Thứ Năm, 18 tháng 7, 2019

HOÀN THIỆN CƠ CHẾ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VIỆT NAM HIỆN NAY



Đảng cương - Quốc pháp - Lòng Dân và Tín nhiệm quốc tế là bốn phương diện hợp thành công cụ và động lực của cơ chế kiểm soát quyền lực chính trị của hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay.
Cơ chế kiểm soát quyền lực chính trị là sự vận hành một cách đồng bộ và thống nhất hệ thống các thể chế, thiết chế liên quan trong thực thi và kiểm soát quyền lực của Đảng, Nhà nước và các thành viên của hệ thống chính trị, trên nền tảng Quốc pháp, Đảng cương và truyền thống chính trị dân tộc phù hợp với luật pháp và các thông lệ quốc tế. Kiểm soát quyền lực chính trị nhằm bảo đảm các chủ thể kiểm soát và các đối tượng được kiểm soát hoạt động đúng vị thế, chức năng và nhiệm vụ của mình được Hiến định, theo pháp luật và Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng. 
VỀ CƠ CHẾ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ ĐỐI VỚI ĐẢNG
Quyền lực lãnh đạo của Đảng, khi không chính thức, nghĩa là chưa Hiến định, được thừa nhận bởi Nhân dân (trong thời kỳ hoạt động bí mật lãnh đạo dân tộc giành chính quyền về tay Nhân dân); và trở thành chính thức, được chế định trong Hiến pháp. Nhưng, dưới hình thức lãnh đạo nào, ở bất cứ thời kỳ nào, đặc trưng xuyên suốt trong quyền lực lãnh đạo của Đảng được thực thi và thể hiện bằng sự lôi cuốn từ mục tiêu chính trị: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; thể hiện ở cương lĩnh chính trị, đường lối chính trị; bằng sự vận động, thuyết phục Nhân dân qua hành động của đảng viên; tập trung cao nhất bằng sự ảnh hưởng, hấp dẫn và tỏa sáng một cách tự nhiên của Đảng - một thực thể chính trị trong xã hội bên cạnh các thực thể chính trị khác.  
Đảng là một chủ thể lãnh đạo, thực thi quyền lực chính trị của giai cấp mà Đảng đại diện, chứ không phải là một chủ thể thực thi quyền lực nhà nước, dù trên thực tế, là đảng duy nhất lãnh đạo và cầm quyền, có vai trò quyết định trong quá trình tổ chức ra Nhà nước. Đây là vấn đề căn bản, không thể lầm lẫn. Mặt khác, quyền lực của Đảng khi là “lực lượng lãnh đạo”, thì được giới hạn bởi quyền lực của Nhà nước. Bởi, Đảng không phải là Nhà nước, nên không được phép làm thay công việc của Nhà nước. Cương lĩnh chính trị, đường lối chính trị của Đảng được “khế ước hóa” bằng các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước và việc tổ chức thực thi và bảo vệ pháp luật là công việc của Nhà nước mà Đảng, với tất cả các tổ chức và tất cả các đảng viên của Đảng, có nghĩa vụ và quyền lợi gương mẫu chấp hành, không có ngoại lệ, không đứng trên hay bên cạnh luật pháp. Đó chính là thước đo tính đúng đắn, tính khả thi, sức mạnh và hấp lực của cương lĩnh chính trị, đường lối chính trị của Đảng được pháp luật hóa, với ba tính chất chính danh, chính pháp và chính năng của người cầm quyền dẫn dắt dân tộc. 
Đồng thời, theo Hiến định: “Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”, “Đảng chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình” đã đặt Đảng bình đẳng trước pháp luật như mọi đối tượng điều chỉnh của pháp luật Việt Nam. Đó chính là thước đo vị thế cầm quyền, năng lực cầm quyền và trách nhiệm lịch sử cầm quyền của Đảng. Tức là kiểm soát quyền lực của Đảng bằng Quốc pháp, tức Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước. Tính chính danh và chính pháp cầm quyền của Đảng được Hiến định và pháp luật hóa.
Để kiểm soát quyền lực của Đảng, Nhân dân thực hiện quyền giám sát hoạt động của Đảng theo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng và tại Điều 4, Hiến pháp 2013. Nhân dân giám sát Đảng một cách đa diện: phục vụ Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về các quyết định của mình, gắn bó mật thiết với Nhân dân, sự vi phạm pháp luật của tổ chức và đảng viên của Đảng... Mặt khác, việc kiểm soát quyền lực lãnh đạo của Đảng còn được thực hiện với các hình thức giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, của các tổ chức chính trị - xã hội... 
Việc kiểm soát quyền lực lãnh đạo của Đảng được thực thi bởi việc đo lường hay định lượng hiệu quả lãnh đạo, lòng tin của Nhân dân, uy tín của Đảng trên trường quốc tế theo vai trò, chức năng của Đảng cầm quyền được chế định bởi Hiến pháp và pháp luật.
Đảng thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực của mình thông qua “tự kiểm soát” bằng các nguyên tắc, quy chế, quy định nội bộ, kỷ luật của Đảng, bảo đảm tổ chức và hoạt động của Đảng ở tất cả các cấp và từng đối tượng đảng viên theo Điều lệ Đảng bảo đảm phù hợp với pháp luật. 
Kiểm soát quyền lực của cán bộ, công tác cán bộ, các tổ chức của Đảng là công việc gốc của kiểm soát quyền lực trong Đảng. Mọi mầm họa đối với bộ máy và thể chế thường bắt đầu từ khâu căn bản này.
Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là bộ phận của hệ thống ấy; gắn bó mật thiết với Nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng, chịu sự giám sát của Nhân dân, hoạt động và chịu trách nhiệm trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Theo đó, ở đây, chủ thể quan trọng nhất trong kiểm soát quyền lực lãnh đạo của Đảng là Nhân dân. Công cụ kiểm soát mạnh mẽ nhất hiện nay là chế định và các định chế của Hiến pháp và pháp luật. 
Thực thi các chế định của Hiến pháp, pháp luật về vai trò lãnh đạo của Đảng; về giám sát của Nhân dân đối với cán bộ, đảng viên; về giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, khuôn khổ pháp luật, về giám sát nội bộ Đảng... là những nhân tố bảo đảm kiểm soát hữu hiệu quyền lực chính trị của Đảng, kiểm soát quyền và trách nhiệm lãnh đạo của Đảng. 
Lòng tin của Nhân dân đối với Đảng là thước đo quyết định vị thế, vai trò và trách nhiệm cầm quyền và uy tín của Đảng.
VỀ CƠ CHẾ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC CỦA NHÂN DÂN VÀ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NHÂN DÂN
Chỉ Nhân dân mới có chủ quyền đối với quyền lực nhà nước. Nhưng Nhân dân ủy quyền cho các đại biểu của mình và giám sát đại biểu đó trong quá trình thực thi quyền lực nhà nước. Nhân dân làm chủ bằng các hình thức trực tiếp và gián tiếp (thông qua các đại biểu, các cơ quan dân cử và các đoàn thể của dân). 
Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ công dân. Nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua hoạt động của Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện.
Quyền làm chủ của Nhân dân không chỉ được đảm bảo bằng Hiến pháp, pháp luật, mà bằng hệ thống các phương tiện khác: báo chí và truyền thông, các thiết chế Quy chế Dân chủ ở cơ sở, bảo đảm Dân biết, Dân bàn, Dân làm, Dân kiểm tra, Dân thụ hưởng, thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. Vì vậy, Nhân dân phải biết quyền hạn của mình, phải biết quyền và phương diện được kiểm soát. 
Vì nhiều lẽ, công dân cũng có thể lạm quyền hoặc vô hình buông bỏ quyền lực, khi sử dụng các quyền của mình: vì tự do cá nhân dẫn tới xâm hại tự do của xã hội và tự do của cá nhân khác, xâm hại đến ý chí chung, thậm chí phạm tội; dùng quyền tự do ngôn luận, quyền dân chủ, quyền biểu tình,... để gây rối, vô hình tùy tiện hoặc vô thức chống lại cộng đồng và xã hội; tình trạng bầu thay các cử tri trong việc lựa chọn đại biểu đại diện cho mình trong các cơ quan của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, ...
Như vậy, một mặt, bảo đảm quyền dân chủ của Nhân dân, để Nhân dân có điều kiện thực hành dân chủ, hiện thực hóa quyền, nghĩa vụ và lợi ích của mình; mặt khác, Nhà nước, Đảng và tự Nhân dân cũng cần có cơ chế kiểm soát các hoạt động tự do ngoài quy định của pháp luật.
Với chức năng của mình, Đảng tuyên truyền, vận động Nhân dân biết sử dụng quyền lực của mình một cách hiệu quả, từ việc lựa chọn người đại diện cho mình đến giám sát, phản biện xã hội; từ việc khiếu nại, tố cáo đến biểu thị ý kiến đúng pháp luật... Từ nhiệm vụ của mình, Nhà nước kiểm soát các biểu hiện dân chủ quá trớn, tự do vô lối bằng các chính sách, pháp luật nhằm hạn chế tính tự phát, tâm lý đám đông tiêu cực trong các xung đột xã hội. Tới lượt mình, Nhân dân kiểm soát Nhà nước trước hết qua hệ thống bầu cử, sử dụng các công cụ giám sát khác: thanh tra, kiểm toán, kiểm tra quyền lực của bộ máy nhà nước. Đồng thời, Nhân dân thông qua các tổ chức có tính đại diện xã hội, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, nghề nghiệp; qua giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, thông qua quyền khiếu nại, tố cáo, qua hệ thống phương tiện truyền thông, để kiểm soát quyền lực nhà nước. 
