Chủ Nhật, 12 tháng 5, 2019

XUYÊN TẠC LỊCH SỬ CHÍNH LÀ PHÁ HOẠI TƯƠNG LAI



QĐND - Tom Polgar, nhân viên cao cấp tòa đại sứ Mỹ ở Việt Nam, một trong những người Mỹ cuối cùng di tản khỏi Việt Nam, sau này đã viết: “Ai không học được gì ở lịch sử, bắt buộc sẽ phải lặp lại sai lầm trong lịch sử”. Thế mà đáng tiếc, 44 năm trôi qua kể từ ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc được thống nhất, vẫn còn có những ý kiến sai lệch, xuyên tạc lịch sử. Họ chẳng những đi ngược tinh thần khép lại quá khứ, hướng tới tương lai mà còn khoét sâu những vết thương bởi mù quáng và bạo tàn. Hành động của họ xét cho cùng cũng chính là sự phá hoại tương lai…
Xuyên tạc, đánh tráo, xóa nhòa lịch sử
Cứ đến dịp kỷ niệm 30-4 hằng năm, lại xuất hiện những cụm từ cũ rích, cố tình tô vẽ lại những quan điểm sai lầm. Gần đây, trên một trang xưng là của cộng đồng người Việt ở nước ngoài vẫn nhắc lại những từ ngữ như “tháng Tư là tháng "vo gạo bằng nước mắt”, “mùa quốc hận-tháng tư đen”. Nhiều trang mạng viết coi cuộc kháng chiến thực chất chỉ là nội chiến, là chiến tranh ủy nhiệm, chiến tranh ý thức hệ nên không có gì đáng tự hào. Một số ít người tự cho mình là cấp tiến, tùy tiện phán xét quá khứ, cho rằng kỷ niệm ngày chiến thắng không phải là một việc “tử tế”.
Cù Huy Hà Vũ, kẻ sinh ra trong một gia đình cách mạng, từng bị tòa án tuyên án khi bóp méo sự thật về cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, gây chia rẽ, thù hằn dân tộc. Gần đây, khi sang Mỹ, Vũ phát ngôn cho rằng, hòa hợp dân tộc không dừng ở hòa hợp giữa hai bên “thắng cuộc” và "thua cuộc" mà còn là hòa hợp giữa những nhà dân chủ với chính quyền hiện nay. Chỉ khi nào “chế độ cộng sản sụp đổ, người Việt mới có hòa hợp, hòa giải”. Nguyễn Lân Thắng, "kẻ đốt đền" trong một gia đình khoa học thì lại muốn nổi tiếng bằng những lời xảo ngôn: "Mình mong ngày 30-4 sẽ chuyển thành ngày tưởng niệm những mất mát của dân tộc, đừng nói chuyện ai thắng, ai thua". Lý Thái Hùng, kẻ tự xưng là "tổng bí thư" của tổ chức khủng bố Việt Tân gần đây đã hô hào biến ngày 30-4 từ "quốc hận" trở thành “tinh thần quốc kháng” để chống lại chế độ cộng sản.
Tháng 9-2018, tại Washington (Mỹ), cái gọi là “tập hợp vì dân chủ cho Việt Nam” đã tổ chức hội thảo có chủ đề “Nhìn lại chiến tranh Việt Nam” và đưa ra một số luận điểm bịa đặt, biện hộ cho cuộc chiến tranh phi nghĩa. Họ kêu gọi: “43 năm qua, Việt Nam vẫn chưa có tự do, vẫn chưa có dân chủ. Thành ra sứ mệnh của người trẻ tại hải ngoại sẽ phải tiếp tục đồng hành, tiếp tục tranh đấu cho tự do và dân chủ”.
