Thứ Hai, 28 tháng 5, 2018


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ CHỐNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN
Quang Tiến
Quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải ra sức đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Người cho rằng, chủ nghĩa cá nhân như một thứ vi trùng độc hại, tồn tại dai dẳng trong mỗi người cán bộ, đảng viên, luôn chờ cơ hội để trỗi dậy; là nguy cơ làm suy yếu Đảng, giảm lòng tin của quần chúng đối với Đảng. Người coi chủ nghĩa cá nhân là giặc nội xâm, kẻ thù của những người cách mạng. Người nói: “Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá từ trong phá ra”, “Muốn đánh thắng kẻ địch bên ngoài thì trước hết phải đánh thắng kẻ địch bên trong của mỗi chúng ta là chủ nghĩa cá nhân”.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, chủ nghĩa cá nhân là chỉ chăm lo vun vén cho lợi ích riêng, đặt lợi ích của cá nhân, của gia đình mình lên trên lợi ích chung của giai cấp, của dân tộc, “miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy”, nó là nguồn gốc của những “căn bệnh” làm hư hỏng đội ngũ cán bộ, đảng viên, tha hóa Ðảng. Trong tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, Người nghiêm khắc lên án chủ nghĩa cá nhân - nguyên nhân sinh ra các căn bệnh: quan liêu, tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, “hữu danh vô thực” (loại bệnh có biểu hiện là làm được ít nhưng báo cáo, khoe khoang thì nhiều), cận thị (loại bệnh có biểu hiện là chỉ để ý đến cái nhỏ, vụn vặt, không thấy cái lớn, cái quan trọng), tị nạnh, xu nịnh, a dua và bệnh kéo bè, kéo cánh. Những căn bệnh nguy hiểm tiềm tàng này dễ làm cho Ðảng mất dần tính cách mạng, trí tuệ, đạo đức và tính nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, chừng nào còn chủ nghĩa cá nhân nó sẽ “ngăn trở” người cán bộ, đảng viên phấn đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của dân tộc, làm mất lòng tin của dân đối với Đảng. “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”, “Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ”. Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà phạm phải nhiều sai lầm, làm mất đoàn kết nội bộ, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng, của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân.
Trước yêu cầu phát triển của cách mạng, đội ngũ cán bộ, đảng viên sẽ ngày càng tăng lên, nhưng nếu không được giáo dục tốt, tổ chức tốt, cán bộ không tự rèn luyện tốt thì chính trong đội ngũ này sẽ nảy sinh những tiêu cực, làm thoái hóa, biến chất đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng. Do vậy, phải kịp thời phát hiện và kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, không để chúng lây ngấm vào cơ thể sống của Đảng. Người kết luận: “Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Người cách mạng phải tiêu diệt nó”. Tuy nhiên, Người cũng lưu ý, “đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là giày xéo lên lợi ích cá nhân. Mỗi người đều có tính cách, sở trường, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích của tập thể thì không phải là xấu”. Theo đó, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân cần phải nhận thức rõ những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, tránh nhầm lẫn chủ nghĩa cá nhân với lợi ích cá nhân chân chính, tính cách cá nhân, năng khiếu, sở trường… của mỗi con người. Nhận thức đúng đắn và đầy đủ để phát huy mặt mạnh ở mỗi con người, tạo điều kiện cho họ đóng góp tích cực vào sự nghiệp cách mạng.
Người luôn nhắc nhở các tổ chức đảng phải hết sức quan tâm giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, không để cho chủ nghĩa cá nhân tồn tại trong hàng ngũ những người cộng sản. Người giành nhiều bài nói, bài viết về rèn luyện, giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, đó là hệ thống những quan điểm, biện pháp hữu hiệu để chống chủ nghĩa cá nhân, nâng cao uy tín, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân là cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt, lâu dài và gian khổ không kém cuộc đấu tranh chống lại ngoại xâm, bởi lẽ chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù không lộ nguyên hình, nó ẩn nấp trong tư tưởng, suy nghĩ và hành vi của mỗi cá nhân. Người so sánh: “Tư tưởng Cộng sản với tư tưởng cá nhân ví như lúa với cỏ dại. Lúa phải chăm bón rất khó nhọc thì mới tốt được. Còn cỏ dại không cần chăm sóc cũng mọc lu bù. Tư tưởng Cộng sản phải rèn luyện gian khổ mới có được. Còn tư tưởng cá nhân thì cũng như cỏ dại, sinh sôi, nảy nở rất dễ”. Điều hết sức nguy hiểm là nếu chủ nghĩa cá nhân tồn tại trong cán bộ, đảng viên sẽ làm tha hóa biến chất về đạo đức lối sống, suy yếu Đảng, giảm sút lòng tin của quần chúng đối với Đảng, tổn thương mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân. Cán bộ, đảng viên giữ cương vị càng cao, quyền lực càng lớn mà mang nặng chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng cơ hội, thực dụng thì càng nguy hiểm. Người coi việc chống chủ nghĩa cá nhân là việc làm cần thiết, thường xuyên của những người cộng sản chân chính. Người cho rằng: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “Cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức”. Vì thế, cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện và thực hành đạo đức cách mạng, không sa vào chủ nghĩa cá nhân.
Người chỉ ra, chủ nghĩa cá nhân là sự biểu hiện tập trung nhất của suy thoái đạo đức, lối sống, tha hóa nhân cách cộng sản, trở thành nguy cơ lớn của đảng cầm quyền. Do vậy, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng được xem là công việc liên quan trực tiếp tới vận mệnh của Đảng, quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng ở nước ta. Theo đó, chống chủ nghĩa cá nhân trước hết phải chống từ trong Đảng và trong bộ máy chính quyền. Người yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức sâu sắc về bản chất cũng như sự nguy hiểm của chủ nghĩa cá nhân, phải tự sửa mình bằng cách “mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải tự rửa mặt”. Người cán bộ phải biết rèn luyện nhân cách, thực hành đạo đức cách mạng, phải “chí công vô tư”, không sa vào chủ nghĩa cá nhân, góp phần làm cho Ðảng ta thật sự “là đạo đức, là văn minh”.