VỀ CƠ CHẾ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân có chức năng và nhiệm vụ quản trị toàn diện đất nước. 
Tất cả quyền lực của Nhà nước thuộc về nhân dân trên nền tảng chính trị - xã hội là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới ngọn cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam. Quyền lực nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật một cách dân chủ và bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa tối thượng. 
Nhà nước phục vụ vô điều kiện Nhân dân theo pháp luật, chịu trách nhiệm giải trình trước Nhân dân và chịu sự giám sát của Nhân dân; tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân; chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người, bảo đảm tự do và dân chủ của toàn xã hội. Bản thân Nhà nước, cơ quan nhà nước, công chức, viên chức nhà nước không thể tự sinh ra quyền lực, mà chỉ nhận sự ủy quyền của Nhân dân, thay mặt Nhân dân thực thi quyền lực của Nhân dân mà thôi.
Do đó, để kiểm soát quyền lực Nhà nước, từ nhiều kết quả nghiên cứu, phải tiếp tục đổi mới nhận thức và xây dựng các phương thức, quy trình, quy định và các thiết chế có liên quan đến quyền lực nhà nước, gắn kết chặt chẽ với nhau hợp thành một chỉnh thể. Bằng cách đó, việc kiểm soát quyền lực nhà nước được thực hiện, nhằm ngăn ngừa, loại bỏ những nguy cơ, những việc làm sai trái của Nhà nước, cơ quan, nhân viên nhà nước trong việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước (phòng ngừa và triệt tiêu mọi sự tha thóa và thoái hóa quyền lực…), bảo đảm cho quyền lực nhà nước được tổ chức và thực thi theo Hiến pháp, pháp luật, đúng mục đích, trên cơ sở nhu cầu và ý nguyện của Nhân dân.  
Cơ chế kiểm soát tự bên trong (Nhà nước tự kiểm soát mình, các cơ quan nhà nước tự kiểm soát mình và kiểm soát lẫn nhau trong việc thực hiện quyền lực nhà nước) nhằm bảo đảm sự thống nhất (về cơ cấu tổ chức, về mục tiêu hoạt động của bộ máy nhà nước các cấp,…) giúp cho bộ máy nhà nước tránh được những nguy cơ đe dọa phá vỡ tính thống nhất và sự vận hành có hiệu quả cao của cả bộ máy nhà nước; đồng thời, giữ cho các cơ quan nhà nước luôn duy trì được mối quan hệ nội tại với nhau với tư cách là bộ phận của bộ máy chỉnh thể. Mặt khác, để bảo đảm sự hợp lý trong việc phân công về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước. Đồng thời, bảo đảm thực hiện phối hợp về chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan nhà nước trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu chung nhằm duy trì sự kiểm soát, chế ước, phát hiện và xử lý kịp thời những biểu hiện không đúng, không hiệu quả trong việc thực hiện quyền lực nhà nước của mỗi cơ quan, nhân viên.     
Nhìn tổng thể, quyền lực nhà nước được phân định thành quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp và giao cho các cơ quan khác nhau của Nhà nước thực hiện. Vì vậy, đối với mỗi quyền lực nhà nước, cần phải thiết lập một cơ chế kiểm soát có tính chất bộ phận phù hợp nhưng bảo đảm thống nhất.  
Mục tiêu của quản lý Nhà nước là phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của Nhân dân, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, đảm bảo cho Nhân dân được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm, phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế, nhằm phát triển nhanh và mạnh mẽ lực lượng sản xuất và lực lượng xã hội toàn diện của đất nước, mà rường cột là xử lý mối quan hệ cốt tử giữa Nhà nước và thị trường (theo nghĩa rộng nhất của thị trường).
Các chủ thể của cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước là những tổ chức và cá nhân có thẩm quyền, nghĩa là theo quy định của pháp luật, có quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm kiểm soát quyền lực nhà nước. Nội dung kiểm soát quyền lực nhà nước đối với mỗi loại quyền lực (lập pháp, hành pháp, tư pháp) được pháp luật quy định khác nhau và chủ thể kiểm soát chỉ có thể kiểm soát đối với những nội dung đó và trong  những phạm vi nhất định, theo luật định. Về nguyên tắc, đối tượng bị kiểm soát là các tổ chức và cá nhân nắm giữ và thực hiện quyền lực nhà nước, không trừ một ai, một cơ quan nào.
Nói khái lược, cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước là sự tổng hợp của nhiều “cơ chế kiểm soát có tính chất bộ phận”, nhằm kiểm soát tất cả các nhánh quyền lực nhà nước (quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp) dù ở các phạm vi khác nhau. 
Trong các phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên ngoài, bầu cử dân chủ là phương thức kiểm soát quyền lực quan trọng nhất. Đây cũng chính là hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước quan trọng nhất. Nó thể hiện quyền dân chủ của Nhân dân và quyền lãnh đạo của Đảng. Nhân dân có quyền, trách nhiệm và điều kiện để lựa chọn những người gắn bó, có trách nhiệm với vận mệnh của Nhân dân, có quyền giám sát và quyền bãi miễn hoặc thu hồi lại quyền lực khi người đại diện được bầu không còn xứng đáng nữa. Trong lúc đó, với tư cách là đảng cầm quyền, Đảng lựa chọn đảng viên giới thiệu ra ứng cử, để Nhân dân bầu. Như vậy, một đại biểu được bầu phải đáp ứng được sự tín nhiệm của Nhân dân và của Đảng. Đảng và Nhân dân đều thực hiện sự giám sát của mình với các vị đại diện đó.
Ở đây, mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo và Nhà nước quản lý đặt ra vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước trở thành một nhiệm vụ kép và có ý nghĩa kép: Đảng vừa thực hiện quyền lực lãnh đạo, vừa kiểm soát quyền lực nhà nước, Nhân dân vừa kiểm soát quyền lực lãnh đạo của Đảng, vừa kiểm soát quyền lực nhà nước. 
Như đã trình bày, kiểm soát tự bên trong chính là phương thức kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước với nhau, nghĩa là tổ chức bộ máy nhà nước bảo đảm các cơ quan quyền lực nhà nước, hoặc thực thi quyền lực nhà nước vừa thống nhất phối hợp hành động, vừa kiểm soát lẫn nhau để không một cơ quan nào có thể lạm quyền theo Hiến định. 
Tất cả mọi tổ chức và công dân được phép làm tất cả những gì mà pháp luật luật không cấm. Do đó, kiểm soát quyền lực nhà nước bằng Hiến pháp và pháp luật là rất quan trọng, bảo đảm tính chất dân chủ và thượng tôn pháp luật của Nhà nước pháp quyền của chúng ta. Điều đó không cho phép bất cứ tổ chức chính trị - xã hội nào, cố nhiên bất kể ai và lực lượng nào đứng trên, đứng ngoài Hiến pháp và pháp luật.    
Để kiểm soát quyền lực nhà nước, không thể không thực thi sự kiểm soát của các cơ quan tư pháp đối với các cơ quan nhà nước. Tòa án Nhân dân thực thi quyền tư pháp, có quyền xét xử đối với mọi đại biểu Quốc hội, thành viên Chính phủ, khi vi phạm pháp luật. Việc hiến định nguyên tắc xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của thẩm phán, hội thẩm, làm cho khả năng kiểm soát quyền lực nhà nước của tòa án là  tất yếu và công minh. Cùng với chức năng công tố, Viện Kiểm sát Nhân dân   kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm ngăn chặn việc lạm quyền của cơ quan và công chức nhà nước, trong các hoạt động tư pháp.
Quan hệ giữa Nhà nước với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là quan hệ phối hợp hành động, được thực hiện theo luật pháp và các quy chế. Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là người lãnh đạo Mặt trận vừa là thành viên của Mặt trận. Vì vậy quan hệ giữa Đảng và Mặt trận Tổ quốc vừa là quan hệ lãnh đạo vừa là quan hệ hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động. Đảng, Nhà nước cần tiếp tục sửa đổi và hoàn thiện cơ chế, pháp luật và chính sách, đáp ứng các điều kiện để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân hoạt động có hiệu quả, thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội.
Nói khái lược, Đảng cương - Quốc pháp - Lòng Dân và Tín nhiệm quốc tế là bốn phương diện hợp thành công cụ và động lực của cơ chế kiểm soát quyền lực chính trị của hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay. 
Dưới sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, công dân được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm. Những điều mà pháp luật cấm là những điều được xã hội thỏa thuận và ghi thành khế ước (Hiến pháp) và được cụ thể hơn nữa thông qua các đạo luật. Đó cũng chính là giới hạn quyền lực của công dân (Nhân dân) để công dân thực hiện đúng, đầy đủ và hiệu quả quyền lực của mình.
NHỊ LÊ_____________________________
Bài đăng TCTG số 6/2019


