đi cắm cờ chủ quyền tại Hoàng Sa và giám mục Taberd còn vẽ bản đồ “An Nam Đại Quốc Họa Đồ” ghi rõ Paracel “seu” Cát Vàng (seu tiếng latinh có nghĩa “hay là”). Như thế rõ ràng các chúa Nguyễn và Nhà Nguyễn đã có công mở mang bờ cõi về phía biển.
Đặc biệt, Lê Quí Đôn hay Đại Việt Sử Ký Tục Biên ở Đàng Ngoài lại ghi rất rõ công lao của Chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Về phía chính quyền Trung Hoa, khi các công ty bảo hiểm Anh (năm 1898) kiện Trung Hoa để người dân hôi của các tàu đắm của Đức và Nhật ở Hoàng Sa thì chính quyền Trung Hoa nói Hoàng Sa không thuộc địa phận của Trung Hoa. Đến năm 1909, chính quyền Quảng Đông cho Paracel là đất vô chủ nên đã cho tàu chiến đến bắn 21 phát súng và lên dảo cắm cờ chủ quyền của Trung Quốc tại Paracel rồi Trung Quốc bắt đầu gọi Paracel là Tây Sa...
Nhìn từ việc mở mang bờ cõi phía biển, có thể thấy, từ xa xưa, cha ông đã có tầm nhìn xa thấy tầm quan trọng của biển Đông, nên đã có những hoạt động khẳng định chủ quyền ở những hải đảo xa bờ, mang lại nhiều lợi ích cho đất nước. Với chính sách hướng biển hiện nay của Đảng, Nhà nước, bài học trên rất có ý nghĩa. Cùng với những kinh nghiệm của các nước trên thế giới về vấn đề này, khi có sự tranh chấp với các nước láng giềng, sẽ có những chứng cứ mang tính quốc tế, để chính sách hướng biển của ta được thành công tốt đẹp.
TS Nguyễn Nhã: Theo pháp lý quốc tế cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, việc chiếm hữu chủ quyền phải là thật sự và mang tính nhà nước. Luật biển 1982 cũng quy định rất rõ ràng về chủ quyền từ lãnh hải đến lãnh hải mở rộng và khi chồng lấn phải thương thảo cũng quy định rất rõ ràng về chủ quyền từ lãnh hải đến lãnh hải mở rộng và khi chồng lấn phải thương thảo...
Liên hợp quốc cũng có những quy định cấm dùng vũ lực khi có tranh chấp chủ quyền. Vì thế, việc phát triển kinh tế biển và kết hợp quốc phòng an ninh trên biển phải tuân theo Luật biển 1982, cũng như những quy định của Liên hợp quốc.
Nhiều quốc gia trên thế giới đã quan tâm đến phát triển kinh tế biển, trong đó có phát triển hải quân và các đội thương thuyền hùng mạnh. Các nước như Nhật Bản, Vương quốc Anh đã trở thành cường quốc. Tại sao Việt Nam lại không?
Việt Nam có 28 tỉnh, thành phố với mặt tiền là biển, có thể tích cực tham gia làm kinh tế biển. Cùng với đó, Việt Nam có nhiều hải cảng tốt. Biển Đông lại là nơi có nhiều mỏ dầu khí vào hàng thứ hai, thứ ba trên thế giới. Nếu Việt Nam có hải quân hùng mạnh và kinh tế bền vững sẽ không bị nước nào xử ép, bắt nạt.
TS Nguyễn Nhã: Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22-10-2018 của Hội nghị lần thứ Tám Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 là rất đúng đắn về phát triển kinh tế biển có kế hoạch rõ ràng. Muốn giữ vững chủ quyền, Việt Nam phải hùng cường.