Hiểu rõ nguồn gốc, bản chất, đặc điểm, tác hại và những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân là điều kiện cần thiết để nêu cao tinh thần tự giác, ý thức tổ chức kỷ luật, quyết tâm tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Học tập và làm theo Chủ tịch Hồ Chí Minh về chống chủ nghĩa cá nhân, mỗi con người chúng ta phải vượt lên chính mình, vượt qua những cám dỗ của lợi ích vật chất và những tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường, nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng trước âm mưu chống phá của các thế lực thù địch. Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII xác định rõ, phải kiên quyết đấu tranh với mọi biểu hiện cá nhân chủ nghĩa, kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên của Đảng. Đây là vấn đề khó khăn, phức tạp bởi những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân luôn được che đậy rất khôn khéo, tinh vi dưới nhiều hình thức, gắn liền với lợi ích của từng cá nhân, lợi ích nhóm. Vì vậy, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân vừa là nhiệm vụ cấp bách, quan trọng, vừa là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài của toàn Đảng, toàn dân. Để đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân có hiệu quả, chúng ta cần thực hiện tốt một số biện pháp sau:
Một là, giáo dục nâng cao bản lĩnh chính trị, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên. Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân chỉ thực sự có hiệu quả khi mỗi cán bộ, đảng viên hiểu rõ mục tiêu lý tưởng, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; tiêu chuẩn, tư cách, đạo đức cách mạng của người cộng sản. Do đó, các cấp ủy đảng phải thường xuyên chú trọng giáo dục nâng cao trình độ, bản lĩnh chính chính trị, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên thông qua tổ chức học tập chính trị, kết hợp với rèn luyện trong thực tiễn. Xây dựng cho cán bộ, đảng viên tinh thần trách nhiệm và ý thức chính trị, nhận thức rõ về sự nguy hại của chủ nghĩa cá nhân đối với cơ quan, đơn vị và xã hội. Tuyên truyền sâu rộng cuộc vận động “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, xác định các tiêu chí về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Qua đó tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên tự giác tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống; tạo động lực đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Hai là, tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng, củng cố mối liên hệ mật thiết với nhân dân. Đây là nội dung quan trọng tác động trực tiếp đến nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ, đảng viên, là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng nước ta qua các giai đoạn lịch sử. Mỗi cán bộ, đảng viên cần nêu cao tinh thần đoàn kết thống nhất trên cơ sở đường lối chính trị, nguyên tắc tổ chức và tình yêu thương đồng chí; luôn “giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Đoàn kết thống nhất trong Đảng là cơ sở để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, củng cố mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Các cấp ủy, tổ chức đảng cần phát huy vai trò giám sát của nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi để quần chúng nhân dân tham gia góp ý phê bình cán bộ, đảng viên; qua đó, góp phần phòng ngừa và đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân.
Ba là, phát huy dân chủ, đề cao tự phê bình và phê bình. Phát huy dân chủ, đề cao tự phê bình và phê bình nhằm tạo sự thống nhất về ý chí và hành động, phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm, tăng cường sự giám sát của tập thể đối với đảng viên. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đây là vũ khí sắc bén và rất cần thiết để chống chủ nghĩa cá nhân. Người khẳng định: “Mở rộng dân chủ phê bình trong cơ quan và ngoài quần chúng, từ trên xuống và từ dưới lên. “Trên đe dưới búa” của phê bình thì nhất định tẩy được bệnh quan liêu, tham ô, lãng phí”. Người chỉ rõ, trong tự phê bình và phê bình phải thực hiện một cách thường xuyên, nghiêm túc; tự phê bình và phê bình có lý, có tình, trên tinh thần thương yêu đồng chí, tôn trọng nhân cách của mỗi con người. Theo đó, trong hoạt động lãnh đạo của tổ chức đảng phải thực sự phát huy dân chủ; mỗi cán bộ, đảng viên phải thực hiện nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt Đảng. Thông qua tự phê bình và phê bình để đấu tranh khắc phục những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân; góp phần thiết thực xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, lãnh đạo cơ quan, đơn vị hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Bốn là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng. Thực hiện tốt giải pháp này sẽ góp phần giáo dục, răn đe đối với cán bộ, đảng viên, đấu tranh, ngăn chặn các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Kiểm tra có tác dụng thúc đẩy và giáo dục đảng viên và cán bộ làm trọn nhiệm vụ đối với Đảng, đối với Nhà nước”. “Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi”. Theo đó, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp cần coi trọng công tác kiểm tra, giám sát và quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên. Công tác kiểm tra phải toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm và phải bám sát nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị. Thông qua kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện, sửa sai; đồng thời, phòng ngừa, ngăn chặn những trường hợp vi phạm khuyết điểm. Thi hành kỷ luật Đảng phải tự giác, nghiêm minh, tránh bao che, đơn giản, phiến diện hoặc trù dập, trả thù lẫn nhau; kiên quyết sàng lọc, đưa ra khỏi Đảng những đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, những phần tử cơ hội, thực dụng, mang nặng chủ nghĩa cá nhân.
Trong giai đoạn hiện nay, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII thể hiện quyết tâm chính trị và tư tưởng nhất quán của Đảng về tầm quan trọng đặc biệt của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; thể hiện tầm tư duy và thái độ kiên quyết, kiên trì của Đảng đối với việc đấu tranh chống các biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Đồng thời, gắn thực hiện Nghị quyết với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị, khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” một cách thường xuyên, có hiệu quả. Đây là nội dung quan trọng, khẳng định vị trí, vai trò của việc học tập Bác đối với công tác xây dựng Đảng về đạo đức trong giai đoạn hiện nay, góp phần tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức rèn luyện đạo đức cách mạng, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, làm cho Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh” theo lời Bác dạy./. 


