Thứ Sáu, 19 tháng 6, 2020

MƯU ĐỒ CỦA NHỮNG ĐỐI TƯỢNG KHOÁC ÁO DÂN CHỦ KÍCH ĐỘNG BIỂU TÌNH



Nước Mỹ đang trải qua những ngày tháng thách thức khi biểu tình, bạo lực đã và đang xảy ra tại hàng chục thành phố lớn sau khi cảnh sát bắt giữ và làm một công dân da màu tử vong tại bang Minnesota ngày 25/5. Cái chết của George Floyb khi bị một cảnh sát đè cổ đã thổi bùng làn sóng đấu tranh với nạn phân biệt chủng tộc tại xứ cờ hoa nhiều thập kỷ qua.
Mâu thuẫn sắc tộc tại Mỹ như ngọn lửa ẩn giấu bên trong xã hội từ rất lâu và nay được dịp bùng phát chỉ với một mồi lửa nhỏ. Hậu quả của sự leo thang từ các vụ biểu tình chuyển biến thành bạo lực, cướp bóc, tiếng súng nổ khắp nơi, các cuộc biểu tình tiếp tục lan rộng khắp nước Mỹ, nhiều cửa hàng, trụ sở cảnh sát bị đập phá, thậm chí người biểu tình còn tấn công cả Nhà Trắng, buộc chính quyền phải ra lệnh giới nghiêm ở nhiều bang.
Chính quyền phải điều động quân đội và lực lượng vệ binh để đảm bảo an ninh, trật tự. Việc này mới chỉ phần nào chấm dứt các cuộc bạo động chứ chưa xoa dịu làn sóng biểu tình. Những gì đang xảy ra đã cho thấy một nước Mỹ thật khác đang bị phơi bày mà trước đó, những hình ảnh này chỉ thường được xem ở những bộ phim bom tấn Hollywood.
Xung quanh vấn đề nêu trên, một số nhà “dân chủ” tự xưng ở Việt Nam, các tờ báo như RFA, BBC, VOA… sau một thời gian tỏ ra thờ ơ, vô cảm với biểu tình ở Mỹ thì nay đã lên tiếng. Thay vì lên án nạn phân biệt chủng tộc và cách hành xử của một số cảnh sát Mỹ, họ lại tỏ ra hào hứng khi ca tụng các vụ biểu tình tại Mỹ và mơ tưởng về việc Việt Nam sẽ diễn ra biểu tình và bạo loạn phá hoại như ở Mỹ.
Âm mưu của các đối tượng là muốn Việt Nam sẽ có biểu tình, bạo loạn như Mỹ hiện nay, muốn tái hiện kịch bản phá hoại an ninh chính trị, môi trường đầu tư đã từng diễn ra tại một số nhà máy của doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam khi số cực đoan được sự hỗ trợ của các thế lực thù địch lấy lý do phản đối việc Trung Quốc đưa giàn khoan HD 981 vào vùng lãnh hải của Việt Nam (năm 2014) hay như các vụ biểu tình, gây rối an ninh, trật tự nhằm khiếu kiện nhà máy Formosa gây ô nhiễm môi trường biển tại một số tỉnh miền Trung (2016), đặc biệt là vụ bạo động tại Bình Thuận (2018) do các đối tượng xấu kích động với lý do phản đối Dự thảo Luật Đặc khu…
Tất cả các vụ việc phức tạp trên đều có bàn tay của các thế lực thù địch, số đối tượng phản động, cực đoan ở trong nước, mục tiêu đều hướng tới tập dượt cho cái gọi là “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố” nhằm làm tê liệt hệ thống chính trị cơ sở và dần lan rộng ra khắp các thành phố lớn, đích cuối cùng của họ chính là nhằm lật đổ chế độ XHCN ở Việt Nam.
Rõ ràng, những nhà “dân chủ” tự xưng đã và đang “vạch áo cho người xem lưng”, chứng minh bản chất trong việc ngấm ngầm tuyên truyền, kích động tâm lý tiêu cực tới một bộ phận quần chúng nhân dân, nhất là giới trẻ qua các vụ biểu tình tại Mỹ hay như tại Hồng Kông (năm 2019). Đây là tiền đề để khi tình hình chính trị, kinh tế, xã hội nước ta có những biến động, các đối tượng này sẽ “thừa nước đục thả câu”, lợi dụng kích động, lôi kéo người dân tham gia các hoạt động chống phá.
Bên cạnh đó, các đối tượng còn chứng tỏ sự cực đoan khi “khóc thuê cho người Mỹ”. Với họ, lâu nay hình mẫu nước Mỹ được xem là biểu tượng tiêu biểu về sự quy chuẩn của tự do, dân chủ, nhân quyền và họ luôn miệng rêu rao đòi Việt Nam phải học theo Mỹ. Không ít lần họ ca cẩm, lên án Việt Nam vi phạm “dân chủ”, “nhân quyền”, đàn áp những người “bất đồng chính kiến”, quốc tế hóa các vấn đề trên và không quên “nhờ cậy” Mỹ can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, thậm chí một số đối tượng tôn giáo cực đoan còn yêu cầu Hoa Kỳ đưa Việt Nam trở lại nhóm CPC (nhóm các quốc gia đáng quan tâm về vấn đề tự do tôn giáo) vì cho rằng “Việt Nam đàn áp tôn giáo”, Việt Nam không có “tự do tôn giáo”…
Là những người luôn rêu rao đi đầu trong phong trào đấu tranh đòi “dân chủ”, “nhân quyền”, nhưng suốt thời gian qua, họ không có một động thái lên án, không bình luận và không phê phán bất kỳ một tin, hình ảnh nào về cuộc biểu tình bạo loạn của Mỹ đã chứng tỏ những gì họ vẫn khua môi, múa mép trước đây chỉ là diễn trò để mưu đồ gây bạo loạn ở Việt Nam. Điều này đã lật mặt những nhà “dân chủ” giả hiệu khi họ chính là những kẻ ăn bám Mỹ và các thế lực thù địch bên ngoài, cho nên đương nhiên họ không bao giờ nói xấu về nước Mỹ.
Hơn nữa, qua bức tranh tổng thể về hậu quả do cuộc biểu tình, bạo loạn tại nước Mỹ đã và đang rất nghiêm trọng sẽ là sự cảnh tỉnh cho những ai luôn mong muốn và lấy cảm hứng từ các cuộc biểu tình của nền dân chủ Mỹ để mong rằng Việt Nam sẽ có nhiều cuộc biểu tình tương tự với hy vọng “biểu tình để đất nước phát triển”.
Đây thực chất là âm mưu của những kẻ phá hoại đất nước. Giấc mơ về các cuộc biểu tình chẳng qua mong muốn biến đất nước ta thành bãi chiến trường của các cuộc cách mạng màu, cách mạng đường phố. Bài học từ những biểu hiện của cái gọi là cách mạng màu diễn ra ở các nước Đông Âu, Trung Đông và Bắc Phi dẫn tới việc các quốc gia này rơi vào khủng hoảng chính trị, nội chiến, chết chóc và sự bất ổn. Cho nên, biểu tình chỉ là cái cớ để dẫn đến các cuộc bạo loạn phá hoại làm suy yếu sức mạnh của chính quyền, làm giảm hiệu lực của pháp luật.
Người dân Việt Nam vốn yêu chuộng hòa bình, luôn mong muốn có một môi trường tốt đẹp, hòa bình, ổn định để sinh sống và lao động sản xuất. Cho nên, những gì đang diễn ra ở Mỹ, người Việt Nam sẽ chẳng bao giờ mơ ước một nền dân chủ vô pháp khi nó đang gây họa với nước Mỹ. Chỉ có những kẻ cực đoan mới mơ ước điều này xảy ra.
Đặc biệt, sau những biến cố từ các cuộc biểu tình, đình công, bạo động, cướp bóc tại một số khu công nghiệp và trụ sở các cơ quan công quyền tại Hà Tĩnh, Bình Dương, Bình Phước trước đây khi những người hám lợi, nhẹ dạ cả tin bị những đối tượng xấu kích động, mua chuộc tham gia các hoạt động gây rối an ninh trật tự, để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng đã thức tỉnh nhận thức của mỗi người dân Việt Nam thấy được giá trị to lớn của hai chữ “bình yên”. 

