Thứ Tư, 5 tháng 2, 2020

THÀNH TỰU LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG 90 NĂM LÃNH ĐẠO CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM



Lý luận và thực tiễn là hai phạm trù có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Trên lĩnh vực cách mạng xã hội, V.I. Lê-nin từng nói không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng. Lý luận mang tính tiên phong, định hướng, dẫn tới những thắng lợi của thực tiễn phong trào cách mạng. Ngược lại, thực tiễn là minh chứng rõ ràng nhất tính đúng đắn, khoa học của lý luận, bổ sung và phát triển lý luận, cho thấy lý luận đó có phải là cội nguồn, là cơ sở của những thắng lợi trong thực tiễn hay không.
Trong 90 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng đã đạt được những thành tựu về lý luận dẫn tới những thắng lợi vẻ vang trong thực tiễn phong trào cách mạng. Có thể kể đến một số thành tựu về lý luận sau đây:
Trước hết, đó là thành tựu về lý luận cách mạng giải phóng dân tộc ở một nước thuộc địa và phong kiến. Trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, Đảng đã xây dựng được một nền tảng lý luận vững chắc, đúng đắn, sáng tạo về con đường đấu tranh giải phóng dân tộc. Lý luận về con đường cách mạng giải phóng do Nguyễn Ái Quốc tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lê-nin,vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh một nước thuộc địa và phong kiến như Việt Nam. Lý luận cách mạng giải phóng dân tộc bao hàm một số nội dung chính yếu sau: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, cách mạng Việt Nam từ cách mạng giải phóng dân tộc tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, với câu nói nổi tiếng, chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã xác định làm tư sản dân quyền cách mạng để đi tới xã hội cộng sản. Từ đây, cách mạng Việt Nam có đường lối đúng đắn với tư tưởng cốt lõi là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, giải phóng dân tộc gắn với giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Trên cơ sở đó, Đảng đã phát triển lý luận về xây dựng lực lượng cách mạng và đại đoàn kết toàn dân tộc. Khác với chủ trương của Quốc tế Cộng sản về lực lượng cách mạng ở một nước thuộc địa và phong kiến, Đảng đã chủ trương xây dựng lực lượng cách mạng rộng rãi, từ Hội Phản đế đồng minh tháng 11-1930, qua các hình thức mặt trận dân chủ giai đoạn cách mạng 1936-1939, đến thành lập mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi là Mặt trận Việt Minh. Cùng với đoàn kết dân tộc, Đảng đề cao đoàn kết quốc tế, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế đối với cách mạng Việt Nam. Trên cơ sở đường lối cách mạng, Đảng xác định phương pháp cách mạng trong cách mạng giải phóng dân tộc đó là phươg pháp sử dụng bạo lực quần chúng cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, dùng sức mạnh của đông đảo quần chúng đấu tranh giành chính quyền về tay nhân dân.
Với lý luận đúng đắn về con đường cách mạng giải phóng dân tộc, Đảng đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công, sáng lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó chính là thành tựu thực tiễn minh chứng rõ nét nhất thành công của Đảng về mặt lý luận khi lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc trong bối cảnh phong trào cộng sản và công nhân quốc tế có sự tả khuynh về đường lối cách mạng, trong bối cảnh nhiều phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân Việt Nam đã không giành được thắng lợi.
Thứ hai, là lý luận về chiến tranh nhân dân, chiến tranh giải phóng gắn liền với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
Phải đối diện với kẻ thù mạnh hơn rất nhiều, Đảng đã từng bước xây dựng và phát triển lý luận về cuộc chiến tranh giải phóng. Trước cuộc xâm lăng của thực dân Pháp lần thứ hai, Đảng đề ra đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính. Trong hoàn cảnh phải lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, chỉ có dựa vào sự đoàn kết của nhân dân mới có thể chiến thắng kẻ thù hung bạo. Qua hai cuộc kháng chiến, lý luận về cuộc chiến tranh nhân dân Việt Nam dần được bổ sung và phát triển, bao gồm một số luận điểm chính như vũ trang toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt, tiến hành đấu tranh toàn diện trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, quân sự ngoại giao, khoa học kỹ thuật quân sự, giành thắng lợi từng bước, đánh thắng từng chiến lược chiến tranh của kẻ thù, biết mở đầu và kết thúc chiến tranh một cách chủ động, sáng tạo; thấu suốt quan điểm bạo lực cách mạng, coi tư tưởng tiến công là quy luật giành chiến thắng; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tranh thủ sự giúp đỡ và ủng hộ quốc tế. Với lý luận về chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân, Đảng đã lãnh đạo thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, thực hiện thống nhất đất nước, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Thứ ba, là lý luận về cách mạng xã hội chủ nghĩa trong quá trình đổi mới đất nước, thể hiện qua các Cương lĩnh của Đảng năm 1991, năm 2001 và năm 2011. Khi những hạn chế của mô hình chủ nghĩa xã hội thời chiến đã lộ rõ, trở thành vật cản trên con đường phát triển, Đảng đã tập trung tìm tòi, nghiên cứu lý luận về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Qua các cương lĩnh, lý luận về mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng rõ nét. Đảng đã xác định những vấn đề cốt lõi, đó là mục tiêu, là động lực, là phương hướng, là giải pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội trên tất cả các lĩnh vực trọng yếu của đời sống xã hội. Đảng đã xác định rõ từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa phải trải qua một thời kỳ quá độ với những chặng đường, bước đi phù hợp, lâu dài. Từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, cần bỏ qua điều gì, tiếp thu điều gì. Qua ba cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ đổi mới, lý luận về con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã từng bước được xây dựng, bổ sung, phát triển. Đến Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011), Đảng đã chỉ rõ những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội mà Đảng, nhân dân ta xây dựng là dân giàu, nước mạnh dân chủ công bằng văn minh, do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”1. Trên cơ sở những đặc trưng đó, đường lối của Đảng đã xác lập được hệ thống lý luận về con đường và những giải pháp cơ bản nhằm hiện thực hóa chủ nghĩa xã hội. Trước hết là phải thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng xác định mục tiêu, nội dung, con đường mô hình, phương thức và nguồn lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tiếp đó là lý luận về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Lý luận về xây dựng nền văn hóa mới tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Lý luận về giải quyết những vấn đề xã hội. Lý luận về chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân trong điều kiện mới. Lý luận về đường lối và chính sách đối ngoại của Đảng, ngoại của Nhà nước. Lý luận về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, lý luận về phát huy dân chủ, xây dựng hệ thống chính trị. Lý luận về xây dựng Đảng trong điều kiện mới. Có thể nói, qua ba cương lĩnh xây dựng đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ đổi mới, lý luận về con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ngày càng được bổ sung hoàn thiện sáng tỏ hơn cụ thể hơn, khoa học hơn và như chúng ta đã biết đó là cơ sở vững chắc để Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đạt được thành tựu thực tiễn trên tất cả các lĩnh vực đó. Cụ thể là kinh tế phát triển cao và ổn định, quan hệ đối ngoại được mở rộng, chính sách xã hội được thực hiện tốt, quốc phòng an ninh được giữ vững… vị thế kinh tế và chính trị của Việt Nam trên trường quốc tế được xác lập vững chắc, Việt Nam ngày càng hội nhập quốc tế sâu rộng. Thành tựu kinh tế - xã hội, an ninh – quốc phòng, đối ngoại của Việt Nam trong gần 35 năm đổi mới đã chứng tỏ lý luận về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã được thực tiễn kiểm nghiệm là đúng đắn, sáng tạo, là khoa học mặc dù còn nhiều vấn đề phải tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và phát triển. Thực tế mô hình chủ nghĩa xã hội hoặc đã sụp đổ ở Liên Xô, Đông Âu, hoặc đang lạc bước với sự phát triển chung của thế giới (Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, Cu Ba, Venezuela), mới thấy hết sức sáng tạo lớn lao của Đảng về mặt lý luận trong xây dựng mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Như vậy, qua 90 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, dựa trên nền tảng tư tưởng vững chắc của Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng bước xây dựng và phát triển lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở đó, Đảng đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam đạt được những thành tựu vẻ vang trong thực tiễn mà không thế lực nào có thể phủ nhận. Đó là những thành tựu có ý nghĩa dân tộc và thời đại của Việt Nam trong nửa cuối thế kỷ XX và những thập niên đầu thế kỷ XXI, là hành trang của dân tộc Việt Nam có thể tiếp tục tiến xa hơn, vững chắc hơn trên con đường đã chọn.