Chủ Nhật, 27 tháng 5, 2018


PHẢI CHĂNG “CHỈ LIÊN MINH QUÂN SỰ VỚI MỘT CƯỜNG QUỐC THÌ VIỆT NAM MỚI GIỮ ĐƯỢC CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO…”
Việt Giang
Đây là một nhận thức không đúng, bởi vì:
1. Những bất đồng tranh chấp ở Biển Đông hiện nay không chỉ liên quan đến 5 nước, 6 bên có yêu sách chủ quyền mà còn trực tiếp liên quan đến hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông và khu vực. Đây là một vấn đề phức tạp, lâu dài, không thể giải quyết ngay trong ngày một, ngày hai và vấn đề Biển Đông không thể do một nước lớn hay một vài cường quốc dàn xếp, quyết định. Càng không thể giải quyết vấn đề biển Đông bằng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực. Mà giải quyết nó tất yếu phải bằng cơ chế đàm phán, thương lượng hòa bình song phương và đa phương dựa trên các văn bản pháp lý có liên quan.
2. Bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay phải bằng sức mạnh tổng hợp trên cơ sở luật pháp quốc tế. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nội lực và ngoại lực, bằng cả sức mạnh trong nước và sức mạnh của cả cộng đồng quốc tế chứ không thể chỉ dựa vào liên minh quân sự với một cường quốc, một nước phát triển. Trong điều kiện các nước đều đề cao lợi ích quốc gia, dân tộc thì hiếm có một nước nào lại đi bảo vệ chủ quyền, bảo vệ Tổ quốc cho một quốc gia dân tộc khác một cách vô tư, không tính toán. Do đó, dựa vào nước nào (dù là cường quốc, hay nước phát triển) chống nước kia không những không giải quyết được vấn đề biển Đông mà thậm chí còn làm căng thẳng, phức tạp thêm tình hình. Thực tế trong khu vực đã cho ta thấy điều này.
3. Liên minh với một nước nào đó để chống nước kia tức là chúng ta đang tạo cho mình thêm một kẻ thù. Càng tai hại hơn nếu đó lại là một quốc gia láng giềng, liền núi, liền sông. Lịch sử đã để lại cho chúng ta nhiều kinh nghiệm sâu sắc trong việc bảo vệ nền độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, nó không chỉ đơn thuần là dựa vào chiến thắng quân sự mà còn là ở chính sách ngoại giao khôn khéo, mềm dẻo. Do đó, việc liên minh với nước này để chống nước khác nhằm bảo vệ chủ quyền biển, đảo là một sự ngây thơ và hài ước.
4. Tư tưởng dựa vào nước này để chống nước kia trong bảo vệ chủ quyền lãnh thổ là tư tưởng yếu hèn, nhược tiểu. Quan điểm này hoàn toàn trái ngược với truyền thống của dân tộc ta và trái ngược với xu thế vận động khách quan của thế giới đương đại. Giao phó vận mệnh của mình cho nước khác không những không bảo vệ, không đòi được chủ quyền, thậm chí còn mất luôn cả quyền độc lập về chính trị, quyền tự quyết dân tộc.


Ý ĐỒ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH
 TRONG THÚC ĐẨY ĐA NGUYÊN, ĐA ĐẢNG Ở VIỆT NAM
Việt Giang
Cần khẳng định rằng, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nằm trong âm mưu thực hiện "diễn biến hòa bình" nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thay đổi chế độ chính trị tại Việt Nam. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Chính vì lẽ đó, để chống phá cách mạng Việt Nam, để chặn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, các thế lực thù địch tìm mọi cách tấn công vào vai trò lãnh đạo của Đảng
Đòi hỏi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, về bản chất là để nhằm tạo điều kiện, tiền đề cho việc ra đời và công khai hóa, hợp pháp hóa các tổ chức chính trị đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, từ đó cạnh tranh vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, tiến tới thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Những gì diễn ra ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu trong quá khứ đã minh chứng rất rõ cho âm mưu, ý đồ thâm độc này.


CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA ĐA NGUYÊN
Việt Giang
Cơ sở lý luận cho việc thực hiện đa nguyên, đa đảng chính là chủ nghĩa đa nguyên và đây là một học thuyết phi mácxít. Chủ nghĩa đa nguyên là một trường phái triết học xã hội tư sản do nhà triết học Đức Chiristian Wolff (1679-1754) đề xuất vào đầu thế kỷ XVIII. Thế giới quan của chủ nghĩa đa nguyên phủ nhận tính thống nhất của thế giới, cho thế giới là kết hợp các nguyên thể, các yếu tố, cường điệu, thổi phồng cái riêng. Chủ nghĩa đa nguyên ít thiên về thế giới quan mà chủ yếu gắn với những vấn đề xã hội. Chủ nghĩa đa nguyên lấy xã hội tư sản trên chế độ tư hữu làm mẫu, họ cho rằng xã hội luôn được chia nhỏ thành cơ số các cá thể, nhóm, tầng lớp, tập đoàn, phân biệt bằng tài sản, thu nhập, tín ngưỡng, tôn giáo, đảng phái, nghề nghiệp, che đậy tính đối kháng trong quan hệ xã hội và đặc biệt phủ nhận phân chia xã hội thành giai cấp, phủ nhận đấu tranh giai cấp.
Chủ nghĩa đa nguyên chủ trương xây dựng một cơ chế quản lý xã hội  theo nguyên tắc đa lực lượng, đa đảng phái và các tổ chức đảng phái này quan hệ với nhau theo nguyên tắc hiệp thương. Quan điểm này của chủ nghĩa đa nguyên nếu được áp dụng vào chủ nghĩa xã hội sẽ đẫn tới nguy cơ phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, hạ thấp đảng thành một tổ chức xã hội bình thường. Nó đối lập hoàn toàn với lý luận đảng kiểu mới của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Có thể thấy rằng, chủ nghĩa đa nguyên là sản phẩm của giai cấp tư sản với thế giới quan phi khoa học, trái với chủ nghĩa Mác - Lênin. Nó là một trong những công cụ lý luận cho sự tồn tại của chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Chính vì bản chất chính trị thù địch của chủ nghĩa đa nguyên như thế nếu chúng ta chấp nhận thứ học thuyết này, chấp nhận đa nguyên, đa đảng thì chẳng khác nào một sự thỏa hiệp với giai cấp tư sản trên lĩnh vực tư tưởng. Mà thỏa hiệp trên lĩnh vực tư tưởng là một sai lầm nghiêm trọng.


