Thứ Năm, 18 tháng 7, 2019

TRÁNH “BẪY TỰ DO BÁO CHÍ” TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ



Những năm gần đây, hội nhập quốc tế ngày càng nhanh và mạnh mẽ, các quan điểm, xu hướng mới du nhập vào nước ta là tất yếu, không thể tránh khỏi và quá trình này cũng là “thời cơ” để các thế lực thù địch lợi dụng đẩy mạnh âm mưu “diễn biến hòa bình”. Trong lĩnh vực báo chí, chiêu bài “tự do ngôn luận”, “tự do báo chí” trở thành “vũ khí” để các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lợi dụng chống phá ta trên mặt trận tư tưởng. Chính vì vậy, bảo đảm tự do ngôn luận, tự do báo chí là yêu cầu quan trọng, cấp thiết, là cơ sở vững chắc để tránh “bẫy tự do báo chí” của các thế lực thù địch trong thời kỳ đẩy mạnh hội nhập quốc tế của nước ta.
Về tự do báo chí
Báo chí có vai trò quan trọng trong việc truyền tải các quan điểm, là công cụ của tự do biểu đạt. Trong thời kỳ hiện nay, tự do ngôn luận, tự do báo chí có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển của từng cá nhân và cộng đồng; được coi là một phần biểu hiện quyền bình đẳng, dân chủ và có tác động thúc đẩy phát triển.
Vào thế kỷ XVII, triết học cơ bản về chủ nghĩa tự do có bước phát triển, con người hướng tới tự do cá nhân một cách mạnh mẽ, tự do cá nhân đã trở thành mục tiêu phấn đấu của mỗi người và của nhiều nhà nước. Tư tưởng tự do trở thành một trào lưu trong nhiều xã hội dân chủ, trong đó tư tưởng tự do báo chí, tự do tôn giáo trở thành các mục tiêu hàng đầu. Một thế kỷ sau, khoảng cuối thế kỷ XVIII, quyền tự do (trong đó có tự do ngôn luận, tự do báo chí) đã được coi là một trong các quyền cơ bản của con người, được quy định trong hiến pháp của nhiều quốc gia.
Theo nghĩa thông thường, tự do báo chí được hiểu là thoát ly mọi sự hạn chế, mọi sự cấm đoán đối với báo chí, là một phần quan trọng của quyền con người, quyền công dân. Tuy nhiên, ở các thể chế xã hội khác nhau, trong các giai đoạn lịch sử khác nhau thì tự do báo chí cũng được giải thích, được quan niệm, được thể chế hóa, được bảo vệ và thực hiện theo các cách khác nhau. Mức độ tự do được quy định bởi lập trường xã hội, bởi mục tiêu mà con người đặt ra cho mình trong từng giai đoạn.
Đến thế kỷ XX, nhiều tuyên ngôn của các tổ chức lớn như Liên hợp quốc, hiến pháp của nhiều quốc gia, như Mỹ, Anh, Pháp đã quy định rõ về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Trong bản “Tuyên ngôn về Nhân quyềnvà Dân quyền Pháp năm 1789” - tự do báo chí được trình bày như là một trong những quyền cơ bản: “Bất kỳ công dân nào cũng có thể nói, viết và công bố tự do; tuy nhiên, họ sẽ chịu trách nhiệm nếu lạm dụng quyền tự do này theo quy định của pháp luật” (Điều 11). Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 tại khoản 2, Điều 19 cũng quy định: “Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in, hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tuỳ theo sự lựa chọn của họ”. Khoản 3, Điều 19 cũng quy định “Việc thực hiện những quyền quy định tại khoản 2 điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, việc này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định, tuy nhiên, những hạn chế này phải được quy định trong pháp luật và là cần thiết để: a- Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác. b- Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội”. Khoản 1, Điều 19, Công ước nêu: “Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp”. Khoản 2, Điều 22 nêu: “Việc thực hiện quyền này không bị hạn chế, trừ những hạn chế do pháp luật quy định và là cần thiết trong một xã hội dân chủ, vì lợi ích an ninh quốc gia, an toàn và trật tự công cộng, và để bảo vệ sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng hay các quyền và tự do của người khác”. Ở Anh, tất cả các bài phát biểu miệng hay đăng báo với mục đích làm mất tín nhiệm hoặc kích động chống lại chủ quyền, Chính phủ, Hiến pháp, bất cứ viện nào hoặc hệ thống tòa án, kích động sự bất bình hay sự công phẫn giữa các công dân của Nữ hoàng, sự hận thù giữa các giai cấp của các công dân đó đều bị coi là vi phạm pháp luật. Ở Mỹ, quốc gia luôn tự cho là thực hiện đầy đủ nhất khẩu hiệu tự do báo chí, cũng quy định khi báo chí vu khống, có lời lẽ thô bỉ, có khuynh hướng gây nguy hại cho thể chế dân tộc và quốc gia sẽ bị tòa án tối cao truy tố.
Như vậy, tự do báo chí ở Mỹ cũng như ở các quốc gia khác đều được quy định nhằm mục đích ngăn chặn việc lạm dụng tự do báo chí xâm phạm đến quyền tự do của cá nhân khác, chống chính quyền, lật đổ chính quyền... và được bảo đảm bằng các quy định pháp luật.
Ở Việt Nam, nhất là từ sau khi cả nước bước vào công cuộc đổi mới, những điều kiện pháp lý bảo đảm cho tự do báo chí đã từng bước được xác lập và ngày càng hoàn thiện. Năm 1989, Quốc hội thông qua Luật Báo chí. Mười năm sau, năm 1999, Quốc hội thông qua Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí năm 1989. Đây là bước hoàn thiện Luật Báo chí cho phù hợp với những yêu cầu thực tiễn của công cuộc đổi mới. Năm 2016, Luật Báo chí sửa đổi, bổ sung đã được Quốc hội khóa XIII thông qua, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2017. Hiến pháp năm 2013 có riêng một chương (Chương II) quy định về Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, trong đó Điều 25 nêu rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình”; đồng thời cũng nêu: “Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Luật Báo chí năm 2016 cũng quy định tại Chương II về quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí của công dân. Trong đó, Điều 13 quy định: “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình”; đồng thời cũng quy định: “Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân”. Đặc biệt khoản 3, Điều 13 quy định: “Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng”.