PHÒNG VÀ CHỐNG BIỂU HIỆN HẠ THẤP, PHỦ NHẬN THÀNH QUẢ CÁCH MẠNG, THỔI PHỒNG KHUYẾT ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC



Ra sức xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng và Nhà nước ta là một trong những âm mưu thủ đoạn mà các thế lực thù địch đang tiến hành. Phòng, chống, ngăn ngừa những biểu hiện đó là hết sức cần thiết và cấp bách, nếu không sẽ ảnh hưởng tới uy tín và vai trò lãnh đạo của Đảng.
THÊM MỘT LUẬN ĐIỆU “NẮN DÒNG”
Qua hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đó là cố gắng to lớn, rất đáng tự hào của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, được bạn bè quốc tế ngưỡng mộ. Tuy nhiên, hiện nay kinh tế nước ta còn tụt hậu, cuộc sống của đồng bào ta ở nhiều vùng, nhiều đối tượng còn rất khó khăn; vẫn còn tệ tham nhũng, lãng phí, thiếu trách nhiệm, quan liêu, cửa quyền với nhân dân, gây bất bình trong nhân dân... Đảng và Nhà nước ta không những không phủ nhận những yếu kém, khuyết điểm trong quá trình đó mà còn nhận thức rõ vấn đề và kiên quyết sửa chữa, đấu tranh khắc phục.
Tuy nhiên, để bôi nhọ và hạ thấp thành quả cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, các thế lực thù địch đã cố tình đổi trắng, thay đen, xuyên tạc, bóp méo bản chất, tính chất và thành tựu to lớn của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, kháng chiến chống xâm lược của nhân dân ta, nhất là những thành tựu của sự nghiệp đổi mới đất nước. Các thế lực thù địch tập trung công kích, xuyên tạc cái gọi là thành tựu của đổi mới là do Đảng, Nhà nước Việt Nam “tự vẽ lên”, “tự mình khen mình”, chứ thực chất, theo chúng là không có thật. Chúng còn nói xằng rằng, những thành tựu đổi mới nếu có là chỉ “chui vào túi của bọn độc tài”, bọn tham nhũng, tham quan; còn đất nước vẫn trong cảnh nghèo nàn, tụt hậu, đời sống của nhân dân còn rất khó khăn, người dân nghèo thì không được thụ hưởng...
Chúng còn “tìm kiếm” và cố tình đưa ra những thông tin hằn học, nhai lại những luận điệu cũ rích nhằm hạ bệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và phủ nhận công lao của Người; vu cáo, bôi nhọ một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, hạ uy tín nhiều đồng chí lãnh đạo cấp cao, gây mất niềm tin trong nhân dân, làm cho dân xa Đảng, mất đoàn kết nội bộ, kích động tâm lý xã hội.
Không dừng ở đó, các thế lực thù địch còn triệt để lợi dụng, khoét sâu những hạn chế, khuyết điểm của chúng ta trong thực hiện chủ trương, chính sách và thực thi pháp luật, nhất là lợi dụng việc Đảng đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham ô, tham nhũng và sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên để xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; công kích Đảng, xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Đặc biệt, chúng cho “ra lò” những cuốn sách, tờ báo, tờ rơi, những “tâm thư”, “giác thư”, “thư ngỏ”, “tuyên cáo”, công khai nói rõ điều đó, công khai đòi đánh đổ, kêu gọi giải tán Đảng, xóa Điều 4 của Hiến pháp...
Cùng với sự chống phá của các thế lực thù địch, trong xã hội đã xuất hiện thêm những luận điệu nhằm hạ thấp, phủ nhận thành quả cách mạng và sự nghiệp đổi mới đất nước của nhân dân ta; “nắn dòng” dư luận để thổi phồng khuyết điểm của Đảng và Nhà nước ta của những kẻ suy thoái, biến chất. Dùng chiêu “mớm lời”, “rắc thính”, kích động để không chỉ gây tâm lý hoang mang, hồ nghi trong một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái, dàn “đồng ca” của các thế lực thù địch đã và đang làm cho những biểu hiện đó được “khuyếch trương” mạnh mẽ hơn bằng các thủ đoạn đặt câu hỏi như: nếu không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, thì nước ta sẽ đi theo con đường nào? Và rồi, họ tự trả lời bằng cách “khuyên nhủ” chúng ta phải đi theo con đường của chủ nghĩa tư bản để được tự do,v.v.. 
Còn nữa, để phủ nhận những thành tựu về nhân quyền mà Việt Nam đạt được trong các năm qua, tổ chức khủng bố “Việt Tân”, “Ủy ban bảo vệ quyền làm người Việt Nam”, “Cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản tại Hà Lan”, “liên hội người Việt tị nạn tại Đức” với sự phụ họa của BBC, VOA, RFA, RFI… đã khai thác, dựa trên các loại thông tin giả, cố tình bóp méo sự thật, đổi trắng thay đen, tảng lờ những thành tựu của sự nghiệp đổi mới nói chung, về nhân quyền mà Việt Nam đạt được nói riêng; đã đánh tráo khái niệm, để bảo vệ một số người vi phạm pháp luật, bị tòa án xét xử… nhằm kích động dư luận, gây hoài nghi, dao động, làm giảm lòng tin của nhân dân với Đảng, với chế độ.
Một bộ phận phai nhạt lý tưởng cách mạng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” đã “phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái”; “nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Chúng bôi nhọ, hạ thấp và phủ nhận thành quả của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, của công cuộc đổi mới. Chúng rêu rao và đổ lỗi cho sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, đòi thay đổi con đường mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn, từ đó, đòi thay đổi thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, từ bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng; tìm mọi cách cản trở công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước... 
TĂNG CƯỜNG, CHỦ ĐỘNG PHÒNG, CHỐNG, NGĂN CHẶN
Phòng, chống và ngăn ngừa những biểu hiện hạ thấp, phủ nhận thành quả cách mạng, thổi phồng khuyết điểm của Đảng và Nhà nước ta thực sự là yêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa quan trọng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, để xây dựng và chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng vững mạnh, chắc chắn, xứng đáng với vai trò tiền phong. Để chủ động phòng, chống vấn đề này hiệu quả, phải thực hiện tổng hợp và đồng bộ nhiều nội dung, giải pháp, cụ thể cần tập trung thực hiện tốt một số vấn đề sau:
Thứ nhất, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống,v.v..; đồng thời, cảnh giác, nhận diện và đánh giá đúng thực chất và tác hại của những biểu hiện hạ thấp, phủ nhận thành quả cách mạng, thổi phồng khuyết điểm của Đảng và Nhà nước để kiên định lý tưởng cộng sản, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã lựa chọn. Trên cơ sở thấm nhuần lời dạy của V.I.Lênin: “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự bảo vệ”, mỗi cấp ủy, cán bộ, đảng viên phải biết tự bảo vệ mình thông qua quá trình tự giác học tập và tu dưỡng để nâng cao trình độ lý luận, chính trị, năng lực trí tuệ, tình cảm và lập trường cách mạng, bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng,v.v.. trước những diễn biến phức tạp khó lường và tác động mạnh mẽ của tình hình, trước sự chống phá của các thế lực thù địch cũng như tác động của những biểu hiện xấu, độc để nâng cao sức đề kháng, khả năng tự miễn dịch trước các quan điểm sai trái, thù địch về tư tưởng, lý luận.
Thứ hai, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng; tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” gắn với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” để “nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ, tính chiến đấu của toàn Đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp; không dao động trong bất cứ tình huống nào. Giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng, vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên”(1).
Trong quá trình đó, mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị phải kết hợp bảo vệ với xây dựng, xây dựng gắn với bảo vệ; lấy cái tích cực, cái tốt, đẩy lùi cái tiêu cực, cái xấu, nhằm mục đích xây dựng và phát triển tốt hơn từng tổ chức, từng con người. Bên cạnh đó, cần có cơ chế “tự bảo vệ” thích hợp, để phòng và chống sự tha hóa, suy thoái, giúp cho sự “tự kiểm soát” của mỗi tổ chức của Đảng, cơ quan Nhà nước và đội ngũ cán bộ, đảng viên đảm bảo được khả năng miễn dịch trước nguy cơ, hiểm họa “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” bằng những luận điệu “nắn dòng”.
Trong đó, đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống và tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân, với các căn bệnh tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu; các biểu hiện hạ thấp, phủ nhận thành quả cách mạng, thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ,v.v.. Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”; trong đó, lấy “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách để trong “xây” có “chống”, trong “chống” có “xây”, nhằm cổ vũ mạnh mẽ các nhân tố tích cực, tạo môi trường, nếp sống, lối sống lành mạnh có văn hoá trong xã hội.
Thứ ba, nâng cao năng lực hoạch định đường lối, chính sách phù hợp với quy luật khách quan và đặc điểm của Việt Nam, tạo bước đột phá để phát triển, để xây dựng đất nước ta “kinh tế phải vững, quốc phòng phải mạnh, thực lực phải cường, lòng dân phải yên, chính trị - xã hội ổn định, cả dân tộc là một khối đoàn kết thống nhất”. Trong quá trình đó, phải “xây dựng và thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, quan tâm thích đáng đến các tầng lớp, bộ phận yếu thế trong xã hội, đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, khắc phục xu hướng gia tăng phân hóa giàu - nghèo, bảo đảm sự ổn định và phát triển xã hội bền vững”(2), tăng cường sự đồng thuận xã hội.
Thứ tư, tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế; đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, khẳng định những thành tựu to lớn của cách mạng Việt Nam, nhất là những thành tựu của nhân dân ta qua hơn 30 năm đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, để những thông tin hạ thấp, bôi nhọ “nắn dòng” ấy chỉ là những “bàn tay không che nổi mặt trời” - không thể phủ nhận được sự thật đang hiện hữu sinh động hằng ngày trên đất nước Việt Nam./.
(1), (2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn qốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H, 2016, tr.199, 135.
Thiếu tướng. PGS. TS. NGUYỄN VĂN THẾ
Phó Giám đốc Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