_________________
1 - ĐCSVN - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 70.

KHẲNG ĐỊNH VÀ BẢO ĐẢM VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC VÀ XÃ HỘI TRONG THỜI KỲ MỚI



Ngay từ khi mới ra đời cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là mục tiêu chống phá hàng đầu của các thế lực thù địch; chúng dùng nhiều thủ đoạn tinh vi, thâm độc, tiến hành tác động, phá hoại nội bộ Đảng, làm giảm uy tín, đi đến xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội. Các thế lực thù địch, phản động sử dụng mọi thủ đoạn để phá hoại nền tảng tư tưởng của đảng là chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, phá hoại nguyên tắc tập trung dân chủ, kích động chia rẽ nội bộ Đảng, phá hoại mối liên hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân, v.v. Đó là sự chống phá toàn diện, bài bản, rất quyết liệt và thâm độc. Tuy nhiên, các thế lực thù địch dù có sử dụng “trăm phương nghìn kế”, cũng không thể phủ nhận được sự thật hiển nhiên về niềm tin của toàn dân ta đồng lòng đi theo Đảng trong công cuộc xây dựng đất nước, với những thành tựu được cộng đồng quốc tế thừa nhận cả trên phương diện lý luận, thực tiễn và lịch sử.
Về phương diện lý luận, vấn đề Đảng Cộng sản cầm quyền là một trong những nội dung quan trọng được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê-nin đề cập. Nghiên cứu lịch sử đương đại, C.Mác và ph.Ăngghen chỉ ra rằng, trong các xã hội có giai cấp và đấu tranh giai, giai cấp nào giành được quyền lực nhà nước sẽ trở thành giai cấp thống trị và thực hiện vai trò lãnh đạo đối với xã hội. Kế thừa những di sản tư tưởng, quan điểm cơ bản đó trong điều kiện mới, V.I.Lê-nin đã phát triển và có những luận điểm sâu sắc về vấn đề cầm quyền của Đảng Cộng sản. Ngay sau cách mạng Tháng Mười, V.I.Lê-nin khẳng định, ở nước Nga chỉ có một đảng cầm quyền duy nhất đang lãnh đạo, đó là Đảng Bôn-sê-vích của giai cấp công nhân Nga: “Về nguyên tắc, Đảng Cộng sản phải giữ vai trò lãnh đạo, đó là điều không còn phải nghi ngờ gì nữa1. Bởi Đảng Cộng sản là đội tiên phong giác ngộ có tổ chức, và là tổ chức chặt chẽ nhất của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, chỉ có Đảng Cộng sản mới có đủ phẩm chất chính trị và năng lực, xứng đáng là người lãnh đạo xã hội mới sau giai đoạn tồn tại của chủ nghĩa tư bản. V.I.Lê-nin cũng chỉ rõ: “Đảng Cộng sản Nga cầm quyền tức là Đảng không chỉ lãnh đạo Nhà nước mà là lãnh đạo cả xã hội2. Sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công. Buông lỏng hoặc hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng là sai lầm từ nguyên tắc, là thủ tiêu sức mạnh của nhà nước và hệ thống chính trị, để cho chủ nghĩa cơ hội nổi dậy “cướp chính quyền”.
Về phương diện thực tiễn, trong giai đoạn Đảng Bôn-sê-vích Nga (tiếp sau đó là Đảng Cộng sản Liên Xô) giữ vai trò lãnh đạo nhà nước và xã hội, đã có những đóng góp rất to lớn cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân Liên Xô và nhân dân thế giới. Tuy nhiên, vào những năm 80 của thế kỷ XX, khi Đảng Cộng sản Liên Xô chủ trương tiến hành cải tổ, ban lãnh đạo của Đảng lại xa rời các nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về xây dựng Đảng, mơ hồ, mất cảnh giác, mắc phải âm mưu của các thế lực chống chủ nghĩa xã hội. Với việc xóa bỏ Điều 6 trong Hiến pháp Liên Xô (điều khẳng định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô đối với toàn xã hội), họ từng bước xóa bỏ luôn vai trò lãnh đạo của Đảng, biến Đảng Cộng sản thành một “câu lạc bộ”. Thực hiện chủ trương “đa nguyên chính trị”, họ khuyến khích lập các đảng phái, tổ chức chính trị đối lập với Đảng Cộng sản. Mặt khác, họ thực hiện “phi đảng hóa”, “phi chính trị hóa” Quân đội, Công an, thực chất là vô hiệu hóa luôn sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với các công cụ trọng yếu này. Và hậu quả tất yếu là chế độ xã hội chủ nghĩa và Liên bang Xô-viết bị tan rã sau hơn 70 năm cầm quyền.
Trong bối cảnh ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam với truyền thống đoàn kết, thống nhất, được tổ chức và hoạt động chặt chẽ theo tư tưởng, nguyên tắc của chủ nghĩa Mác-Lê-nin đã lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, giải quyết thành công cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, đưa đất nước vững bước trên con đường đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế và đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, quan trọng. Uy tín quốc tế của Việt Nam không ngừng được củng cố, tăng cường dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn “là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc3. Ngoài lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc, Đảng ta không còn lợi ích nào khác. Mục tiêu, lý tưởng, lợi ích của Đảng luôn thống nhất với mục tiêu, lý tưởng, lợi ích của giai cấp công nhân, của dân tộc và toàn thể nhân dân Việt Nam. Đó cũng chính là “sứ mệnh” của Đảng trước lịch sử và dân tộc - lãnh đạo nhân dân ta xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, tiến tới chủ nghĩa cộng sản “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Chính vì vậy, Đảng luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Đảng được nhân dân tin yêu, giúp đỡ, thừa nhận là đội tiên phong lãnh đạo của mình, là Đảng của chính mình.
Về phương diện lịch sử, kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, ở Việt Nam cũng có thời kỳ tồn tại đa đảng. Tuy nhiên, có những đảng dựa vào thế lực bên ngoài, họ muốn chiếm đoạt vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng cuối cùng cũng chạy theo các thế lực ngoại quốc, để lại những hậu quả xấu về chính trị, kinh tế, xã hội. Cũng có những đảng, sau một thời kỳ tồn tại (và đều thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam), đã tuyên bố tự giải tán do hết vai trò lịch sử và không còn cơ sở xã hội. Vai trò duy nhất lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một sản phẩm của sự lựa chọn tự nhiên mang tính khách quan của lịch sử của dân tộc Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định: “Đảng ta là đảng cầm quyền”. Điều đó không phải tự nhiên mà có; đây là thành quả của bao năm đấu tranh cách mạng của toàn Đảng, toàn dân Việt Nam. Được thành lập năm 1930, phải 15 năm sau, trải qua biết bao hy sinh, thử thách, hàng loạt cán bộ, đảng viên, nhân dân, trong đó có những nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng đã hy sinh, Đảng Cộng sản Việt Nam mới giành được chính quyền. Rồi tiếp sau đó, ròng rã suốt 30 năm kháng chiến gian khổ và anh dũng, Việt Nam mới giải phóng được toàn bộ đất nước và Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành Đảng cầm quyền trong cả nước thống nhất, đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Những thành quả vĩ đại mà nhân dân ta đạt được, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chứng tỏ ở Việt Nam chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới có khả năng lãnh đạo nhân dân xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Ngày nay, với tư cách là Đảng cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận rõ trách nhiệm của mình trước đất nước và dân tộc để lãnh đạo xây dựng, phát triển đất nước.
Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng cũng gặp không ít khó khăn, trở ngại, có lúc do nóng vội, giáo điều, chủ quan, cũng có những lúc Đảng phạm sai lầm, khuyết điểm. Điều quan trọng là ở chỗ, mỗi khi phạm phải sai lầm, khuyết điểm, Đảng không bảo thủ, bàng quan, trái lại đều kiên quyết sửa chữa, thể hiện tinh thần cầu thị, trách nhiệm chính trị trước nhân dân, dân tộc. Nhưng, một số kẻ thù địch, cơ hội chính trị lại không thấy hoặc cố tình lờ đi điều ấy, hơn thế họ còn thổi phồng những khuyết điểm, sai lầm đó và quy kết Đảng ta không đủ năng lực lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo Nhà nước và xã hội trong điều kiện mới của đất nước.
Đảng ta không né tránh và phủ nhận là hiện nay vẫn còn “tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên”, “tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước”; “mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ”… và cả “những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ”, làm ảnh hưởng đến uy tín, niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”,“tự chuyển hóa” trong nội bộ” đã thẳng thắn chỉ ra tình trạng trên và đề ra hệ thống các giải pháp cấp bách để tiếp tục đổi mới, xây dựng Đảng về “chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức”. Việc kiên quyết và nghiêm khắc trong chỉ đạo xử lý những sai phạm; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cũng như việc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình trong Đảng đã tạo sự chuyển biến bước đầu, có tác dụng cảnh báo, răn đe, phòng ngừa những hành vi tham nhũng, tiêu cực, góp phần ngăn chặn tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Vì vậy, không thể vin vào những khuyết điểm, hạn chế, yếu kém như trên để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; cũng không thể đồng nhất toàn bộ Đảng Cộng sản với một số cán bộ, đảng viên tham nhũng, thoái hóa, biến chất, quy chụp mọi khuyết điểm, sai lầm, tiêu cực trong xã hội về cho Đảng. Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng là phủ nhận lịch sử, phủ nhận lòng tin của nhân dân, đi ngược lại quyền lợi của dân tộc; là sự xúc phạm đến tình cảm và điều thiêng liêng nhất của người dân Việt Nam.
Thực tiễn hơn 30 năm đổi mới, một lần nữa bác bỏ những luận điệu vu cáo, xuyên tạc cùng những âm mưu đen tối của các thế lực thù địch phủ nhận hoặc hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới, phải luôn kiên định vai trò lãnh đạo của Đảng; đồng thời, làm tốt công tác xây dựng Đảng, thường xuyên đổi mới, chỉnh đốn Đảng; đây là vấn đề có tính quy luật, tính nguyên tắc, là nhân tố bảo đảm cho công cuộc đổi mới thành công, đất nước phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Càng đổi mới, đi vào kinh tế thị trường, mở cửa, càng phải giữ vững, tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng. Tuyệt đối không được mơ hồ, dao động về vấn đề này.
Vấn đề cơ bản, quan trọng giai đoạn hiện nay là phải không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, không ngừng đổi mới, chỉnh đốn Đảng, để Đảng có luôn luôn có đủ uy tín chính trị và khả năng hoàn thành nhiệm vụ do lịch sử giao phó. Do đó, để bảo vệ Đảng, bảo vệ vai trò lãnh đạo của Đảng trong bối cảnh hiện nay cần đặc biệt chú ý làm tốt một số nội dung cơ bản sau:
Một làkhông ngừng nâng cao uy tín chính trị của Đảng. Nâng cao uy tín chính trị của Đảng là yêu cầu, nhiệm vụ quan trọng nhất nhằm đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng. Uy tín chính trị của Đảng được hình thành, củng cố, được khẳng định trước hết qua năng lực lãnh đạo chính trị của Đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên. Năng lực lãnh đạo chính trị thể hiện trước hết Đảng có khả năng vạch ra Cương lĩnh, đường lối chính trị đúng đắn để lãnh đạo đất nước, dẫn dắt cả dân tộc đi lên, tránh được nguy cơ sai lầm về đường lối. Mặt khác, Đảng phải làm tốt công tác tư tưởng, chính trị, tạo sự nhất trí cao và sự vững vàng về tư tưởng, chính trị trong Đảng và sự đồng thuận trong nhân dân. Tổ chức thực hiện tốt các nghị quyết của Đảng, nâng cao năng lực tổ chức thực tiễn, bao gồm cả việc cụ thể hoá, thể chế hoá đường lối, chính sách, nghị quyết, công tác cán bộ, công tác quản lý, kiểm tra, giám sát, v.v.
Đi đôi với việc nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ, năng lực lãnh đạo, Đảng ta cần đặc biệt coi trọng việc rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, chống sự suy thoái tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên; xây dựng, củng cố Đảng về tổ chức, bảo đảm có sức chiến đấu cao. Trong đó đặc biệt chú ý thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ và củng cố hệ thống tổ chức của Đảng vững mạnh từ Trung ương đến cơ sở; thực hiện nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình; chăm lo củng cố đoàn kết thống nhất trong Đảng, trên cơ sở đường lối chính trị, nguyên tắc tổ chức và tình thương yêu đồng chí.
Hai là,  kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, dưới tác động mặt trái của cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế, nhiều cán bộ, đảng viên có chức, có quyền, hằng ngày, hằng giờ tiếp xúc với biết bao sự cám dỗ về danh và lợi. Nếu không chăm lo giáo dục, rèn luyện, giữ vững và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản chất cách mạng của Đảng thì rất dễ bị biến chất. Dó đó, nhiệm vụ trọng tâm trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng giai đoạn hiện nay là cần kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái trong nội bộ, kiên quyết tấn công mạnh mẽ vào tệ nạn tham nhũng, quan liêu, đảm bảo sự trong sạch, vững mạnh của nội bộ. Một mặt, cần làm tốt việc giáo dục chính trị tư tưởng, mặt khác phải hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý hoạt động của các tổ chức, cán bộ, đảng viên, loại trừ những sơ hở thiếu sót trong quá trình này. Đặc biệt coi trọng việc xóa bỏ nguyên nhân, môi trường làm phát sinh, phát triển sự suy thoái, tệ quan liêu, tham nhũng; phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội trong cuộc đấu tranh phòng, chống suy thoái, nhất là phát huy sự tham gia của nhân dân, các đoàn thể, tổ chức xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng; kiên quyết xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi trường hợp vi phạm.
Ba là, trong công tác xây dựng Đảng phải chú trọng tăng cường liên hệ chặt chẽ với nhân dân, phát huy vai trò của nhân dân trong công tác xây dựng và bảo vệ Đảng. Liên hệ chặt chẽ với nhân dân là một trong những nhân tố quyết định tạo ra sức mạnh của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Đảng phải không ngừng tăng cường mối quan hệ máu thịt với nhân dân4. Nhân dân tin Đảng, ủng hộ Đảng, theo Đảng làm cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đảng làm hết sức mình để phục vụ nhân dân, phát huy vai trò và sức mạnh to lớn của nhân dân. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, vấn đề này lại càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi vì như V.I.Lê-nin chỉ rõ, một trong những nguy cơ lớn nhất và đáng sợ nhất đối với một đảng cầm quyền là Đảng tự cắt đứt mối liên hệ với quần chúng nhân dân.
Để không ngừng mở rộng và tăng cường mối liên hệ với nhân dân, Đảng cần chú ý ngăn ngừa, khắc phục những khuyết điểm chủ quan, như: tình trạng quan liêu, mệnh lệnh, cửa quyền; những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, những hiện tượng tham nhũng, sách nhiễu dân, trù dập, ức hiếp quần chúng, v.v. Uy tín của Đảng được khẳng định, niềm tin của nhân dân được nâng cao là cơ sở quan trọng vững chắc bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng.