Rõ ràng, ở Việt Nam, mọi công dân đều có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí trong khuôn khổ pháp luật như ở các quốc gia khác.
Tránh “bẫy tự do báo chí” trong thời kỳ đẩy mạnh hội nhập quốc tế
Trong xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, các mối quan hệ song phương, đa phương đã tạo nên sự giao thoa khá mạnh mẽ về mọi mặt trong đời sống xã hội và các mối quan hệ xã hội. Do đó, đối với bất kỳ quốc gia nào bước vào hội nhập quốc tế cũng đều phải giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa đẩy mạnh hội nhập quốc tế với giữ gìn bản sắc dân tộc nói chung và giữ gìn các giá trị truyền thống, các quan điểm truyền thống đối với từng lĩnh vực, từng vấn đề nói riêng. Trong lĩnh vực báo chí, Nhà nước ta luôn bảo đảm tự do báo chí, tự do ngôn luận trên cơ sở thông tin trên báo chí phải chính xác, trung thực; phải vì lợi ích quốc gia, dân tộc, cộng đồng, vì mục tiêu phát triển; phải phù hợp với lịch sử văn hóa, phong tục, tập quán, truyền thống dân tộc; phải phù hợp thông lệ quốc tế, các cam kết mà Việt Nam ký kết, tham gia; phải trong khuôn khổ pháp luật.
Quan điểm bảo đảm tự do ngôn luận, tự do báo chí là định hướng, nền tảng cho việc xây dựng hệ thống pháp luật quản lý nhà nước về báo chí. Ngược lại, hoạt động quản lý nhà nước về báo chí nhằm bảo đảm để tự do ngôn luận, tự do báo chí không bị lợi dụng, không rơi vào “bẫy tự do báo chí” của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị; không để lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí xâm phạm, xúc phạm các cá nhân, tập thể; bảo đảm cho tự do ngôn luận, tự do báo chí được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam ký kết, tham gia.
Giăng chiếc “bẫy tự do báo chí”, các thế lực thù địch rêu rao chúng ta không cho phép báo chí tư nhân là không có tự do ngôn luận, tự do báo chí. Chúng  lợi dụng các vụ, việc một số nhà báo có hành vi vi phạm pháp luật và đạo đức người làm báo bị xử lý để cho rằng tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam bị hạn chế… Để đối phó với thực tế này và trong bối cảnh thông tin đa chiều, đặc biệt là khi người đọc không phải tìm kiếm mà thông tin được chủ động đưa đến cho người đọc (thậm chí người đọc phải tiếp nhận thông tin một cách bị động - bị gửi vào facebook, zalo, viber…) thì việc cung cấp những nguồn tin chính xác, kịp thời cho báo chí chính là cách thức nhanh nhất, hiệu quả nhất để định hướng và quản lý thông tin. Thời gian qua, Đảng, Nhà nước đã áp dụng phương pháp quản lý vừa thuyết phục, nhắc nhở, vừa cưỡng chế bằng các chế tài, công cụ pháp luật. Thuyết phục, nhắc nhở là thông qua tổ chức định hướng thông tin thường xuyên, đặc biệt khi có các sự kiện lớn, các sự việc nhạy cảm. Cưỡng chế là ban hành và thông qua các quy định pháp luật để bảo đảm mọi công dân đều có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. 
Việt Nam đang trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, cũng như bất kỳ quốc gia nào chúng ta cũng đặt ra yêu cầu vừa phát triển quan hệ, nhanh chóng hội nhập quốc tế, vừa bảo đảm chủ quyền, độc lập dân tộc, bình đẳng, các bên cùng có lợi. Mục tiêu của báo chí cách mạng Việt Nam là vừa phục vụ nhu cầu thông tin của người dân, vừa là vũ khí chống lại các thế lực thù địch trên mặt trận tư tưởng. Do vậy, nếu không xây dựng được một nền báo chí đủ mạnh thì sẽ không đáp trả được âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Trong quá trình hội nhập quốc tế, để đồng thời bảo đảm tự do ngôn luận, tự do báo chí, trước hết, ngay các nhà báo, các cơ quan báo chí Việt Nam phải xác định được rõ thế nào là tự do báo chí trong khuôn khổ pháp luật, các cơ quan quản lý báo chí phải định hướng và xác định rõ những “tinh hoa” cần tiếp thu và những gì là chiêu bài lợi dụng của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị để không rơi vào “bẫy tự do báo chí”.
Trong thời gian tới, để giải quyết vấn đề này, xét từ góc độ quản lý nhà nước, cần đồng thời thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Một là, xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ trong lĩnh vực báo chí. Hiện chúng ta đã có hệ thống pháp luật tương đối cơ bản, từ Hiến pháp đến Luật Báo chí đều đã có những quy định cụ thể về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Tuy nhiên, các văn bản dưới luật từ nghị định đến thông tư hướng dẫn chưa có sự thống nhất, đồng bộ. Đặc biệt với các hoạt động báo chí liên quan đến nước ngoài, cần có các điều khoản cụ thể, phù hợp với tình hình trong nước và các quy định quốc tế. Chất lượng, hiệu quả quản lý xã hội của nhà nước pháp quyền phụ thuộc vào mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật. Vì vậy, yêu cầu về một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đồng bộ, thống nhất trong lĩnh vực báo chí là hết sức cần thiết.
Hai là, xây dựng được một chuẩn mực đạo đức nghề báo chung, khuyến khích từng cơ quan báo chí chủ động xây dựng các quy định, chuẩn mực phù hợp trên cơ sở chuẩn mực đạo đức nghề báo chung, đồng thời làm tốt việc giám sát thực hiện các quy định này, phối hợp với các cơ quan hữu quan nghiêm khắc, kịp thời xử lý các nhà báo, cơ quan báo chí có vi phạm.
Ba là, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ thực thi nhiệm vụ quản lý nhà nước về báo chí đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thời kỳ hội nhập quốc tế: có trình độ chuyên môn, có kỹ năng quản lý khoa học, hiệu quả, có khả năng sử dụng công nghệ, ngoại ngữ và có tư tưởng chính trị vững vàng...
Bốn là, đổi mới tư duy quản lý, phương thức quản lý, rà soát các nội dung quản lý phù hợp với tình hình thực tế. Xác định rõ các nguyên tắc làm việc thông qua các quy định, quy chế và bảo đảm thực hiện nghiêm túc; bảo đảm có sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa cơ quan chỉ đạo, cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan chủ quản, người đứng đầu cơ quan báo chí ở cả Trung ương và địa phương. Bộ Thông tin và Truyền thông là cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về báo chí cần chủ động phối hợp bằng nhiều hình thức với các cơ quan chủ quản các cơ quan báo chí trong thực hiện quản lý nhà nước về báo chí; ở địa phương, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các sở thông tin và truyền thông phát huy vai trò chủ động trong quản lý nhà nước về báo chí trong phạm vi địa phương theo sự phân cấp của Chính phủ nhằm bảo đảm tự do ngôn luận, tự do báo chí.
Năm là, thường xuyên thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm minh, kịp thời các vi phạm. Thanh tra, kiểm tra là nhiệm vụ quan trọng, là một công cụ quản lý không thể thiếu của cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí. Hoạt động này tốt, hiệu quả quản lý nhà nước được nâng cao, ngược lại, hoạt động này chưa tốt thì hiệu quả quản lý nhà nước cũng bị hạn chế... Hoạt động thanh tra, kiểm tra cần được thực hiện vừa thường xuyên, vừa đột xuất, và đồng bộ trên mọi mặt, cả tài chính kinh tế, công tác tổ chức, nhân sự, đặc biệt là thông tin trên báo chí.
Sáu là, tích cực đẩy mạnh hợp tác quốc tế để học hỏi các kinh nghiệm quản lý hoạt động báo chí của các nước. Việc áp dụng một số phương pháp vào thực tế quản lý báo chí ở Việt Nam đã cho thấy hiệu quả.

Thực hiện tốt nguyên tắc Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý báo chí sẽ bảo đảm cho sự thống nhất về tư tưởng, giúp báo chí hoàn thành nhiệm vụ chính trị, không bị động trước sự tấn công của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị trên mặt trận tư tưởng, tránh được “bẫy tự do báo chí”, đồng thời bảo đảm tự do ngôn luận, tự do báo chí và thúc đẩy sự nghiệp báo chí cách mạng Việt Nam phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ hội nhập quốc tế./.
PGS, TS. Trương Quốc Chính(*),TS. Nguyễn Thị Mai Anh (**)
(*) Học viện Hành chính quốc gia, (**) Tạp chí Cộng sản


THỰC HIỆN NỘI DUNG SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN TRONG CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ



Với sự xuất hiện của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, giai cấp công nhân - chủ thể và là sản phẩm xã hội của nền “đại công nghiệp”, đã trở thành luận chứng thực tiễn cho phát hiện lý luận vĩ đại của C. Mác về “sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân”. Và, cũng như vậy, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Cách mạng công nghiệp 4.0) sẽ tiếp nối lô-gíc đã từng được lịch sử minh chứng.
Sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân do C. Mác (1818 - 1883) phát hiện và luận chứng từ cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên, đến nay đã trải qua ba lần tiến hóa. Những nội hàm cơ bản của lý luận này đã thể hiện và tiếp tục được bổ sung từ thực tiễn các cuộc công nghiệp và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Cách mạng công nghiệp 4.0, về đại thể, sẽ vẫn tiếp tục lô-gíc của C. Mác, tiếp nối nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong thời đại hiện nay. 
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư gần đây mới được nhận thức rõ dấu hiệu và những đặc điểm của nó. Giáo sư K. Sô-áp (K. Schwab), Chủ tịch Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF), là người đưa ra thuật ngữ này. Cách mạng công nghiệp 4.0, theo ông, là một thuật ngữ phản ánh những đổi mới các công nghệ tự động hóa hiện đại, trao đổi dữ liệu, năng lượng, vật liệu và chế tạo trong sản xuất và dịch vụ. Đó là “một cụm thuật ngữ cho các công nghệ và khái niệm của tổ chức trong chuỗi giá trị” đi cùng với các hệ thống vật lý trong không gian ảo, in-tơ-nét của vạn vật và in-tơ-nét của các dịch vụ. Nó “là sự thay đổi cơ bản trong cách thức chúng ta tạo ra, tiêu thụ sản phẩm và liên đới lẫn nhau, được dẫn dắt bởi sự hội tụ của thế giới vật chất, thế giới số và con người chúng ta”(1). 
Cách mạng công nghiệp 4.0 có đặc điểm là “Tốc độ vận động ngày càng nhanh chứ không đều đặn”, với quy mô là “thúc đẩy những chuyển đổi mô hình chưa từng có trên các khía cạnh kinh tế, kinh doanh, xã hội và cá nhân”, có những tác động “dẫn đến sự chuyển đổi của toàn bộ các hệ thống giữa các (và trong mỗi) quốc gia, doanh nghiệp ngành công nghiệp và toàn xã hội”(2). Theo đó, chúng ta có thể phân tích nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân từ lô-gíc chung của các cuộc cách mạng công nghiệp đã diễn ra và từ những nhận thức ban đầu về Cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay, cũng như những dự báo. 
Thực hiện nội dung kinh tế - kỹ thuật của sứ mệnh lịch sử trong Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
C. Mác khẳng định, giai cấp công nhân là chủ thể của phương thức sản xuất công nghiệp với các đặc tính: công cụ lao động là máy móc, năng suất lao động cao, lao động có tính chất xã hội hóa cao và gợi mở nhiều giải pháp tích cực cho quá trình phát triển xã hội. Chính từ quá trình sản xuất vật chất bằng phương thức công nghiệp, giai cấp công nhân được xác định là giai cấp quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội hiện đại và thông qua đó, chuẩn bị những tiền đề vật chất cho xã hội tương lai(3). Về lô-gíc, có hai nội dung lý luận cơ bản cần được chú ý ở phương diện này: 
Thứ nhất, giai cấp công nhân là giai cấp sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội hiện đại bằng phương thức công nghiệp mang tính xã hội hóa cao. Xã hội nào cũng tồn tại và phát triển thông qua quá trình sản xuất và tiêu thụ của cải vật chất. Với tư cách là lực lượng sản xuất cơ bản tiên tiến, trực tiếp và tham gia quá trình sản xuất, tái sản xuất của cải vật chất, giai cấp công nhân góp phần quyết định sự tồn tại và phát triển xã hội. Thêm vào đó, tính chất xã hội hóa ngày càng tăng của sản xuất cũng làm nảy sinh những nhân tố mang tính chất xã hội trong quá trình phát triển. Theo C. Mác, đây chính là yếu tố duy vật cho chủ nghĩa xã hội hiện đại, cái tính chất mà trước cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất chưa xuất hiện trên thực tế. Công nghiệp càng phát triển thì tính chất xã hội hóa này ngày càng cao. Nội dung kinh tế này là yếu tố sâu xa nhất khẳng định sự cần thiết của sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đối với quá trình phát triển của văn minh nhân loại. Thực hiện đầy đủ và thành công nội dung kinh tế này cũng là điều kiện vật chất để bảo đảm thắng lợi của chủ nghĩa xã hội. 
Thứ hai, cũng từ quá trình sản xuất công nghiệp này, những nhân tố vật chất kỹ thuật cho sự hình thành một xã hội mới được tích lũy ngày một nhiều hơn. Cũng vì vậy, C. Mác coi cách mạng công nghiệp cùng những yếu tố cấu thành của nó, như máy móc, cách thức tổ chức quản lý sản xuất, trình độ cao của lao động và hợp tác lao động công nghiệp... là “những nhà cách mạng” khiến xã hội hiện tại không thể duy trì trạng thái cũ. 
Hai lô-gíc căn bản đó đang tiếp diễn với mức độ sâu sắc và rộng lớn hơn trong cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Những nghiên cứu về cuộc cách mạng này đang xác nhận điều đó. Về đại thể, như dự báo của Giáo sư K. Sô-áp: “Những sáng tạo lớn về công nghệ sắp thổi bùng những thay đổi lớn lao trên khắp thế giới - như một tất yếu khách quan”(4). Tốc độ của những sáng kiến lan tỏa nhanh, năng suất lao động tăng mạnh. Chẳng hạn cách đây hơn 1 thập niên, dự án đầu tiên về giải mã bộ gen người mất 13 năm để hoàn thành với chi phí là 2,7 tỷ USD. Còn hiện nay, một bộ gen người có thể được giải trình tự trong vài giờ với chi phí vài nghìn USD. Các máy giải trình tự gen “để bàn” giá thành tương đối thấp có thể được sử dụng trong chẩn đoán thường ngày, có khả năng cải thiện đáng kể việc điều trị từ việc ứng dụng công nghệ ADN để đưa ra các phương pháp điều trị phù hợp cho bệnh nhân. Tiếp theo là sinh học tổng hợp cho khả năng tùy chỉnh chính xác các sinh vật bằng việc chỉnh sửa ADN được thiết kế có chủ đích(5). 
Nhìn chung, “sự hài hòa và tích hợp ngày càng tăng của nhiều ngành và nhiều phát kiến khác nhau”(6) vừa tạo ra những đột phá mới trong sản xuất và dịch vụ, vừa tạo ra những cơ sở mới cho tăng năng suất lao động xã hội. Cần chú ý tới những biểu hiện mới của tính chất xã hội hóa, bộc lộ từ cuộc Cách mạng công nghiệp 3.0 và nay đang tiếp diễn. 
Cơ hội học tập đang mở rộng hơn với mọi người. Hiện nay, người ta nói nhiều đến vấn đề giảm dần nhu cầu về lao động giản đơn, tăng lao động trình độ cao nhưng chưa chú ý đến khả năng tiếp cận giáo dục - dạy nghề cũng tăng lên và dễ dàng hơn với đa số. Người lao động hiện đại dễ dàng hơn trong việc học tập để nâng cao tay nghề và mở rộng khả năng chuyển đổi nghề nghiệp trước những thách thức về việc làm do Cách mạng công nghiệp 4.0 đặt ra. 
Kiến thức, kỹ năng lao động hiện đại đang có xu hướng xã hội hóa. Máy tính, điện thoại thông minh, các kho dữ liệu khổng lồ có thể dễ dàng tiếp cận với chi phí thấp, các trường đại học, cao đẳng với nhiều chương trình đào tạo từ xa… là những điều kiện thuận lợi để người lao động bình thường có thể học tập và tự học để nâng cao trình độ chuyên môn thông qua cơ sở của truyền thông số. “Dễ tiếp cận, chi phí thấp, trung tính về địa lý của truyền thông là những nhân tố cho phép tương tác rộng rãi hơn, vượt qua các ranh giới xã hội, kinh tế, văn hóa, chính trị, tôn giáo và ý thức hệ”(7). 
Nhu cầu của thị trường sức lao động hiện đại vừa đặt ra yêu cầu cao về chất lượng của nguồn nhân lực, vừa nâng cao vị thế của người lao động. Khi đã có một trình độ tương đương với nhu cầu của thị trường, vị thế của người công nhân cũng khác trước khi thương lượng với người sử dụng lao động về giá cả của hàng hóa sức lao động. Trong điều kiện mới, khả năng tự bảo vệ của người lao động đã được tăng lên. 
Sự biến đổi cấu tạo hữu cơ tư bản thay đổi cũng đang làm rõ xu thế xã hội hóa lực lượng sản xuất. Tri thức khoa học và công nghệ có vai trò lớn trong sản xuất đang tạo ra một thay đổi quan trọng: tư bản khả biến (v) tăng nhanh, tư bản bất biến (c) giảm tương đối trong tỷ lệ cấu thành giá trị của hàng hóa. Vai trò to lớn của tri thức, tay nghề, văn hóa, kinh nghiệm của người công nhân trong sản xuất công nghiệp đang từng bước phá vỡ cơ chế chiếm hữu của giai cấp tư sản, vốn bắt nguồn từ độc quyền sở hữu tư liệu sản xuất, độc quyền chiếm đoạt giá trị thặng dư. 
Máy móc, công nghệ sẽ vẫn tiếp tục đóng vai trò là “những nhà cách mạng” thầm lặng. Chính xu hướng “tích hợp, hội tụ của thế giới vật chất, thế giới số và con người” quy định và thúc đẩy xã hội phải phát triển khác đi. Nó buộc con người trong quá trình sản xuất hiện đại không chỉ chú ý đến lợi nhuận, hiệu quả kinh tế mà còn phải quan tâm đến nhiều khía cạnh khác của phát triển bền vững. 
Xã hội hóa là xu thế khách quan đang được Cách mạng công nghiệp 4.0 thúc đẩy khá mạnh mẽ. Nó thể hiện ở xu hướng tiếp hợp, liên ngành, liên kết chuỗi trong sản xuất hiện đại. Xã hội hóa còn thể hiện ở sự gắn kết các khâu sản xuất - dịch vụ - tiêu dùng. Trước đây, trong Cách mạng công nghiệp 3.0 vốn đã có bước tiến dài với lý thuyết ma-két-tinh, còn ngày nay đang tiếp diễn với việc kết hợp đa chiều: kỹ thuật số, vật chất và sinh học trong sản xuất và dịch vụ. 
Thực hiện nội dung chính trị - xã hội của sứ mệnh lịch sử trong Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