ĐỪNG PHÁ LÚA CHÍN TRÊN CÁNH ĐỒNG TỪNG NHIỀU DÔNG BÃO



Đất nước ta đã đi qua những chặng đường dài đầy khổ ải để hàn gắn vết thương chiến tranh và phát triển từng ngày, như lúa đã chín trên cánh đồng từng nhiều dông bão. Vậy mà đây đó, vẫn có những người bị kẻ xấu kích động biểu tình, gây rối, phá hoại, thậm chí cả những hoạt động mang dáng dấp bạo loạn để châm ngòi chiến tranh. Nhìn lại những vụ việc gần đây, chúng ta có thể rút ra nhiều điều đáng suy ngẫm…
Những phiên tòa và bài học cảnh tỉnh
Cách đây hơn một tuần, Tòa án Nhân dân (TAND) TP Hồ Chí Minh vừa mở phiên xét xử 4 bị cáo liên quan tới cái gọi là “Quốc nội quật khởi”. Bản cáo trạng cho biết, do có tư tưởng bất mãn, chống Nhà nước Việt Nam nên từ đầu năm 2017, Nguyen Michael Phuong Minh (Việt kiều Mỹ), Huỳnh Đức Thanh Bình, Trần Long Phi, Lê Quốc Phong cùng một số đối tượng đã cấu kết cùng nhau thành lập, tham gia tổ chức “Quốc nội quật khởi” để tổ chức tuyên truyền, lập kế hoạch mua vũ khí và lôi kéo người tham gia biểu tình, chiếm trụ sở chính quyền tại TP Hồ Chí Minh và Hà Nội, gây bạo loạn tiến tới nhằm lật đổ chính quyền nhà nước Việt Nam.
Ít ai biết rằng khi phiên tòa đang diễn ra thì ở bên kia bán cầu, Voice-tổ chức phản động thường xuyên kích động biểu tình đi đến lật đổ ở Việt Nam theo mô hình cách mạng màu rình rang tổ chức những cuộc gặp gỡ, hội thảo gồm nhiều nhân vật chống phá đất nước để bàn bạc những kế sách chuyển “lửa dân chủ về quê nhà”. Một hội nghị do chúng tổ chức tại Australia đã có sự góp mặt của Will Nguyen, kẻ năm ngoái từng bị TAND TP Hồ Chí Minh đưa ra xét xử và cho hưởng khoan hồng, nhưng khi trở về Mỹ lại tiếp tục "ngựa quen đường cũ", lên tiếng tiếp tục “đấu tranh vì tự do cho Việt Nam”. Trước đó, mùa hè 2018, Will Nguyen khi đang là sinh viên ở Singapore, không lo học hành lại cấu kết với những kẻ chống phá Việt Nam lên mạng hô hào kêu gọi về Việt Nam biểu tình làm “cách mạng mùa hè”. Sau đó Will đã nhập cảnh vào Việt Nam, phát tiền cho các đối tượng biểu tình và có nhiều hành vi ngông cuồng, chống người thi hành công vụ, làm ách tắc giao thông...
Thủ đoạn mà Will Nguyen cùng những kẻ xấu thực hiện rất giống với phương thức mà chúng đã kích động các đối tượng trong vụ án “Quốc nội quật khởi”. Không còn là sự ngây thơ, vô tình, các đối tượng đã lập kế hoạch DTJ 01 (biểu tình kết hợp với kẹt xe) dự định lôi kéo hàng trăm người tham gia biểu tình, mua sắm vũ khí để chống trả lại cơ quan chức năng, chuẩn bị lương thực và nơi lẩn trốn để sử dụng trong thời gian dài…
Âm mưu “cách mạng mùa hè”
Sau các vụ biểu tình, gây rối chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam vào mùa hè năm ngoái, TAND các địa phương đã đưa hàng chục đối tượng ra xét xử trong các vụ án liên quan đến xâm phạm an ninh quốc gia, hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, kích động, tụ tập đông người, gây rối trật tự công cộng. Mức án cao nhất là 20 năm tù, thấp nhất cho hưởng án treo.
Dư luận nhân dân đồng tình cho rằng, việc truy tố các bị cáo trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không thể dung thứ những kẻ muốn “lật đổ chính quyền nhân dân”. Trong số gần 20 bị cáo bị đưa ra xét xử tại TP Hồ Chí Minh, Nghệ An và Ninh Thuận, có 13 người được xác định là thành viên của những tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài, như: “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” và Việt Tân. Không chỉ chống phá trên không gian mạng, những đối tượng này còn chiêu mộ người tham gia tổ chức, đồng thời trực tiếp nhúng tay vào các vụ khủng bố như vụ dùng bom xăng tấn công trụ sở Công an phường 12, quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh vào ngày 20-6-2018,  dưới sự giật dây của tổ chức phản động lưu vong “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” do Đào Minh Quân đứng đầu. Tổ chức này thường xuyên tuyên truyền, kích động biểu tình, phá hoại nhân dịp các ngày lễ, tết của đất nước và trước đó cũng từng gây ra vụ đốt kho xe vi phạm giao thông số 1 của Công an TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và đặt bom xăng ở sân bay Tân Sơn Nhất, quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh...
Tại Nghệ An, TAND tỉnh Nghệ An từng xét xử vụ án “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” đối với Lê Đình Lượng và tuyên phạt với mức án 20 năm tù giam và 5 năm quản chế. Theo cáo trạng, thông qua mạng xã hội, Lượng dụ dỗ, lôi kéo nhiều người vào tổ chức Việt Tân. Lượng cũng nhiều lần nhận tiền chuyển từ nước ngoài về để hoạt động chống phá đất nước. Lượng thừa nhận đã tài trợ hoạt động của đối tượng Nguyễn Văn Hóa, tẩy chay cuộc bầu cử, xuất cảnh sang Lào, phát loa truyền thanh tại nhà để tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước, tổ chức hát các bài hát có nội dung phản động, 4 lần tổ chức tuần hành, biểu tình với danh nghĩa phản đối Formosa ở xã Hợp Thành gây ách tắc giao thông trên tuyến Quốc lộ 7B…
Xâu chuỗi những hoạt động chống phá đất nước hai năm gần đây, chúng ta dễ dàng nhận ra, âm mưu kích động người dân tụ tập, biểu tình, tạo ra các điểm nóng rồi có thể thổi phồng thành xung đột, bạo loạn, có sử dụng vũ khí, tạo ra bạo lực là thủ đoạn thường thấy của các thế lực thù địch. Đây cũng là cách đã được sử dụng trong các cuộc cách mạng màu, cách mạng đường phố theo mô hình "Mùa xuân Ả Rập". Ý đồ đó được thể hiện rất rõ khi tròn một năm xảy ra các vụ việc biểu tình có bóng dáng bạo loạn ở Bình Thuận, TP Hồ Chí Minh, các thế lực thù địch gần đây công khai tuyên bố cái gọi là “kỷ niệm một năm cách mạng mùa hè”, lấy ngày 10-6-2018 là một cột mốc đánh dấu phong trào dân chủ. Nhân sự kiện biểu tình quy mô lớn ở Hồng Công (Trung Quốc) vừa qua, chúng tiếp tục hô hào kêu gọi các cuộc tổng biểu tình ở Việt Nam, áp dụng mô hình “cách mạng dù” ở Hồng Công cho Việt Nam để nuôi dưỡng các đợt biểu tình “cách mạng mùa hè” trở thành thường xuyên, từ “tổng biểu tình” sẽ tạo ra cái gọi là “cách mạng tháng Tám lần thứ hai”.