ĐA NGUYÊN, ĐA ĐẢNG LÀ KHÔNG PHÙ HỢP VỚI VIỆT NAM
Việt Giang
Việt Nam không cần thiết phải đa nguyên đa đảng. Bởi vì:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng là một sự lựa chọn tất yếu của lịch sử, là nguyện vọng của nhân dân khi mà các phong trào đấu tranh của nhân dân trước khi Đảng ra đời đều thất bại; các đảng phái và các tổ chức chính trị có tính chất đảng phái trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đều bị tan rã, thất bại và không hoàn thành nhiệm vụ trước dân tộc. Trong khi đó, với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Nếu nhân dân không tin, không ủng hộ thì làm sao Đảng làm được điều đó? Đây là một sự thật lịch sử, không ai có thể bác bỏ được.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam đủ khả năng lãnh đạo để đưa đất nước phát triển, không cần phải thực hiện đa nguyên đa đảng. Đó là một đảng có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đường lối đúng đắn, biết chỉnh đốn và đổi mới để ngày càng lãnh đạo nhân dân, lãnh đạo đất nước được tốt hơn. Việt Nam vẫn ngày càng phát triển với tốc độ cao trong khu vực và trên thế giới mà đâu cần đa nguyên, đa đảng, trong khi bao nhiêu nơi đa đảng, đa nguyên vẫn rơi vào vòng xoáy của xung đột, bạo lực và sự bất ổn định kéo dài.
3. Tiêu chí cao nhất của hoạt động chính trị là ổn định xã hội bền vững và tăng trưởng kinh tế, an sinh xã hội được bảo đảm, một đảng hay đa đảng, nhất nguyên hay đa nguyên đều phải vì vấn đề cốt lõi này. Vậy thì hiện nay, sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đáp ứng rất tốt vấn đề này. Với một đảng lãnh đạo, Việt Nam có điều kiện bảo đảm chính trị ổn định, an ninh được giữ vững, quốc phòng được tăng cường thu hút ngày càng nhiều các nhà đầu tư nước ngoài, kinh tế phát triển, chính phủ có điều kiện nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân, nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế.
4. Dân chủ, phát triển không đồng nghĩa với đa nguyên, đa đảng và thực hiện đa nguyên, đa đảng không đồng nghĩa với dân chủ sẽ phát triển. Thực tiễn, có nhiều nước đa nguyên, đa đảng vẫn thuộc loại nghèo nhất thế giới, có những nước chỉ một đảng lãnh đạo nhưng vẫn là nước có tốc độ phát triển cao, đời sống nhân dân ngày càng sung túc. Vậy vấn đề chính là ở đường lối lãnh đạo của đảng đó có đúng đắn hay không, có vì nước vì dân hay không chứ không phải ở chỗ đa nguyên, đa đảng.

Thứ Năm, 24 tháng 5, 2018


 THỰC HIỆN CÔNG TÁC TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO THEO QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH, GIẢI PHÁP QUAN TRỌNG NGĂN CHẶN “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”
AN NHIÊN
         
Hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc là một trong những âm mưu, phương thức, thủ đoạn của các thế lực thù địch để thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ đối với cách mạng Việt Nam. Âm mưu xuyên suốt của các thế lực thù địch trong việc lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc là lợi dụng các tổ chức tôn giáo, dân tộc, chức sắc cực đoan chống đối trong tôn giáo và các đối tượng có tư tưởng ly khai, tự trị trong các dân tộc thiểu số để tập hợp lực lượng chống phá cách mạng Việt Nam, phá hoại khối đại đoàn kết  toàn dân, chia rẽ đoàn kết giữa đồng bào tôn giáo, dân tộc với Đảng, Nhà nước; khuyến khích, tài trợ cho các tổ chức tôn giáo, dân tộc ly khai tập hợp lực lượng trở thành lực lượng chính trị, xã hội đối trọng với Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Do đó, thực hiện tốt công tác tín ngưỡng, tôn giáo theo quan điểm của Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay là việc làm hết sức cần thiết, quan trọng, thường xuyên và liên tục để ngăn chặn “Diễn biến hòa bình”.
Một là, đoàn kết tôn giáo.
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo. Có những tôn giáo được hình thành từ nước ngoài rồi du nhập vào Việt Nam và cũng có những tôn giáo được hình thành ngay ở trong nước. Nhìn chung các tôn giáo ở Việt Nam có truyền thống đoàn kết, hòa đồng, gắn bó với dân tộc, góp phần làm phong phú bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, đại đoàn kết toàn dân, trong đó có đoàn kết dân tộc và đoàn kết tôn giáo là yếu tố cơ bản đưa cách mạng Việt Nam giành thắng lợi trong mọi giai đoạn. Tư tưởng đó nằm trong chiến lược đại đoàn kết dân tộc được thể hiện rõ qua hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Hồ Chí Minh luôn nêu cao và giáo dục ý thức trong cộng đồng: “Lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết. không ai chiến thắng được lực lượng đó”[1]. Để tập hợp và đoàn kết lương- giáo, Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở đồng bào và chiến sĩ cả nước phải quan tâm, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần  cho đồng bào các tôn giáo. Năm 1962, khi nói chuyện tại lớp bồi dưỡng cán bộ Mặt trận, Hồ Chí Minh căn dặn: “phải đoàn kết chặt chẽ giữa đồng bào lương và đồng bào các tôn giáo, cùng nhau xây dựng đời sống hòa thuận ấm no, xây dựng Tổ quốc. Phải chấp hành đúng chính sách tôn trọng tự do, tín ngưỡng đối với tất cả các tôn giáo”[2]. Tôn trọng tự do, tín ngưỡng cần đi đôi với việc phân biệt rõ nhu cầu tín ngưỡng chân chính của quần chúng với âm mưu lợi dụng tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, xâm hại đến độc lập dân tộc. Chia rẽ dân tộc là thủ đoạn xảo quyệt của các thế lực thù địch, Hồ Chí Minh từng nói: “Địch âm mưu chia rẽ thì ta nêu lên khẩu hiệu: đoàn kết toàn dân”[3]. Nhờ nêu cao tinh thần đoàn kết lương- giáo, hòa hợp dân tộc mà Hồ Chí Minh đã tập hợp được nhiều chức sắc, tín đồ các tôn giáo và họ cũng hết lòng phấn đấu cho sự nghiệp cách mạng. Từ đó, những định kiến, mặc cảm về vấn đề tôn giáo do lịch sử để lại được xóa dần và âm mưu chia rẽ tôn giáo của các thế lực thù địch bị thất bại.