Theo quan niệm của C. Mác, sở dĩ giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử là vì họ là giai cấp đại diện cho xu thế xã hội hóa của lực lượng sản xuất hiện đại. Trong sản xuất công nghiệp, họ vừa là “sản phẩm của nền đại công nghiệp”, vừa là chủ thể của quá trình này. Do gắn liền với phương thức lao động này, giai cấp công nhân có được những phẩm chất, như tính tổ chức, kỷ luật lao động, tinh thần hợp tác, tâm lý lao động công nghiệp... Đó là những phẩm chất cần thiết cho một giai cấp cách mạng và có năng lực lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa. 
C. Mác là người đầu tiên chỉ ra quan hệ lợi ích phức tạp giữa công nhân và tư bản. Hai bên vừa đối lập nhau về lợi ích cơ bản, vừa phụ thuộc nhau về lợi ích hằng ngày trong thị trường sức lao động. Lao động sống của công nhân là nguồn gốc cơ bản của giá trị thặng dư và sự giàu có của giai cấp tư sản cũng chủ yếu nhờ vào việc bóc lột được ngày càng nhiều giá trị thặng dư. “Trong xã hội ấy, những người lao động thì không được hưởng, mà những kẻ được hưởng lại không lao động”(8). Đây là mâu thuẫn cơ bản về lợi ích giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản và là cốt lõi của bất công và đấu tranh giai cấp trong xã hội hiện đại. Mâu thuẫn ấy không thể điều hòa và chỉ có thể được giải quyết bằng việc xóa bỏ chế độ bóc lột giá trị thặng dư trên cơ sở xác lập một quan hệ sản xuất mang tính chất công hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu. Chính lực lượng sản xuất mang tính chất xã hội hóa đã chỉ ra biện pháp giải quyết ấy. 
Theo đó, nội dung chính trị - xã hội của sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân được xác định là cuộc đấu tranh vì các mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, như công bằng, bình đẳng, dân chủ… và tập trung nhất là việc xác lập chế độ chính trị - xã hội mới do giai cấp công nhân lãnh đạo - chế độ xã hội chủ nghĩa để tạo ra tiền đề chính trị cho xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa. 
Hiện nay, Cách mạng công nghiệp 4.0 đang tạo cơ hội và làm nổi bật các nội dung sau: Dân chủ hóa - công nghệ số góp phần mở rộng truyền thông, tạo điều kiện để thông tin đến với mọi người, qua đó phát triển dân chủ. Với những nước phát triển, thông qua thành tựu khoa học - công nghệ, người dân có điều kiện tốt hơn để giám sát và chia sẻ quyền lực với nhà nước đương trị. Công nghệ và thiết bị ngày càng cho phép người dân tiếp cận gần hơn với chính phủ để nêu ý kiến, để cùng phối hợp hoạt động. Đồng thời, các chính phủ cũng sở hữu sức mạnh về công nghệ để tăng cường sự quản trị của mình đối với người dân dựa trên những hệ thống giám sát rộng rãi và khả năng điều khiển kết cấu hạ tầng số. “Tuy nhiên, xét về tổng thể, các chính phủ sẽ ngày càng phải đối mặt với áp lực phải thay đổi cách thức tiếp cận hiện nay của họ đối với sự tham gia của công chúng và quy trình đưa ra quyết định khi vai trò trung tâm của họ trong việc thực thi chính sách bị suy giảm trước sự xuất hiện của các nguồn cạnh tranh mới, sự phân phối lại và phân bổ quyền lực dưới sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ”(9).
Cùng với những cơ hội để phát triển dân chủ, công bằng, bình đẳng, cuộc cạnh tranh - đấu tranh giữa “hai con đường”, giữa chế độ xã hội chủ nghĩa và chế độ tư bản chủ nghĩa dường như cũng sắp bước vào một bước ngoặt lịch sử mới. Hãy thử sắp xếp các dữ kiện chính trị, xã hội lớn gắn với các chu kỳ cách mạng công nghiệp: Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất và Công xã Pa-ri - năm 1871; Cách mạng công nghiệp lần thứ hai với Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917; Cách mạng công nghiệp lần thứ ba với sự kiện Đông Âu - Liên xô và cải cách, đổi mới… Lô-gíc đó cho phép chúng ta dự báo và kỳ vọng vào những thay đổi của đời sống chính trị, xã hội theo hướng tích cực. Không ai khác, chính giai cấp công nhân với trình độ được tri thức hóa, với tổ chức khoa học và tinh thần cách mạng sẽ vẫn là chủ thể hàng đầu của những cuộc cách mạng trong tương lai.
Cách mạng công nghiệp 4.0 với những tiền đề mà nó tạo ra sẽ cho thấy những bước tiến mới của chủ nghĩa xã hội hiện thực. Hiện nay, hầu hết các quốc gia đang phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa đều rất quan tâm và quyết tâm mạnh mẽ hướng tới Cách mạng công nghiệp 4.0. Đây cũng là một con đường để phát triển rút ngắn, để xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội.
Thực hiện nội dung văn hóa - xã hội của sứ mệnh lịch sử trong Cách mạng công nghiệp lần thứ tư 
Trên bình diện thế giới hiện nay, hòa bình, hợp tác cùng phát triển trong môi trường dân chủ, công bằng, bình đẳng đang là xu thế lớn. Xu thế ấy tạo điều kiện thuận lợi cho Cách mạng công nghiệp 4.0 và cả sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. 
Xét cho cùng, mọi tiến bộ xã hội trong lịch sử và gần gũi hơn là những thành quả nhiều mặt của các cuộc cách mạng công nghiệp gần đây cũng chỉ xoay quanh một vấn đề lớn của nhân loại, đó là làm thế nào để kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội. Hệ giá trị của giai cấp công nhân(10) với những giá trị cơ bản phù hợp với những tiêu chí cơ bản xã hội hiện đại, như lao động, công bằng, bình đẳng, dân chủ và sự phát triển tự do toàn diện cho mỗi người… đang được Cách mạng công nghiệp 4.0 tạo điều kiện và cổ vũ hiện thực hóa. 
Quan niệm của chủ nghĩa Mác và những nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội thời kỳ cải cách, đổi mới đã đưa ra một tiếp cận văn hóa và nhìn nhận rằng: “Chủ nghĩa xã hội là văn minh hóa văn hóa, chứ không chỉ giản đơn là sự vận động của vật chất và phúc lợi vật chất của mọi người… Chủ nghĩa xã hội là chủ nghĩa nhân văn, không chỉ trên nguyên tắc loại trừ mọi hình thức bóc lột, áp bức, bần cùng hóa, bạo lực, mà căn bản là các quan hệ xã hội toàn diện và lối sống hàng ngày xứng đáng với tính người… Chủ nghĩa xã hội là sự bảo đảm tính phụ thuộc biện chứng và sâu sắc của sự phát triển tự do từng cá nhân với sự phát triển tự do của mọi người trong xã hội”(11). Quan niệm về chủ nghĩa xã hội đầy tính nhân văn ấy sẽ làm mới, cập nhật và có điều kiện rộng rãi hơn trong quá trình hiện thực hóa. 
Cách mạng công nghiệp 4.0 là một thành tựu của văn minh, có những đóng góp, bổ sung vào nhận thức duy vật lịch sử về các vấn đề trong phát triển. Ở phương diện xã hội, sát cánh cùng giai cấp sản xuất ra của cải vật chất - giai cấp công nhân, “đang xuất hiện ngày càng đông đảo tầng lớp/giai cấp sáng tạo trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, thiết kế, nghệ thuật, văn hóa, giải trí, truyền thông, giáo dục - đào tạo, y tế, pháp luật. Cùng với sự phát triển của Cách mạng công nghiệp 4.0 và kinh tế sáng tạo, lao động sáng tạo ngày càng chiếm vị trí chủ đạo trong lực lượng lao động xã hội, đặt ra vấn đề nhìn nhận lại vai trò của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội hiện đại…”(12). Hệ giá trị của giai cấp công nhân theo đó có thể được bổ sung những giá trị tuy khá đặc thù nhưng gần gũi của các tầng lớp khác như trí thức - nhóm xã hội coi sáng tạo, dân chủ như điều kiện môi trường để lao động và phát triển. 
Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 cũng đặt ra nhiều vấn đề mới, từ quá trình vận động tự thân và việc bị các thế lực lợi dụng vào những mưu đồ phản tiến bộ, phản văn hóa. Tuy nhiên, tiến bộ xã hội có đủ sức mạnh để lựa chọn biện pháp tối ưu để giải quyết. Như GS. K. Sô-áp khẳng định: “Tôi vững tin rằng kỷ nguyên công nghệ mới, nếu được định hình một cách tích cực và có trách nhiệm, sẽ có thể là một chất xúc tác cho một cuộc phục hưng văn hóa mới”(13). Cũng có thể nói như vậy với sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân và chủ nghĩa xã hội ở thế kỷ XXI./. 
-------------------
(1) Klaus Schwab: Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Diễn đàn Kinh tế thế giới, 2016
(2) Klaus Schwab: Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, bản tiếng Việt do Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật hợp tác với Bộ Ngoại giao và Diễn đàn Kinh tế thế giới đồng xuất bản, Hà Nội, 2018, tr. 14 - 15
(3) Xem: Giáo trình Cao cấp lý luận chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, “Chủ nghĩa xã hội khoa học”, Nxb. Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2018, t. 3, tr. 34 - 59
(4) Klaus Schwab: Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Sđd, tr. 24
(5) Báo cáo của Bộ Khoa học và Công nghệ: Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Hà Nội, 2017
(6) Klaus Schwab: Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Sđd, tr. 26
(7) Klaus Schwab: Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Sđd, tr.162
(8) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 4, tr. 619
(9) Báo cáo của Bộ Khoa học và Công nghệ: Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Hà Nội, 2017
(10) Xem: Nguyễn An Ninh: Để hệ giá trị của giai cấp công nhân Việt Nam trở thành hệ giá trị của toàn xã hội, Tạp chí Triết học, tháng 5-2008
(11) Nguyễn Trọng Chuẩn và Iu. K. Pletnicốp (Chủ biên): Vận mệnh lịch sử của chủ nghĩa xã hội, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2009, tr. 56 - 58
(12) Báo cáo của Bộ Khoa học và Công nghệ: Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Tlđd
(13) Klaus Schwab: Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Sđd
Nguyễn An Ninh
PGS, TS, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