Đừng rắc lông ngỗng trên con đường phát triển của đất nước
Không một quốc gia nào có thể dung túng, không xử lý đối với các đối tượng khủng bố, phá hoại môi trường hòa bình, ổn định chung như vậy. Không thể gọi những thành phần như vậy là những nhà “hoạt động dân chủ” hay “bất đồng chính kiến”, lại càng không thể gọi những kẻ bị pháp luật xử lý là “tù nhân chính trị”, “tù nhân lương tâm” hay “tù nhân tôn giáo”. Bất kể họ là ai, thuộc thành phần nào trong xã hội, đều bình đẳng trước pháp luật và phải bị xử lý nghiêm minh khi phá hoại an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và nguy hiểm hơn là tiến hành và tiếp tay cho hoạt động khủng bố của các tổ chức khủng bố. Như Việt Tân đã bị Bộ Công an Việt Nam công bố là tổ chức khủng bố thì không chỉ pháp luật Việt Nam mà pháp luật Hoa Kỳ cũng như nhiều nước trên thế giới đều kiên quyết lên án và chung tay chống khủng bố. Sẽ không thể có chuyện "đánh bùn sang ao" để dung túng cho những việc làm sai trái cả về đạo lý, pháp lý của Việt Nam và luật pháp quốc tế như vậy.
Sau những phiên tòa xét xử các đối tượng vi phạm pháp luật, nhiều người đã ăn năn, hối cải. Nhưng còn không ít người bị lôi kéo, kích động, được khoan hồng chưa bị truy tố có suy nghĩ về những hành vi vô hình trung tiếp tay cho sự phá hoại đất nước của mình?
Sự cố môi trường biển miền Trung diễn ra đã lâu nhưng vẫn còn không ít người lợi dụng sự kiện này để xuyên tạc, kích động, thậm chí sử dụng cả những tin giả, tin xấu làm phương hại đến an ninh kinh tế và chính trị của đất nước. Mấy năm trước, nhiều người dân ở các đô thị lớn đi biểu tình dù chưa hiểu cặn kẽ sự cố, có khi chỉ vì nhìn thấy những bức ảnh cá chết hàng loạt là ảnh cá chết ở Mỹ từ năm 2011 được những kẻ xấu “chế biến” thành ảnh cá chết ở ven biển miền Trung. Việc này báo chí đã lên tiếng vạch trần thế mà sang tận cuối năm 2018, một nhóm du học sinh tại Mỹ bao gồm cả người đang công tác ở một viện khoa học lớn tại Việt Nam lại làm một báo cáo khoa học dự hội nghị quốc tế cũng sử dụng những bức hình cá chết fake news (tin giả) này. Sự việc mới đây đã được một chuyên gia kinh tế môi trường lên tiếng phê phán vì sự giả dối này ảnh hưởng nhiều mặt đến lợi ích quốc gia thế nhưng nhóm nghiên cứu nọ có người vẫn bao biện cho hành vi sai trái của họ và cho đây là việc làm không vấn đề gì.
Trở lại với những kẻ kích động "cách mạng màu", "cách mạng mùa hè", những lời hô hào kêu gọi bạo động, để xây dựng một thể chế mới theo mô hình dân chủ phương Tây, theo lối đi của "Mùa xuân Ả Rập", chúng ta rút ra những gì tai nghe mắt thấy tại Việt Nam?
Trong vụ án “Quốc nội quật khởi”, trừ đối tượng Nguyen Michael Phuong Minh ngoài 50 tuổi, các bị cáo còn lại đều là sinh viên, thanh niên tương lai đang rộng mở song đã bị lôi kéo vào những việc làm phá hoại đất nước, như: Huỳnh Đức Thanh Bình mới 23 tuổi, là sinh viên Trường Đại học Kinh tế Tài chính TP Hồ Chí Minh; Trần Long Phi (Đồng Nai) mới 21 tuổi. Vậy mà chỉ vì dại dột, bị lôi kéo, cả hai phải lĩnh mức án lần lượt là 10 năm tù và 8 năm tù.
Họ đánh mất cả tương lai và tuổi trẻ trong khi những kẻ "ném đá giấu tay" thì có thể đang ở đâu đó hân hoan vì đã tạo ra được những “điểm nóng”. Trong khi những kẻ cầm đầu vẫn ở trong bóng tối thì hàng trăm người dân quá khích đã phải nhận những bản án nghiêm khắc. Cuộc sống bình yên của hàng trăm gia đình bỗng chốc bị đảo lộn, rơi vào hoàn cảnh khó khăn khi người thân vướng vào vòng lao lý. Bình Thuận-Ninh Thuận, những nơi gắn với các địa danh du lịch nổi tiếng bỗng chốc ghi “dấu ấn” không đẹp vì những cuộc xuống đường bạo loạn. Kinh tế, du lịch các tỉnh ven biển miền Trung từng bị những hậu quả nặng nề do tin giả, tin xấu gây hoang mang dư luận. Khó khăn vẫn chưa dừng lại khi bóng ma Việt Tân vẫn len lỏi đâu đó trong các vùng quê Nghệ An, Hà Tĩnh, gây ra nhiều vụ việc phức tạp thời gian qua.
Nhìn lại các vụ biểu tình, đập phá và những phiên tòa, chúng ta có thể liên hệ tới sự kiện năm nay đã đánh dấu 10 năm khởi phát cái gọi là "Mùa xuân Ả Rập". Tờ Jerusalem Post nhận xét, các thế lực phương Tây đã sử dụng truyền thông để kích động làn sóng biểu tình, nổi dậy lật đổ chính quyền đương nhiệm nhằm tạo dựng chính quyền mới. Những cuộc nổi dậy mà ban đầu phương Tây ca ngợi là "vì tự do và dân chủ" cuối cùng có kết cục trái ngược hoàn toàn: Thêm hỗn loạn, đất nước tan rã và sự nổi dậy của các nhóm Hồi giáo cực đoan. Nhiều nhà lãnh đạo mà phương Tây gọi là những "nhà độc tài" đã bị lật đổ, để rồi nhiều nhóm quyền lực mới còn độc tài và cực đoan hơn nổi lên, sẵn sàng chém giết lẫn nhau để giành quyền lực.
Khi viết những dòng này, chúng tôi chợt nhớ đến bộ phim Bao giờ cho đến tháng Mười, một bộ phim từng làm rung động hàng triệu trái tim cả Việt Nam và thế giới về nỗi đau chiến tranh. Duyên-người vợ bộ đội trong phiên chợ âm phủ gặp lại chồng đã hỏi: “Anh có điều gì muốn dặn dò em không?”. Người chồng-người lính đã hy sinh trả lời: “Anh chỉ muốn những người còn sống được hạnh phúc. Chỉ những người đang sống mới làm được điều đó. Anh đã làm hết phần việc của mình rồi”. Bộ phim cũng có những câu thơ rất hay: "Bao giờ cho đến tháng Mười/ Lúa chín trên cánh đồng dông bão/ Ta để lại sau lưng những ngày dài mong đợi/ Những mất mát, hy sinh, chịu đựng khổ đau/ Khi trời thu vẫn xanh mãi trên đầu...".
Trời thu của hòa bình, độc lập vẫn đang xanh mãi ở trên đầu. Nhưng chỉ những người đang sống mới có thể làm nên hạnh phúc của mình hay không bằng những nhận thức và hành động đúng đắn. Hãy biết trân trọng cái giá của hòa bình, độc lập để không mắc mưu kẻ xấu, để không vô tình hay cố ý phá hoại những mùa lúa đang chín trên cánh đồng quê hương Việt Nam từng chịu rất nhiều dông bão chiến tranh.
NHỊ MINH