Hai là, tự do tín ngưỡng
Quyền tựu do tín ngưỡng và tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người và quyền đó đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận
Trong bản Tuyên ngôn độc lập được Hồ Chí Minh khẳng định: “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”[4]. Chỉ một ngày sau khi đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên sáu vấn đề cấp bách cần làm ngay, trong đó , vấn đề thứ sáu là: “Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào giáo và đồng bào lương, để dễ thống trị. Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: TÍN NGƯỠNG TỰ DO và lương giáo đoàn kết”[5]. Ngày 9-11-1946, Quốc Hội khóa I đã thông qua Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong đó ghi nhận: Nhân dân có quyền tự do tín ngưỡng. Tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng là một trong những quan điểm quan trọng nhất trong Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo. Tư tưởng đó của Người được thể hiện nhất quán cả trong lý luận và các hoạt động thực tiễn, trong cách mạng dân tộc cũng như cách mạng xã hội chủ nghĩa và đã trở thành nguyên tắc xuyên suốt chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước.
Ba là, Giải quyết hài hòa vấn đề tôn giáo với lợi ích quốc gia, dân tộc
Hồ Chí Minh coi trọng việc vận động mọi người tôn trọng niềm tin; giáo dục những người theo đạo và không theo đạo đoàn kết để đạt mục đích giải phóng dân tộc và cùng nhau xây dựng cuộc sống hạnh phúc.
Năm 1958, trong buổi tiếp xúc cử tri tại Hà Nội, khi trả lời câu hỏi: “Tiến lên chủ nghĩa xã hội thì tôn giáo có bị hạn chế không?”, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa nhắc lại và khẳng định thái độ của người cộng sản đối với tôn giáo ở Việt Nam: “Không. Ở các nước xã hội chủ nghĩa, tín ngưỡng hoàn toàn tự do. Ở Việt Nam cuãng vậy”[6]
Hồ Chí Minh khuyên mọi người giữ gìn và phát huy cái tốt, đồng thời hạn chế và loại bỏ cái xấu có trong tôn giáo, Hồ Chí minh nêu ra những giá trị đạo đức và văn hóa vốn có của tôn giáo để những người theo đạo và không theo đạo biết và làm theo. Hồ Chí Minh nói: “Chúa Giê su dạy: đạo đức là bác ái; Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi; Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa”[7]. Hồ Chí Minh coi tôn giáo là di sản văn hóa của nhân loại. Do đó, phải tôn trọng, chấp nhận sự khác nhau về nhận thức; phải biết khai thác sự tương đồng để tìm ra mẫu số chung về mục tiêu để cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ cao cả là độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh. Theo Hồ Chí Minh, một người chân chính yêu nước đồng thời cũng là những tín dồ trung thành của Chúa Giêsu. Bởi Chúa Giêsu hy sinh vì mong muốn cho loài người được tự do, hạnh phúc. Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào cả lương lẫn giáo vì tự do, hạnh phúc của toàn dân mà hy sinh, phấn đấu. Hồ Chí Minh nêu lên mối quan hệ chặt chẽ giữa tôn giáo với dân tộc:  Kính chúa gắn liền với yêu nước, nước có vinh thì đạo mới sáng, nước có độc lập thì đạo mới có tự do. Bởi vì, đối với người theo đạo, đức tin tôn giáo và lòng yêu nước không hề mâu thuẫn. Kẻ chống lại Tổ quốc cũng chính là kẻ phản Chúa.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo, tín ngưỡng là cơ sở lý luận quan trọng và là bài học quý báu cho chúng ta học tập và làm theo; là giải pháp quan trọng để ngăn chặn và làm thất bại âm mưu “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta.


[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia- Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.19.
[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia- Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 13, tr.454
[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia- Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 13, tr.454
[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia- Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.1
[5] Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia- Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.8 
[6] Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia- Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 11, tr.405
[7] Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia- Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 7, tr.95



DI SẢN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ HỘI NHẬP
VÀ HỢP TÁC QUỐC TẾ
1. Nhu cầu tất yếu khách quan hội nhập và hợp tác quốc tế
Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm 1917 mở ra một thời đại mới cho các dân tộc, hướng đến mục tiêu chung của nhân loại là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Hồ Chí Minh với tư duy và tầm nhìn chiến lược, nhận diện chính xác thời đại mới, trên cơ sở thấm nhuần sâu sắc và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, ngay từ sớm, đã nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của hội nhập quốc tế để góp phần vào công cuộc giải phóng dân tộc và phát triển, chấn hưng đất nước. Hội nhập quốc tế thể hiện sự tham gia của quốc gia, dân tộc vào quá trình quốc tế hóa, toàn cầu hóa với tính cách là một xu thế lịch sử của thế giới hiện đại. Quan sát sự biến động của thế giới, Hồ Chí Minh đã có một nhận xét mang hàm nghĩa triết lý: “Xét về nguyên tắc, tiến bộ chung phụ thuộc vào việc phát triển chủ nghĩa quốc tế; và văn minh chỉ có lợi khi các quan hệ quốc tế được mở rộng và tăng cường”(1) và “Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới”(2).