VẪN LẶP LẠI NHỮNG ĐIỂM THIẾU KHÁCH QUAN TRONG BÁO CÁO CỦA BỘ NGOẠI GIAO HOA KỲ



Vừa qua, Ủy hội Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ đã công bố Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế (TDTGQT) thường niên năm 2019. Báo cáo năm nay vẫn đưa ra những chỉ trích thiếu khách quan: “Việt Nam tiếp tục đàn áp tôn giáo”. 
Bình luận về Báo cáo này, nhiều tài khoản trên mạng cho rằng đó vẫn chỉ là “bổn cũ chép lại”. Vẫn còn những thông tin thiếu khách quan về chính sách, pháp luật và thực tế quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam.
Xin được trích lại và có đôi lời về Báo cáo TDTGQT. Báo cáo viết: “Nhà nước đàn áp nhắm vào các nhóm tôn giáo không được chính quyền thừa nhận”,… cán bộ “sách nhiễu, đánh đập, bắt giữ, truy tố, theo dõi, cấm đi lại đối với những người theo các nhóm tôn giáo không được nhà nước cho đăng ký”. Báo cáo viện dẫn ở Nghệ An, đó là trường hợp thầy giáo Nguyễn Năng Tĩnh bị tù 11 năm với cáo buộc “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”.
Còn trong văn bản thứ 2 “Báo cáo mới về tù nhân tôn giáo tại Việt Nam” (đưa ra sau 1 ngày – 10/6/2020, sau báo cáo TDTGQT) thì các thông tin không có gì mới mà chỉ lắp lại những thông tin trong báo cáo TDTGQT… Tuy nhiên, báo cáo này có nhấn mạnh thêm “Điều kiện giam giữ trong các nhà tù ở Việt Nam vi phạm những chuẩn mực quốc tế, từ chối không cho các tù nhân tôn giáo được tiếp cận các nghi lễ phụng tự của tôn giáo mà họ tin theo… Đơn đăng ký thường bị ngâm nhiều tháng hay thậm chí nhiều năm mà không cho biết quyết định giải quyết”.
Như nhiều người đã biết, hằng năm, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đều đưa ra 2 bản báo cáo: 1- “Báo cáo về tình hình nhân quyền trên thế giới” và 2- “Báo cáo về tự do tôn giáo quốc tế”. Hai báo cáo này tuy gọi là về “tình hình thế giới” nhưng Hoa Kỳ tập trung chỉ trích vào những nhà nước do các Đảng Cộng sản lãnh đạo, cầm quyền, đặc biệt là Việt Nam.
Còn nhớ năm 2004, Hoa Kỳ đã đưa Việt Nam vào danh sách CPC (Những quốc gia cần quan tâm đặc biệt) nhưng đến năm 2006, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã rút tên Việt Nam khỏi danh sách CPC… Năm nay, Báo cáo của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã thừa nhận: “Việt Nam có một số tiến bộ nhất định trong việc cho phép người dân thực hiện quyền tự do tín ngưỡng”… Tuy nhiên, họ vẫn kêu gọi chính phủ Mỹ đưa Việt Nam vào danh sách CPC.
Trong báo cáo năm nay, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã cung cấp thêm thông tin về số lượng, tỷ lệ đồng bào có đạo ở Việt Nam. Theo thống kê hiện Việt Nam có khoảng hơn 97 triệu dân với khoảng 26,4% dân số là những người đang thực hành các hoạt động tín ngưỡng được đăng ký.
Tuy nhiên, Bộ Ngoại giao Mỹ ước tính 90% dân số Việt Nam theo một đức tin truyền thống nào đó bao gồm cả dạng được đăng ký với nhà nước và dạng không đăng ký. Đạo Phật là đạo lớn nhất tại Việt Nam với khoảng 14,9% dân số, tiếp theo là Công giáo với khoảng 7,4% dân số. Chưa bàn con số trên thì người đọc đã thấy rằng, Báo cáo TDTGQT của Hoa Kỳ là mâu thuẫn và vô lý. Nhà nước Việt Nam không có lý do gì để chống lại 26,4% (khoảng 237 triệu người) có đạo.
Mặt khác, chính trong báo cáo năm nay, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã thừa nhận rằng “90% dân số Việt Nam theo một đức tin truyền thống nào đó bao gồm cả dạng được đăng ký với nhà nước và dạng không đăng ký”. Điều này có nghĩa, ở Việt Nam vẫn đang tồn tại một số người có đạo “không/chưa đăng ký” nhưng họ vẫn thực hiện các nghi thức tôn giáo.
Điều đáng tiếc là, những người chắp bút Báo cáo TDTGQT năm nay vẫn đưa ra một số thông tin thiếu kiểm chứng, thiếu thiện chí với Việt Nam. Chẳng hạn, Báo cáo cho rằng ở Việt Nam, các tôn giáo luôn bị “sách nhiễu, đánh đập, bắt giữ, truy tố, theo dõi, cấm đi lại đối với những người theo các nhóm tôn giáo không được nhà nước cho đăng ký”.
Chính sách, pháp luật Việt Nam quy định, các tôn giáo phải đăng ký với chính quyền các cấp. Đương nhiên, những tổ chức đã đăng ký sẽ được Nhà nước bảo hộ. Những tổ chức nào không hoặc chưa đăng ký thì không được bảo hộ. Nhà nước Việt Nam là nhà nước của tất cả dân tộc, của các tôn giáo, tín ngưỡng. Tất cả đều có quyền bình đẳng như nhau. Không có chuyện một tôn giáo nào đó áp đặt cho nhà nước quyền của mình (không phải đăng ký…).
Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo. Theo thống kê điều tra dân số gần đây nhất, đến nay, Việt Nam có 38 tổ chức tôn giáo, trên 24 triệu tín đồ, 80.000 chức sắc và hơn 26.000 cơ sở thờ tự. Đông đảo người có đạo đã và đang tham gia các hoạt động chung của xã hội, đoàn kết xây dựng cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo”; nhiều chức sắc tôn giáo có uy tín đã được bầu vào Quốc hội, HĐND các cấp và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đã được đưa vào Hiến pháp 2013, sau đó đã được thể chế hóa trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, 2016. Khác với Pháp lệnh về tín ngưỡng, tôn giáo trước đây, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 đã mở rộng đối tượng thụ hưởng, kể cả người nước ngoài, người đang bị tạm giam, tạm giữ, đang chấp hành án vẫn có quyền cầu nguyện…
Việt Nam đã đơn giản hóa những thủ tục cấp phép hoạt động trước đây, như phải xin phép trước các lễ hội, nay chỉ cần gửi thông báo có hoạt động là được. Tuy nhiên ở Việt Nam, tôn giáo không phải là những tổ chức “đặc biệt”, muốn làm gì cũng được mà phải tuân thủ pháp luật như các tổ chức xã hội khác, phải đăng ký, phải được chính quyền cho phép…
Vừa qua, trong công tác phòng, chống dịch COVID-19, nhiều giáo phận Thiên Chúa giáo đã chấp hành “giãn cách xã hội”, không tập trung cầu nguyện ở nhà thờ. Ở Hà Tĩnh - theo Giám mục Phaolô Nguyễn Thái Hợp, việc người dân tập trung cầu nguyện tại nhà thờ đã được điều chỉnh, dưới nhiều hình thức, trong đó có hình thức “Làm lễ trực tuyến, một số nhóm người nhỏ, không mở cửa nhà thờ cho đông người vào”.
Được biết, ngày 27/3, Tòa Giám mục giáo phận Hà Tĩnh đã có Thông báo số 03 gửi các chức sắc và cộng đồng Thiên Chúa giáo về các lưu ý trong phụng vụ để phòng tránh dịch bệnh COVID-19. Thông báo nêu: “Đại dịch COVID-19 ngày càng gây tác hại nghiêm trọng…, nay Tòa Giám mục thông báo: “Các cha dâng thánh lễ hằng ngày, kể cả Chúa Nhật, lễ trọng với một số rất ít người tham dự và bắt buộc phải đeo khẩu trang. Hủy bỏ các chương trình tập trung đông người. Khuyến khích làm các việc lành này trong nội bộ gia đình mỗi người”.
Như vậy có thể nói: Quyền TDTG ở nước ta được tôn trọng và bảo vệ. Quyền này không chỉ được quy định trong Hiến pháp mà đảm bảo cả ở trong hoạt động thực tiễn. Mặt khác, tuyệt đại các chức sắc và đồng bào có đạo đều tuân thủ chính sách pháp luật Quốc gia về tín ngưỡng, tôn giáo. Báo cáo về tình hình tôn giáo ở Việt Nam của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ 2019 mới công bố là chưa đúng sự thật.



MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÒNG, CHỐNG VI PHẠM KỶ LUẬT, PHÁP LUẬT TRONG QUÂN ĐỘI



Tăng cường giáo dục, rèn luyện, phòng, chống vi phạm kỷ luật Quân đội, pháp luật Nhà nước cho quân nhân có ý nghĩa rất quan trọng. Vì vậy, các cơ quan, đơn vị cần nghiên cứu, đánh giá đúng thực trạng, phát hiện nguyên nhân, tiến hành đồng bộ các giải pháp phòng, chống vi phạm kỷ luật, pháp luật, góp phần xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện “tiêu biểu, mẫu mực”, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Thực hiện căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Bộ đội không có kỷ luật, đánh giặc nhất định thua”1 và “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm”2; đồng thời, quán triệt, thực hiện khâu đột phá về chấp hành kỷ luật, pháp luật mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ X đã xác định, những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết của trên về công tác phòng, chống vi phạm kỷ luật, pháp luật và bảo đảm an toàn tuyệt đối, góp phần xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Nổi bật là: công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong toàn quân có sự đổi mới mạnh mẽ cả về nội dung, hình thức, phương pháp và từng bước đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả thiết thực. Nhiều đơn vị đã lồng ghép công tác giáo dục với biện pháp quản lý hành chính, duy trì kỷ luật, kỷ cương và quan tâm đến đời sống của cán bộ, chiến sĩ. Tuyệt đại  đa số cán bộ, chiến sĩ ổn định tư tưởng, yên tâm công tác, gắn bó xây dựng cơ quan, đơn vị, tự giác chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội; nền nếp, chế độ sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, công tác, học tập, sinh hoạt được duy trì chặt chẽ, nghiêm túc; nội bộ đoàn kết, thống nhất, mối quan hệ cán bộ với chiến sĩ, cấp trên với cấp dưới được giải quyết hài hòa, phát huy tốt những giá trị, nét đẹp văn hóa quân sự, phẩm chất, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Tình hình vi phạm kỷ luật, pháp luật trong toàn quân có chuyển biến tích cực, toàn diện, rõ nét, có chiều hướng giảm dần trên các tiêu chí về tổng số vụ, số đối tượng vi phạm3. Qua đó, góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Tuy nhiên, sự chuyển biến tiến bộ về chấp hành kỷ luật, pháp luật, xây dựng chính quy, xây dựng đơn vị an toàn của các cơ quan, đơn vị chưa thực sự vững chắc. Tình hình chấp hành kỷ luật, pháp luật vẫn còn diễn biến phức tạp, các vụ vi phạm kỷ luật, pháp luật gây thiệt hại nghiêm trọng về người, tài sản vẫn còn xảy ra. Đáng chú ý là, những năm gần đây, xuất hiện một số loại tội phạm mới, phi truyền thống, có tính chất rất phức tạp, như: tội phạm sử dụng công nghệ cao, sử dụng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để chiếm đoạt tài sản. Một số loại vụ việc xảy ra chiếm tỷ lệ cao trên tổng số vụ việc, gây thiệt hại nghiêm trọng về người, tài sản, ảnh hưởng đến uy tín của Quân đội, điển hình là: tai nạn giao thông chiếm 34,81%; cố ý gây thương tích chiếm 5,05%; tự tử, tự sát chiếm 3,97%; đánh bạc chiếm 1,7%; giết người chiếm 1,08%; vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước, gây thất thoát, lãng phí chiếm 0,68%, v.v.
Nguyên nhân của các vụ việc vi phạm kỷ luật, pháp luật trong Quân đội có cả khách quan và chủ quan, nhưng qua tìm hiểu thấy rằng chủ yếu là do: cấp ủy, chỉ huy một số cơ quan, đơn vị chưa thực sự quan tâm, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện công tác phòng, chống vi phạm kỷ luật, pháp luật; thực hiện có lúc, có nơi còn chiếu lệ, hình thức; chưa phát huy tốt vai trò và huy động được mọi lực lượng tham gia. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật ở một số cơ quan, đơn vị hiệu quả còn thấp; nội dung, hình thức, phương pháp còn đơn điệu; việc lồng ghép, gắn giáo dục chính trị với phổ biến, giáo dục pháp luật, rèn luyện kỷ luật bộ đội còn hạn chế; chưa chú trọng giáo dục, rèn luyện tích lũy kinh nghiệm, bồi dưỡng kỹ năng sống, kỹ năng ứng xử, giao tiếp cho bộ đội, nên khi gặp tình huống khó khăn, phức tạp dễ dẫn đến chán nản, tiêu cực, mất phương hướng, bế tắc về tư tưởng và hành động. Việc duy trì, thực hiện nền nếp chính quy, rèn luyện kỷ luật, quản lý bộ đội, quản lý vũ khí, trang bị, cơ sở vật chất,… tại một số đơn vị chưa nghiêm. Công tác kiểm tra, đôn đốc của chỉ huy các cấp chưa thường xuyên, thiếu tỷ mỷ, chưa chủ động, kiên quyết; phương pháp, tác phong công tác của một số cán bộ cấp phân đội chưa gương mẫu, chưa khoa học, còn chủ quan, đơn giản, chưa có nhiều biện pháp, kinh nghiệm trong quản lý, rèn luyện kỷ luật và xây dựng nền nếp chính quy. Khi phát sinh những biểu hiện tiêu cực hoặc có vụ việc xảy ra, chưa chú trọng tìm hiểu nguyên nhân, thiếu kiên trì giáo dục, thuyết phục, nặng về biện pháp hành chính, mệnh lệnh; xử lý chưa kiên quyết, dứt điểm, không dự kiến được tình hình để có biện pháp phòng ngừa; báo cáo chưa kịp thời, không trung thực, còn che giấu khuyết điểm vì sợ ảnh hưởng đến thành tích của đơn vị và cá nhân. Một số cán bộ, chiến sĩ nhận thức, tinh thần tự giác, ý thức chấp hành kỷ luật Quân đội, pháp luật Nhà nước còn hạn chế. Công tác tuyển chọn công dân nhập ngũ, tuyển sinh quân sự còn có những sơ hở, thiếu sót; việc phối hợp với cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể địa phương và gia đình quân nhân trong nắm tình hình địa bàn, tư tưởng, các mối quan hệ xã hội của quân nhân thuộc quyền chưa thường xuyên, bị động khi có vụ việc xảy ra.
Để khắc phục những hạn chế, khuyết điểm, kịp thời ngăn chặn, xử lý các vụ việc vi phạm; phòng, chống vi phạm kỷ luật Quân đội, pháp luật Nhà nước, đặc biệt là kỷ luật nghiêm trọng, tạo chuyển biến mạnh mẽ, vững chắc về tư tưởng, kỷ luật, góp phần nâng cao chất lượng xây dựng chính quy, sức mạnh, trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, các cơ quan, đơn vị cần nghiên cứu, thực hiện một số nội dung, giải pháp cơ bản sau:
Một là, phát huy vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy các cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo phòng, chống vi phạm kỷ luật, pháp luật trong Quân đội. Đây là nguyên nhân chung dẫn tới những hạn chế, khuyết điểm trong công tác phòng, chống vi phạm kỷ luật, pháp luật ở các cơ quan, đơn vị thời gian qua. Do vậy, thực hiện tốt nội dung, giải pháp này có ý nghĩa quyết định đến chất lượng, hiệu quả công tác quản lý, giáo dục, chấp hành kỷ luật, xây dựng đơn vị an toàn, phòng, chống vi phạm kỷ luật, pháp luật trong Quân đội. Quán triệt các chỉ thị, nghị quyết, hướng dẫn của trên, trọng tâm là: Kết luận số 1249-KL/QUTW, ngày 27/11/2019 của Quân ủy Trung ương về tình hình chấp hành kỷ luật của toàn quân; Chỉ thị số 103/CT-BQP, ngày 28/11/2019 của Bộ Quốc phòng về việc tiếp tục tăng cường quản lý, giáo dục chấp hành kỷ luật và bảo đảm an toàn trong Quân đội nhân dân Việt Nam; Hướng dẫn số 2556/HD-CT, ngày 30/12/2019 của Tổng cục Chính trị về công tác đảng, công tác chính trị trong quản lý, giáo dục chấp hành pháp luật, kỷ luật Quân đội và bảo đảm an toàn trong Quân đội nhân dân Việt Nam, v.v. Cấp ủy các cấp xây dựng nghị quyết chuyên đề lãnh đạo tăng cường công tác quản lý, giáo dục chấp hành pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội và bảo đảm an toàn; nghị quyết, kết luận lãnh đạo thường kỳ của các cấp ủy cần xác định rõ công tác giáo dục pháp luật, phòng, chống vi phạm pháp luật, kỷ luật, bảo đảm an toàn đơn vị là một khâu đột phá, nội dung trọng tâm, phải thường xuyên rà soát, bổ sung chủ trương, biện pháp lãnh đạo. Đồng thời, phải được cụ thể hóa vào kế hoạch công tác của chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cán bộ chủ trì các cấp, sát yêu cầu nhiệm vụ. Trong thực hiện, cần phát huy vai trò, trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu, sáng tạo của đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì các cấp, cán bộ trực tiếp quản lý, chỉ huy, duy trì cơ quan, đơn vị chấp hành nền nếp chính quy, rèn luyện kỷ luật, bảo đảm an toàn. Để thực hiện thống nhất và đạt hiệu quả, các đơn vị thường xuyên rà soát, bổ sung hệ thống quy chế, nội quy, quy định; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, tiến hành tốt việc sơ kết, tổng kết, phát hiện, nhân rộng cách làm hay, mô hình hiệu quả; chấn chỉnh, khắc phục khấu yếu, mặt yếu, nhân rộng đơn vị vững mạnh toàn diện “tiêu biểu, mẫu mực” ở các cơ quan, đơn vị.
Hai là, tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục đạo đức; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho quân nhân, công nhân viên chức quốc phòng. Đây là nội dung cấp thiết, đồng thời là yêu cầu đã được đưa vào chương trình giáo dục chính trị bắt buộc cho các đối tượng trong Quân đội. Vì vậy, hoạt động giáo dục cần phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện theo hướng đồng bộ, thiết thực, hiệu quả, với các biện pháp phù hợp tình hình cơ quan, đơn vị, đối tượng quản lý, được tiến hành thường xuyên, liên tục; gắn công tác này với mọi hoạt động của đơn vị. Trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu, rộng hiện nay, vấn đề giáo dục, xây dựng đạo đức cách mạng, lối sống lành mạnh cho cán bộ, chiến sĩ có ý nghĩa rất quan trọng. Phải lấy việc xây dựng lối sống “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để đấu tranh có hiệu quả lối sống thực dụng, vị kỉ, vi phạm nhân cách đạo đức, vi phạm kỷ luật, pháp luật; coi trọng giáo dục những tiêu chí đạo đức của người quân nhân cách mạng. Bên cạnh đó, cần chủ động giải quyết những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống, hoạt động và các mối quan hệ của cán bộ, chiến sĩ, giữa cá nhân với tập thể, cấp trên với cấp dưới, quan hệ đồng chí, đồng đội, quan hệ với nhân dân. Để đạt hiệu quả, cần gắn kết với thực hiện các cuộc vận động, phong trào Thi đua Quyết thắng, nhất là Cuộc vận động Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Nâng cao chất lượng thực hiện Quy chế Dân chủ cơ sở;  xây dựng đơn vị có môi trường văn hóa lành mạnh; phát huy tốt vai trò của các thiết chế văn hóa. Cán bộ các cấp gần gũi, gắn bó cán - binh, coi chiến sĩ như những người thân để nắm, quản lý tốt tình hình, diễn biến tư tưởng bộ đội; chủ động phát hiện những biểu hiện tiêu cực, không để xảy ra bất ngờ. Kịp thời động viên, giải quyết những vướng mắc và có biện pháp ngăn chặn các hành vi vi phạm, tiêu cực có thể xảy ra, tránh các biểu hiện thụ động, giản đơn trong công tác giáo dục chính trị, giáo dục pháp luật, kỷ luật và nắm tư tưởng bộ đội.
Ba là, thực hiện nghiêm các chế độ, nền nếp xây dựng chính quy, quản lý bộ đội, vũ khí trang bị, phương tiện, cơ sở vật chất và xử lý nghiêm vi phạm. Đây là nội dung rất quan trọng trong xây dựng chính quy, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện - vấn đề then chốt trong duy trì chấp hành kỷ luật Quân đội, pháp luật Nhà nước. Trong thực hiện, chỉ huy các cấp, nhất là ở cơ sở cần phát huy tốt vai trò, trách nhiệm, thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn; nắm chắc các quy định của Điều lệnh, chế độ công tác của người chỉ huy; nâng cao tính tổ chức, tính kỷ luật, tính kế hoạch trong chỉ huy, điều hành đơn vị; khắc phục tình trạng độc đoán, tùy tiện. Quản lý chặt chẽ đơn vị và mọi hoạt động của quân nhân, tạo thành ý thức tự giác, thói quen chấp hành chế độ, chấp hành kỷ luật, pháp luật. Tăng cường công tác quản lý con người, vũ khí, cơ sở vật chất, tài sản công, các giấy tờ tùy thân của quân nhân theo đúng quy định. Duy trì thực hiện nghiêm các quy định về đảm bảo an toàn, hạn chế thấp nhất các vụ tai nạn trong huấn luyện, học tập, công tác, lao động và tai nạn rủi ro gây hậu quả nghiêm trọng. Khi thực hiện nhiệm vụ ngoài doanh trại, cần quản lý chặt chẽ vũ khí, trang bị, phương tiện, nhất là trong giờ nghỉ, ngày nghỉ, tránh để xảy ra các vụ việc chiếm đoạt vũ khí, vật liệu nổ và các vi phạm khác. Tổ chức, duy trì lực lượng kiểm soát quân sự thường xuyên kiểm tra người và phương tiện quân sự; cấm hạ sĩ quan - chiến sĩ sử dụng xe máy tham gia giao thông; thực hiện nghiêm Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia và các quy định về sử dụng rượu, bia trong sinh hoạt, học tập công tác và khi tham gia giao thông. Khi có vụ việc xảy ra, phải báo cáo kịp thời chỉ huy và cơ quan chức năng để chỉ đạo, giải quyết; nhanh chóng ổn định tình hình đơn vị, tránh để xảy ra đơn thư vượt cấp, khiếu kiện kéo dài. Căn cứ vào tính chất, mức độ và thẩm quyền theo quy định, phải điều tra, xử lý nghiêm những người vi phạm kỷ luật Quân đội, pháp luật Nhà nước và trách nhiệm liên đới của người chỉ huy để giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung. Kiên quyết khắc phục tình trạng che giấu vụ việc, gây khó khăn cho công tác điều tra, xử lý và việc dự báo, đánh giá tình hình vi phạm pháp luật, kỷ luật của lãnh đạo, chỉ huy và cơ quan chức năng.
Đồng bộ với các giải pháp trên, các cơ quan, đơn vị cần tiếp tục nghiên cứu, phát huy tốt vai trò của các tổ chức, lực lượng trong đơn vị, như: hội đồng quân nhân, đoàn thanh niên, công đoàn, phụ nữ; phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương và gia đình quân nhân,… để giáo dục, rèn luyện, phòng, chống vi phạm pháp luật, kỷ luật cho quân nhân. Quan tâm chăm lo, bảo đảm tốt đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ. Thường xuyên nắm chắc tình hình, chủ động phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh không để các thế lực thù địch, phản động, phần tử xấu cài cắm, móc nối vào nội bộ và những tiêu cực xã hội xâm nhập vào cơ quan, đơn vị, xây dựng đơn vị an toàn, gắn với địa bàn an toàn.
1 - Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 10, Nxb CTQG, H.2011, tr. 537.
2 - Sđd, Tập 7, tr. 483.
3 - Theo số liệu thống kê: năm 2018 giảm 8,0% so với năm 2017; năm 2019 giảm 1,2% so với năm 2018.