MỘT CÁI NHÌN CHỦ QUAN, PHIẾN DIỆN VÀ XUYÊN TẠC SỰ THẬT



Trong bản “Phúc trình thường niên về tệ buôn bán người trên thế giới” ra ngày 20-6-2019, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho rằng “vấn đề buôn bán người tại Việt Nam vẫn rất nghiêm trọng do không xử lý triệt để tội phạm buôn người theo pháp luật”, từ đó họ đưa Việt Nam vào “nhóm quốc gia có vấn đề buôn bán người bậc 2 và sẽ bị theo dõi do không đạt được những tiêu chuẩn cần thiết nhằm loại bỏ và giảm thiểu nạn buôn bán người”. Cần phải thấy ngay rằng cách nhìn nhận ấy của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ là chủ quan, phiến diện một chiều và xuyên tạc sự thật.
Chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam là bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Trong mọi chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam, con người luôn được đặt vào vị trí trung tâm. Nhằm góp phần bảo vệ quyền con người, giữ gìn trật tự an toàn và ổn định xã hội, công tác phòng, chống tội phạm (PCTP) nói chung, tội phạm mua bán người nói riêng luôn được Việt Nam đặc biệt chú trọng. Những nỗ lực, cố gắng của Việt Nam trong đấu tranh PCTP mua bán người thời gian qua là toàn diện, rõ nét và không ai có thể phủ nhận.  
Không chỉ xâm hại quyền con người, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, đạo đức, nhân phẩm, tính mạng của các nạn nhân, tội phạm mua bán người còn gây ảnh hưởng xấu đến nền tảng đạo đức, giống nòi, thuần phong mỹ tục, tác động trực tiếp đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội... Nhận thức rõ tính chất nguy hiểm ấy, những năm qua, các cơ quan chức năng của Việt Nam từ Trung ương đến địa phương luôn thể hiện trách nhiệm cao, thái độ kiên quyết trong phối hợp đấu tranh, ngăn chặn, xử lý tội phạm mua bán người. Dưới sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương, cơ quan chức năng đã tích cực triển khai công tác tuyên truyền, giáo dục và đã tạo được sự chuyển biến cơ bản về nhận thức và hành động của toàn xã hội đối với công tác phòng, chống mua bán người. Không chỉ phổ biến kiến thức pháp luật về tội mua bán người, công tác tuyên truyền của Việt Nam còn hướng vào nâng cao nhận thức cho người dân về thủ đoạn của những kẻ mua bán người, đề cao trách nhiệm của các cấp chính quyền, cơ quan chức năng và từng người dân trong đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này. 
Việt Nam không ngừng hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chính sách về phòng, chống mua bán người. Tại Điều 150 và Điều 151 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định rõ về tội mua bán người và tội mua bán người dưới 16 tuổi. Đặc biệt, Luật Phòng, chống mua bán người được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam thông qua và có hiệu lực từ ngày 1-1-2012 đã quy định khung pháp lý quan trọng làm cơ sở cho công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý tội phạm mua bán người. Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 62/2012/NĐ-CP quy định căn cứ xác định nạn nhân bị mua bán và bảo vệ an toàn cho nạn nhân, người thân của họ. Ngày 3-5-2018, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-TTg về ngăn chặn, đấu tranh tình trạng công dân Việt Nam xuất cảnh, di cư trái phép, cư trú và lao động bất hợp pháp, vi phạm pháp luật ở nước ngoài, nhằm hạn chế tình trạng tội phạm lợi dụng để bán người ra nước ngoài. Với mục tiêu huy động mọi nguồn lực, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân tham gia phòng ngừa, ngăn chặn, tiến tới đẩy lùi tội phạm mua bán người trên phạm vi toàn quốc, ngày 10-5-2016, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam quyết định lấy ngày 30-7 hằng năm là “Ngày Toàn dân phòng, chống mua bán người”. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chương trình hành động PCTP mua bán người giai đoạn 2016-2020, hướng tới mục tiêu chung là giảm nguy cơ mua bán người, tội phạm mua bán người; thực hiện hiệu quả công tác tiếp nhận bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân bị mua bán trở về... Để theo kịp với những diễn biến của tình hình, Việt Nam luôn tích cực nghiên cứu, điều chỉnh, bổ sung hệ thống chính sách, pháp luật theo hướng ngày càng đồng bộ hơn, tính khả thi cao hơn, tạo khung pháp lý thuận lợi hơn cho công tác đấu tranh PCTP buôn bán người và tiếp nhận, hỗ trợ nạn nhân bị mua bán khi được giải cứu.
Việt Nam tích cực tham gia và thể hiện rõ trách nhiệm của mình trong thực hiện các điều ước quốc tế. Các hoạt động nhằm đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong công tác phòng, chống mua bán người được Việt Nam hưởng ứng mạnh mẽ. Việt Nam gia nhập Công ước về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia từ ngày 8-6-2012; Nghị định thư về phòng ngừa trấn áp và trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em từ ngày 29-12-2011 và Công ước số 29 của Tổ chức Lao động quốc tế về chống lao động cưỡng bức. Việt Nam đã phê chuẩn tham gia Công ước ASEAN về phòng, chống buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em (Công ước Actip)... Được sự hỗ trợ của Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), Việt Nam triển khai thành công dự án thành lập đường dây nóng phòng, chống buôn bán người. Việc làm này được xem là một trong những giải pháp hữu hiệu, phù hợp để tăng cường mạng lưới hợp tác, phối hợp về phòng, chống mua bán người tại Việt Nam.
Chính phủ Việt Nam kiên quyết ngăn chặn và xử lý nghiêm minh các hành vi phạm tội mua bán người theo pháp luật. Các lực lượng, cơ quan chức năng của Việt Nam luôn quán triệt thực hiện tốt phương châm, nguyên tắc, tinh thần trách nhiệm trong đấu tranh, xử lý với tội phạm mua bán người. Thông tin từ Bộ Công an cho biết, năm 2018, toàn quốc phát hiện 211 vụ với 276 đối tượng, lừa bán 386 nạn nhân, so với năm 2017 giảm 43,88% số vụ, giảm 43,8% số đối tượng, trong đó đã điều tra, khởi tố 200 vụ, 261 đối tượng. Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã truy tố 109 vụ, 194 bị can. Tòa án nhân dân các cấp thụ lý 130 vụ, với 233 bị cáo; đã giải quyết, xét xử 116 vụ, với 213 bị cáo. Các cơ quan chức năng đã xác minh, giải cứu, tiếp nhận gần 1.500 trường hợp, trong đó có hơn 490 trường hợp được xác định là nạn nhân bị mua bán, còn lại là những người được xác định nhập cảnh và di cư trái phép. Trong 6 tháng đầu năm 2019, triển khai kế hoạch đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm, trong đó có tội phạm mua bán người, lực lượng công an đã phát hiện 89 vụ, 142 đối tượng lừa bán 169 nạn nhân, so với cùng kỳ năm trước giảm cả về số vụ, số đối tượng và số nạn nhân.
Tuy nhiên, Việt Nam không phủ nhận công tác PCTP mua bán người còn những tồn tại, hạn chế nhất định. Đáng chú ý là do nhận thức chưa đầy đủ nên cấp ủy, chính quyền một số địa phương chưa thực sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra đôn đốc, hướng dẫn và giám sát việc thực hiện công tác đấu tranh PCTP nói chung và tội mua bán người nói riêng. Do hiệu quả của công tác truyền thông chưa cao nên nhận thức của một bộ phận người dân về công tác đấu tranh phòng, chống buôn bán người còn nhiều khoảng trống, nhất là về thủ đoạn của các đối tượng phạm tội. Điều kiện kinh tế khó khăn, thiếu việc làm, thêm vào đó là sự nhẹ dạ cả tin, mất cảnh giác của người dân thường bị các đối tượng mua bán người lợi dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế rộng mở, tình hình tội phạm có chiều hướng diễn biến phức tạp và thực tiễn luôn biến đổi không ngừng, do đó việc ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến loại tội phạm này chưa theo kịp được yêu cầu, còn những bất cập nảy sinh. Mặt khác hệ thống pháp luật về phòng, chống mua bán người của Việt Nam với hệ thống pháp luật các nước tiếp giáp còn nhiều điểm khác nhau, trong khi hành vi phạm tội của các đối tượng không chỉ trong khuôn khổ nội địa mà còn mang tính chất xuyên quốc gia. Đây là một trong những khó khăn tác động trực tiếp đến công tác đấu tranh, nhất là trong bắt giữ, điều tra, xử lý các vụ án mua bán người ở Việt Nam...
Dù còn những tồn tại, hạn chế nhất định nhưng những nỗ lực của Việt Nam trong đấu tranh PCTP mua bán người là không thể phủ nhận. Từ những kết quả nổi bật nói trên có thể khẳng định việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho rằng “vấn đề buôn bán người tại Việt Nam vẫn rất nghiêm trọng do không xử lý triệt để tội phạm buôn người theo pháp luật” là không có cơ sở, phiến diện và xuyên tạc sự thật.
Cần phải thấy rõ một thực tế là không chỉ ở Việt Nam mà ở nhiều nơi, nhiều khu vực trên thế giới hoạt động mua bán người tiếp tục diễn biến phức tạp. Ðây là công việc nhiều khó khăn, trở ngại nhưng với quyết tâm chính trị và bằng kinh nghiệm của mình Việt Nam sẽ tiếp tục huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân tham gia phòng ngừa, ngăn chặn, tiến tới đẩy lùi tội phạm mua bán người. Trong bối cảnh tội phạm mua bán người hình thành các đường dây, tổ chức xuyên quốc gia, Việt Nam chủ trương tăng cường hợp tác với các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước láng giềng, các tổ chức quốc tế trong PCTP mua bán người. Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam kiên quyết lên án mọi hành động cản trở cuộc đấu tranh phòng, chống mua bán người và kịch liệt phản đối, bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, bịa đặt nhằm phủ nhận những thành tựu bảo vệ quyền con người nói chung và công tác phòng, chống tệ nạn mua bán người nói riêng ở Việt Nam.
PHÙNG KIM LÂN  

PHÒNG, CHỐNG "TỰ DIỄN BIẾN", "TỰ CHUYỂN HÓA” CẦN KIÊN QUYẾT



Phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa” vốn là công việc rất khó khăn, phức tạp, vì nó liên quan tới vấn đề tư tưởng, biểu hiện âm thầm, gặm nhấm dần lòng tin, xói mòn dần phẩm chất đạo đức của cá nhân, tổ chức. Trong thực tế thì hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cũng liên quan cả gián tiếp và trực tiếp tới công tác xây dựng tổ chức, xây dựng con người, công tác cán bộ v.v..
Hơn nữa, khi thực hiện nhiệm vụ này rất dễ đụng chạm đến danh dự, lợi ích, quan hệ của mỗi con người. Tuy khó nhưng không thể không làm, vì vấn đề này có liên quan đến sinh mệnh chính trị, uy tín của Đảng và sự tồn vong chế độ. Bởi thế, ngoài quan điểm tích cực và chủ động thì việc kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" là rất quan trọng. Nếu không kiên quyết trong phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" thì việc thực hiện sẽ trở nên “nửa vời” và không đạt được mục tiêu, yêu cầu đề ra.
Để thể hiện tính kiên quyết trong phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" thì trong quá trình thực hiện phải nắm vững nguyên tắc kỷ luật tự giác, nghiêm minh của Đảng, chống phải đi đôi với xây và phải lấy xây làm chính. Cần phải tiến hành đồng bộ, toàn diện đối với mọi tổ chức, cá nhân, gắn kết chặt chẽ giữa đấu tranh, phê bình với các biện pháp hành chính, pháp luật và kinh tế.
Việc tạo ra phong trào và hành động cụ thể, thiết thực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân khi đấu tranh ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" là rất cần thiết. Có một số vấn đề cần tập trung, đó là: Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lý cao cấp, vấn đề này đã được Đảng ta chú trọng thực hiện trong thời gian qua và đã thu được những kết quả nhất định; kiên quyết sử dụng nhiều biện pháp để đấu tranh phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; kiên quyết thực hiện phê bình, tự phê bình. Khi có dấu hiệu vi phạm thì dù cán bộ ở cương vị nào cũng cần phải được kiểm điểm, phê bình, xử lý kịp thời, mạnh mẽ, không "dĩ hòa vi quý", không nể nang, rơi vào chủ nghĩa cá nhân, không có vùng cấm, không loại trừ cán bộ chủ chốt, cán bộ cấp cao tự coi mình là "bề trên", đứng ngoài tổ chức. Những biểu hiện, những đối tượng như thế càng phải kiên quyết trong đấu tranh, khắc phục, loại trừ, bởi đó thực sự là "mầm họa" của "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", là nguyên nhân sâu xa nhưng trực tiếp dẫn tới làm ảnh hưởng đến uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng.
TRẦN VŨ