VỀ NHỮNG THỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ HIỆN NAY




Bối cảnh toàn cầu hóa và quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của Việt Nam đã đem lại những thời cơ, vận hội, đồng thời cũng làm xuất hiện cả những thách thức, nguy cơ thực sự đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Vì vậy, vấn đề cấp bách đặt ra hiện nay là cần nhận diện rõ và có những chiến lược hợp lý, tận dụng được những thời cơ, khắc chế nguy cơ nhằm phát triển đất nước nhanh, bền vững, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong hội nhập và phát triển.
Toàn cầu hóa là xu thế tất yếu khách quan, đang lôi cuốn tất cả các quốc gia trên thế giới tham gia và tác động sâu rộng tới các lĩnh vực của đời sống xã hội, đến sự vận động, phát triển của mọi quốc gia, dân tộc. Toàn cầu hóa là một quá trình có tác động hai chiều, cả tích cực lẫn tiêu cực, đem lại cả thời cơ, vận hội phát triển lẫn thách thức, nguy cơ hiểm họa khó lường đối với các quốc gia, dân tộc. Toàn cầu hóa liên quan chặt chẽ và tác động qua lại biện chứng đối với quá trình hội nhập quốc tế của các nước nói chung và đối với Việt Nam nói riêng. Về thực chất, hội nhập quốc tế là tiến trình một quốc gia theo đuổi lợi ích, mục tiêu của mình thông qua việc tự giác, chủ động hợp tác, liên kết sâu rộng với các quốc gia khác trên nhiều lĩnh vực (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh…) dựa trên sự chia sẻ về nhận thức, lợi ích, mục tiêu, giá trị, nguồn lực, quyền lực và chủ động chấp nhận, tuân thủ, tham gia xây dựng các “luật chơi” chung, chuẩn mực chung trong khuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế. Đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay cũng đang mở ra những vận hội đi liền với những thách thức to lớn.
Những thời cơ, vận hội
Thực tiễn vận động, phát triển của những xu thế lớn trên thế giới, đặc biệt là xu thế hòa bình, hợp tác, phát triển, hội nhập quốc tế tạo cơ hội cho Việt Nam giữ vững ổn định để phát triển đất nước
Bối cảnh mới làm xuất hiện nhiều xu thế mới đan xen nhau và có tác động sâu sắc đến đời sống chính trị - xã hội thế giới. Có thể thấy, những xu thế đó là: 1- Xu thế hoà bình, hợp tác, hội nhập quốc tế lôi cuốn nhiều nước tham gia; 2- Cách mạng khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo điều kiện hình thành và phát triển kinh tế tri thức ở nhiều quốc gia, khu vực; 3- Xu thế đa dạng hoá, đa phương hoá các quan hệ quốc tế và khu vực; 4- Những xung đột sắc tộc, tôn giáo, tranh chấp tài nguyên biển, đảo ngày càng phức tạp; 5- Xu thế dân chủ hoá rộng rãi đời sống xã hội thế giới; 6- Sự tồn tại và khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản hiện đại; 7- Sự nổi lên của chủ nghĩa bảo hộ, chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa nước lớn, chiến tranh thương mại…; 8- Xu thế nêu cao ý thức độc lập, bảo vệ lợi ích dân tộc của các nước; 9- Sự xuất hiện đa dạng, phong phú các mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa như là xu thế tất yếu khách quan, tạo ra dấu hiệu khôi phục của xã hội xã hội chủ nghĩa ở một số quốc gia, khu vực.
Trong những xu thế trên thì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn và tạo cơ hội cho Việt Nam mở rộng hợp tác, tập hợp lực lượng tiến bộ vì hòa bình, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Xu thế hướng đến hòa bình và phát triển thúc đẩy các quốc gia xích lại gần nhau, cùng nhau hợp tác nhằm tìm kiếm những cơ chế kiểm soát, kiềm chế xung đột, giảm thiểu nguy cơ chiến tranh. Vì vậy, vấn đề quan trọng đặt ra hiện nay chính là việc nhận thức sâu sắc và tận dụng có hiệu quả những thời cơ ấy trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, giữ vững hòa bình và ổn định để phát triển, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ vì hòa bình, dân chủ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Cơ hội hợp tác, giao lưu, nhất là trong tìm kiếm, tiếp thu những thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại, tạo nguồn lực phát triển kinh tế
Do tác động mang tính hai mặt, nên toàn cầu hóa không chỉ đặt ra những thách thức, nguy cơ mà còn tạo ra những cơ hội lớn để các nước xã hội chủ nghĩa thực hiện chiến lược “hội nhập” vào nền kinh tế thế giới, qua đó, một mặt, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội ở trong nước; mặt khác, thông qua hợp tác quốc tế mà tranh thủ được các nguồn vốn đầu tư, khoa học công nghệ và quản lý từ các nước phát triển.
Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam có cơ hội  kế thừa, tiếp thu, sử dụng những thành tựu to lớn của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, nhất là những thành quả của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đây rõ ràng là lợi thế của những nước đi sau. Toàn cầu hóa làm cho thị trường thế giới ngày nay càng rộng lớn về quy mô, hoàn thiện về cơ chế hoạt động. Chúng ta có điều kiện để học hỏi, tiếp thu, trao đổi, nâng cao trình độ, kinh nghiệm quản lý, nguồn vốn của thế giới, đặc biệt là những tri thức để phát triển nền kinh tế số, tham gia chuỗi cung ứng sản phẩm toàn cầu. Qua đó, chúng ta có cơ hội mở rộng sản xuất, giải quyết việc làm, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân, tham gia quá trình hợp tác và phân công lao động quốc tế.
- Những thành tựu đạt được qua hơn 30 năm đổi mới đã tạo nên điều kiện nền tảng và vận hội quan trọng cho đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Trải qua hơn 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Công cuộc xóa đói, giảm nghèo đạt được nhiều thành quả quan trọng, được bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao; đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng đi vào chiều sâu, sức mạnh tổng hợp và uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao, tạo tiền đề để đất nước phát triển nhanh và bền vững. Tốc độ tăng trưởng GDP năm 2018 rất ấn tượng, đạt 7,08% và trong năm qua, chúng ta đạt và vượt toàn bộ 12 chỉ tiêu đã đề ra. Thế và lực của nước ta tiếp tục được nâng cao trên trường quốc tế, mở ra những vận hội chưa từng có và đã góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước. Đó chính là một trong những nguồn lực nội sinh bảo đảm điều kiện, tạo cơ sở cho Việt Nam tiếp tục vững bước trên con đường đã chọn. Điển hình là sự kiện Việt Nam được bầu là Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc sau phiên bỏ phiếu vào ngày 7-6-2019, với số phiếu rất cao (192/193 phiếu). Kết quả này phản ánh sự tín nhiệm của cộng đồng quốc tế dành cho Việt Nam; đồng thời cũng là thành quả xứng đáng của Việt Nam sau những nỗ lực đóng góp vào hòa bình, an ninh thế giới.
 
- Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tạo cơ hội cho chúng ta tiếp thu những giá trị tinh hoa của nhân loại, tiếp tục phát huy những giá trị truyền thống của dân tộc trong xây dựng con người xã hội chủ nghĩa
Đất nước ta đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và rõ ràng, muốn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thành công thì phải đặt con người vào vị trí trung tâm, phải có con người đạo đức, trí tuệ với đầy đủ các phẩm chất cần có của con người xã hội chủ nghĩa. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta quan tâm đặc biệt đến con người, coi con người là trung tâm, mục tiêu và động lực của sự phát triển và định hướng sự nghiệp xây dựng con người xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải gắn liền với xây dựng nhân cách phát triển hài hoà, kế thừa truyền thống và hiện đại, vừa “hồng” vừa “chuyên”.
Giá trị truyền thống có vai trò rất quan trọng đối với việc xây dựng và phát triển nhân cách con người Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay trên nhiều phương diện, là “bộ lọc”, “kháng thể” chống lại tác động tiêu cực của toàn cầu hóa và kinh tế thị trường; góp phần xây dựng nhân cách mới, gắn lý tưởng, ước mơ hoài bão với hành động của con người hiện nay, nhất là thế hệ trẻ. Bối cảnh mới đang tạo ra cho Việt Nam cơ hội phát huy những giá trị truyền thống, tiếp thu có chọn lọc những giá trị tinh hoa của nhân loại trong xây dựng con người mới vì sự nghiệp đổi mới và phát triển.

Những thách thức, nguy cơ

Tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 1-1994), Đảng ta đã chỉ ra những thách thức, những nguy cơ lớn đối với sự nghiệp đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. “Những thách thức là: nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới…; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa…; nguy cơ về nạn tham nhũng và tệ quan liêu; nguy cơ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Các nguy cơ đó có liên quan mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau”(1) và hiện vẫn đang đe dọa sự tồn vong của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam như Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII (năm 2016) vạch rõ: “Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn tồn tại, nhất là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới, nguy cơ “diễn biến hòa bình” của thế lực thù địch nhằm chống phá nước ta; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; sự tồn tại và những diễn biến phức tạp của tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí…”(2). Vượt qua bốn nguy cơ để tiếp tục phát triển nhanh và bền vững, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững thành quả cách mạng mà nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng phải hy sinh biết bao nhiêu xương máu mới có được, vẫn đang và sẽ là những thách thức thực sự, đòi hỏi phải có những nỗ lực vượt bậc, sự đoàn kết cao độ, cùng chung sức, đồng lòng của cả dân tộc nhằm bảo vệ và phát huy những thành quả cách mạng trong bối cảnh mới.
- Tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới vẫn là nguy cơ thường trực và khó khắc phục
Toàn cầu hóa tạo ra những thách thức không nhỏ đối với những nước đang xây dựng chủ nghĩa xã hội, như Việt Nam, Trung Quốc, Cu-ba, Lào. Vì toàn cầu hóa hiện nay, về bản chất, là toàn cầu hóa do chủ nghĩa tư bản độc quyền chi phối, hơn nữa lại diễn ra trong bối cảnh chủ nghĩa xã hội hiện thực đang lâm vào thoái trào, nên tác động tiêu cực của nó đến các nước phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa lại càng rõ rệt. Về phương diện kinh tế, đây là cuộc cạnh tranh, đấu tranh hết sức cam go và phức tạp giữa các nước trong bối cảnh các thế lực tư bản độc quyền gia tăng ảnh hưởng mạnh mẽ, chi phối toàn cầu hóa. Hai thách thức lớn nhất về kinh tế là: Nguy cơ mất độc lập tự chủ về kinh tế và nguy cơ tụt hậu trong cuộc cạnh tranh quốc tế đang diễn ra hết sức quyết liệt hiện nay(3).
Cho dù Việt Nam đã đạt được mức tăng trưởng kinh tế liên tục, ổn định trong 20 năm qua, bình quân 7%, nhưng thực tế vẫn cho thấy: Xét về số tuyệt đối thì GDP của thế giới vẫn đã và đang ngày một doãng ra với tốc độ rất nhanh so với GDP của Việt Nam. Nếu cách đây 30 năm, GDP của thế giới hơn GDP của Việt Nam là 3.900 USD thì nay con số đó là 7.500 USD. Nói cách khác, dù Việt Nam đã đi được nhiều bước, song đó chỉ là những bước ngắn, nên vẫn tụt hâu so với nhiều quốc gia khác trên thế giới dù bước chậm, nhưng họ lại đi được những bước dài. Và rõ ràng, đây là một thách thức thực sự, là một vấn đề khó đối với Việt Nam hiện nay, rất cần có chiến lược tổng thể, dài hạn để khắc phục.
- Nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa vẫn còn tiềm ẩn
Trong cơ chế thị trường, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần hiện nay, ngoài phân phối theo lao động còn phân phối theo vốn đóng góp, theo hiệu quả kinh tế… nên dẫn tới thực tế là phân hóa xã hội ngày càng gia tăng, bất công xã hội vẫn đang diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, gây căng thẳng, xung đột xã hội và nhất là xuất hiện nguy cơ đẩy các quan hệ xã hội tới chỗ xa rời bản chất công bằng, dân chủ, nhân đạo, nhân văn tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội. Các bất công ấy cùng với những vấn đề xã hội, tiêu cực xã hội nhức nhối khác tiềm ẩn nguy cơ làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa thể hiện ở một số biểu hiện như sự giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và hiệu lực quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, sự gia tăng của tình trạng vi phạm quyền làm chủ của nhân dân; sự yếu kém của doanh nghiệp nhà nước và kinh tế tập thể; gia tăng sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống, sự băng hoại các giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc;...
Âm mưu thực hiện “diễn biến hòa bình” của thế lực thù địch nhằm chống phá nước ta với những biểu hiện mới, quyết liệt và tinh vi hơn trước