Để phát huy vai trò của quần chúng nhân dân trong công tác xây dựng và bảo vệ Đảng, cần xây dựng cơ chế, các quy định cụ thể, tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân và các đoàn thể nhân dân thường xuyên tham gia các công việc của Đảng, đóng góp ý kiến xây dựng các chủ trương, chính sách của Đảng, qua đó, góp phần bảo vệ Đảng, là một yêu cầu đặc biệt quan trọng trong xây dựng Đảng. Nhân dân tham gia giám sát các hoạt động của bộ máy Đảng và Nhà nước là một nhu cầu bức thiết của quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội, vừa nâng cao vai trò và vị thế làm chủ của nhân dân, vừa củng cố mối liên hệ giữa Đảng với nhân dân. Đặc biệt, yêu cầu này càng trở nên bức thiết trong điều kiện hiện nay, khi một bộ phận không nhỏ đảng viên thiếu tu dưỡng và rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu, thoái hóa, biến chất về đạo đức, lối sống, làm giảm lòng tin của nhân dân, gây bất bình trong dư luận xã hội.
Bốn làđấu tranh có hiệu quả với các luận điệu, với âm mưu và hoạt động của các thế lực thù địch, cơ hội chống phá Đảng. Đấu tranh với các hoạt động của các thế lực thù địch chống phá Đảng trên lĩnh vực tư tưởng, chính trị là nhiệm vụ to lớn, phức tạp và khó khăn; quan hệ đến sinh mệnh chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng. Từ nhiều năm qua, các thế lực thù địch, cơ hội ráo riết thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá Đảng ta, trong đó, có hoạt động tác động thúc đẩy “tự diễn biến” trong nội bộ ta dưới nhiều hình thức, thủ đoạn tinh vi, thâm độc.
Nhiệm vụ chủ yếu của cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, chính trị là tăng cường giáo dục một cách sâu rộng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước cho toàn Đảng và trong toàn xã hội; trang bị cho cán bộ, đảng viên thế giới quan khoa học, có nhận thức chính trị nhạy bén, có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định. Giáo dục lòng yêu nước, tinh thần cảnh giác cách mạng, tạo sức đề kháng cao trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, chủ động đối phó với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận để tiếp tục phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm cung cấp vũ khí lý luận sắc bén, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục tư tưởng, chính trị cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, đồng thời, phản bác có hiệu quả các các luận điệu sai trái, thù địch.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã vượt qua những thử thách của lịch sử, gắn bó máu thịt với nhân dân, luôn biết tự đổi mới; Đảng chứ không phải một lực lượng nào khác có thể đề ra đường lối đáp ứng yêu cầu lịch sử, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân, phù hợp với quy luật khách quan của sự phát triển trong xã hội ngày nay. Một đảng như thế có đủ uy tín chính trị đảm đương vai trò là lãnh đạo chính trị của đất nước, mà không cần có một lực lượng chính trị nào khác. Những thế lực, những ai nói ngược lại với điều đó là luận điệu sai trái, thù địch, là xúc phạm đối với lịch sử và những điều thiêng liêng nhất của dân tộc Việt Nam.
______________
1 - V.I.Lê-nin - Toàn tập, Tập 31, Nxb Tiến bộ, M. 1974, tr.53.
2 - Sđd, Tập 43, tr. 17.
3 - ĐCSVN - Điều lệ Đảng, Nxb CTQG, H. 2011.
4 - Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 1, Nxb CTQG, H. 2001, tr.14.

NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH PHỦ NHẬN VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM



1. Nhận diện nội dung, phương thức và hình thức chống phá của các thế lực thù địch đối với những thành tựu của công cuộc đổi mới ở Việt Nam
Qua gần 35 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng đã cho thấy, đất nước ta, dân tộc ta đã đạt được những thành tựu vô cùng to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên tất cả các lĩnh vực. Điều đó cũng khẳng định quá trình chấn hưng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa và tư tưởng Hồ Chí Minh mà Đảng ta, Nhân dân ta đã lựa chọn là hoàn toàn đúng đắn, sáng tạo.
Tuy nhiên, vì những  mục tiêu đen tối, các thế lực có dã tâm với chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã và đang ra sức xuyên tạc, phủ nhận những thành quả mà công cuộc đổi mới mang lại.
Một là, lợi dụng internet, mạng xã hội và những mặt tiêu cực trong xã hội chưa được khắc phục, một số kẻ đã tán phát luận điệu, xuyên tạc bản chất của xã hội xã hội chủ nghĩa, bôi đen hình ảnh của đất nước Việt Nam.
Hai là, các thế lực thù địch cố tình xuyên tạc rằng: “Đảng đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ khả năng để lãnh đạo đất nước”1. Chúng đổ lỗi cho Đảng trước nguy cơ tụt hậu về kinh tế của đất nước so với những nước trong khu vực; từ đó, cho rằng trong thời đại ngày nay, chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, nên còn đi theo con đường xã hội chủ nghĩa là sai lầm. Chúng “khuyên” chúng ta đi theo mô hình “xã hội dân chủ”, thực hiện “chính trị đa nguyên”, “đa đảng đối lập”, xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp về quyền lãnh đạo của Đảng. 
Mục đích của chúng rất rõ ràng: nếu chưa thể hạ bệ được sự lãnh đạo của Đảng, nếu không thể làm suy giảm vai trò và uy tín của Đảng trong đấu tranh giải phóng dân tộc, chống xâm lược, thì cũng làm cho quần chúng nhân dân hoài nghi, dao động, đi đến mất niềm tin vào khả năng lãnh đạo của Đảng trong xây dựng kinh tế, phát triển đất nước, làm suy yếu sức mạnh của chúng ta trong sự nghiệp đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Ba là, các thế lực thù địch luôn có âm mưu, thủ đoạn phủ nhận những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới. Chúng tuyên truyền những luận điệu xuyên tạc trái với quan điểm, nghị quyết, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta. Chúng kết hợp chống phá đường lối chính trị với chống phá trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại.
Bốn là, các thế lực thù địch cho rằng Việt Nam chỉ đổi mới kinh tế mà không hề đổi mới chính trị, vẫn giữ nguyên bộ máy lãnh đạo chuyên quyền của Đảng Cộng sản. Thực chất là phủ nhận và đòi xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Cùng với những âm mưu và luận điệu xuyên tạc, các lực lượng thù địch tiến hành thực hiện các phương thức mới để chống phá công cuộc đổi mới hiện nay theo hướng ngày càng tinh vi và phức tạp:
Trước hết, chúng tận dụng các phương tiện thông tin hiện đại bằng cách lập những trang mạng xã hội, có bộ máy chuyên nghiệp, tuyên truyền xuyên tạc, chống phá ta dưới nhiều hình thức để lừa bịp nhân dân.
Thứ hai, các thế lực thù địch chống phá một cách kiên trì, bền bỉ, luôn kiên trì bám sát mục tiêu, đối tượng mà chúng nhằm vào để nhằm tác động thường xuyên đưa đến sự chuyển hóa trong tư tưởng, nhận thức của nhân dân về sự nghiệp đổi mới do Đảng ta lãnh đạo.
Thứ ba, tiến hành cách thức chống phá tinh vi kết hợp với những luận điệu, lời lẽ bịa đặt trắng trợn. Chúng tung ra những thông tin lập lờ giữa đúng và sai, giữa thật và giả, kể cả bịa đặt trắng trợn để gây hoài nghi trong nhân dân.