Xung quanh bộ phim tài liệu 10 tập The Vietnam War (Chiến tranh Việt Nam) được Mỹ công chiếu, một số người trong nhóm "Văn đoàn độc lập" đã xét lại lịch sử: “Có nhất thiết phải qua chiến tranh mới giành được độc lập không? Giá chúng ta tìm một con đường khác ít xương máu hơn cho nền độc lập của đất nước thì quý biết nhường nào?”. "Nếu không cần chống Mỹ, miền Nam có giàu như Hàn Quốc không?".
Không thể phủ nhận sự thật và đảo ngược chân lý
Để xem xét lịch sử thì cần phải có cái nhìn toàn diện, khách quan, tôn trọng sự thật. Cho dù cuộc kháng chiến đã lùi xa 44 năm hay lâu dài hơn nữa thì lịch sử dân tộc và thế giới đều ghi nhận và chúng ta phải luôn khẳng định, tự hào về thắng lợi của một cuộc kháng chiến chính nghĩa, trường kỳ, vĩ đại vì nền hòa bình, độc lập, tự do của Tổ quốc. Đúng như Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ IV, đại hội đầu tiên sau ngày đất nước thống nhất đã ghi rõ: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ 20, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc".
Nhà sử học người Pháp, kiêm chuyên gia nghiên cứu về lịch sử Đông Dương Alain Rusco cho rằng, sự kiện 30-4 “gây tiếng vang lớn trên trường quốc tế về một dân tộc không chịu khuất phục trước quân thù… để có được chiến thắng này hàng triệu người dân Việt Nam đã ngã xuống trong nhiều thập kỷ đầy cam go, quyết liệt”.
Gần đây, trả lời báo chí về bộ phim tài liệu The Vietnam War, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng khẳng định: "Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam mang tính chính nghĩa, phát huy được truyền thống sức mạnh đoàn kết của cả dân tộc, được bạn bè và nhân dân thế giới hết sức ủng hộ. Chính vì thế đã đi đến thắng lợi cuối cùng và thống nhất đất nước".
Trong cuốn hồi ký “Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đúc kết một trong những đặc điểm nổi bật về cuộc kháng chiến là: “Cả nước đánh Pháp, đánh Mỹ, không phân biệt tiền tuyến, hậu phương. Ý chí thống nhất Tổ quốc là thế và lực mạnh trong chiến tranh. Nước Việt Nam là một. Dân tộc Việt Nam là một. Chiến trường Việt Nam là một. Cả dân tộc kết thành một khối trong tình đồng bào cùng chung giống nòi Hồng Lạc, không thể cắt chia. Thù nhà nợ nước là chung của cả dân tộc…”. Những kẻ ngày nay xuyên tạc cho rằng bên này, bên kia mới là thắng cuộc, bên này mới là giải phóng bên kia… chẳng những không hiểu cội nguồn lịch sử mà còn xúc phạm xương máu cha ông.
Trên thực tế, chính những người trong cuộc là Mỹ và chính quyền Sài Gòn cũng đều đã thừa nhận tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam; chỉ một bộ phận chống cộng, mang nặng hận thù và những kẻ "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" ngày nay mới tin vào những luận điệu như chiến tranh ý thức hệ, nội chiến hay quan điểm lập lờ “bên nào thắng thì nhân dân đều bại”(!).
Chính Robert McNamara, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ, người được xem là “kiến trúc sư” của cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam đã rút ra 11 “sai lầm một cách tồi tệ”, đáng chú ý nhất là đã lẫn lộn cuộc đấu tranh ý thức hệ với cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc của cả một dân tộc. Ông viết: "Chúng ta (Mỹ) đã đánh giá sai khi đó (và từ đó đến nay) những chủ đích địa chính trị của các đối thủ là mở rộng làn sóng đỏ xuống Đông Nam Á và chúng ta đã phóng đại những mối nguy hại từ hành động của họ đối với nước Mỹ”.
Henry Kissinger, cựu Ngoại trưởng Hoa Kỳ viết: "Hà Nội chỉ chiến đấu với một lẽ duy nhất, đó là lòng yêu nước của họ. Và một nước Việt Nam thống nhất dưới sự lãnh đạo của những người cộng sản Việt Nam, chiến thắng vào năm 1975…”.