Thông thường, “diễn biến hòa bình” được coi là chiến lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, phản động quốc tế thực hiện phương thức, thủ đoạn mới, phi quân sự để chống phá, đẩy lùi và đi đến xóa bỏ chủ nghĩa xã hội trên thế giới.
Tuy nhiên, bản chất thật sự của “diễn biến hòa bình” hiện nay là hoạt động của các thế lực đế quốc tư bản lớn và cường quyền nhằm vào các nước có chế độ chính trị mà họ coi là không phù hợp với lợi ích của họ, bằng tổng hợp các biện pháp chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao, an ninh… để chuyển hóa chế độ chính trị của các nước này theo quỹ đạo có lợi cho họ(4). Hiện nay, “diễn biến hòa bình” đã có những biểu hiện mới cả về chủ thể tiến hành, phương thức, nội dung, mục tiêu… đã phát triển đến đỉnh cao, đến mức có thể coi là một “công nghệ”, đó là “công nghệ lật đổ”, với rất nhiều kịch bản khác nhau. Đặc biệt là sự phát triển của công nghệ số, các trang mạng, ứng dụng xã hội đã được các thế lực thù địch ráo riết tận dụng triệt để trong thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đây là nguy cơ không thể xem thường, thực tế đó đòi hỏi chúng ta cần phải có những biện pháp, cách thức, đối phó và khắc chế cho phù hợp, không để rơi vào tình trạng bị động, bất ngờ.
Nguy cơ từ tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, trong đó có tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí ở bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn chưa được ngăn chặn triệt để

Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XII “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” đã nêu những kết quả đạt được và ưu điểm trong xây dựng đội ngũ cán bộ như sau: Đa số cán bộ có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống giản dị, gương mẫu, có ý thức tổ chức kỷ luật, luôn tu dưỡng, rèn luyện, trình độ, năng lực được nâng lên, phấn đấu, hoàn thành nhiệm vụ được giao. Đa số cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ở các cấp có năng lực, phẩm chất, uy tín. Cán bộ cấp chiến lược có bản lĩnh chính trị, kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội(5).
 Tuy nhiên, thực tế cho thấy còn một số cán bộ có bản lĩnh chính trị chưa thật sự vững vàng, có biểu hiện dao động về lập trường, quan điểm; lười học tập, nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đáng chú ý là gần đây có một số cán bộ, đảng viên đã thực sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đòi “đa nguyên”, “đa đảng”, sám hối, “chia tay ý thức hệ”, từ bỏ chủ nghĩa xã hội… Một số cán bộ uy tín thấp, có biểu hiện sa sút về đạo đức, lối sống, thiếu gương mẫu, thiếu tinh thần trách nhiệm, nói không đi đôi với làm, xa rời nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; thậm chí chưa vì lợi ích quốc gia - dân tộc và nhân dân trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ, đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích tập thể; đặc quyền, đặc lợi, quan liêu, xa dân; có quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp “sân sau”, sa vào “lợi ích nhóm”.
Tham nhũng là vấn nạn nhức nhối hiện nay, xuất hiện với nhiều hình thức mới, như tham nhũng chính sách, tham nhũng đất đai, tham nhũng trong công tác cán bộ… Tham nhũng làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, gây bức xúc dư luận, làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, gây ra những nguy cơ tiềm ẩn, xung đột, làm mất ổn định kinh tế - chính trị - xã hội của đất nước, gây phương hại to lớn tới sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và làm xấu đi hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế. Do vậy, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng tham nhũng đang là một nhiệm vụ quan trọng và cấp bách hiện nay, nhưng cũng là một nhiệm vụ rất khó khăn, gay go, đầy phức tạp.
Chính vì vậy, để khắc chế nguy cơ này, chúng ta cần tiếp tục đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng và chống, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”… Bởi lẽ, như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã chỉ rõ: Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.
Nguy cơ phai nhạt, đánh mất bản sắc văn hóa, xói mòn những giá trị truyền thống của dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế 

Toàn cầu hóa hiện nay có những bước phát triển mới, cùng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã thúc đẩy quá trình hình thành xã hội thông tin, nền kinh tế số; đồng thời cũng đe dọa đến bản sắc văn hóa của các dân tộc trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Một số ít nước lớn đang lợi dụng quá trình toàn cầu hóa để tìm cách truyền bá các giá trị văn hóa, ngôn ngữ, tập quán, lối sống của mình ra khắp thế giới, với sự hỗ trợ đắc lực của các công cụ, phương tiện truyền thông đa nền tảng, thực hiện mưu đồ “bá quyền văn hóa” của mình, làm phai nhạt các giá trị truyền thống dân tộc. Nhiều phản giá trị, phản văn hóa, tư tưởng độc hại dễ dàng xâm nhập, làm biến dạng các giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống. Đây là một nguy cơ đang hiển hiện và ngày một gia tăng đối với Việt Nam, nhất là những tác động tiêu cực của nó tới tầng lớp thanh niên và sẽ gây ra hệ hụy hết sức nguy hiểm, khó lường. Bởi lẽ, giá trị truyền thống cơ bản của dân tộc Việt Nam đóng vai trò quan trọng đối với việc xây dựng và phát triển nhân cách con người Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Bối cảnh mới hiện nay đặt ra yêu cầu phải kết hợp giữa bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, các giá trị truyền thống với việc tiếp thu có chọn lọc những giá trị tinh hoa văn hóa của nhân loại, kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại trong xây dựng nhân cách con người Việt Nam, đáp ứng những đòi hỏi của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Nguy cơ phân liệt, xuyên tạc, hạ thấp ý nghĩa chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân, cùng với những biểu hiện dân tộc cực đoan gia tăng

Có thể thấy, những bước phát triển và thành quả của cách mạng thế giới từ trước đến nay đều không tách rời sự thống nhất giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, thống nhất với việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và quốc tế. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh rằng, bất cứ khi nào mắc phải những lệch lạc và sai lầm trong giải quyết mối quan hệ này thì khi đó phong trào cách mạng của mỗi nước cũng như của thế giới đều vấp phải khó khăn, thậm chí là thất bại với những tổn thất hết sức nặng nề.
Trong bối cảnh toàn cầu hoá ngày nay, hầu hết các chính phủ trên thế giới đều công khai tuyên bố đặt lợi ích dân tộc lên trên hết. Mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc, giữa đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc sẽ lại nổi lên, làm phân hoá các lực lượng chính trị thành nhiều đội ngũ, đặc biệt là làm phân liệt phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, làm giảm sút tinh thần và sức mạnh chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân, gây ảnh hưởng tiêu cực tới phong trào xã hội chủ nghĩa trên thế giới. Cùng với đó, chủ nghĩa dân tộc cực đoan và chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, biệt phái cũng đang có xu hướng ngày càng gia tăng, tác động phức tạp đến đường lối, chính sách đối nội và đối ngoại của nhiều nước, ảnh hưởng xấu, làm tê liệt truyền thống, chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân trên phạm vi thế giới.
Bối cảnh hiện nay đang đặt ra thách thức rất lớn đối với sự bảo đảm vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, giữ vững hòa bình, ổn định để phát triển 

Đây thực sự là một thách thức rất lớn đối với Việt Nam, trong bối cảnh kinh tế - chính trị thế giới phát triển nhanh chóng, khó lường như hiện nay. Nguyên tắc “bất biến” là độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, là mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, còn cách thức bảo đảm những nguyên tắc bất di, bất dịch ấy thì có thể ứng biến tùy thuộc từng giai đoạn phát triển. Thêm vào đó, quá trình hội nhập quốc tế hiện nay là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh, vậy cho nên cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược cần nắm vững phương châm: Hòa nhập nhưng không hòa tan, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc trong môi trường làm việc quốc tế, cảnh giác với những âm mưu thông qua hội nhập để thực hiện “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam.
Những thời cơ và thách thức, cơ hội và nguy cơ này luôn xuất hiện đan xen nhau và việc nhận diện chúng đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc xây dựng những quyết sách, chính sách, chiến lược phù hợp với điều kiện lịch sử - cụ thể của Việt Nam hiện nay, do đó, cần tận dụng được những thời cơ, khắc chế nguy cơ nhằm phát triển đất nước nhanh, bền vững, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong hội nhập và phát triển, hướng tới mục tiêu cao cả là xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
-------------------------------------------------------------------------
(1) Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII  (lưu hành nội bộ), tr. 25
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 19
(3) Xem: GS.TS. Nguyễn Ngọc Long (chủ biên): Chủ nghĩa Mác - Lê-nin với vận mệnh và tương lai của chủ nghĩa xã hội, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 429
(4) Xem: GS.TS.Phùng Hữu Phú, GS.TS. Lê Hữu Nghĩa, GS.TS. Vũ Văn Hiền, PGS.TS. Nguyễn Viết Thông (Đồng chủ biên): Một số vấn đề lý luận - thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam qua 30 năm đổi mới, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr. 732
(5) Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2018, tr. 47