Thứ tư, chúng chống phá với những phương thức đa dạng, nhiều chiều. Chúng tận dụng tối đa các hình thức, như: tuyên truyền miệng, các phương tiện truyền thông hiện đại, mạng xã hội, các loại hình văn hóa, nghệ thuật, xuất bản, báo chí,… được chúng tận dụng tối đa.
2. Khẳng định tính tất yếu khách quan của “Đổi mới” và không thể phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng – nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới
“Đổi mới” ở Việt Nam từ năm 1986 là sự lựa chọn tất yếu nhằm đưa Việt Nam thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, là một bước ngoặt quan trọng trong tiến trình phát triển của đất nước. Sau gần 35 năm vượt qua các thử thách và khó khăn to lớn, tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện trên mọi mặt: chính trị, kinh tế, xã hội, đối ngoại,... đến nay, Việt Nam có đầy đủ cơ sở để khẳng định rằng đổi mới là sự lựa chọn đúng đắn; Việt Nam đã vào quỹ đạo phát triển mới về chất, phù hợp với xu thế của thời đại và ý nguyện của nhân dân. Sự hưởng ứng đường lối đổi mới ngày càng sâu rộng, tự giác của nhân dân; khả năng tiếp cận và hội nhập có hiệu quả của đất nước vào đời sống chính trị, kinh tế của cộng đồng quốc tế; những kết quả to lớn và toàn diện mà đổi mới mang lại là bằng chứng hiển nhiên, thuyết phục về tính tất yếu lịch sử của quá trình đổi mới ở Việt Nam.
Khi tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng ta đã chủ trương kết hợp ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị. Xác định nhiệm vụ đổi mới, phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt. Từ thành tựu đổi mới kinh tế mà từng bước đổi mới hệ thống chính trị. Đó chính là bài học thành công trong đổi mới chính trị ở Việt Nam, bảo đảm giữ vững sự ổn định chính trị trong mọi hoàn cảnh.
Các thế lực thù địch cho rằng ở Việt Nam không có dân chủ, quyền con người bị vi phạm. Họ luôn lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” để đả kích sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Sự thật là, khi xây dựng Nhà nước pháp quyền trong điều kiện một Đảng duy nhất cầm quyền, cần phải nhận thức và xử lý mối quan hệ giữa Đảng cầm quyền, Nhà nước pháp quyền và quyền làm chủ của nhân dân, tức là quan hệ: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Đây là vấn đề lớn về lý luận, về thực tiễn trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính trị trong xã hội văn minh, hiện đại mà con người và nhân dân là trung tâm.
Các thế lực phản động, thù địch công khai phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng và thực hiện “đa nguyên”, “đa đảng”. Thực tế minh chứng: sự lãnh đạo của Đảng không ngừng được đổi mới, nhất là tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng không những được nhân dân, toàn xã hội khẳng định mà còn được cộng đồng thế giới và khu vực, các đối tác thừa nhận, củng cố mối quan hệ giữa các đảng cầm quyền trên thế giới. Thước đo sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là kinh tế phát triển, chính trị, xã hội ổn định, văn hóa, giáo dục, khoa học phát triển, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, nâng cao về mọi mặt, quốc phòng - an ninh được giữ vững, ngoại giao rộng mở, vị thế uy tín Việt Nam ngày càng nâng cao trên trường quốc tế. Đó là sự thật mà bất kỳ thế lực đen tối nào cũng không thể phủ nhận.
Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng đất nước, chúng ta khó tránh khỏi những hạn chế, khuyết điểm, đặc biệt là trong khâu tổ chức thực hiện; nhưng đó là những hạn chế và khuyết điểm không thuộc về bản chất của chế độ. Đảng ta luôn nhìn thẳng vào sự thật, dũng cảm nhận khuyết điểm, thiếu sót, đã và đang tích cực sửa chữa, khắc phục, nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân.
Lợi dụng những hạn chế, khuyết điểm của một số chính quyền ở cơ sở trong thực hiện chủ trương, chính sách để nói xấu, công kích Đảng và Nhà nước, không phải là hành động “vì dân”, “vì nước”, mà là hành động “đục nước béo cò”, làm tổn hại đến sự ổn định chính trị - xã hội, đến nguyện vọng và lợi ích chính đáng của nhân dân. Không phải vì những khuyết điểm, hạn chế nào đó; không phải vì sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên; cũng không phải vì việc giải quyết chưa tốt một vụ việc nào đó mà có thể bất mãn chế độ, chống đối lại Đảng và Nhà nước.
Điều đúng đắn hiện nay trong bối cảnh chuẩn bị tổ chức đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng là: mọi người Việt Nam đều phải chung vai gánh vác cùng với Đảng, Nhà nước và nhân dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, đưa đất nước tiếp tục đi lên. Đại hội XII của Đảng đã nhận định: “Những thành tựu đó tạo tiền đề, nền tảng quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong những năm tới; khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo: con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử”2.
1 - Ban Tuyên giáo Trung ương: Phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb CTQG, H. 2007, tr. 53.
2 - ĐCSVN - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. CTQG, H. 2016, tr. 66.

NHẬN DIỆN RÕ HÀNH VI CHỐNG PHÁ CỦA THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRONG VỤ VIỆC TẠI XÃ ĐỒNG TÂM



Sau các bài viết của Báo Quân đội nhân dân phản bác các quan điểm sai trái về vụ vi phạm pháp luật nghiêm trọng, chống người thi hành công vụ xảy ra tại xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội, nhất là sau bài "Quốc tế hóa" vụ việc Đồng Tâm-một âm mưu gian trá, vô lương tâm" đăng trên số báo ra ngày 20-1, rất nhiều độc giả là lão thành cách mạng, đại biểu Quốc hội, tướng lĩnh, luật sư, Việt kiều và nhân dân... gọi điện, gửi ý kiến tới tòa soạn thể hiện sự đồng tình với quan điểm của báo.

Độc giả đã cực lực lên án hành động giết người thi hành công vụ, vi phạm pháp luật nghiêm trọng của nhóm người chống đối tại xã Đồng Tâm, có sự xúi giục, tiếp sức của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, tổ chức khủng bố từ bên ngoài. Độc giả cho rằng, việc các cơ quan chức năng thực hiện những biện pháp quyết liệt để trấn áp các đối tượng phạm tội là hoàn toàn phù hợp.
Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên đại biểu Quốc hội, nguyên Tư lệnh Quân khu 4:
Đây không phải là vụ án hình sự thông thường mà là có dấu hiệu chống phá Nhà nước
Theo dõi diễn biến sự việc ở xã Đồng Tâm suốt thời gian qua, tôi thấy rằng, hơn hai năm vừa qua, chính quyền đã thể hiện sự kiên nhẫn, nhân nhượng rất nhiều lần. Ai sai thì phải giáo dục để sửa, nhưng nếu khi đối tượng vẫn ngoan cố thì phải xử lý theo pháp luật. Vì chính quyền càng nhân nhượng thì kẻ địch đứng đằng sau càng giật dây để nhóm đối tượng càng lấn tới. Nên không thể nhân nhượng nữa mà phải hành động quyết liệt. Đây không chỉ là tội giết người trong vụ án hình sự đơn thuần mà theo tôi còn là tội chống phá chế độ, chống phá Nhà nước, đi ngược lại lợi ích quốc gia và nhân dân. Nhóm đối tượng đã giết hại những cán bộ, chiến sĩ công an đang vì nhân dân phục vụ.
Vụ việc tại xã Đồng Tâm có dấu hiệu cho thấy thế lực thù địch bên ngoài đứng đằng sau để bày mưu kế, bơm tiền, đưa vũ khí cho nhóm chống đối. Đã là mâu thuẫn đối kháng có bàn tay của địch ở đằng sau thì phải kiên quyết trấn áp bằng sức mạnh và mưu lược, chứ không thể theo cách tuyên truyền, thuyết phục thông thường. Vụ này khác hoàn toàn về bản chất so với vụ Đoàn Văn Vươn. Mục đích của thế lực thù địch, của tổ chức khủng bố ở bên ngoài là muốn tạo ra ở xã Đồng Tâm một nhóm phản loạn nhằm chống lại Nhà nước của chúng ta.