Trong tác phẩm Việt Nam Huyết Lệ Thi Thư, Tập 5 mà tôi là tác giả có đề cập đến vấn đề làm thế nào để Việt Nam trở thành cường quốc biển. Trong đó, những yếu tố khiến Việt Nam trở thành cường quốc có vai trò của thanh niên. Như thanh niên góp phần xây dựng cảng sâu nhất thế giới Vân Phong trở thành cảng trung chuyển, đón các tàu trung chuyển 500.000 tấn, đặc biệt các tàu của Nhật, Mỹ... Hay xây dựng đường cao tốc xuyên Á không qua đèo nào, cao tốc Bắc Nam từ Vân Phong đến cảng Hải Phòng, cảng Sài Gòn; đón các công ty đóng tàu quy mô như Đại Hàn, các đội thương thuyền lớn hay các đội ngư dân đánh cá xa bờ như Nhật Bản, các tỉnh thành có bờ biển xây dựng kinh tế biển như Nhật Bản. Cùng với đó, giáo dục và đào tạo phải làm cuộc cách mạng, sao cho thanh niên có lòng yêu nước, dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng luôn hướng về Tổ quốc và giáo dục kỹ năng tư duy sáng tạo như thanh niên Do Thái...

BẢO ĐẢM TỰ DO NGÔN LUẬN, TỰ DO BÁO CHÍ CHO ĐẠI ĐA SỐ NGƯỜI DÂN



Tự do ngôn luận, tự do báo chí là những quyền cơ bản của con người đã được Việt Nam cam kết thực hiện theo những nguyên tắc chung của Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền. Tuy nhiên, đây cũng là vấn đề nhạy cảm mà các thế lực thù địch, phản động, bất mãn chính trị thường lợi dụng để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN).
1. Những năm gần đây, vào dịp Ngày Tự do báo chí thế giới (3-5) hằng năm, hay kỷ niệm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21-6), trên nhiều trang mạng có nội dung xấu độc và trên trang tiếng Việt của một số cơ quan truyền thông nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam thường xuất hiện các ý kiến, bài viết xuyên tạc tình hình tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam. Trong đó, cái gọi là “Tổ chức phóng viên không biên giới” không những đưa ra bảng xếp hạng hết sức sai trái về tự do báo chí ở Việt Nam, mà còn công bố danh sách và trao giải thưởng “Anh hùng thông tin” cho một số đối tượng người Việt Nam đã lợi dụng tự do, dân chủ chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. “Tiền hô hậu ủng” cho tổ chức phi chính phủ này là những đối tượng được dán mác “nhà đấu tranh dân chủ, nhân quyền”, “nhà báo tự do” trong nước tung ra nhiều bài viết, phát ngôn xuyên tạc trắng trợn tình hình tự do báo chí của Việt Nam.
Không chỉ vậy, vào những thời điểm các cơ quan chức năng, bảo vệ pháp luật của Việt Nam khởi tố vụ án, khởi tố các đối tượng lợi dụng tự do, dân chủ tuyên truyền, chống phá chính quyền Nhà nước, thì các thế lực thù địch bên ngoài và những người còn thù hằn với chế độ lại rêu rao đó là "hành động bóp nghẹt tự do ngôn luận", "triệt tiêu quyền tự do báo chí", hoặc "ra sức ngăn cản những người bất đồng chính kiến"...
2. Là quốc gia thành viên có trách nhiệm của Liên hợp quốc, Việt Nam đã sớm tham gia, ký kết các điều ước quốc tế về bảo đảm các quyền cơ bản của con người và quyền công dân, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Ngay sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bản Hiến pháp đầu tiên được Quốc hội thông qua ngày 9-11-1946 đã hiến định tại Điều thứ 10: “Công dân Việt Nam có quyền: Tự do ngôn luận; tự do xuất bản; tự do tổ chức và hội họp; tự do tín ngưỡng; tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”. Những quyền cơ bản này đã được hiến định xuyên suốt trong các bản hiến pháp của Việt Nam và tiếp tục được hiến định tại Điều 25 Hiến pháp năm 2013: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.