PHÒNG, CHỐNG LÃNG PHÍ TRONG QUÂN ĐỘI THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH



Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: lãng phí là vấn nạn rất nguy hại cho Đảng, Tổ quốc và Nhân dân. Hiện nay, Đảng ta xác định lãng phí là một trong những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên và đặt ra yêu cầu phải kiên quyết phòng, chống ở các cấp, các ngành, góp phần xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng trong giai đoạn mới.
Trong suốt cuộc đời cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt quan tâm việc nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nói riêng. Ngay từ những ngày đầu chống thực dân Pháp xâm lược, Người đã căn dặn phải thực hành tiết kiệm để kháng chiến, kiến quốc, đồng thời phải tẩy sạch nạn tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu. Khi nói về vấn nạn lãng phí, Người diễn đạt một cách đơn giản, dễ hiểu làm cho cán bộ, đảng viên, chiến sĩ, đồng bào ai cũng có thể thực hành và đấu tranh phòng, chống được. Theo Hồ Chí Minh, lãng phí bao gồm sức lao động, thời giờ, tiền của, v.v. Lãng phí là không biết thương tiếc mồ hôi nước mắt của nhân dân ta, không biết quý trọng sự giúp đỡ chí tình của nhân dân các nước anh em; lãng phí có mối liên hệ “đồng minh” với các căn bệnh khác như quan liêu, tham ô. Người viết: “Tuy không trộm cắp của công như tham ô, nhưng lãng phí cũng làm cho nhân dân và Chính phủ thiệt thòi, hao tổn, kết quả thì lãng phí cũng có tội như tham ô”1; phải xem quan liêu, tham ô, lãng phí là những tội lỗi đối với Tổ quốc, đối với đồng bào; “Không khác gì gián điệp giết hại đồng bào”2.
Từ khi ra đời đến nay, cán bộ, chiến sĩ Quân đội luôn khắc ghi, học tập và làm theo lời dạy của Người, chú trọng đẩy mạnh tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, góp phần tô thắm truyền thống vẻ vang “Bộ đội Cụ Hồ”. Tuy nhiên, trong từng cơ quan, đơn vị, đâu đó vẫn còn hiện tượng lãng phí, gây thất thoát vật tư, tài chính, tài sản của Nhà nước, nhân dân, thời gian, công sức của bộ đội. Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến truyền thống, bản chất cách mạng của Quân đội. Vì vậy, phòng, chống căn bệnh lãng phí theo tư tưởng Hồ Chí Minh là nhiệm vụ cấp bách, cơ bản, lâu dài của toàn quân. Để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quan trọng này, góp phần xây dựng Quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng trong giai đoạn mới, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị toàn quân cần tiến hành đồng bộ các giải pháp cơ bản sau:
Trước hết, tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ toàn quân về nhiệm vụ phòng, chống lãng phí. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội: lãng phí là có tội với Đảng, Nhà nước, Nhân dân và việc đấu tranh khắc phục, loại bỏ cũng quan trọng và cần kíp như đánh giặc trên mặt trận. Đây là mặt trận tư tưởng và chính trị. Để phòng, chống hiệu quả những biểu hiện lãng phí, các cơ quan, đơn vị phải tăng cường công tác giáo dục, làm rõ tính chất nguy hại của tình trạng lãng phí tiền của, tài sản của Nhà nước, Nhân dân, lãng phí công sức của bộ đội; đấu tranh với tư tưởng “cha chung không ai khóc”, “nước sông, công lính”, biểu hiện phô trương, hình thức và phải kiên quyết sửa chữa những ý nghĩ sai lầm đó. Trên cơ sở đó, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ coi lãng phí cũng là một loại “giặc trong lòng ta” cần kiên quyết phòng, chống, đấu tranh loại bỏ, làm cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc rằng cơ sở vật chất, vũ khí trang bị... đều do mồ hôi, nước mắt, công sức, thậm chí cả máu của nhân dân làm ra và cung cấp cho Quân đội, nên không được lãng phí. Vì thế, các đơn vị cần tiếp tục đẩy mạnh việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện hiệu quả cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới; cụ thể hóa thực hiện chỉ thị, chương trình hành động về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của Bộ Quốc phòng bằng những việc làm cụ thể gắn với từng vị trí, cương vị công tác. Đặc biệt, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tăng cường lãnh đạo đối với vấn đề này, xác định đây là nội dung quan trọng trong xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh “Mẫu mực tiêu biểu”.
Hai là, tiếp tục triển khai sâu rộng trong toàn quân phong trào thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Chống lãng phí và tiết kiệm có quan hệ khăng khít với nhau, thực hành tiết kiệm thực chất đã là chống lãng phí và ngược lại, muốn phòng, chống lãng phí có hiệu quả thì phải thực hành tiết kiệm. Trên thực tế, Quân đội ta đã và đang đẩy mạnh thực hiện các phong trào “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy”, “Xây dựng đơn vị quản lý tài chính tốt”, Cuộc vận động “Quản lý, khai thác vũ khí, trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn, tiết kiệm và an toàn giao thông”, “Phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật”, v.v. Các phong trào, cuộc vận động trên là việc làm thiết thực góp phần vào cuộc đấu tranh phòng, chống lãng phí. Tuy nhiên, theo tư tưởng của Hồ Chí Minh, lãng phí không chỉ có tiền của, tài sản của nhân dân, mà lãng phí thời gian học tập, rèn luyện của cán bộ, chiến sĩ cũng rất nguy hại. Theo Người, thời gian là vàng bạc, phải biết quý trọng, tiết kiệm và sử dụng hiệu quả thời gian làm việc, chống làm việc chiếu lệ, “sáng cắp ô đi, chiều cắp ô về”, “được chăng hay chớ”. Đặc biệt, trong hoạt động quân sự, thời gian còn quý hơn vàng, bởi nó liên quan trực tiếp đến vấn đề nắm thời cơ, làm chủ trên chiến trường, xương máu, tính mạng bộ đội. Chính vì thế, cùng với xây dựng, chuẩn hóa các tiêu chuẩn, định mức kinh tế, kỹ thuật trong hoạt động quân sự, quốc phòng, thực hiện tốt các quy chế, quy định về kiểm tra, giám sát, dân chủ, công khai, minh bạch, phân cấp, phân nhiệm trong quản lý, sử dụng tài chính, tài sản, vật tư, vũ khí, trang bị, các cơ quan, đơn vị cần quan tâm chống lãng phí thời gian, công sức bộ đội. Để phòng, chống lãng phí nguồn lực con người trong hoạt động quân sự hiện nay, phải thực hiện đồng bộ, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng con người, có cơ chế, chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ cán bộ có đức, có tài để tránh lãng phí nguồn nhân lực của đất nước và Quân đội. Mặt khác, các cơ quan, đơn vị đẩy mạnh thực hành tiết kiệm trong mọi lúc, mọi nơi, mọi công việc, lĩnh vực hoạt động; kiên quyết đấu tranh khắc phục những biểu hiện xa hoa, phô trương, hình thức, v.v.
Ba là, nâng cao hiệu quả đấu tranh tự phê bình và phê bình trong phòng, chống bệnh lãng phí. Một trong những biện pháp để chống lãng phí được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng và nhấn mạnh là phải “Dùng cách thật thà tự phê bình và phê bình, để tẩy trừ những thói tham ô lãng phí và bệnh quan liêu, để cùng nhau tiến bộ”3. Thực hiện vấn đề này, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị cần xây dựng chương trình, kế hoạch hành động thực hiện đợt sinh hoạt chính trị “Tự soi, tự sửa”, xác định đây là trọng tâm trong thực hiện Chỉ thị 05 gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Để đạt hiệu quả cao, việc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình - “Tự soi tự sửa” phải được chuẩn bị kỹ lưỡng, tiến hành từ trên xuống dưới. Cấp trên, người chủ trì tự giác, gương mẫu kiểm điểm trước để cấp dưới học tập, làm theo. Ở từng cấp, xác định đúng trọng tâm, trọng điểm để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện. Nội dung tự phê bình và phê bình phải từ trong tư tưởng, nhận thức đến hành vi; có hay không nhận thức sai lệch về lãng phí, có hay không tư tưởng “nước sông, công lính”, hoặc tư tưởng quan liêu, tham ô, lãng phí, v.v. Cách phê bình phải vì mục đích giúp đỡ nhau, sửa sai cùng tiến bộ, khắc phục mọi biểu hiện của sự lãng phí; tránh lợi dụng phê bình để “hạ uy tín của nhau”,… gây mất đoàn kết nội bộ. Trên từng cương vị công tác, trong mọi hoạt động, cán bộ, đảng viên, nhất là cấp ủy, người chỉ huy phải tích cực rèn luyện đạo đức: “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, tạo thói quen quý trọng tài sản của Nhà nước, nhân dân, công sức của bộ đội; xây dựng ý thức chi tiêu có mục đích, có kế hoạch, không hoang phí; đưa việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí vào nội dung kế hoạch công tác cá nhân hằng tuần, tháng và phấn đấu thực hiện để làm gương. 
Bốn là, kết hợp chặt chẽ phòng, chống lãng phí với phòng, chống bệnh quan liêu, tham nhũng. Theo Hồ Chí Minh, bệnh quan liêu và nạn tham ô có quan hệ chặt chẽ với bệnh lãng phí. Người chỉ rõ: “Bệnh quan liêu là bệnh giấy tờ, bệnh hình thức, không thực tế, là xa cách quần chúng, không theo đường lối quần chúng, làm không đúng chính sách của Chính phủ và của Đoàn thể”4. Còn “Tham ô là lấy của công làm của tư. Là gian lận tham lam. Là không tôn trọng của công. Là không thương tiếc tiền gạo do mồ hôi nước mắt của đồng bào làm ra, do xương máu của chiến sĩ làm ra”5. Do đó, phòng, chống những biểu hiện lãng phí trong Quân đội phải kết hợp chặt chẽ với phòng, chống quan liêu, tham nhũng. Để kết hợp chặt chẽ phòng, chống lãng phí với phòng, chống quan liêu, tham nhũng, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị phải thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Trong đó, tập trung thực hiện nghiêm Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quyết định số 166/QĐ-TTg, ngày 23/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ về “Chương trình thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2020”; Nghị quyết số 915-NQ/QUTW, ngày 25/8/2018 của Quân ủy Trung ương về “Đổi mới cơ chế tài chính Quân đội giai đoạn 2018 - 2025 và những năm tiếp theo”; Quyết định số 3500/QĐ-BQP, ngày 26/8/2018 phê duyệt Đề án “Đổi mới cơ chế quản lý tài chính Quân đội theo Luật Ngân sách nhà nước năm 2015, giai đoạn 2018 - 2025 và những năm tiếp theo”. Theo đó, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị chủ động rà soát, hoàn thiện các cơ chế, quy định về quản lý tài chính, ngân sách; thúc đẩy các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, giảm chi phí quản lý, hạ giá thành sản phẩm, tiết kiệm ngân sách quốc phòng; công khai, minh bạch về chế độ, tiêu chuẩn, chính sách của bộ đội, trong mua sắm tài sản công, tài sản doanh nghiệp, mua sắm trang thiết bị, sử dụng đất đai. Tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán việc sử dụng vốn, tài sản,... tránh mọi biểu hiện quan liêu, xa rời nguyên tắc, vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài chính, những biểu hiện tư túi, gian lận nguồn ngân sách, cơ sở vật chất của đơn vị. Nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng các nguồn lực, dự án đầu tư, công trình của Quân đội bảo đảm huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu trong toàn quân và từng đơn vị,... nhằm bảo đảm nguồn ngân sách dành cho Quân đội không bị thất thoát, lãng phí, kém hiệu quả. Đồng thời, kiên quyết xử lý nghiêm minh với những cán bộ, nhân viên có hành vi quan liêu, tham ô, lãng phí, với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không hạ cánh an toàn”.
Lãng phí là một trong những biểu hiện của suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã được Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng chỉ ra. Thấm nhuần tư tưởng và làm theo tấm gương mẫu mực về cần, kiệm, liêm, chính của Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn quân đẩy mạnh hơn nữa công tác phòng, chống lãng phí, góp phần xây dựng Quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.
1, 3, 4, 5 - Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Nxb CTQG H. 2011, tr. 297, 322, 296, 297.
2 - Sđd, Tập 9, tr.519.