Về đất quốc phòng ở Miếu Môn, có người đặt vấn đề: “Tại sao bộ đội không di dời đi, trả lại đất cho dân, vì thiếu gì đất để đóng quân?”. Đây là ý kiến không thể chấp nhận được. Bởi vì, Miếu Môn không chỉ đơn giản là vị trí mà quân đội đến đóng quân, Miếu Môn là một vị trí chiến lược trọng yếu nằm trong kế hoạch phòng thủ lâu dài của quốc gia. Vị trí này đã góp phần bảo đảm cho thắng lợi của các cuộc chiến đấu bảo vệ Thủ đô Hà Nội trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trong hiện tại và tương lai, Miếu Môn tiếp tục là vị trí vô cùng trọng yếu. Trong suốt hàng chục năm qua, Đảng và Nhà nước đã giao vị trí đất này cho quân đội để phòng thủ quốc gia, nên quân đội phải làm tốt việc này, không thể di dời đi đâu được và cũng không ai có thể quyết định di dời quân đội khỏi vị trí này. Nhân dân phải được hiểu rõ điều này.
Về cách xử lý tiếp theo, tôi cho rằng, những kẻ đầu sỏ việc vi phạm pháp luật nghiêm trọng, dùng vũ khí để giết hại các chiến sĩ công an đang thực thi công vụ, chống lại Nhà nước thì phải bị pháp luật trừng trị, không thể tha thứ. Còn đối với nhân dân xã Đồng Tâm thì đại bộ phận đều là tốt, chấp hành chủ trương của Nhà nước. Nên cần khẳng định đây không phải là nhân dân xã Đồng Tâm chống lại chính quyền mà chỉ có một nhóm chống đối. Do đó, chúng ta phải phân loại: Thứ nhất, đối với những kẻ đầu sỏ, hung hãn, càn quấy, giết người dã man thì phải xử lý nghiêm. Thứ hai, những gia đình sử dụng đất quốc phòng sai pháp luật suốt những năm qua nhưng đã chấp nhận di dời thì ta hỗ trợ họ di dời, thực hiện đúng pháp luật. Thứ ba, đối với những người dân không có đất mà tham gia khiếu kiện thì ta nói rõ cho họ biết là họ đã bị địch lừa, họ vừa là tội đồ chống lại Nhà nước, nhưng lại vừa là nạn nhân, ta tạo điều kiện cho họ trở về đội hình của nhân dân. Với những người dân bị lừa này, ta giải thích rõ với họ các vấn đề còn có thắc mắc, giải quyết đúng theo quy định của pháp luật.
QUANG PHƯƠNG, VIỆT CƯỜNG (ghi)
-----------------------------------------
Tiến sĩ Đỗ Đức Hồng Hà, Giám đốc Học viện Tư pháp, đại biểu Quốc hội TP Hà Nội:
Hành vi của nhóm chống đối có dấu hiệu cấu thành nhiều tội 
Theo công bố của các cơ quan chức năng, không ai trong nhóm người chống đối có đất ở, đất canh tác trong diện tích đất quốc phòng tại xã Đồng Tâm. Hành vi của nhóm người này rõ ràng là trái pháp luật. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Hà Nội đã ra quyết định khởi tố vụ án về 3 tội danh để điều tra, gồm: “Giết người”,
Cùng với đó, nhóm này còn có hành vi liên tục chống đối, kích động chống đối, ngăn cản nhân dân xã Đồng Tâm tới dự các cuộc đối thoại do chính quyền tổ chức, có thể cấu thành các tội phạm khác, như: Tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội của công dân (Điều 163 Bộ luật Hình sự); Tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo (Điều 166 Bộ luật Hình sự); Tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân (Điều 167 Bộ luật Hình sự); Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân (Điều 331 Bộ luật Hình sự).
Qua vụ việc ở Đồng Tâm, mong rằng, khi nhân dân muốn bày tỏ chính kiến, phản biện chính sách, khiếu nại, tố cáo cần tuân thủ, thi hành, sử dụng đúng chính sách, pháp luật của Nhà nước. Cụ thể là tuân thủ Điều 7 Luật Tiếp công dân về quyền và nghĩa vụ của người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; Điều 12 Luật Khiếu nại về quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại; Điều 9 Luật Tố cáo về quyền và nghĩa vụ của người tố cáo.
CHIẾN THẮNG (lược ghi)
-----------------------------
Ông Hồ Ngọc Thắng, Việt kiều ở CHLB Đức:
Có sự tiếp tay phá hoại của thế lực chống phá Đảng, Nhà nước
Có nhiều lý do dẫn đến sự vi phạm pháp luật nghiêm trọng của một nhóm người tại xã Đồng Tâm. Trong đó, một lý do không kém phần quan trọng là việc “đổ thêm dầu vào lửa" của các “thầy dùi” và những thế lực chống phá Đảng, Nhà nước, các trang Việt ngữ của đài BBC, VOA, RFA và RFI. Họ đã vỗ tay đưa ông Lê Đình Kình “lên mây" để rồi ông vi phạm pháp luật nghiêm trọng và cuối cùng nhận cái kết quá cay đắng cho bản thân và gia đình. Bọn phản động và các thành phần thoái hóa chính trị đã và đang lợi dụng tình hình phức tạp ở Đồng Tâm để vu khống, xuyên tạc Đảng, Nhà nước Việt Nam. Thí dụ, một số trang Facebook cá nhân có nội dung phê phán chính quyền và gọi đó là “vụ thảm sát Đồng Tâm”; “dân Đồng Tâm đúng hay sai đã có pháp luật. Chỉ có kẻ thù mới cho quân nổ súng vào dân” hay nhấn mạnh vấn đề “bất bạo động”. Trong tình hình lúc này mà lại đặt vấn đề kiểu sai trái, mập mờ như vậy là không ổn.
Dù vô tình hay hữu ý, những phát biểu thiếu trách nhiệm này đã tiếp tay cho các thế lực thù địch, trong đó có tổ chức khủng bố Việt Tân. Đã đến lúc phải vận dụng triệt để các quy định pháp lý để truy cứu trách nhiệm của những ông bà “thầy dùi".
Theo tôi, yêu nước là ủng hộ Đảng, Nhà nước Việt Nam và sát cánh cùng quân đội, công an để bảo vệ sự bình yên của đất nước.

“QUỐC TẾ HÓA” VỤ VIỆC ĐỒNG TÂM - MỘT ÂM MƯU GIAN TRÁ, VÔ LƯƠNG TÂM



 Bất chấp đạo lý và pháp lý, những ngày gần đây, các thế lực thù địch và kẻ xấu tiếp tục tung ra nhiều thông tin xuyên tạc hòng lôi kéo sự can thiệp của các tổ chức quốc tế đối với vụ việc xảy ra ở Đồng Tâm.
Nhưng những luận điệu không thuyết phục được dư luận bởi nó chẳng những lạc lõng so với sự thật mà còn bị chính những luật sư, nhà nghiên cứu ở nước ngoài phản đối. Chỉ những kẻ vô lương tâm mới có thể biện minh cho những hành vi giết người, chống người thi hành công vụ, khủng bố…
Kêu gọi, “hướng lái” dư luận quốc tế
Một số đài báo nước ngoài với cái nhìn thiếu thiện chí, thường xuyên xuyên tạc tình hình Việt Nam, như: BBC tiếng Việt, VOA, RFA, RFI… tiếp tục có nhiều bài viết sai sự thật. Tại Mỹ, đối tượng Điếu Cày Nguyễn Văn Hải đã lập ra cái gọi là nhóm “Hành động vì Đồng Tâm” và chuyển “Báo cáo về vụ tấn công ở Đồng Tâm” đến văn phòng một dân biểu liên bang Mỹ. Họ lợi dụng vị dân biểu với “truyền thống” hay thiên kiến với Việt Nam này để thổi phồng sự việc.