Để bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ngày càng được hiện diện trong thực tiễn cuộc sống, năm 2016, Quốc hội Việt Nam đã ban hành Luật Tiếp cận thông tin và Luật Báo chí. Trong đó, Điều 3 Luật Tiếp cận thông tin quy định: Mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin; thông tin được cung cấp phải chính xác, đầy đủ; việc cung cấp thông tin phải kịp thời, minh bạch, thuận lợi cho công dân; Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Điều 10 của luật này cũng quy định công dân có quyền tự do tiếp cận thông tin được cơ quan nhà nước công khai, đồng thời được yêu cầu cơ quan nhà nước cung cấp thông tin.
Về quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân được quy định tại Điều 11 Luật Báo chí năm 2016 với 3 nội dung cụ thể, gồm: Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức và cá nhân. Đặc biệt, Điều 13 luật này nêu rõ: “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình; báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân; báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng”.
Như vậy, về mặt pháp lý, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin của công dân ở Việt Nam đã được quy định toàn diện, đầy đủ, với những nội dung cụ thể, dễ hiểu, dễ áp dụng, dễ thực hiện trong cuộc sống.
3. Trên thực tế, không riêng ở Việt Nam, mà hầu hết các quốc gia tuy có cách tiếp cận không giống nhau về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, nhưng đều có một nguyên tắc cơ bản là việc thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí phải phù hợp với tình hình, điều kiện lịch sử, văn hóa, trình độ dân trí, thể chế chính trị của mỗi nước và không được phép lợi dụng quyền cơ bản này để xâm hại lợi ích quốc gia-dân tộc, làm phương hại danh dự, nhân phẩm người khác và ảnh hưởng tiêu cực đến đạo đức cộng đồng, trật tự xã hội. Điều 11, Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1789 của nước Pháp đã quy định: “Tự do trao đổi suy nghĩ và ý kiến là một trong những quyền quý giá nhất của con người. Vì thế, bất kỳ công dân nào cũng có thể nói, viết và công bố tự do; tuy nhiên, họ sẽ chịu trách nhiệm nếu lạm dụng quyền tự do này theo quy định của pháp luật”. Nước Mỹ tuy không ban hành luật riêng về báo chí, nhưng có nhiều điều luật khác của quốc hội, quy định có tính pháp lý của tòa án cũng đưa ra những giới hạn nhất định đối với báo chí, đối với quyền và trách nhiệm của công dân liên quan đến báo chí nhằm tránh xâm hại đến an ninh quốc gia. Khoản 2, Điều 29 Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền năm 1948 nêu rõ: “Trong khi hành xử những quyền tự do của mình, ai cũng phải chịu những giới hạn do luật pháp đặt ra nhằm bảo đảm những quyền tự do của người khác cũng được thừa nhận và tôn trọng, những đòi hỏi chính đáng về đạo lý, trật tự công cộng và an lạc chung trong một xã hội dân chủ cũng được thỏa mãn”.
Thế giới từng có những bài học về việc báo chí đi quá giới hạn tự do cho phép, nên phải giá rất đắt. Tháng 9-2005, tờ báo Jyllands-Posten (Đan Mạch) đăng tải 12 bức tranh biếm họa về đấng tiên tri Muhammad của Hồi giáo. Sau đó, bức tranh biếm họa này tiếp tục xuất hiện trên nhiều tờ báo ở Pháp, Na Uy, Hà Lan, Italy, Tây Ban Nha. Vụ việc đã gây nên một làn sóng phẫn nộ mạnh mẽ của những người theo đạo Hồi trên toàn thế giới dẫn đến nhiều hậu quả xấu. Tháng 7-2011, tờ News of the World (Tin tức thế giới) của nước Anh đã phải đình bản vĩnh viễn sau 168 năm hoạt động vì bị công chúng cáo buộc nhiều phóng viên bản báo này đã đột nhập điện thoại của hàng nghìn người dân để “săn tin”. Nhắc lại hai ví dụ trên để thấy, trên thế giới không có quốc gia nào cho phép tự do báo chí, tự do ngôn luận “đứng trên, đứng ngoài” luật pháp và xâm hại đến an ninh quốc gia. Nếu vi phạm điều này, báo chí sẽ bị công chúng tẩy chay và bị những chế tài xử lý thích hợp.