Đối với Việt Nam, theo Hồ Chí Minh, hội nhập, trước hết, là để tranh thủ mọi nguồn lực từ bên ngoài giúp đỡ dân tộc mình trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Trên hành trình tìm đường cứu nước, Người đã sớm nhận thức, chủ nghĩa đế quốc là một hệ thống thế giới, chúng vừa tranh giành, xâu xé thuộc địa, vừa vào hùa với nhau để nô dịch các dân tộc nhỏ yếu trong hệ thống thuộc địa của mình, cho nên để đánh thắng chủ nghĩa đế quốc thì phải liên kết các dân tộc thuộc địa, các đảng cách mệnh trên thế giới: “An Nam dân tộc cách mệnh thành công thì tư bản Pháp yếu, tư bản Pháp yếu thì công nông Pháp làm giai cấp cách mệnh cũng dễ. Và nếu công nông Pháp cách mệnh thành công, thì dân tộc An Nam sẽ được tự do”(3). Trong mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới, Người nhìn nhận đó là mối quan hệ biện chứng, hai chiều tương tác với nhau: Việt Nam không chỉ tiếp nhận sự ủng hộ, giúp đỡ của cách mạng thế giới mà Việt Nam cũng có nghĩa vụ quốc tế - giúp bạn là tự giúp mình: “Nhân dân ta chiến đấu hy sinh chẳng những vì tự do, độc lập riêng của mình, mà còn vì tự do, độc lập chung của các dân tộc và hòa bình trên thế giới”(4).
Thứ hai, hội nhập là để tiếp thu những thành tựu khoa học - kỹ thuật mới nhất của các nước để phục vụ cho công cuộc chấn hưng đất nước và xây dựng CNXH: “Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình”(5). Việc đầu tiên Hồ Chí Minh xúc tiến để hội nhập cho nền khoa học Việt Nam đó là cử một nhóm thanh niên Việt Nam sang Mỹ học tập khoa học - kỹ thuật. Trong Thư gửi Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ, ngày 1-11-1945, Người đề nghị Hoa Kỳ tiếp nhận 50 thanh niên Việt Nam sang Mỹ với mong muốn một mặt, thiết lập những mối quan hệ văn hóa thân thiết với thanh niên Mỹ, và mặt khác, xúc tiến việc tiếp tục nghiên cứu về kỹ thuật, nông nghiệp cũng như các lĩnh vực chuyên môn khác: “và tha thiết mong muốn tạo được mối quan hệ với nhân dân Mỹ là những người mà lập trường cao quý đối với những ý tưởng cao thượng về công lý và nhân bản quốc tế, và những thành tựu kỹ thuật hiện đại của họ đã có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với giới trí thức Việt Nam”(6).
2. Về nội dung hội nhập quốc tế theo quan điểm Hồ Chí Minh
Chính sách hội nhập và hợp tác quốc tế của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ trong bức thư gửi Liên Hợp quốc năm 1946: “Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực:
a) Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình.
b) Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế.
c) Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên Hợp quốc.
d) Nước Việt Nam sẵn sàng ký kết với các lực lượng hải quân, lục quân trong khuôn khổ của Liên hợp quốc những hiệp định an ninh đặc biệt và những hiệp ước liên quan đến việc sử dụng một vài căn cứ hải quân và không quân”(7).
Hội nhập quốc tế theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh có một số nội dung chính sau đây:
- Hội nhập quốc tế để giữ vững nền độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hồ Chí Minh lựa chọn con đường cách mạng Việt Nam đi theo con đường cách mạng vô sản, gắn cách mạng Việt Nam vào cùng quỹ đạo với cách mạng thế giới nhằm hướng đến giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
Trả lời câu hỏi của phóng viên hãng thông tấn Nam Dương Antara, ngày 14-5-1954: “Mục đích chiến đấu của nhân dân Việt Nam là gì?”, Hồ Chí Minh trả lời: “Nhân dân Việt Nam anh dũng chiến đấu mục đích là thực hiện một nước hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ, tự do”(8); với câu hỏi: “Điều kiện gì là điều kiện căn bản thương thuyết với Pháp?”, Người trả lời: “Lập trường của chúng tôi để thương thuyết với Pháp đặng ngừng bắn, đình chiến và lập lại hòa bình ở Đông Dương là: thật sự độc lập, thống nhất và dân chủ tự do”(9). Theo Hồ Chí Minh, Việt Nam hội nhập với thế giới là thực hiện chính sách mở cửa về kinh tế, hợp tác kinh tế quốc tế là trọng tâm, mang lại lợi ích cho đất nước, không phân biệt chế độ chính trị “các nước dù chế độ xã hội khác nhau và hình thái ý thức khác nhau cũng đều có thể chung sống hòa bình được”(10). Năm 1959, khi trả lời báo chí về quan hệ của Việt Nam với các nước tư bản, trong đó có Nhật Bản, Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc cần mở rộng công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp để nâng cao sức sản xuất và cải thiện đời sống của nhân dân. Chúng tôi cần nhiều dụng cụ, máy móc và hàng hóa của các nước, trong đó tất nhiên kể cả nước Nhật Bản. Và chúng tôi có thể cung cấp cho những nước ấy lương thực, cây công nghiệp và khoáng sản. Quan hệ buôn bán giữa nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Nhật Bản, nếu được cải thiện, có nhiều triển vọng tốt đẹp, có lợi cho nhân dân cả hai nước”(11).
Ở Hồ Chí Minh, mở cửa, hội nhập không chỉ để phát triển về phương diện kinh tế, mà còn để ngăn ngừa chiến tranh, tránh hy sinh đổ máu cho nhân dân Việt Nam cũng như cho nhân dân Pháp, nhân dân Mỹ, để giữ vững độc lập chủ quyền của dân tộc.