Một vị dân biểu liên bang khác ở Australia cũng được trang BBC tiếng Việt dẫn ý kiến hết sức chủ quan, phiến diện, vu cáo tình hình nhân quyền tại Việt Nam ngày càng "trở nên tồi tệ hơn", đưa ra những khuyến nghị vô lý đòi gây sức ép. Cái gọi là "Tổ chức theo dõi nhân quyền quốc tế" lại coi sự việc thành cơ hội để can thiệp vào tình hình Việt Nam khi kêu gọi các thành viên Nghị viện châu Âu có áp lực gắn với các biểu quyết liên quan đến vấn đề kinh tế.
Tổ chức khủng bố Việt Tân cũng kêu gọi các tổ chức quốc tế can thiệp, cổ xúy cho việc quyên góp ủng hộ “các nạn nhân Đồng Tâm”. Đối tượng Phạm Đoan Trang, thành viên cốt cán của tổ chức Voice-ngoại vi của Việt Tân còn soạn thảo báo cáo dày hàng chục trang bịa đặt, bóp méo sự việc ở Đồng Tâm để gửi tới các dân biểu, nghị viện nước ngoài. Sau khi Cơ quan An ninh điều tra đề nghị các tổ chức tín dụng rà soát, phong tỏa một số tài khoản có liên quan đến vụ án, nhiều đối tượng đã kêu gọi, phản đối việc phong tỏa tài khoản Vietcombank; kêu gọi tẩy chay ngân hàng…
Xử lý sự việc đúng pháp luật, không vi phạm nhân quyền
Những luận điệu của các đối tượng trên thoạt nghe tưởng như tốt đẹp, tiến bộ, vì quyền con người nhưng nếu nhìn thẳng vào bản chất sự việc thì chỉ là những lời lẽ giả dối, vô lương tâm.
Sau khi sự việc xảy ra, Trung tướng Lương Tam Quang, Thứ trưởng Bộ Công an đã hai lần thông tin công khai trước báo chí về toàn bộ diễn biến sự việc. Theo đó, ngay sau hội nghị đối thoại của Thanh tra Chính phủ, các đối tượng trong cái gọi là "tổ Đồng thuận" chẳng những không lắng nghe, tiếp thu mà còn ráo riết chuẩn bị phương án, vũ khí để chống đối. Họ còn đe dọa bắt cán bộ, gây cháy, nổ UBND xã Đồng Tâm, gây cháy, nổ cây xăng Đồng Tâm để gây tiếng vang với dư luận bên ngoài.
Trước tình hình chống đối của các đối tượng, Công an TP Hà Nội phối hợp với các lực lượng của bộ tiến hành triển khai các chốt nhằm bảo đảm an toàn cho trụ sở xã, cán bộ xã, cán bộ thôn, các khu vực trọng yếu. "Hoàn toàn không có việc vào để bắt giữ. Lúc đó không hề có lệnh bắt giữ, dù biết rõ đây là nhóm quá khích. Đây chỉ là các tổ công tác bảo đảm tuyệt đối an toàn nhất các tình huống xảy ra", Trung tướng Lương Tam Quang khẳng định.
"Khi lực lượng chức năng đang triển khai các chốt bảo đảm an ninh ở khu vực cổng thôn Hoành thì có khoảng 20 đối tượng tấn công bằng lựu đạn, bom xăng, dao phóng lợn hàn tuýp sắt tấn công lực lượng chức năng. Lực lượng công an đã tuyên truyền, dùng loa thuyết phục, nhưng các đối tượng rất manh động, sau khi tấn công thì chúng rút vào mấy nhà, tiếp tục tấn công tổ công tác từ trong nhà ra. Tổ công tác đã dùng loa kêu gọi các đối tượng nhưng chúng vẫn ngoan cố, tấn công quyết liệt hơn, tiếp tục ném lựu đạn, bom xăng vào tổ công tác, sau đó rút vào cố thủ trong nhà...".
Do đó, tổ công tác đã tiến hành vây bắt các đối tượng phạm tội theo quy định pháp luật. Quá trình truy đuổi, các đối tượng tiếp tục dùng bom xăng, tuýp sắt gắn dao tấn công tổ công tác. Tổ công tác 3 người trong quá trình truy đuổi đã bị ngã và rơi xuống hố kỹ thuật (sâu khoảng 4m), nằm giáp sau nhà Lê Đình Hợi và Lê Đình Chức. Khi biết 3 chiến sĩ bị ngã xuống hố, các đối tượng đổ xăng, ném bom xăng, phóng hỏa thiêu chết 3 cán bộ, chiến sĩ. Trước tình huống đó, lực lượng công an phải nổ súng và bắt giữ hơn 30 đối tượng, thu giữ tại hiện trường các vũ khí, vật liệu nổ. Khi truy bắt, một đối tượng bị chết là Lê Đình Kình, đối tượng bị thương là Lê Đình Chức.
Qua tài liệu thu thập được cho thấy, một số tổ chức lưu vong, phần tử chống đối đã tài trợ tiền, hướng dẫn "nhóm Đồng thuận" cách làm bom xăng, tạo quả nổ, hướng dẫn mua sắm vật tư làm vũ khí… "Nhóm Đồng thuận” đã thể hiện rõ là một ổ nhóm tội phạm có tổ chức. Ngoài tuyên bố “tử chiến giữ đất”, “sẵn sàng giết 300-500 người”, nhóm này còn đe dọa lãnh đạo xã và các gia đình người dân không hợp tác với chúng. Chúng cũng thường xuyên viết đơn gửi các cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế lu loa chính quyền đàn áp “dân oan”, hòng “quốc tế hóa” vấn đề, biến Đồng Tâm thành điểm nóng chính trị.
Qua những thông tin nêu trên cũng đã thể hiện rất rõ không thể gọi những kẻ vi phạm pháp luật nghiêm trọng là nạn nhân ở Đồng Tâm. Cho nên, những lời kêu gọi "ủng hộ", "đòi công lý", "vì nhân quyền" cho những đối tượng này là lạc lõng, phi lý.
Không thể biện minh cho tội phạm giết người, khủng bố
Theo luật sư Nguyễn Anh Thơm, Trưởng văn phòng luật sư Nguyễn Anh (Đoàn Luật sư Hà Nội), việc cơ quan điều tra khởi tố ban đầu lên đến 19 bị can về tội giết người là con số kỷ lục ít thấy trong một vụ án hình sự những năm gần đây. Đây là vụ án giết người, chống người thi hành công vụ với hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Các đối tượng đã lên kế hoạch chặt chẽ, phân công nhiệm vụ và chuẩn bị vũ khí, hung khí nguy hiểm để đối phó với các lực lượng thực thi nhiệm vụ. Hành vi phạm tội của các đối tượng đã cấu thành tội giết người và tội chống người thi hành công vụ. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điều 123 và điều 330 Bộ luật Hình sự 2015. Trong vụ án này, với hậu quả 3 cán bộ, chiến sĩ công an hy sinh, nếu có căn cứ xác định là đồng phạm thì các đối tượng phải đối mặt hình phạt cao nhất đến tử hình. Bởi theo khoản 1, điều 123 Bộ Luật Hình sự 2015, tình tiết trong vụ án cho thấy các đối tượng đã vi phạm tới cả 4 trường hợp phải chịu mức án nặng nhất: Giết hai người trở lên; giết người đang thi hành công vụ; có tính chất côn đồ; có tổ chức.