4. Mọi quyền tự do, trong đó có tự do ngôn luận, tự do báo chí đều phải có giới hạn nhất định. Giới hạn này đặt ra để bảo đảm quyền tự do chính đáng cho số đông mọi người, chứ không phải cho một nhóm ít người nào đó nói năng bừa bãi, phát ngôn bạt mạng, thích gì viết đấy, nói và viết chỉ vì động cơ cá nhân ích kỷ, thiên vị mà không vì sự ổn định, đồng thuận chung của xã hội, cộng đồng.
Chẳng hạn như trong đợt đại dịch Covid-19, nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam không chỉ đối mặt với loại virus nguy hiểm này, mà còn phải đối mặt với vấn nạn tin giả tràn lan trên mạng xã hội. Phần lớn những tin giả này xuất phát từ những người lợi dụng tự do ngôn luận để lan truyền thông tin sai trái, thất thiệt, tác động tiêu cực đến dư luận xã hội và an ninh truyền thông. Do đó, ngăn chặn, xử lý những đối tượng gây ra nạn “hoang tin” trên mạng xã hội chính là góp phần bảo đảm sự trong sạch của môi trường thông tin, qua đó góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Thành công của Việt Nam trong công tác phòng, chống, kiểm soát đại dịch Covid-19 được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, có một phần bắt nguồn từ việc Đảng, Nhà nước Việt Nam và các cấp, các ngành đã làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền, tạo sự đồng thuận cao trong các tầng lớp nhân dân; đồng thời phát hiện, ngăn chặn kịp thời những thông tin sai trái về dịch bệnh trên mạng xã hội.
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn xác định việc bảo đảm, thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam là một trong những giải pháp quan trọng để khơi dậy, phát huy ý chí, nguyện vọng, trí tuệ, sức mạnh tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Mặt khác, trong quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam luôn có tinh thần cầu thị, tích cực tiếp thu, học hỏi, tham khảo những kinh nghiệm tiến bộ của các quốc gia khác để thực hiện ngày càng tốt hơn quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí cho đại đa số người dân.
Để bảo đảm quyền lợi, tự do chính đáng cho số đông công dân, chúng ta cũng không chủ quan, lơ là, mà phải luôn đề cao cảnh giác, tỉnh táo nhận diện, kiên quyết vạch trần, kịp thời bác bỏ mọi âm mưu của các thế lực thù địch, phản động, bất mãn chính trị cố tình lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí nhằm đưa ra những thông tin sai trái, xuyên tạc, tác động tiêu cực dư luận xã hội, xâm hại an ninh truyền thông quốc gia, chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam.  

BẢN CHẤT "TƯ DUY ĐỘT PHÁ" CỦA NHỮNG "NHÀ DÂN CHỦ CUỘI"



 “Nói dối như Cuội” là thành ngữ phổ biến ở Việt Nam. Cứ nói đến chuyện Cuội là hầu hết mọi người biết rằng đó là những người dối trá đến độ chuyên nghiệp, khó có thể tin và phải cảnh giác, đề phòng. Ấy vậy mà, như “đến hẹn lại lên”, cứ mỗi lần Việt Nam tổ chức các sự kiện chính trị quan trọng là bấy nhiêu lần mấy người tự xưng “nhà dân chủ” ở trong và ngoài nước lại cất lời chê bai đủ kiểu.
 Lần này cũng vậy, khi Đảng Cộng sản Việt Nam chuẩn bị tiến hành Đại hội XIII, họ cũng hùa nhau “bình luận” và đưa ra những “phát kiến dân chủ” cho nội dung dự thảo các văn kiện trình đại hội.