BỊA ĐẶT THÔNG TIN HÒNG LÀM MÉO MÓ CÁC VỤ ÁN



Những ngày gần đây, trên internet xuất hiện khá nhiều trang báo mạng với đủ các thể loại (viết, hình, nói) đề cập đến một số vụ án hình sự vừa được các cấp tòa của Việt Nam xét xử. Chưa bàn đến tính chất, nội dung của các bản án, bởi để có được một bản án công minh, đúng người, đúng tội thì phải có một quá trình thực hiện tố tụng, xét xử chặt chẽ, khoa học, theo đúng luật định.
Nhưng cái cách tiếp cận vụ án của một số trang mạng xã hội rõ ràng là “có vấn đề”, bởi dường như họ muốn dẫn dắt dư luận theo cách nghĩ của họ, khiến dư luận nhìn nhận các vụ án một cách méo mó, đầy nghi ngờ. Mục tiêu cuối cùng của nhiều trang mạng là hướng tới xuyên tạc, phủ nhận nền tư pháp của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam.
Hiểu cho đúng về một nền tư pháp dân chủ xã hội chủ nghĩa
Nền tư pháp của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (trước đây là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) hình thành sau khi nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng lên đánh đuổi đế quốc xâm lược, giành lại chính quyền, thiết lập một nhà nước Việt Nam tự do, độc lập. Năm 1946, thể theo nguyện vọng của toàn dân, Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra đời. Đây là văn bản luật đầu tiên của nước Việt Nam mới, thể hiện đầy đủ quyền tự do, dân chủ mà người dân Việt Nam xứng đáng được hưởng và được Nhà nước bảo hộ. Cũng từ văn bản luật gốc này, từ thực tiễn cuộc sống, nhu cầu xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, hòa bình, dân chủ và chủ nghĩa xã hội (CNXH), các văn bản luật khác dần được hình thành, ra đời.
Quá trình xây dựng các văn bản pháp luật (gọi chung là các luật) được tiến hành chặt chẽ, khoa học, được lấy ý kiến rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân và được tiếp thu, chỉnh sửa một cách hợp lý theo nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân trước khi trình Quốc hội thông qua. Điều đó thể hiện tính dân chủ rất cao trong quy trình xây dựng các luật. Trong số 230 bộ luật, luật đang có hiệu lực thi hành và sắp có hiệu lực thi hành thì có hai bộ luật quan trọng, liên quan trực tiếp đến việc khởi tố, xét xử các vụ án hình sự đối với các cá nhân, tổ chức có vi phạm, đó là Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự. Các điều, khoản trong hai bộ luật nêu trên vừa khái quát đầy đủ các lĩnh vực, vừa cụ thể hóa rõ ràng các hành vi, dấu hiệu vi phạm hình sự của mọi cá nhân, tổ chức trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Việc áp dụng các điều, khoản trong quá trình tố tụng và xét xử được các cơ quan tư pháp tiến hành độc lập, theo đúng chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, do đó về mặt nguyên tắc là rất chặt chẽ, không có chuyện vi phạm dân chủ như một số trang mạng cố tình đoán mò rồi dẫn lái dư luận. Trong điều kiện hiện nay, với sự hỗ trợ của khoa học công nghệ nên thông tin được truyền đi nhanh chóng và rộng rãi. Trong lĩnh vực điều tra, xét xử các vụ án cũng có quy trình rất minh bạch, công khai, thông tin đầy đủ, điều đó không cho phép các cá nhân tham gia vào quy trình xử lý các vụ án có thể cố tình làm sai lệch kết quả điều tra, xét xử.
Tuy nhiên, trong thực tiễn, có những vụ án rất phức tạp, nhiều tình tiết, chứng cứ khó có thể làm rõ trong một thời hạn nhất định, chính vì thế mới xảy ra các lỗi trong quá trình điều tra, xét xử dẫn đến hiện tượng lọt người, sót tội ở một vài vụ án trong số hàng nghìn vụ án mà các cấp tòa phải xét xử hằng năm. Thế nên có thể khẳng định, việc sai sót trong điều tra các tình tiết cụ thể, có thể xảy ra, nhưng đó là do sai sót của từng khâu, thuộc về từng cá nhân tham gia vào quy trình điều tra, xét xử. Còn về mặt nguyên tắc tổng thể của quá trình điều tra, xét xử các vụ án hình sự là hoàn toàn chặt chẽ, minh bạch, thể hiện rõ sự nghiêm minh, ưu việt của pháp luật XHCN. Thế nên, không thể lấy một vài sai sót từ một số vụ án để quy chụp và xuyên tạc cả nền tư pháp của Việt Nam. Đó là tư duy và cách hiểu của những người cố tình phủ nhận sạch trơn hệ thống pháp luật của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, nhằm vào những mưu đồ và lợi ích cá nhân.
Lấy mạng xã hội làm tấm bình phong
Công nghệ viễn thông phát triển là cơ hội để truyền thông lan tỏa, đó là một trong những điều kiện để mở rộng dân chủ. Thế nhưng hiện nay, một số cá nhân đã lợi dụng vấn đề này để tung tin thất thiệt, bịa đặt các tình tiết về các vụ án hòng "câu view", "câu like", hướng lái dư luận và mục đích cụ thể, thực dụng hơn cả là kiếm tiền từ trên mạng. Chẳng hạn khi mở trang Youtube, gõ từ khóa “vụ án Hồ Duy Hải”, người dùng sẽ thấy xuất hiện hàng trăm clip liên quan đến vụ án. Trong số ấy có nhiều video clip với những thông tin kiểu dựng chuyện, bịa chuyện, trộn lẫn thật với giả khiến cho người xem như lạc vào mê cung, không thể phân biệt được đâu là thông tin đúng, đâu là thông tin sai. Cũng có những video clip lợi dụng các tình tiết của vụ án để bôi nhọ, nói xấu người này, chĩa mũi dùi vào người khác. Nghe các câu, từ bình luận trong clip, những người ít thông tin cứ ngỡ tác giả của video clip là những “nhà điều tra” tội phạm thực thụ, hoặc chí ít họ cũng có những “nguồn thông tin đáng tin cậy” như họ nói. Nhưng thực ra những người làm ra các video clip này hầu hết chỉ là những kẻ lừa bịp về truyền thông trên mạng xã hội. Tất cả thông tin mà họ đăng tải đều là do cóp nhặt trên mạng, kết hợp với sự bình luận bạt mạng, vô căn cứ, hoàn toàn theo ý chủ quan của bản thân người làm ra sản phẩm video clip. Hình ảnh trong các video clip này hầu hết là hình ảnh tĩnh mà họ nhặt nhạnh từ đâu đó, rồi gán ghép bằng những lời bình luận vô lối. Những trang mạng mang màu sắc phản động và có sự thù địch với Việt Nam, như: Việt Tân, BBC, RFA... thì có thêm các đoạn “phỏng vấn” truyền thanh một vài nhân vật đang có thiên hướng, hoặc đã từng thực hiện các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam, hòng làm ra vẻ sản phẩm của mình là “vô tư”, là “minh bạch”. Nhưng xâu chuỗi các video clip của họ lại thì thấy rõ, họ luôn hướng lái người nghe/xem đến mục tiêu chính trị, đó là xuyên tạc tính ưu việt của chế độ XHCN, xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội Việt Nam. Hầu hết nhân vật trong các video clip của các trang mạng nói trên đều cố “bày trò”, ra vẻ “vì sự dân chủ, công bằng”, nhưng cuối các đoạn phỏng vấn, bao giờ họ cũng lòi “cái đuôi cáo” về chính trị của mình ra.
Cũng trong môi trường mạng, hiện nay còn tồn tại một dạng thông tin thất thiệt, biến không thành có, dựng đứng nhiều chuyện. Thậm chí trong một số vụ án hình sự, họ còn sẵn sàng bịa thêm các chi tiết, nhân vật, hòng làm cho vụ án thêm ly kỳ, mục đích cuối cùng là để trang của mình có nhiều người quan tâm, theo dõi. Điều tai hại là sự bịa đặt này được phát đi phát lại, kiểu “mưa dầm thấm lâu”, khiến cho người nghe/xem chuyển từ phân vân đến nghi ngờ, rồi tin tưởng vào những điều không có thật. Đối với các vụ án quan trọng, có sự ảnh hưởng lớn, được dư luận quan tâm thì những thông tin giả này có thể sẽ làm cho xã hội nhìn nhận, đánh giá hoàn toàn sai lệch về quy trình điều tra, xét xử, khiến cho các tầng lớp nhân dân hiểu không đúng về bản chất vụ án, từ đó biểu hiện thái độ thiếu tin tưởng vào sự công minh của nền tư pháp XHCN. Đó là điều mà thế lực thù địch và những kẻ giả mạo thông tin mong muốn, bởi họ sẽ đạt được hai mục đích, tức là vừa thực hiện được âm mưu xuyên tạc nền tư pháp XHCN, đồng thời lại đạt được một yếu tố có tính cốt lõi, đó là lấy được tiền của nhà mạng nhờ vào những trang, những sản phẩm có nhiều người theo dõi. Đây cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến nhiều kẻ đã bất chấp đạo đức và luật pháp để bịa đặt thông tin hòng trục lợi, kiếm tiền từ sự tò mò, thiếu tỉnh táo của cộng đồng mạng.
Giải quyết nạn thông tin giả - cần sự quyết liệt
Sở dĩ thông tin bịa đặt, thông tin giả về các vụ án còn tồn tại trên không gian mạng và luôn phát triển với cấp số nhân là vì mấy vấn đề sau: Thứ nhất, còn nhiều người tin vào những sự “bịa như thật” trên mạng. Nói về vấn đề này, TS Cao Đức Thái, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quyền con người, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, từng nhận xét: Ở Việt Nam, tốc độ phát triển của internet khá nhanh và lượng người sử dụng rất cao (khoảng 64 triệu người), trong khi trình độ dân trí của một bộ phận người dân còn có những hạn chế nên khó phân biệt được tin thật với tin giả lan truyền trên mạng. Vì vậy, việc nâng cao dân trí thông qua tuyên truyền, phổ biến, giáo dục... là rất cần thiết, đây chính là cái gốc sâu xa nhằm giải quyết vấn đề dư luận sẽ đi theo chiều cạnh nào khi tiếp nhận biển cả thông tin mênh mông. Đối với các vấn đề quan trọng, có ảnh hưởng sâu sắc đến dư luận, tâm lý xã hội, nhất là các vụ án trọng điểm thì càng cần được định hướng, tuyên truyền sâu rộng để đông đảo các tầng lớp nhân dân được biết, được hiểu, từ đó tự xây dựng nhận thức đúng đắn khi tiếp nhận các thông tin trái chiều. Một quy luật tất yếu là nếu lúa tốt thì cỏ dại khó mọc và ngược lại.
Thứ hai, còn nhiều nhà mạng thiếu trách nhiệm với những thông tin mà mình cung cấp, điều nguy hại hơn là họ còn trả tiền cho cả những thông tin giả, thông tin bịa đặt. Với vai trò là cung cấp nền tảng hơn là vai trò của nhà xuất bản, các nhà mạng lớn trên thế giới hiện nay có vẻ không quan tâm đến độ chính xác của các thông tin, vì thế các thông tin thất thiệt hầu như không bị can thiệp, mặc sức hoành hành trên mạng. Thực tế hiện nay, mạng xã hội không khác gì "chợ truyền thông", trong đó lẫn lộn cả thông tin tốt lẫn thông tin xấu độc. Có lẽ đã đến lúc cần phải nghiên cứu xây dựng các đạo luật, hoặc các công ước có tính quốc tế nhằm quản lý tình trạng trên, không thể để tình trạng vì tiêu chí tự do ngôn luận mà xâm hại các quyền hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thậm chí là quyền lợi chính đáng của một quốc gia. Mục tiêu của các nhà mạng là kiếm tiền từ thông tin thì dứt khoát phải chịu trách nhiệm về tính xác thực của các thông tin mà mình đóng vai trò hỗ trợ cung cấp. Trong một cái chợ thì ban quản lý chợ cũng phải chịu trách nhiệm về tình trạng trộm cắp, bất lương của cái chợ đó.
Thứ ba, việc cung cấp thông tin chính thống có lúc chưa kịp thời, chưa đầy đủ. Về vấn đề này, có lần trao đổi với chúng tôi, nhà báo Hà Đăng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Trưởng ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương cho rằng: Cơ chế thông tin của Nhà nước ta là dân chủ và minh bạch, tuy nhiên đối với từng cơ quan cụ thể, có lúc chưa làm tốt vấn đề này, chính vì vậy mới tạo ra kẽ hở để một số tổ chức, cá nhân có dã tâm lợi dụng, hòng trục lợi và mưu đồ chống phá. Do đó, việc thông tin những vấn đề quan trọng có liên quan tới quyền lợi về chính trị, kinh tế, văn hóa... của các tầng lớp nhân dân cần phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, toàn diện và sâu kỹ. Khi có thông tin đích thực, chính thống, có nghĩa là dư luận đã được định hướng, không còn sự ngả nghiêng, nghi ngờ giữa cái thật và không thật. Báo chí chính thống, cách mạng phải giữ vững vai trò chủ đạo trong thông tin chân thực, tuyệt đối không để lợi ích cục bộ che lấp bản chất cách mạng của các nhà báo, cơ quan báo chí.
Giải quyết được 3 vấn đề trên có nghĩa là chúng ta đã thực hiện được những yếu tố cơ bản, góp phần làm trong sạch môi trường truyền thông, tạo điều kiện tốt nhất để dư luận tiếp cận các thông tin đúng, chân thực, loại bỏ các thông tin xấu độc, giả mạo để người dân hiểu đúng bản chất sự việc, sự thật.