- Hội nhập quốc tế trên cơ sở phát huy tối đa sức mạnh dân tộc kết hợp với việc phát huy sức mạnh quốc tế, sức mạnh thời đại. Hồ Chí Minh nhấn mạnh, sức mạnh dân tộc là nguồn lực nội sinh giữ vai trò quyết định; còn sức mạnh quốc tế, sức mạnh thời đại là nguồn lực bên ngoài, nó sẽ làm cho sức mạnh dân tộc được tăng lên và nó cũng chỉ phát huy tác dụng thông qua nhân tố bên trong, đó là sức mạnh dân tộc. Người nhấn mạnh quan điểm tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính, “một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”(12), phải kết hợp chặt chẽ mục tiêu đấu tranh cho độc lập dân tộc mình với các mục tiêu của thời đại là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH.
- Hội nhập kinh tế quốc tế để thu hút ngoại lực, mang ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển và thịnh vượng của quốc gia, dân tộc. Mục tiêu nhất quán về hợp tác kinh tế quốc tế theo Hồ Chí Minh là để phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của nhân dân. Quan điểm này rất gần gũi với khái niệm tăng trưởng bao trùm của quốc tế hiện nay, khi Người hướng mục tiêu phát triển và hợp tác kinh tế quốc tế cuối cùng là để mang lại lợi ích cho tất cả mọi người dân trong xã hội. Mấy tháng sau khi giành độc lập, Hồ Chí Minh trả lời các nhà báo về vấn đề mở cửa hợp tác kinh tế của nước Việt Nam mới: “Có thể rằng: chúng ta hoan nghênh những người Pháp muốn đem tư bản vào xứ ta khai thác những nguồn nguyên liệu chưa có ai khai thác. Có thể rằng: chúng ta sẽ mời những nhà chuyên môn Pháp, cũng như Mỹ, Nga hay Tàu, đến đây giúp việc cho chúng ta trong cuộc kiến thiết quốc gia”(13). Năm 1955, sau chuyến thăm Liên Xô, Trung Quốc và Mông Cổ, trong những điều kiện mới, Hồ Chí Minh lại nói rõ thêm: “Các nước bạn giúp ta để hàn gắn mau chóng những vết thương chiến tranh; để tăng gia sản xuất về nông nghiệp, công nghiệp và để phát triển thương nghiệp; để khôi phục và phát triển kinh tế và văn hóa; để ta dần dần nâng cao đời sống của nhân dân ta”(14).
Quan điểm cơ bản, nhất quán của Hồ Chí Minh trong hội nhập kinh tế quốc tế là để có điều kiện phát huy những tiềm năng của Việt Nam, thu hút ngoại lực để phát huy nội lực; nội lực là cái quyết định, ngoại lực là yếu tố quan trọng và phải trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền dân tộc, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi.
Hội nhập văn hóa quốc tế để làm giàu cho văn hóa dân tộc, phát huy sức mạnh mềm của đất nước trong giao lưu quốc tế. Ba mươi năm hoạt động ở nước ngoài cùng với nhiều chuyến thăm chính thức các nước trên thế giới với cương vị nguyên thủ quốc gia(15), đã tạo cơ hội cho Hồ Chí Minh có tầm nhìn thực tiễn về giao lưu và hội nhập quốc tế về văn hóa. Người cho rằng: “Văn hóa Việt Nam là ảnh hưởng lẫn nhau của văn hóa Đông phương và Tây phương chung đúc lại”(16). Cho nên, “Tây phương hay Đông phương có cái gì tốt ta học lấy để tạo ra một nền văn hóa Việt Nam. Nghĩa là lấy kinh nghiệm tốt của văn hóa xưa và văn hóa nay, trau dồi cho văn hóa Việt Nam thật có tinh thần thuần túy Việt Nam để hợp với tinh thần dân chủ”(17). Quan điểm của Người là tiếp thu toàn diện tất cả cái hay, cái tốt của văn hóa nhân loại trên nền tảng văn hóa dân tộc, cốt cách văn hóa dân tộc, thông qua “màng lọc” chủ nghĩa yêu nước Việt Nam.
Hồ Chí Minh được UNESCO tôn vinh là nhà văn hóa kiệt xuất, vì những đóng góp to lớn của Người vào kho tàng văn hóa nhân loại: “Sự nghiệp văn hóa của Hồ Chí Minh đã để lại dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có sự đóng góp quan trọng về nhiều mặt văn hóa, giáo dục, nghệ thuật kết tinh truyền thống hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam và tư tưởng của Người là hiện thân cho khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc văn hóa của dân tộc mình và thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc”(18). Chính Người cũng là tấm gương sáng cho tình đoàn kết và hội nhập quốc tế, kết tinh thành: “một thứ văn hóa, không phải văn hóa Âu châu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai”(19).
- Sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước với tinh thần trách nhiệm cao. Tháng 1-1950, trong Tuyên bố khi đi thăm nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Hồ Chí Minh khẳng định: “Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ nước nào trọng quyền bình đẳng, chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của nước Việt Nam để cùng nhau bảo vệ hòa bình và xây đắp dân chủ thế giới”(20). Dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Việt Nam đã sớm gia nhập Liên Hợp quốc và đóng góp tích cực vào việc giữ gìn hòa bình quốc tế.
3. Nguyên tắc, phương pháp hội nhập theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Một là, luôn đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết; tranh thủ các điều kiện thuận lợi để gia tăng nguồn lực phục vụ cho sự phát triển của đất nước và làm giàu bản sắc dân tộc. Đảng ta khẳng định rõ hơn mục tiêu của hội nhập và hợp tác là “Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi”(21).