Tại sao những “nhà dân chủ” lại mất nhiều công sức và thời giờ đến vậy để nêu lên và đề xuất những “phát kiến dân chủ” đối với Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó thực chất chỉ là lời lẽ của những người cố tình khoác lên mình cái vỏ bọc gọi là “dân chủ” mà thôi. Bản chất của những “nhà dân chủ” này được thể hiện ở những vấn đề sau:
1. Họ mượn cớ bàn luận về nội dung văn kiện đại hội chỉ để chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam. Người dân của các nước trên thế giới và ở Việt Nam đều biết rằng, việc hoạch định đường lối chính trị để dân tộc mình phát triển đi lên trong từng giai đoạn là khó khăn nhất so với việc hoạch định mọi đường lối khác. Vì vậy, các đảng cầm quyền ở các nước luôn đầu tư nhiều công sức cho việc xây dựng đường lối chính trị của nước mình trong giai đoạn tiếp theo để được công dân hoặc cử tri đồng tình, ủng hộ với tỷ lệ cao nhất. Cùng vì lý do này, khi người đại diện của Đảng Cộng sản Việt Nam họp báo và nêu lên những vấn đề mới trong nội dung dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII, thì các “nhà dân chủ” bắt đầu bám riết vào đó để “thọc mạch”, “soi mói”. Họ cho rằng: “3 đến 4 vấn đề mới mà dự thảo đưa ra không có gì gọi là “tư duy đột phá” và chỉ là “sự tuyên truyền của Đảng”. Họ còn đưa ra tiêu chí về “tư duy đột phá”-tư duy ở trình độ cao, ít nhất là cao hơn hẳn tư duy thông thường 4-5 bậc (thông thường, kinh nghiệm, logic, tổng hợp)...
Với lập trường chính trị dường như đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, họ lớn tiếng phủ nhận đường lối chính trị của Đảng là điều có thể dự đoán được. Thực tế, Đảng cũng không ép buộc họ phải theo ý của Đảng, đó chính là biểu hiện của tự do dân chủ xã hội chủ nghĩa. Nhưng đã “đăng đàn” về sự phủ nhận thì phải có lý lẽ thuyết phục và đề xuất được cái gì mới hơn, hay hơn, đúng với cái gọi là “tư duy đột phá” như họ nói thì mới thuyết phục được Đảng Cộng sản Việt Nam và công luận về việc đổi mới tư duy chính trị để xây dựng đất nước. Vậy nội dung chủ đạo cái gọi là “tư duy đột phá” của họ nêu lên là gì? Đó là, họ đòi Đảng phải thay đổi “định hướng xã hội chủ nghĩa”, "đưa đất nước theo con đường tư bản chủ nghĩa, xã hội thực hiện đa nguyên chính trị mà không có đảng cộng sản tham gia thì mới tìm thấy dân chủ"...
Xem ra đây đúng là cái lý của các “chú Cuội”. Tiếc thay thực tiễn trên thế giới này đang diễn ra trái với mong mỏi của họ. Đó là, ở nhiều nước được coi là dân chủ, đa nguyên chính trị trên thế giới, nhưng thực chất chỉ có một hoặc hai đảng thay nhau cầm quyền và quyết định đường lối chính trị của đất nước. Hơn nữa, cái thực thể “chính trị đa nguyên” bấy lâu nay ở một số nước đã nhiều lần bị thế giới “nghi ngờ” và bị chính một bộ phận không nhỏ người dân của nước đó tẩy chay vì sự "đa nguyên nửa vời", tiếng là có nhiều đảng tham gia lãnh đạo chính trị, nhưng thực chất chỉ có một, hoặc hai đảng thay nhau lãnh đạo mà thôi. Và thực tế là "thiên đường" của chủ nghĩa tư bản, của chủ nghĩa đa nguyên thì chưa thấy, nhưng cái hố ngăn cách xã hội do phân hóa giàu nghèo rõ ràng ngày càng rộng; sự phân biệt đối xử, kỳ thị giữa các dân tộc, màu da... đã ngày càng lộ rõ, khiến cho xã hội bất bình, náo loạn, mất an ninh trật tự, quyền con người bị đe dọa.