BẢO ĐẢM TỰ DO NGÔN LUẬN, TỰ DO BÁO CHÍ CHO ĐẠI ĐA SỐ NGƯỜI DÂN



Tự do ngôn luận, tự do báo chí là những quyền cơ bản của con người đã được Việt Nam cam kết thực hiện theo những nguyên tắc chung của Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền. Tuy nhiên, đây cũng là vấn đề nhạy cảm mà các thế lực thù địch, phản động, bất mãn chính trị thường lợi dụng để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN).
1. Những năm gần đây, vào dịp Ngày Tự do báo chí thế giới (3-5) hằng năm, hay kỷ niệm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21-6), trên nhiều trang mạng có nội dung xấu độc và trên trang tiếng Việt của một số cơ quan truyền thông nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam thường xuất hiện các ý kiến, bài viết xuyên tạc tình hình tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam. Trong đó, cái gọi là “Tổ chức phóng viên không biên giới” không những đưa ra bảng xếp hạng hết sức sai trái về tự do báo chí ở Việt Nam, mà còn công bố danh sách và trao giải thưởng “Anh hùng thông tin” cho một số đối tượng người Việt Nam đã lợi dụng tự do, dân chủ chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. “Tiền hô hậu ủng” cho tổ chức phi chính phủ này là những đối tượng được dán mác “nhà đấu tranh dân chủ, nhân quyền”, “nhà báo tự do” trong nước tung ra nhiều bài viết, phát ngôn xuyên tạc trắng trợn tình hình tự do báo chí của Việt Nam.
Không chỉ vậy, vào những thời điểm các cơ quan chức năng, bảo vệ pháp luật của Việt Nam khởi tố vụ án, khởi tố các đối tượng lợi dụng tự do, dân chủ tuyên truyền, chống phá chính quyền Nhà nước, thì các thế lực thù địch bên ngoài và những người còn thù hằn với chế độ lại rêu rao đó là "hành động bóp nghẹt tự do ngôn luận", "triệt tiêu quyền tự do báo chí", hoặc "ra sức ngăn cản những người bất đồng chính kiến"...
2. Là quốc gia thành viên có trách nhiệm của Liên hợp quốc, Việt Nam đã sớm tham gia, ký kết các điều ước quốc tế về bảo đảm các quyền cơ bản của con người và quyền công dân, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Ngay sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bản Hiến pháp đầu tiên được Quốc hội thông qua ngày 9-11-1946 đã hiến định tại Điều thứ 10: “Công dân Việt Nam có quyền: Tự do ngôn luận; tự do xuất bản; tự do tổ chức và hội họp; tự do tín ngưỡng; tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”. Những quyền cơ bản này đã được hiến định xuyên suốt trong các bản hiến pháp của Việt Nam và tiếp tục được hiến định tại Điều 25 Hiến pháp năm 2013: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.
Để bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ngày càng được hiện diện trong thực tiễn cuộc sống, năm 2016, Quốc hội Việt Nam đã ban hành Luật Tiếp cận thông tin và Luật Báo chí. Trong đó, Điều 3 Luật Tiếp cận thông tin quy định: Mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin; thông tin được cung cấp phải chính xác, đầy đủ; việc cung cấp thông tin phải kịp thời, minh bạch, thuận lợi cho công dân; Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Điều 10 của luật này cũng quy định công dân có quyền tự do tiếp cận thông tin được cơ quan nhà nước công khai, đồng thời được yêu cầu cơ quan nhà nước cung cấp thông tin.
Về quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân được quy định tại Điều 11 Luật Báo chí năm 2016 với 3 nội dung cụ thể, gồm: Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức và cá nhân. Đặc biệt, Điều 13 luật này nêu rõ: “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình; báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân; báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng”.
Như vậy, về mặt pháp lý, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin của công dân ở Việt Nam đã được quy định toàn diện, đầy đủ, với những nội dung cụ thể, dễ hiểu, dễ áp dụng, dễ thực hiện trong cuộc sống.
3. Trên thực tế, không riêng ở Việt Nam, mà hầu hết các quốc gia tuy có cách tiếp cận không giống nhau về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, nhưng đều có một nguyên tắc cơ bản là việc thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí phải phù hợp với tình hình, điều kiện lịch sử, văn hóa, trình độ dân trí, thể chế chính trị của mỗi nước và không được phép lợi dụng quyền cơ bản này để xâm hại lợi ích quốc gia-dân tộc, làm phương hại danh dự, nhân phẩm người khác và ảnh hưởng tiêu cực đến đạo đức cộng đồng, trật tự xã hội. Điều 11, Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1789 của nước Pháp đã quy định: “Tự do trao đổi suy nghĩ và ý kiến là một trong những quyền quý giá nhất của con người. Vì thế, bất kỳ công dân nào cũng có thể nói, viết và công bố tự do; tuy nhiên, họ sẽ chịu trách nhiệm nếu lạm dụng quyền tự do này theo quy định của pháp luật”. Nước Mỹ tuy không ban hành luật riêng về báo chí, nhưng có nhiều điều luật khác của quốc hội, quy định có tính pháp lý của tòa án cũng đưa ra những giới hạn nhất định đối với báo chí, đối với quyền và trách nhiệm của công dân liên quan đến báo chí nhằm tránh xâm hại đến an ninh quốc gia. Khoản 2, Điều 29 Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền năm 1948 nêu rõ: “Trong khi hành xử những quyền tự do của mình, ai cũng phải chịu những giới hạn do luật pháp đặt ra nhằm bảo đảm những quyền tự do của người khác cũng được thừa nhận và tôn trọng, những đòi hỏi chính đáng về đạo lý, trật tự công cộng và an lạc chung trong một xã hội dân chủ cũng được thỏa mãn”.
Thế giới từng có những bài học về việc báo chí đi quá giới hạn tự do cho phép, nên phải giá rất đắt. Tháng 9-2005, tờ báo Jyllands-Posten (Đan Mạch) đăng tải 12 bức tranh biếm họa về đấng tiên tri Muhammad của Hồi giáo. Sau đó, bức tranh biếm họa này tiếp tục xuất hiện trên nhiều tờ báo ở Pháp, Na Uy, Hà Lan, Italy, Tây Ban Nha. Vụ việc đã gây nên một làn sóng phẫn nộ mạnh mẽ của những người theo đạo Hồi trên toàn thế giới dẫn đến nhiều hậu quả xấu. Tháng 7-2011, tờ News of the World (Tin tức thế giới) của nước Anh đã phải đình bản vĩnh viễn sau 168 năm hoạt động vì bị công chúng cáo buộc nhiều phóng viên bản báo này đã đột nhập điện thoại của hàng nghìn người dân để “săn tin”. Nhắc lại hai ví dụ trên để thấy, trên thế giới không có quốc gia nào cho phép tự do báo chí, tự do ngôn luận “đứng trên, đứng ngoài” luật pháp và xâm hại đến an ninh quốc gia. Nếu vi phạm điều này, báo chí sẽ bị công chúng tẩy chay và bị những chế tài xử lý thích hợp.
4. Mọi quyền tự do, trong đó có tự do ngôn luận, tự do báo chí đều phải có giới hạn nhất định. Giới hạn này đặt ra để bảo đảm quyền tự do chính đáng cho số đông mọi người, chứ không phải cho một nhóm ít người nào đó nói năng bừa bãi, phát ngôn bạt mạng, thích gì viết đấy, nói và viết chỉ vì động cơ cá nhân ích kỷ, thiên vị mà không vì sự ổn định, đồng thuận chung của xã hội, cộng đồng.
Chẳng hạn như trong đợt đại dịch Covid-19, nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam không chỉ đối mặt với loại virus nguy hiểm này, mà còn phải đối mặt với vấn nạn tin giả tràn lan trên mạng xã hội. Phần lớn những tin giả này xuất phát từ những người lợi dụng tự do ngôn luận để lan truyền thông tin sai trái, thất thiệt, tác động tiêu cực đến dư luận xã hội và an ninh truyền thông. Do đó, ngăn chặn, xử lý những đối tượng gây ra nạn “hoang tin” trên mạng xã hội chính là góp phần bảo đảm sự trong sạch của môi trường thông tin, qua đó góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Thành công của Việt Nam trong công tác phòng, chống, kiểm soát đại dịch Covid-19 được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, có một phần bắt nguồn từ việc Đảng, Nhà nước Việt Nam và các cấp, các ngành đã làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền, tạo sự đồng thuận cao trong các tầng lớp nhân dân; đồng thời phát hiện, ngăn chặn kịp thời những thông tin sai trái về dịch bệnh trên mạng xã hội.
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn xác định việc bảo đảm, thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam là một trong những giải pháp quan trọng để khơi dậy, phát huy ý chí, nguyện vọng, trí tuệ, sức mạnh tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Mặt khác, trong quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam luôn có tinh thần cầu thị, tích cực tiếp thu, học hỏi, tham khảo những kinh nghiệm tiến bộ của các quốc gia khác để thực hiện ngày càng tốt hơn quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí cho đại đa số người dân.
Để bảo đảm quyền lợi, tự do chính đáng cho số đông công dân, chúng ta cũng không chủ quan, lơ là, mà phải luôn đề cao cảnh giác, tỉnh táo nhận diện, kiên quyết vạch trần, kịp thời bác bỏ mọi âm mưu của các thế lực thù địch, phản động, bất mãn chính trị cố tình lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí nhằm đưa ra những thông tin sai trái, xuyên tạc, tác động tiêu cực dư luận xã hội, xâm hại an ninh truyền thông quốc gia, chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam.  