VIỆT NAM LUÔN TÔN TRỌNG VÀ BẢO ĐẢM QUYỀN ĐƯỢC THÔNG TIN CỦA NGƯỜI DÂN



Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân là vấn đề luôn được Đảng và Nhà nước Việt Nam chú trọng, bởi đây là một trong những quyền cơ bản của con người.
Thế nhưng thời gian vừa qua, các thế lực thù địch, phản động đã cố tình bóp méo, xuyên tạc sự thật về việc thực hiện các quyền dân sự, chính trị nói chung và quyền tiếp cận thông tin nói riêng ở Việt Nam. Trên một số trang mạng thiếu thiện chí có kẻ cho rằng Việt Nam "bóp nghẹt", "bưng bít" thông tin; “cản trở các quyền tự do biểu đạt, chính kiến và ngôn luận"... của người dân. Thậm chí trên trang mạng của RFA còn hồ đồ phán rằng: “bưng bít thông tin là nguyên tắc của Chính phủ Việt Nam...”.
Cần khẳng định ngay rằng giọng điệu trên là bịa đặt vô căn cứ, trắng trợn xuyên tạc việc bảo đảm các quyền dân sự, chính trị nói chung và quyền được thông tin ở Việt Nam nói riêng. Hành động ấy lộ rõ ý đồ, động cơ chính trị không trong sáng đối với Việt Nam. Sự thật bảo đảm quyền được thông tin của người dân ở Việt Nam đã bác bỏ hoàn toàn những luận điệu sai trái ấy.
Chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là khuyến khích, tạo mọi điều kiện thuận lợi để người dân được thông tin; khai thác, sử dụng internet để tiếp cận thông tin nhằm phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế-văn hóa-xã hội, hỗ trợ cải cách hành chính, nâng cao chất lượng cuộc sống và thực hiện các quyền tự do cơ bản của nhân dân. Theo tinh thần ấy, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu về bảo đảm quyền được thông tin của người dân. Những thành tựu ấy trước hết được thể hiện ở việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã sửa đổi và ban hành mới nhiều văn bản luật nhằm bảo đảm tốt hơn quyền được thông tin của người dân, trong đó có những luật, nghị định như: Luật Báo chí 2016; Luật Tiếp cận thông tin 2016; Luật An ninh mạng 2018; Nghị định số 72/2013/NĐ-CP về “Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng”... Tất cả những văn bản luật ấy đều tuân thủ nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, theo đúng Hiến pháp năm 2013, vừa bảo đảm quyền tiếp nhận thông tin, vừa bảo đảm nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong bảo vệ bí mật Nhà nước, chống việc lộ, lọt bí mật thông tin.
Nghị định số 72/2013/NĐ-CP xác định chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam là tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, tạo điều kiện tốt nhất cho nhân dân ở các vùng khó khăn có thể sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng vào việc tìm kiếm và tiếp cận thông tin. Trước sự phát triển mạnh mẽ của internet và mạng điện tử, vấn đề bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng là một nhiệm vụ quan trọng, tất yếu. Luật An ninh mạng xác định nguyên tắc pháp quyền của Nhà nước ta, đồng thời tôn trọng và bảo đảm quyền con người, trong đó có quyền được tiếp cận thông tin. Đối với các trang mạng đang hoạt động tại Việt Nam, Luật An ninh mạng cũng có các quy định rất rõ ràng, cụ thể. Bảo đảm an ninh thông tin trên không gian mạng theo Luật An ninh mạng dựa trên thông lệ quốc tế không cản trở quyền được thông tin của người dân và cũng không cản trở hoạt động của các doanh nghiệp mạng đang triển khai dịch vụ ở Việt Nam. Điều này được thể hiện rõ trong Báo cáo quốc gia về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người theo cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ III của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc công bố tại hội thảo tổ chức ngày 3-12-2018. Theo đó, Việt Nam đang là một trong những nước có tốc độ phát triển internet nhanh nhất thế giới, với trên 50 triệu người dùng internet...
Chính phủ Việt Nam đã triển khai hệ thống tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp thông qua Cổng thông tin điện tử Chính phủ, xây dựng và công bố công khai hằng năm Chỉ số cải cách hành chính của các cơ quan hành chính Nhà nước và Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính Nhà nước. Trong điều kiện cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, Chính phủ Việt Nam đã thành lập Ủy ban quốc gia, đẩy nhanh tiến độ xây dựng “Chính phủ điện tử”; cổng thông tin điện tử của các cơ quan Nhà nước, nhằm cung cấp dịch vụ công trực tuyến, để cán bộ, cơ quan, tổ chức đối thoại trực tiếp với nhân dân; để người dân thông qua mạng internet có thể bày tỏ tâm tư, nguyện vọng, gửi ý kiến tới Đảng, chính quyền nhằm nâng cao hiệu quả công tác tiếp nhận phản ánh thông tin, kiến nghị của người dân. Thực tế cho thấy số người dùng internet, MXH để bày tỏ chính kiến, tổ chức các diễn đàn thảo luận, phản biện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, gửi các góp ý, kiến nghị đến các cơ quan chức năng ở Việt Nam ngày càng tăng. Nhiều thông tin từ MXH đã được các cơ quan chức năng, các cấp chính quyền kiểm tra, xác minh và xử lý kịp thời.
Nhằm bảo đảm quyền được tiếp nhận thông tin của người dân, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, trong đó có việc phát triển báo chí, truyền thông. Để tăng cường tính công khai, minh bạch thông tin, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quy chế về cơ chế phát ngôn, cung cấp thông tin cho báo chí của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo các quy định của pháp luật và hoạt động báo chí hiện hành... Được Đảng, Nhà nước quan tâm, báo chí cách mạng nước ta đã có sự phát triển nhanh chóng và toàn diện, ngày càng thể hiện rõ vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là diễn đàn xã hội rộng rãi để phát huy dân chủ; là người bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân... Không chỉ tăng nhanh về số lượng các cơ quan báo chí, các chương trình phát thanh, truyền hình và công nghệ làm báo, chất lượng các xuất bản phẩm ngày càng đổi mới cả về nội dung, hình thức thể hiện. Đội ngũ những người làm báo có sự phát triển, trưởng thành trên nhiều mặt. Đặc biệt, định hướng phát triển báo chí theo mô hình cơ quan truyền thông đa phương tiện đã tạo ra khả năng to lớn cho việc truyền tải thông tin của các cơ quan báo chí, góp phần bảo đảm tốt hơn quyền được thông tin và tiếp nhận thông tin của nhân dân.
Sự phát triển nhanh của các phương tiện thông tin đại chúng và internet cho thấy quyền tự do ngôn luận, tự do thông tin ở Việt Nam đã có bước cải thiện, phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, cũng như mọi quốc gia trên thế giới, luật pháp Việt Nam quy định hạn chế quyền tự do ngôn luận, quyền được thông tin và tiếp cận thông tin trong một số trường hợp, phù hợp với Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, nhằm tôn trọng các quyền hợp pháp và chính đáng, uy tín, danh dự của người khác; nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe cộng đồng và đạo đức của xã hội. Những trường hợp mà một vài trang mạng dẫn ra để nói rằng Việt Nam vi phạm quyền tự do thông tin, thực chất họ đã vi phạm pháp luật Việt Nam. Cũng như mọi quốc gia trên thế giới, ở Việt Nam mọi hành vi cản trở, đe dọa đến quyền được thông tin, quyền tự do tiếp cận thông tin; lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do thông tin để xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp và chính đáng của tổ chức, cá nhân; gây tổn hại đến uy tín, danh dự của người khác; xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức và sức khỏe cộng đồng... tùy vào tính chất, mức độ đều bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, chúng ta cũng khách quan thừa nhận rằng, việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cần sớm được khắc phục. Đáng lưu ý là việc thực hiện Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí ở một số bộ, ngành, địa phương chưa tốt. Còn có biểu hiện cán bộ được phân công phát ngôn, cung cấp thông tin cho báo chí sợ trách nhiệm, đùn đẩy cho người không có thẩm quyền hoặc viện dẫn nhiều lý do để từ chối cung cấp thông tin. Một số cán bộ được phân công cung cấp thông tin còn thiếu kỹ năng phát ngôn, chưa tìm hiểu sâu kỹ vấn đề, vụ việc, nên chưa đáp ứng được yêu cầu của báo chí và dư luận. Sự phối hợp giữa người phát ngôn với bộ phận chức năng chuyên sâu chưa chặt chẽ dẫn đến tình trạng thông tin cung cấp chưa kịp thời và thiếu rõ ràng. Việc điều tra, xử lý những đối tượng vi phạm quyền được thông tin của người dân, tung tin xuyên tạc, bịa đặt, bôi xấu, gây ảnh hưởng tới danh dự, uy tín của tập thể, cá nhân... chưa kiên quyết, kịp thời; chế tài xử phạt chưa đủ mạnh...
Mặc dù còn những hạn chế, nhưng những thành quả của Việt Nam trong bảo đảm quyền được thông tin của người dân là rất cơ bản và không thể phủ nhận. Những tiến bộ đó đã được dư luận quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn nỗ lực phát huy những thành quả đã đạt được và khắc phục những tồn tại, hạn chế. Mặt khác, Việt Nam kiên quyết đấu tranh, phản bác mọi luận điệu sai trái, xuyên tạc, bóp méo sự thật về bảo đảm quyền con người nói chung và quyền được thông tin, tiếp cận thông tin của người dân Việt Nam nói riêng.
KIM LÂN