Thực tế là như thế, nhưng với tâm địa đen tối và bản chất cơ hội, dối trá, những “nhà dân chủ” vẫn cố tình tung hỏa mù hòng lừa phỉnh một số người nhẹ dạ cả tin. Thế nên họ không ngừng tâng bốc phong trào dân chủ kiểu phương Tây; cố hữu tư tưởng, mục tiêu, hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thay đổi chế độ và hướng lái người dân Việt Nam đi tới "xã hội dân chủ" kiểu phương Tây mà thiên hạ thừa biết đó chỉ là cái “bánh vẽ” không hơn không kém. Vì thế có thể gọi họ là những "nhà dân chủ cuội".
2. Về vấn đề bầu cử trong Đảng, bầu cử Quốc hội và HĐND các cấp, các "nhà dân chủ cuội” cho rằng cần phải “dân cử, dân bầu”, chứ không thể là “đảng cử, đảng bầu” hay “đảng cử, dân bầu”... Thực tế trên thế giới hiện nay, có nhiều nước phương Tây, việc bầu cử tưởng như rất dân chủ, thế nhưng thực chất dân chủ chỉ là cái vỏ, là phần nổi của tảng băng chìm. Có những nước đã bày ra đủ thứ luật lệ để ngăn chặn cơ hội thắng cử của các đảng có tư tưởng đối lập với đảng, hoặc các đảng cầm quyền. Sự việc này còn tiến xa và nguy hiểm đến mức những đối thủ tiềm năng có nguy cơ bị "thanh toán" trước khi thắng cử. Điều này từng xảy ra ở nhiều nước có nền dân chủ kiểu phương Tây. Thực tế đó chắc chắn các "nhà dân chủ cuội" có biết, nhưng họ luôn cố tình lấp liếm, che đậy.
Về phương pháp bầu cử, các "nhà dân chủ cuội" khuyên Đảng ta nên học theo nước này, nước kia và lấy Hoa Kỳ là "hình mẫu", nghĩa là để cho "dân trực tiếp bầu Tổng Bí thư" của Đảng, như kiểu cử tri Hoa Kỳ bầu tổng thống. Nhưng từ trước đến nay, theo pháp luật của Hoa Kỳ thì bất cứ ứng cử viên tổng thống nào cũng phải được đảng của mình lựa chọn, đề cử và bầu ra để trở thành ứng cử viên tranh cử Tổng thống Hoa Kỳ. Các ứng cử viên tổng thống sẽ được cử tri, đúng hơn là đại cử tri, bầu chọn làm tổng thống. Như vậy có thể hiểu, hiện tượng “đảng cử, rồi đảng bầu”, sau đến “đảng cử rồi dân bầu” cũng là một nguyên tắc phổ thông trong bầu cử ở các nước phương Tây, mà điển hình là Hoa Kỳ. Vì vậy, các "nhà dân chủ cuội" cố tình chê bai, bài xích Đảng Cộng sản Việt Nam "không để cho dân được bầu Tổng Bí thư” và xuyên tạc cơ chế đảng đề cử để nhân dân bầu ra bộ máy lãnh đạo, quản lý nhà nước (bầu cử Quốc hội và HĐND các cấp) của mình, chứng tỏ họ thiếu hiểu biết về nguyên tắc và phi thực tế. 
3. Với bản chất, tâm địa hẹp hòi nên các "nhà dân chủ cuội" luôn lo sợ, cố tình dè bỉu, xuyên tạc sự thành công của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa (XHCN).
Khi chứng kiến sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội (CNXH) hiện thực ở các nước Đông Âu và Liên Xô vào những năm 1980-1990, nhiều người đã không khỏi hoang mang, lo lắng. Lúc đó, những "nhà dân chủ cuội” có lẽ là người vui mừng nhất và họ “tiên đoán” chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam sớm hay muộn cũng sẽ sụp đổ theo. Nhưng ngược lại, dưới sự chèo lái của Đảng Cộng sản Việt Nam, con tàu cách mạng Việt Nam không những vượt qua sóng cả mà còn vươn lên mạnh mẽ. CNXH ở Việt Nam đã đứng vững giữa muôn vàn khó khăn, đã phát triển một cách đĩnh đạc, kỳ diệu hơn bao giờ hết. Nói như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng là: Chưa bao giờ chúng ta có một cơ đồ như ngày hôm nay. Việt Nam hiện nay đang là đối tác, là bạn bè của gần 200 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Nhiều quốc gia hùng cường, nhiều nước lớn trên thế giới muốn nâng cấp mối quan hệ, hợp tác với nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Đó là thực tế không thể phủ nhận.