Theo thông tin từ cơ quan chức năng, đối tượng Nguyễn Văn Tuyển khi bị bắt đã khai thường xuyên được các đối tượng ở nước ngoài liên lạc tài trợ tiền, trong đó có liên lạc trao đổi thông tin và nhận tiền từ các đối tượng Nguyễn Văn Đài và Ngọc Tuấn Trần… Số tiền nhận được từ các tổ chức khủng bố, các đối tượng đã sử dụng một phần mua lựu đạn, bom xăng để sẵn sàng chống trả cơ quan chức năng, phần lớn số tiền còn lại chúng dùng để chi tiêu cá nhân. Đại tá Phan Nguyên Hùng, Phó cục trưởng Cục An ninh nội địa, Bộ Công an cho biết, các đối tượng ở Đồng Tâm đã nhiều lần nhận tiền của đối tượng bên ngoài, sử dụng để cử người đi mua vũ khí (10 quả lựu đạn); mua hàng trăm lít xăng chế tạo bom xăng và phân phát cho các đối tượng và một số người dân tiến hành những hoạt động theo chỉ đạo bên ngoài, đặc biệt là tụ tập đông người để cản trở các lực lượng thi hành nhiệm vụ.
Từ những thông tin trên, dưới góc độ nghiên cứu luật, một số luật sư cho rằng có yếu tố để xem xét tội “khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân” theo điều 113 Bộ luật Hình sự 2015.
Còn với việc phong tỏa các tài khoản ngân hàng, để phục vụ yêu cầu điều tra, mở rộng vụ án, trong đó có hành vi tài trợ khủng bố, cơ quan điều tra đã đề nghị các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước phối hợp rà soát, phong tỏa một số tài khoản có liên quan. Tài khoản Vietcombank Nguyễn Thúy Hạnh với số tiền hơn 500 triệu đồng bị phong tỏa là đúng pháp luật.
Được biết, từ lâu, Nguyễn Thúy Hạnh đã có nhiều hoạt động liên quan tới tổ chức khủng bố Việt Tân. Nhiều năm nay, Hạnh đã lập ra cái gọi là “quỹ 50k" ủng hộ các tù nhân lương tâm tài trợ cho một số đối tượng gây rối đã bị xử lý sau các vụ việc ở Đồng Nai, Bình Thuận, Hà Tĩnh… Cái gọi là “quỹ 50k” thực chất là tổ chức tài trợ cho những kẻ chống phá Nhà nước, là cánh tay nối dài của các tổ chức khủng bố Việt Tân, chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời... Cuối năm 2019, cái gọi là “quỹ 50k” do Hạnh khởi xướng đã được tổ chức khủng bố Việt Tân trao giải thưởng “nhân quyền Lê Đình Lượng năm 2019”.
Vì vậy, người dân cần hết sức tỉnh táo, cảnh giác với những lời kêu gọi tẩy chay ngân hàng, tuyệt đối không tham gia các hoạt động quyên góp, ủng hộ, có thể vô hình trung vi phạm pháp luật, tiếp tay cho tổ chức khủng bố…
Những ý kiến phản bác dưới góc nhìn luật pháp quốc tế
Nhiều chuyên gia, luật sư, nhà nghiên cứu ở nước ngoài cũng đã lên tiếng phản bác, đồng tình với cách giải quyết sự việc nếu nhìn ở góc độ pháp luật và thông lệ quốc tế.
Luật sư người Mỹ gốc Việt Hoàng Duy Hùng đã có những phân tích với cái nhìn khách quan về sự việc theo góc độ luật pháp quốc tế. Ông cho biết: “Những người ở Mỹ khi đi mua một căn nhà, bất kỳ bất động sản nào đều có câu tiếng Anh rõ ràng là “Eminent domain” nghĩa là chủ quyền tối thượng của đất nước khi đất nước cần trưng dụng về vấn đề quốc phòng, công cộng, an ninh. Đây là nguyên tắc đầu tiên, là nguyên tắc tất cả người dân Hoa Kỳ, Australia, châu Âu, Canada… đều biết rất rõ. Nhà nước cần về vấn đề quốc phòng, công cộng, an ninh thì có quyền lấy, thu luôn, thu hồi, không có tranh cãi. Khi đó, nhà nước không cần báo cho dân chúng về nguyên do. Tôi lấy ví dụ ở Houston có cái sân bay quân sự Ellington Field, lúc người ta lấy thì chỉ nói là vấn đề quốc phòng, hỏi quốc phòng để làm gì thì được trả lời là không được phép hỏi”.
“Những người như gia đình ông Lê Đình Kình không tôn trọng luật pháp, nhất định biến khu vực đó trở thành tài sản của gia đình. Về vấn đề chống lại người thi hành công vụ ở Mỹ. Ở bang Texas, có cơ quan Texas Alcoholic Beverage Commission (TABC) là một cơ quan công cộng Texas chịu trách nhiệm xử lý việc mua bán và sử dụng đồ uống có cồn. Chỉ cần người bán bia, rượu cho người dưới 21 tuổi mà cơ quan này nắm được thông tin chứng cứ thì họ cho cả một tiểu đoàn cảnh sát vô bắt người đó, đóng cửa cửa hàng luôn. Nếu phản kháng thì tăng thêm tội là tấn công người thi hành công vụ. Người thi hành công vụ đúng hay sai chưa cần biết, nhưng phải tuân thủ ngay, sau mới có thể phản kháng hay kiến nghị. Nếu chống đối có thể bị bắn chết!”, luật sư Hoàng Duy Hùng phân tích
Phản bác những luận điệu từ nước ngoài “thương vay khóc mướn” cho "nhóm Đồng thuận", luật sư Hoàng Duy Hùng cho rằng: “Cách làm luật của người Mỹ là như vậy. Sao mấy ông bên này không ra mà bảo đó là luật pháp bất nhân đi mà lại chõ về Việt Nam để nói những chuyện kỳ cục như vậy. Chống người thi hành công vụ là tội phải xử nghiêm minh. Mỹ đã làm từ mấy trăm năm nay. Mình là người dân công chính thì phải khuyến khích người dân không được chống lại người thi hành công vụ. Nên người dân Đồng Tâm tấn công cảnh sát là có lỗi đầu tiên, còn nếu có gì không phải thì để tòa án xét xử sau. Nhà nước đã mở ra thì những người kia phải biết đón nhận theo luật pháp, hòa hợp dân tộc không có nghĩa là vô luật pháp. Cách làm của ông Kình là vô luật pháp, ông này tự biến mình thành cường hào, địa chủ, lãnh chúa trong Đồng Tâm”.
Ông Hồ Ngọc Thắng, Việt kiều tại Đức cho biết: Là người tốt nghiệp đại học luật và làm việc lâu năm trong ngành luật cho Nhà nước Đức, tôi nhận thấy việc thực thi những nguyên tắc nhà nước pháp quyền không chỉ cho phép mà còn yêu cầu sử dụng những biện pháp cứng rắn để đối phó với những hành động xem thường pháp luật. “Tôi cũng cực lực lên án những kẻ lợi dụng làm phức tạp sự việc Đồng Tâm để vu khống, xuyên tạc Đảng, Nhà nước. Họ gọi đó là “vụ thảm sát Đồng Tâm”, “chỉ có kẻ thù mới cho quân nổ súng vào dân”… Đặt vấn đề kiểu mập mờ như vậy là không ổn. Hoạt động của ông Kình và đồng bọn không phải là “bất bạo động” mà là khủng bố”, ông Hồ Ngọc Thắng nhận xét.
Rồi đây, sự việc sẽ tiếp tục được sáng tỏ khi các cơ quan pháp luật điều tra, truy tố, xử lý công minh, rõ người, rõ tội. Với tinh thần thượng tôn pháp luật, tin tưởng rằng dư luận trong nước và quốc tế sẽ hiểu đúng sự việc, ủng hộ chính quyền các cấp trong bảo vệ công lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của công dân, đẩy lùi những luận điệu đen tối muốn “quốc tế hóa” sự việc Đồng Tâm, không để biến vụ án hình sự nghiêm trọng thành điểm nóng phức tạp.

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...