Chủ Nhật, 7 tháng 7, 2019

“CHỦ NGHĨA HẬU DUỆ” LÀM BIẾN DẠNG, THA HÓA QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC



Tục ngữ Việt có câu “Con hơn cha là nhà có phúc”. Đó không chỉ là mong muốn, khát vọng nhân văn của thế hệ trước đối với thế hệ sau mà còn phần nào nói lên tình cảm, niềm tin của ông cha gửi gắm vào sự nỗ lực phấn đấu trưởng thành, tiến bộ của con cháu.
Trên thực tế, dù ước vọng “nhà có phúc” là chính đáng, nhưng vẫn có một số cán bộ, đảng viên hoặc là thiếu phương pháp giáo dục, rèn luyện, quản lý con một cách đúng mực, hoặc là nuông chiều, nâng đỡ con một cách vội vàng, thái quá khiến con cái họ sớm ảo tưởng về mình rồi thui chột, sa ngã.
Thời gian gần đây, sau khi các phương tiện thông tin đại chúng công bố việc bổ nhiệm nhân sự cán bộ lãnh đạo trung, cao cấp hay đăng tải thông báo kết quả xem xét, xử lý kỷ luật của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, dư luận thường “soi” rất kỹ nhân sự được bổ nhiệm hay cá nhân cán bộ, đảng viên bị xem xét, xử lý, thi hành kỷ luật.
Với những nhân sự đủ tài đức, tiêu chuẩn và trải qua quá trình rèn luyện, công tác, trưởng thành từ cơ sở mà được bổ nhiệm, mọi người dân đều cảm thấy yên lòng và tỏ ý khẩu phục, tâm phục đối với quyết định bổ nhiệm nhân sự này. Còn với những nhân sự được bổ nhiệm dù trẻ tuổi, có bằng cấp cao, song chưa trải qua rèn luyện, thử thách nhiều trong thực tiễn, chưa chứng tỏ được năng lực nổi trội so với người khác và chưa có nhiều cống hiến cho tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương thì dư luận thường đặt câu hỏi đầy nỗi niềm: “Đồng chí này là con đồng chí nào?”.
Một thời gian sau, chính những nhân sự được “bổ nhiệm thần tốc” đó không những chưa chứng minh được trình độ cao, khả năng triển vọng của mình, lại còn vi phạm nguyên tắc lãnh đạo, vi phạm những điều đảng viên không được làm, thậm chí vi phạm đạo đức, lối sống thì dư luận thêm một lần bày tỏ sự phiền lòng, ta thán một cách chua chát: “Hạt giống đỏ” chưa nảy mầm đã thành “hạt giống lép!”.
Nhân dân là chủ thể chân chính, là lực lượng quyết định sự thành bại của sự nghiệp cách mạng và sự phát triển của lịch sử xã hội loài người. Dù trên thực tế, nhân dân không hẳn lúc nào cũng có quyền quyết định chức vụ của những “người Nhà nước”, nhưng dư luận nhân dân thì không nên, không thể xem thường. Cách đây 8 năm, sau khi lắng nghe từ dư luận xã hội, tại Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương ương 4, khóa XI (tháng 2-2012), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đặt câu hỏi đầy trăn trở: “Trong công tác cán bộ thì “Thứ nhất là quan hệ, thứ nhì là tiền tệ, thứ ba là hậu duệ, thứ tư mới đến trí tuệ”. Nó là cái gì?”.
Hơn hai năm sau, trong một bài viết nhân dịp kỷ niệm 69 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2-9-2014), Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã thẳng thắn nêu ra: “Chúng ta vẫn còn phải trăn trở, đau lòng khi nghe câu truyền miệng lâu nay trong nhân dân: “Nhất hậu duệ, nhì tiền tệ, ba quan hệ, bốn trí tuệ” trong công tác cán bộ”.
Tại sao người đứng đầu Đảng ta và người đứng đầu Nhà nước ta đã sớm băn khoăn, lo ngại trước thực trạng “hậu duệ” như một nguy cơ có thể làm hỏng công tác cán bộ, làm mọt ruỗng bộ máy công quyền. Bởi hơn ai hết, những người đứng trên cao thì thường nhìn xa trông rộng và cảm nhận, tiên lượng được những vấn đề mặt trái của quyền lực có thể làm tha hóa nhân cách một số người đang sở hữu quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước, quyền lực nhân dân vì họ đã biến quyền lực công thành quyền lực tư, quyền lực gia đình, quyền lực hậu duệ.
Công bằng mà nói, không hẳn con em quan chức nào tiếp bước sự nghiệp công danh, con đường chính trị của cha anh mình cũng đều thua kém thế hệ đi trước, mà ngược lại, không ít “hậu duệ” đã góp phần làm vẻ vang thêm truyền thống “danh gia vọng tộc” và vị thế “trâm anh thế phiệt” của mình. Vì những người này đều có đặc điểm chung là được tiếp thu, hấp thụ những giá trị tích cực, nổi trội từ truyền thống gia đình, dòng họ; được giáo dục, rèn luyện đến nơi đến chốn và bản thân họ cũng luôn có ý thức tu dưỡng, dấn thân, cống hiến hết mình cho tập thể, cộng đồng, xã hội và đất nước.
Tuy nhiên, còn một bộ phận quan chức thời nay vẫn để tâm lý, quan niệm “cha truyền con nối” từ chế độ quan lại chuyên chế phong kiến ăn sâu vào nếp nghĩ, hành xử của mình. Từ đó, họ tìm mọi cách để cho "cậu ấm, cô chiêu" mình được có cơ hội tiếp cận, làm chủ, sở hữu quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước càng sớm càng tốt. Thậm chí có người sẵn sàng “hy sinh đời bố, củng cố đời con”, ra vẻ “tự nguyện” rời nhiệm sở trước một hai năm nhưng không phải để dành cơ hội cho những người tài cao đức trọng, giàu tinh thần cống hiến mà lại mở đường ưu tiên cho “hậu duệ” của mình.
Từ đúc kết của dân gian “Con hư tại mẹ” đến khoa học tâm lý giáo dục đã chỉ ra: “Uốn cây từ thuở còn non/Dạy con từ thuở con còn bé thơ”. Nếu các quan chức không nghiêm khắc dạy bảo con từ bé, lại còn nâng đỡ con thái quá, nóng vội trong việc sắp đặt chức vụ, trao truyền quyền lực cho con không phù hợp, tương xứng với khả năng, thực lực, uy tín, kinh nghiệm từng trải của con thì vô hình trung sẽ làm con tự ảo tưởng về mình, từ đó tự phụ, tự mãn và tự “kết liễu” sớm sự nghiệp chính trị của chính mình. Nhưng nguy hại hơn, khi những “hậu duệ” mà “y phục không xứng kỳ đức” nằm trong bộ máy công quyền không chỉ ngăn cản, làm mất cơ hội phấn đấu, tiến thân của những cán bộ, đảng viên chân chính mà còn gây mất đoàn kết nội bộ và tác động không thuận đến sự phát triển lành mạnh của tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương và đất nước.
Bài học không ở đâu xa. Có những “hậu duệ” từng giữ chức Ủy viên Trung ương Đảng ở độ tuổi 40, có những cán bộ cấp sở, cán bộ cấp huyện mới ngoài “tam thập” chưa có nhiều cống hiến, chưa trải qua nhiều thử thách, rèn luyện trong thực tiễn phong trào cách mạng, chưa thấu hiểu hết nỗi gian lao, vất vả của người dân, chưa tích lũy đủ kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý mà lại sớm ngồi ở những vị trí “quyền cao chức trọng” nên dễ mắc bệnh “kiêu ngạo cộng sản”, rồi không bao lâu sa vào cạm bẫy tiền tài danh vọng, tửu sắc. Hậu quả, không những “hậu duệ” đó sớm kết thúc sự nghiệp công danh mà hình ảnh “danh gia vọng tộc” của họ cũng ít nhiều bị xói mòn, hoen ố.
Đây là bài học cảnh tỉnh đối với bất cứ cán bộ, đảng viên nào vẫn muốn “chủ nghĩa hậu duệ” can thiệp sâu vào chốn quan trường và làm biến dạng, tha hóa quyền lực nhà nước, để rồi không sớm thì muộn, sức mạnh dư luận xã hội và kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước sẽ đánh bại, loại bỏ “chủ nghĩa hậu duệ” ra khỏi đời sống chính trị của đất nước.
THIỆN VĂN


Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...