Vấn đề là tại sao Việt Nam lại đứng vững và phát triển như vậy? Chỉ có một câu trả lời duy nhất đối với các “nhà dân chủ cuội” rằng, chỉ có họ mới cố tình quên truyền thống anh dũng quật cường và tư duy sáng tạo của dân tộc Việt Nam trong đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Nhưng người không quên vấn đề này là Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng đã tiếp nối, phát huy cao độ truyền thống quý báu của dân tộc trong thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21. Trong sự nghiệp lãnh đạo toàn dân, toàn quân tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đem lại giá trị đích thực về quyền dân tộc tự quyết, quyền con người cho nhân dân và dân tộc Việt Nam. Đảng đang ngày càng làm cho dân giàu, nước mạnh, phát triển hùng cường, nâng cao uy tín, vị thế đất nước, tham gia có trách nhiệm vào giải quyết các vấn đề về hòa bình, an ninh trong khu vực và trên thế giới. Vì vậy, Đảng Cộng sản được nhân dân Việt Nam tin cậy, yêu mến và ủy thác vai trò là lực lượng chính trị lãnh đạo xã hội, định ra chủ trương, đường lối, đưa dân tộc Việt Nam không ngừng phát triển. Bằng uy tín, trí tuệ và bản lĩnh của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tạo được niềm tin đối với nhân dân và bạn bè trên thế giới.
Thực tế ngày nay cho thấy, lý tưởng cộng sản trên thế giới không những không mất đi mà còn tiếp tục hiển hiện một cách quang minh từ chính những thành công mang tầm thời đại của Đảng Cộng sản Việt Nam và các đảng cộng sản khác ở những năm đầu thế kỷ 21 này. Các “nhà dân chủ cuội” đang thấy rõ sự tồn tại mãnh liệt và sinh động đó, nhưng họ vẫn cố tình lập lờ, không chịu thừa nhận thực tế, không chịu thừa nhận những thành quả của cách mạng Việt Nam trong gần một thế kỷ qua. Đó là vì trong họ luôn tồn tại dai dẳng một tư tưởng thù nghịch, hoặc tồn tại sự ảo tưởng phi thực tế mà căn nguyên sâu xa của nó là sự cơ hội về chính trị, chỉ muốn Việt Nam mất ổn định để "đục nước béo cò". Về lâu dài, họ ảo tưởng rằng "cứ tuyên truyền, cứ xuyên tạc kiểu "mưa dầm thấm lâu", thế nào cũng có người nghe, người theo". Về ngắn hạn thì họ cố tình xuyên tạc, bịa đặt trắng trợn, đổi trắng, thay đen trong cách lập luận, hòng câu view, câu like để... kiếm sống trên mạng. Tất cả những trò bịp bợm chính trị đó của các "nhà dân chủ cuội" không thể qua mắt những người có hiểu biết, có kinh nghiệm, có thông tin, không thể phỉnh phờ được nhân dân Việt Nam.
Đến đây có thể nói, các “nhà dân chủ cuội” đang lo sợ những thành tựu của CNXH ở Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng sẽ là luồng sáng soi rõ tâm can đen tối của họ. Còn những cái gọi là “tư duy đột phá”, những “phát kiến”, “đóng góp” cho Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam từ những "nhà dân chủ cuội" thực chất không có gì gọi là khoa học, là đột phá, đó chỉ là những cái cớ để họ chống phá, hòng hạ thấp uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam, chống phá sự vươn lên của CNXH trên thế giới mà thôi. Thế nên, những lý lẽ mà họ đưa ra không thuyết phục và không thể nào tin được.

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...