PGS, TS. Nguyễn Chí HiếuTạp chí Cộng sản

CHỦ ĐỘNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ SAU 5 NĂM NHÌN LẠI



Trong 5 năm gần đây, Việt Nam đã hội nhập quốc tế khá toàn diện và đầy đủ trên tất cả các lĩnh vực. Những kết quả quan trọng nổi bật trên các lĩnh vực chính trị, an ninh - quốc phòng, kinh tế, văn hóa - xã hội, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo... đã khẳng định chủ trương, chiến lược đúng đắn của Đảng và vai trò quan trọng của công tác hội nhập quốc tế, trong đó hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, đặc biệt trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực chuyển biến nhanh, phức tạp, khó dự báo.
Những kết quả nổi bật về hội nhập kinh tế quốc tế
Trong 5 năm qua, tình hình thế giới và khu vực biến chuyển nhanh, phức tạp, tác động sâu rộng đến hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, toàn cầu hóa, hợp tác và liên kết kinh tế đa tầng nấc tiếp tục được thúc đẩy, chủ nghĩa đa phương vẫn được các nước coi trọng, sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã phần nào tác động tích cực đối với tăng trưởng của kinh tế thế giới. Tuy nhiên, chính trị cường quyền tiếp tục diễn ra; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gay gắt, xuất hiện nhiều phương thức, mô hình kinh doanh mới; chủ nghĩa dân tộc và dân túy gia tăng; chủ nghĩa bảo hộ, chống toàn cầu hóa và các thách thức an ninh phi truyền thống, như biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, an ninh mạng, an ninh nguồn nước... đặt ra những thách thức mới đối với hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục khẳng định vai trò động lực của tăng trưởng và liên kết kinh tế thế giới, song cũng là khu vực mà các nước lớn tranh giành ảnh hưởng. Các “điểm nóng” khu vực, trong đó có Biển Đông, diễn biến phức tạp. Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) tiếp tục triển khai nhiều biện pháp xây dựng cộng đồng, đồng thời đứng trước những thách thức từ sự bất ổn trong nội bộ của một số thành viên và sự khác biệt trong một số vấn đề. Những diễn biến trên đã tác động mạnh mẽ đến triển khai hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta, tạo ra những thời cơ, thách thức đan xen.
Thực hiện chủ trương của Đảng coi “hội nhập quốc tế là định hướng lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”, giai đoạn 5 năm qua, gắn liền với việc Chính phủ đã triển khai nghiêm túc Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 10-4-2013, của Bộ Chính trị khóa XI, về “Hội nhập quốc tế”, trong đó xác định hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế và Nghị quyết số 06-NQ/TW, ngày 5-11-2016, của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, Về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.
Trong điều kiện, bối cảnh đó, những nỗ lực trong hội nhập kinh tế quốc tế đã góp phần tạo nên sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam được nhiều tổ chức quốc tế đánh giá là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trong khu vực cũng như trên thế giới và có triển vọng tốt nhờ kinh tế vĩ mô tiếp tục được duy trì ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm, lạm phát được kiểm soát, tạo môi trường, động lực thúc đẩy kinh tế phát triển. 
Tăng trưởng GDP năm 2018 đạt 7,08%, mức cao nhất kể từ năm 2008 trở lại đây, bình quân 3 năm (2016 - 2018) tăng 6,7%, cao hơn tốc độ tăng bình quân 5,91%/năm của giai đoạn 2011 - 2015. Quy mô kinh tế Việt Nam năm 2019 là 5,5 triệu tỷ đồng, tương đương 240,5 tỷ USD, gấp trên 1,3 lần so với năm 2015, hiện đứng thứ 44 trên thế giới theo GDP danh nghĩa và thứ 34 theo sức mua tương đương. GDP bình quân đầu người tăng từ 2.109 USD (năm 2015) lên 2.587 USD (năm 2018), khoảng 7.650 USD theo sức mua tương đương. Năng lực cạnh tranh quốc gia tăng 5 bậc so với năm 2016 (từ vị trí 60/138, lên vị trí 55/137 nền kinh tế); môi trường kinh doanh tăng 14 bậc (từ vị trí 82 lên vị trí 69/190 nền kinh tế). 
Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và phát triển (UNCTAD) đánh giá Việt Nam nằm trong 12 quốc gia thành công nhất về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Hiện nay, có gần 26.000 doanh nghiệp FDI đang hoạt động ở Việt Nam, với số vốn cam kết đầu tư trên 330 tỷ USD đến từ gần 130 quốc gia và đối tác. Việt Nam từng bước trở thành một trong những công xưởng của thế giới về cung ứng hàng điện tử, dệt may, da giầy, điện thoại di động. Khách quốc tế đến Việt Nam ước đạt trên 15 triệu lượt, tăng 1,9 lần so với năm 2015, Việt Nam được bình chọn là điểm đến du lịch hàng đầu châu Á. 
Việt Nam hiện có quan hệ thương mại với trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ. Là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Việt Nam đã được 71 đối tác công nhận là nền kinh tế thị trường, nhiều sản phẩm dần có chỗ đứng và khả năng cạnh tranh trên nhiều thị trường có yêu cầu cao về chất lượng, như Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, Mỹ... Ở tất cả các thị trường mà Việt Nam có ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới đều ghi nhận xuất khẩu tăng trưởng vượt trội hằng năm. Năm 2018, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt gần 245 tỷ USD, tăng 13,8%; xuất siêu đạt 7,2 tỷ USD, mức cao nhất từ trước đến nay.
Đặc biệt, chúng ta đã chủ động, linh hoạt thực hiện thành công việc ký kết và thực thi có hiệu quả các FTA với các đối tác thương mại quan trọng (cũng là đối tác chiến lược) của Việt Nam, như Hàn Quốc, Liên minh Kinh tế Á - Âu (mà trọng tâm là Nga), Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)... Trong đó, CPTPP và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) là các FTA thế hệ mới, cấp độ tiêu chuẩn cao hơn, cân bằng lợi ích, toàn diện với những nội dung thương mại phi truyền thống, như di chuyển thể nhân, lao động, công đoàn, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ, doanh nghiệp nhà nước, bảo vệ môi trường...
Ở WTO, Việt Nam đã phê chuẩn và thực thi Hiệp định Tạo thuận lợi thương mại, tích cực bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp Việt Nam trước các vụ kiện chống bán phá giá và chống trợ cấp. Bên cạnh đó, liên kết kinh tế khu vực cũng được thắt chặt hơn khi Việt Nam chủ động tham gia hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN năm 2015 - Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2025, đàm phán Hiệp định Đối tác toàn diện kinh tế khu vực (RCEP) và tăng cường vai trò dẫn dắt chương trình nghị sự thương mại châu Á - Thái Bình Dương qua năm APEC Việt Nam 2017. Việc đàm phán, ký kết và thực thi các FTA, nhất là các FTA thế hệ mới, chủ trì các hội nghị đa phương lớn của Việt Nam trong thời gian qua vừa bảo đảm lợi ích quốc gia, vừa nâng cao đáng kể năng lực và vị thế quốc tế của Việt Nam; từng bước tham gia định hình và dẫn dắt “luật chơi” ở mức độ nhất định.
Hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng hơn góp phần đưa Việt Nam trở thành một “mắt xích” quan trọng trong mạng lưới các liên kết kinh tế với các nền kinh tế hàng đầu thế giới mới (gồm 12 FTA đã ký, 4 FTA đang đàm phán bảo đảm cho kết nối thương mại tư do, ưu đãi cao với 60 nền kinh tế, chiếm 90% kim ngạch thương mại của Việt Nam), đồng thời tạo động lực mới và cả “sức ép” mới để thúc đẩy mạnh mẽ hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế. Môi trường pháp lý, chính sách kinh tế, cơ chế quản lý trong nước được cải cách theo hướng ngày càng phù hợp với các cam kết tiêu chuẩn cao trong các FTA và ngày càng minh bạch hơn, tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh trong nước ngày càng thông thoáng hơn, tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế cao của khu vực và thế giới,... góp phần tăng trưởng kinh tế ổn định và chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nước theo hướng phát triển các ngành hàng để ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của các thị trường đã có FTA với Việt Nam. 
Để kịp thời chỉ đạo và triển khai công tác hội nhập kinh tế quốc tế, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị quan trọng và các bộ, ngành, địa phương đã xây dựng các chương trình, hành động phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và đặc thù của từng bộ, ngành, địa phương, nhất là việc cụ thể hóa các cam kết FTA đến từng khối ngành hàng, doanh nghiệp và được triển khai rộng rãi với nhiều hình thức phong phú, hiệu quả hơn nhằm đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, tăng cường thực thi có hiệu quả các FTA mà Việt Nam đã ký kết, góp phần đưa nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh và bền vững. 