BẾ MẠC KỲ HỌP THỨ 9, QUỐC HỘI KHÓA XIV



Chiều 19-6, Quốc hội khóa XIV đã họp phiên bế mạc Kỳ họp thứ 9, kết thúc 19 ngày làm việc nghiêm túc, dân chủ, đổi mới với tinh thần trách nhiệm cao, chất lượng, hiệu quả và kết thúc thành công tốt đẹp, hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đã đề ra.
Tham dự phiên bế mạc có: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng; Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc; Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân; Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Trần Thanh Mẫn và các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam... 
Phát biểu bế mạc kỳ họp, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân cho biết, tại kỳ họp này, Quốc hội đã dành nhiều thời gian để thảo luận về việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH) và ngân sách nhà nước. Đánh giá bổ sung về kết quả năm 2019 cho thấy, năm qua mặc dù vẫn còn khó khăn, song nước ta đã đạt được kết quả khá toàn diện trên mọi lĩnh vực, tạo tiền đề thuận lợi để bước vào năm 2020. Tuy vậy, trong những tháng đầu năm, đại dịch Covid-19 đã gây ra cuộc khủng hoảng y tế toàn cầu, kinh tế thế giới lâm vào suy thoái nghiêm trọng, ảnh hưởng tiêu cực đến KT-XH của đất nước và đời sống của nhân dân... 
"Một lần nữa, Quốc hội biểu dương các lực lượng tuyến đầu phòng, chống dịch, cùng tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái, giúp đỡ lẫn nhau của mọi tầng lớp nhân dân; đánh giá cao sự cố gắng, quyết tâm của các cấp, các ngành, các địa phương, sự hỗ trợ, ủng hộ kịp thời của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đã tạo nguồn lực to lớn, góp phần vào thành công phòng, chống đại dịch", Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh. 
Mặc dù các hoạt động KT-XH từng bước được khôi phục trở lại, các vấn đề an sinh xã hội đang tích cực được giải quyết, nhưng Chủ tịch Quốc hội cho rằng, chúng ta vẫn đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức trước những nguy cơ tiềm ẩn, cùng với diễn biến dịch bệnh và tình hình kinh tế - chính trị trên thế giới vẫn hết sức phức tạp, khó lường. Bên cạnh việc cơ bản thống nhất với các nhiệm vụ trọng tâm mà Chính phủ đề ra, Quốc hội đã đề xuất nhiều giải pháp thiết thực, nhằm phục hồi sản xuất kinh doanh, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm an sinh xã hội, việc làm, đời sống của người dân.
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân cho biết: Tại kỳ họp này, Quốc hội đã xem xét, thảo luận một cách kỹ lưỡng và thông qua 10 Luật, 21 Nghị quyết, cho ý kiến 6 dự án luật khác. Đây là những luật, nghị quyết quan trọng liên quan đến các lĩnh vực của đời sống, KT-XH, an ninh, quốc phòng, đối ngoại, tổ chức bộ máy, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, phòng, chống thiên tai và quản lý đê điều..., tạo cơ sở pháp lý để tiếp tục thúc đẩy phát triển KT-XH và hội nhập quốc tế; đồng thời, đề ra nhiều nhiệm vụ, giải pháp để khắc phục hậu quả dịch bệnh Covid-19 gây ra. 
Đáng chú ý, với tỷ lệ tán thành rất cao, Quốc hội đã phê chuẩn Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam - EU (EVIPA) và gia nhập Công ước số 105 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về xóa bỏ lao động cưỡng bức.
Nhấn mạnh việc phê chuẩn các điều ước quốc tế này là bước tiến quan trọng của nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần nâng cao đáng kể vị thế đất nước trên trường quốc tế, Chủ tịch Quốc hội đề nghị Chính phủ khẩn trương ban hành kế hoạch, có các giải pháp triển khai, tổ chức thi hành hiệu quả các điều ước quốc tế này; thông tin, tuyên truyền rộng rãi để các cơ quan, tổ chức, cộng đồng doanh nghiệp, người dân hiểu rõ, từ đó, chủ động đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực, cải thiện năng suất lao động, nắm bắt tốt các cơ hội, vượt qua thách thức để tiếp tục thúc đẩy đầu tư, sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh xuất khẩu, góp phần tăng trưởng kinh tế, đưa đất nước tiếp tục phát triển...
Ngoài ra, Chủ tịch Quốc hội cũng cho biết, tại kỳ họp này, Quốc hội không tiến hành chất vấn trực tiếp tại Hội trường, nhưng các vị đại biểu Quốc hội vẫn tích cực thực hiện chất vấn bằng văn bản đến các thành viên Chính phủ, các Trưởng ngành về những vấn đề mà cử tri và nhân dân quan tâm. Quyền chất vấn của đại biểu vẫn được thực hiện theo quy định của pháp luật phù hợp với tình hình thực tiễn trong điều kiện Chính phủ đang tập trung thực hiện các giải pháp phòng, chống dịch và phục hồi kinh tế.
Bên cạnh đó, trên cơ sở thảo luận, xem xét thận trọng và toàn diện các yếu tố, Quốc hội đã quyết định kéo dài thời hạn miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp; giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của năm 2020 đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp và tổ chức khác; tăng vốn điều lệ cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước; điều chỉnh chủ trương về phương thức đầu tư Dự án xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc-Nam phía Đông giai đoạn 2017-2020; thí điểm một số cơ chế, chính sách tài chính - ngân sách đặc thù đối với TP Hà Nội; thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị và một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP Đà Nẵng;… Đây là những chính sách rất có ý nghĩa trong tình hình hiện nay, góp phần kịp thời tháo gỡ một phần khó khăn cho nông dân, doanh nghiệp, thúc đẩy sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn, đẩy mạnh đầu tư công; tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho TP Hà Nội, TP Đà Nẵng có điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh mẽ hơn, tạo động lực cho sự phát triển chung của vùng và cả nước.
Đặc biệt, tại kỳ họp này, với sự tín nhiệm cao, Quốc hội đã quyết định thành lập Hội đồng bầu cử quốc gia, bầu Chủ tịch, phê chuẩn các Phó chủ tịch và các thành viên của Hội đồng bầu cử quốc gia. Việc thành lập Hội đồng bầu cử quốc gia sớm hơn so với nhiệm kỳ trước tạo điều kiện để chuẩn bị tốt cho công tác tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV, bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026. Quốc hội cũng đã tiến hành công tác nhân sự theo đề nghị của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ bảo đảm chặt chẽ, đúng quy trình, thủ tục theo luật định và đạt được sự đồng thuận cao. 
Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh: Tuy đây là lần đầu tiên Quốc hội họp trực tuyến liên tục trong nhiều ngày nhưng kỳ họp đã diễn ra thông suốt, bảo đảm chất lượng, hiệu quả. Việc bố trí khoảng thời gian giữa 2 đợt họp đã tạo điều kiện thuận lợi để các cơ quan, tổ chức hữu quan nghiên cứu, tiếp thu, giải trình ý kiến, hoàn thiện các dự thảo luật, nghị quyết trình Quốc hội biểu quyết thông qua. Tổng thời gian làm việc của cả 2 đợt họp chỉ kéo dài trong 19 ngày, ngắn hơn so với các kỳ họp trước nhưng vẫn hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình kỳ họp với nhiều nội dung, trong đó có những nội dung cấp bách, quan trọng trong bối cảnh cả nước đang quyết liệt thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19, được các vị đại biểu Quốc hội, dư luận và cử tri đánh giá cao. Việc tổ chức thành công kỳ họp này sẽ tạo niềm tin, động lực để chúng ta tiếp tục cải tiến, đổi mới, hoàn thiện phương thức hoạt động của Quốc hội trong thời gian tới. 
Nhấn mạnh trong những tháng còn lại của năm 2020, nước ta tiếp tục phải đối mặt với những khó khăn, thách thức rất lớn và cũng cần phải hoàn thành rất nhiều nhiệm vụ quan trọng, Chủ tịch Quốc hội đề nghị Chính phủ, các cấp, các ngành, các lực lượng vũ trang nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp, các tầng lớp nhân dân không lơ là, chủ quan, phải tiếp tục bám sát nắm bắt tình hình, nêu cao trách nhiệm, phát huy mạnh mẽ tinh thần đoàn kết, đồng sức, đồng lòng, chủ động kịp thời ứng phó với thiên tai, bão lũ, dịch bệnh, đưa đất nước vượt qua giai đoạn khó khăn, phấn đấu đạt mức cao nhất các chỉ tiêu của kế hoạch năm 2020 và kế hoạch 5 năm 2016-2020, tiếp tục giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh biên giới, hải đảo, làm tiền đề để nước ta bước vào giai đoạn mới vững chắc hơn.
Cùng với đó, đề nghị Chính phủ, các cấp, các ngành khẩn trương triển khai thực hiện các luật, nghị quyết đã được Quốc hội thông qua; chú trọng công tác thông tin, tuyên truyền, vận động nhân dân tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật; nghiên cứu, tiếp thu nghiêm túc ý kiến của đại biểu Quốc hội, của cử tri và nhân dân để có giải pháp thiết thực hơn nhằm tạo chuyển biến tích cực trong lĩnh vực quản lý. Ngay sau bế mạc kỳ họp này, đề nghị các đại biểu Quốc hội báo cáo kết quả kỳ họp, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của người dân, tìm hiểu, nắm bắt thực tiễn đời sống xã hội để kịp thời phản ánh, kiến nghị với Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan hữu quan và hoàn thành tốt hơn nữa trọng trách của người đại biểu Nhân dân.
Thay mặt Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân trân trọng cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các bậc lão thành cách mạng, các vị khách quý đã dành thời gian tham dự, theo dõi kỳ họp và luôn quan tâm, góp ý kiến cho hoạt động của Quốc hội; cảm ơn sự phối hợp chặt chẽ, có hiệu quả của các cơ quan, tổ chức hữu quan, các cơ quan thông tấn, báo chí; cảm ơn sự quan tâm, chia sẻ, đóng góp ý kiến quý báu của cử tri và nhân dân đã góp phần vào thành công của kỳ họp.  
Trước đó, chiều cùng ngày, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển KT-XH vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030; Nghị quyết về tiếp tục tăng cường hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em; Nghị quyết Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV. 

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...