Hai là, hội nhập trên cơ sở tự nguyện và tôn trọng lẫn nhau. Phải luôn chủ động, không trông chờ ỷ lại, không phụ thuộc, phải căn cứ vào tình hình trong nước và quốc tế để quyết định mức độ, lộ trình hội nhập. Đảng ta đã nhiều lần nhấn mạnh, ngoại lực là quan trọng, nhưng nội lực mang tính quyết định. Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh yêu cầu “phát huy vai trò quyết định của nội lực”(22); nội lực ở đây bao gồm thực lực kinh tế và quốc phòng, về kinh tế là tái cấu trúc nền kinh tế, đổi mới một cách cơ bản thể chế kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế trong nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài; phát triển nhanh đi đôi với việc nâng cao hiệu quả, chất lượng và tính bền vững, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
Ba là, các nước trên thế giới tăng cường trao đổi, cùng theo đuổi chính sách chung sống hòa bình, giải quyết các vấn đề mâu thuẫn, tranh chấp thông qua đối thoại, đàm phán, không dùng vũ lực. Đại hội XII của Đảng xác định, trong bối cảnh cục diện khu vực và quốc tế diễn biến hết sức phức tạp, công cuộc hội nhập cần được tiến hành trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, kết hợp nhuần nhuyễn giữa nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền và điều kiện hòa bình để phát triển, giữa yêu cầu giữ vững độc lập, tự chủ với chính sách đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế.
Bốn là, thiết lập mối quan hệ hữu nghị bền chặt với các nước láng giềng như Trung Quốc, Lào, Campuchia, các nước trong khu vực Đông Nam Á và châu Á. Quan điểm của Hồ Chí Minh là đoàn kết và tin cậy, giúp đỡ lẫn nhau: “Thái độ nước Việt Nam đối với những nước Á châu là một thái độ anh em, đối với ngũ cường là một thái độ bạn bè”(23).
Năm là, phải xây dựng chính sách mềm dẻo, linh hoạt, đặc biệt là với các nước lớn. Đồng thời phải kiên trì đấu tranh, không để các nước lớn thỏa hiệp về lợi ích của quốc gia - dân tộc mình, luôn giữ vững lập trường, nguyên tắc theo mục tiêu chiến lược của cách mạng, giữ vững độc lập, tự chủ, không dao động trước bất cứ thế lực nào với phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến”.
4. Giá trị và ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh về hội nhập quốc tế trong công cuộc đổi mới của Việt Nam hiện nay
Di sản tư tưởng Hồ Chí Minh về hội nhập quốc tế có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, là sự kế thừa và phát triển truyền thống văn hóa Việt Nam về hội nhập quốc tế; kế thừa, vận dụng, phát triển sáng tạo lý luận Mác - Lênin về hội nhập cho phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam; là cơ sở nền tảng, kim chỉ nam cho hoạt động đối ngoại, hợp tác quốc tế của Đảng và Nhà nước ta trong các giai đoạn cách mạng. Nhờ vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người, Đảng, Nhà nước ta đã tranh thủ được sự ủng hộ của bạn bè quốc tế; góp phần quan trọng vào những thắng lợi vẻ vang của dân tộc trong thế kỷ XX; góp phần hoạch định đường lối đối ngoại, hội nhập quốc tế có hiệu quả trong sự nghiệp đổi mới hiện nay.
Đại hội VI của Đảng mở ra con đường đổi mới và phát triển, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ quốc tế đã giúp Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào các tổ chức, các diễn đàn đa phương, tham gia hội nhập quốc tế và liên kết kinh tế ngày càng sâu sắc. Đảng và Nhà nước ta đã đánh giá đúng đắn tình hình trong nước và xu thế phát triển của thế giới, điều chỉnh chính sách, tập trung vào giải quyết những vấn đề trọng yếu trong hợp tác quốc tế của Việt Nam bằng việc đổi mới tư duy, nhận thức nhằm tạo thế ổn định và tận dụng điều kiện quốc tế thuận lợi phục vụ quá trình đổi mới, hội nhập và phát triển của Việt Nam.
Từ tổng kết thực tiễn, Đại hội XI (2011) của Đảng đã sửa đổi, bổ sung Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, rút ra những bài học kinh nghiệm lớn, trong đó có bài học: “kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng cần kiên định ý chí độc lập, tự chủ và nêu cao tinh thần hợp tác quốc tế, phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ ngoại lực, kết hợp yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại”(24). Đại hội XII nhấn mạnh nhiệm vụ: “Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới”(25). Năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược tổng thể về hội nhập quốc tế đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, đây là bước cụ thể hóa Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10-4-2013 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế.
Đây cũng chính là sự vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về hội nhập và hợp tác quốc tế của Đảng Cộng sản Việt Nam, mang lại cuộc sống hạnh phúc về vật chất và tinh thần cho nhân dân và hội nhập để đất nước sánh vai cùng với các cường quốc năm châu.
_________________
Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 1-2017
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.14.
(2), (3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.2, Sđd, tr.329, 287.
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.14, Sđd, tr.533.
(5), (6), (7), (13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, Sđd, tr.523, 91-92, 523, 86.
(8), (9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.8, Sđd, tr.474, 475.
(10), (14) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.10, Sđd, tr.12, 56.
(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.12, Sđd, tr.293. 
(12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.7, Sđd, tr.445.
(15) Theo thống kê của Bảo tàng Hồ Chí Minh, trong cuộc đời mình, Hồ Chí Minh đã đến 56 nước trên thế giới.
(16), (17) Hồ Chí Minh: Về công tác văn hóa văn nghệ, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1971, tr.71, 71.
(18) Nghị quyết của UNESCO kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất Việt Nam. Xem: unesdoc.unesco.org.
(19) Lời của nhà thơ Liên Xô Ôxíp Manđenxtam trong bài báo nhan đề: “Thăm một chiến sĩ quốc tế cộng sản - Nguyễn Ái Quốc”, đăng trên báo Ngọn lửa nhỏ (Liên Xô) số 39, ngày 23-12-1924, Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.1, Sđd, tr.462.
(20) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.6, Sđd, tr.8.
(21), (22), (25) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.153, 87, 79.
(23) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Sđd, tr.163.
(24) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.66.

PGS, TS Phạm Ngọc Anh
Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/nguyen-cuu-ly-luan/item/2505-di-san-tu-tuong-ho-chi-minh-ve-hoi-nhap-va-hop-tac-quoc-te.html


Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...