Hội nhập quốc tế nói chung và hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng là sự nghiệp của cả hệ thống chính trị và sự nghiệp của toàn dân, được thực hiện thống nhất từ Trung ương đến địa phương theo tinh thần của Nghị quyết số 22-NQ/TW và Nghị quyết số 06-NQ/TW. Sự thành công của hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn vừa qua đã ghi nhận sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương thông qua cơ chế điều phối liên ngành. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phải nhận thấy những hạn chế của hội nhập kinh tế quốc tế trong 5 năm qua, đó là: 
Thứ nhất, hội nhập kinh tế quốc tế muốn thành công phải trên cơ sở phát huy nội lực của nền kinh tế, nhưng chúng ta chưa làm tốt điều này, trong hội nhập còn thua thiệt, hạn chế, còn xảy ra những vụ kiện tranh chấp. 
Thứ hai, chúng ta vẫn chưa xác lập được một cách thật sự bền vững môi trường kinh doanh và đầu tư thuận lợi cho phát triển kinh tế, quan hệ với một số đối tác thương mại quan trọng của ta còn nhiều trở ngại, nhất là quan hệ của ta với các nước đối tác lớn.
Thứ ba, việc triển khai các cam kết chưa kịp thời, sự phối hợp giữa các cấp, các ngành còn chưa nhịp nhàng và đồng bộ. 
Thứ tư, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về hội nhập kinh tế quốc tế chưa được các cấp, các ngành quán triệt đầy đủ, chậm được cụ thể hóa và thể chế hóa; các đơn vị chưa thực sự chủ động tận dụng các cơ hội, cũng như chưa thấy được thách thức mới nảy sinh để chủ động ứng phó, chưa lường trước các tác động tiêu cực từ bên ngoài để có những biện pháp hạn chế hữu hiệu. 
Thứ năm, hội nhập kinh tế quốc tế gắn với yêu cầu nâng cao hiệu quả, phát triển bền vững chưa được tiến hành đồng bộ với quá trình gia tăng liên kết giữa các vùng, miền trong cả nước. Cơ chế chỉ đạo, điều hành, giám sát và phối hợp quá trình hội nhập kinh tế quốc tế từ Trung ương đến địa phương, giữa các ban, ngành còn nhiều bất cập.
Thứ sáu, hội nhập quốc tế về các lĩnh vực khác chưa thực sự gắn kết và tạo tác động tích cực đối với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; trong nhiều trường hợp còn bị động. 
Một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong thời gian tới
Nhận thức được những hạn chế này và quán triệt quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm trong tiến trình hội nhập quốc tế, góp phần bảo đảm giữ vững an ninh chính trị và ổn định kinh tế - xã hội trong bối cảnh chính trị, kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, nền kinh tế nước ta có độ mở cao dễ bị tác động bởi những diễn biến bất lợi bên ngoài; để giai đoạn tới mà trước mắt đến năm 2021, công tác hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta đạt được hiệu quả thực chất và lợi ích hội nhập cân bằng hơn, cần thực hiện tốt hơn một số nhiệm vụ, giải pháp sau: 
Một là, thống nhất nhận thức, tiếp tục chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện, trong đó hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm, hội nhập trên các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế, trở thành động lực quan trọng góp phần hoàn thiện thể chế, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, tạo lập môi trường kinh doanh và đầu tư thực sự minh bạch, bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài.
Hai là, đổi mới cách thực hiện và nâng cao hiệu quả các cơ chế phối hợp hiện có giữa các ban chỉ đạo liên ngành với nhau và giữa các bộ, ngành, địa phương để phù hợp với những chuyển biến nhanh của tình hình hội nhập kinh tế quốc tế. Vai trò của công tác phối hợp trong nước cần có những bước chuyển quan trọng, làm nền tảng xây dựng các định hướng lớn về hội nhập kinh tế quốc tế tập trung vào phát huy nội lực, nâng cao “quốc lực” của nền kinh tế, tạo nền tảng vững chắc cho hội nhập kinh tế quốc tế thành công hơn nữa. Phát huy mạnh mẽ hiệu lực và hiệu quả của cơ chế liên ngành, nâng cao hiệu quả phối hợp từ Trung ương đến địa phương để hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình triển khai các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế, kịp thời tháo gỡ các vướng mắc của doanh nghiệp về các vấn đề chính sách và thực thi cam kết FTA, giúp doanh nghiệp tham gia hội nhập kinh tế quốc tế và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp ngày càng phát triển, thực sự là lực lượng nòng cốt của nền kinh tế. 
Ba là, cần có sự đồng bộ về chính sách và thống nhất về hành động từ Trung ương đến địa phương, giữa các bộ, ngành, hiệp hội, doanh nghiệp. Tập trung triển khai hiệu quả các chủ trương, chính sách, chương trình hành động về hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó chú trọng việc nâng cao toàn diện năng lực thực thi các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế. Theo đó, gắn việc thực thi đầy đủ các cam kết về hội nhập kinh tế quốc tế với quá trình rà soát, bổ sung và hoàn thiện pháp luật và thể chế trong nước, hài hòa pháp luật của Việt Nam với các cam kết quốc tế; đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế; tăng cường đôn đốc, giám sát và đánh giá tình hình thực thi các cam kết về hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là trong việc ứng phó với sức ép cạnh tranh gay gắt trên cả các cấp độ sản phẩm, doanh nghiệp, ngành hàng và quốc gia; đồng thời giải quyết khéo léo các lĩnh vực được coi là nhạy cảm của nền kinh tế trước áp lực cắt giảm thuế quan, như ô-tô, mía đường, gạo, xăng dầu...
Bốn là, các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội và doanh nghiệp cần chủ động nâng cao hiểu biết và vận dụng hiệu quả các luật lệ, quy định về kinh tế, thương mại cũng như tập quán của các thị trường nước ngoài, nhất là các thị trường đã có FTA với Việt Nam, bảo đảm có thể bảo vệ được lợi ích của sản phẩm, doanh nghiệp, quốc gia trong trường hợp xảy ra tranh chấp thương mại. Đây là bài học quan trọng khi các FTA mới mà Việt Nam đang và sẽ thực thi đòi hỏi phải cải cách sâu sắc hệ thống pháp luật trong nước, không chỉ về kinh tế, thương mại mà cả các vấn đề thương mại phi truyền thống, như quyền của người lao động, tiêu chuẩn lao động, môi trường, doanh nghiệp nhà nước, mua sắm chính phủ... Trong các FTA thế hệ mới, có nội dung nhà đầu tư nước ngoài có thể kiện chính phủ và các cơ quan nhà nước, chính quyền địa phương nước sở tại nếu có các quyết định sai, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ, do đó, việc phân cấp giấy phép đầu tư cho các địa phương cần nâng cao năng lực các cơ quan địa phương, tránh xảy ra kiện. 
Năm là, tập trung phát huy nội lực, nỗ lực vượt qua những khó khăn, thách thức, tận dụng cơ hội của hội nhập kinh tế quốc tế và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư nhằm tranh thủ hiệu quả các nguồn lực từ bên ngoài để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phát triển nền kinh tế. Xử lý thỏa đáng mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế, xây dựng nền kinh tế có khả năng tự chủ cao, ứng phó được với những biến động kinh tế quốc tế. Hội nhập kinh tế quốc tế với các cam kết càng sâu rộng, mức độ tự do hóa càng cao thì độ mở cửa của nền kinh tế càng lớn, những biến động trên các thị trường tài chính, tiền tệ, hàng hóa thế giới cùng những xung đột, tranh chấp thương mại có tác động nhanh hơn và mạnh hơn đến nền kinh tế nước ta. Do đó, đây là bài học lớn không chỉ cho giai đoạn vừa qua mà còn cho cả những năm tiếp theo. 
Sáu là, chủ động nắm vững thời cơ, nghiên cứu cảnh báo sớm và có bước đi chuẩn bị vững vàng trong thực hiện và đón đầu hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt trước những sức ép về trình độ, tri thức, tay nghề, nguy cơ tranh chấp thương mại quốc tế mà các cơ quan, doanh nghiệp, hiệp hội và người lao động trong nước phải đối mặt. Trong 5 năm qua, chúng ta đã có đội ngũ các nhà đàm phán có kỹ năng về chuyên môn và nghiệp vụ được tạo nền tảng và đào tạo từ giai đoạn đàm phán gia nhập WTO. Kinh nghiệm này cho thấy, để có nguồn nhân lực chất lượng cao cho mỗi giai đoạn phát triển tiếp theo, các cơ quan bộ, ngành hay doanh nghiệp cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, đặc biệt trong bối cảnh dịch chuyển các luồng lao động trong khu vực đang diễn ra mạnh mẽ như một xu thế tất yếu của hội nhập kinh tế quốc tế ở mức độ ngày càng sâu rộng. 
Bảy là, không ngừng đổi mới phương pháp để nâng cao hiệu quả và chất lượng các hoạt động thông tin, tuyên truyền, phổ biến, cập nhật tình hình hội nhập kinh tế quốc tế và hướng dẫn cụ thể để doanh nghiệp và người dân có nhận thức đầy đủ hơn, từ đó có thể chủ động ứng phó và vượt qua thách thức, tận dụng tối đa các cơ hội của hội nhập kinh tế quốc tế; tạo sự kiên định và đồng thuận cao trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế của Việt Nam. Các cơ quan truyền thông cần khách quan khi đưa tin, bài, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và hoạt động xuất khẩu./.
Hoàng Xuân HòaTS, Văn phòng Chính phủ

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...