Theo các tài liệu mới được giải mật của chính quyền Mỹ, ngày 27-9-1948, trong một văn kiện của Bộ Ngoại giao Mỹ xác định mục tiêu lâu dài của Mỹ là “thủ tiêu ở mức tối đa có thể được ảnh hưởng của cộng sản ở Đông Dương, Mỹ muốn thấy Việt Nam và Đông Dương có một nhà nước dân tộc chủ nghĩa tự trị thân Mỹ”. Ngày 30-12-1949, Tổng thống Mỹ S.Truman phê chuẩn một văn kiện của Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ, trong đó nêu rõ: “Mục tiêu lâu dài của Mỹ là thủ tiêu ở mức độ tối đa có thể được ảnh hưởng của cộng sản ở Việt Nam và Đông Dương... Mỹ muốn thấy ở Việt Nam và Đông Dương có các nhà nước chống cộng, thân Mỹ”. Điều này cũng được Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhắc lại nhân kỷ niệm 35 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước: "Bác Hồ đã sớm nhìn thấy âm mưu đen tối của Mỹ. Từ 1950, Bác đã chỉ ra sự dính líu và can thiệp của Mỹ vào chiến tranh Ðông Dương. Ðể tranh thủ hòa bình, Bác đã 11 lần gửi thư cho Tổng thống Mỹ S.Truman...” nhưng không có phản hồi.
Giáo sư Trần Chung Ngọc, một người Mỹ gốc Việt, một cựu quân nhân trong quân lực Việt Nam cộng hòa từng có nhiều bài viết phân tích sâu sắc về cuộc chiến tranh. Ông viết: “Mỹ không có lý do nào chính đáng để can thiệp vào Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975. Mỹ đã bất kể đến công pháp quốc tế, không dựa trên pháp lý mà dựa trên “luật rừng” và “cường quyền thắng công lý” để can thiệp vào Việt Nam với ý đồ “bành trướng thế lực và ảnh hưởng trên toàn khu vực”…
Quá khứ - dòng máu Lạc Hồng tạo nên nhân cách
Một trong 9 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII chỉ ra là: “Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước”. Mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần hết sức tỉnh táo để phát hiện, ngăn chặn.
Không chỉ cán bộ, đảng viên mà mỗi người dân yêu nước Việt Nam cũng cần phải có tiếng nói đúng với lương tâm và lẽ phải. Quá khứ không chỉ là lịch sử mà còn là hành trang, là sức mạnh tinh thần, là dòng máu Lạc Hồng tạo nên nhân cách của mỗi người dân đất Việt. Nếu quên tổ tiên, quên công lao của thế hệ đi trước, quên những hy sinh cao cả vì độc lập, tự do của dân tộc thì không thể là người Việt Nam chân chính. Phẫn nộ với ý kiến cho rằng "không cần chiến tranh sau này đất nước vẫn giàu mạnh", nhà sử học người Mỹ gốc Việt Nguyễn Mạnh Quang đã viết: “Trừ phi không biết hoặc thuộc loại phản quốc, khi có một nước khác đến ngồi trên đầu làm chủ, không có một người dân tử tế nào bằng lòng chờ cho có ngày bọn thực dân tự động trả lại cơ đồ ông cha mình cả. Nếu theo luận điệu ươn hèn như trên, thì những công lao và sự hy sinh của hàng triệu anh hùng nghĩa sĩ trong các lực lượng nghĩa quân kháng chiến của nhân dân ta trong đại cuộc đánh đuổi giặc Pháp ngoại xâm từ năm 1858 đến 1954 đều là vô ích hay sao! Và hàng triệu anh hùng nghĩa sĩ đã ngã xuống trong cuộc chiến 1954-1975 để đòi lại miền Nam trong tay Mỹ, đem lại thống nhất cho đất nước cũng là vô ích hay sao! Ðưa ra luận điệu này là tỏ ra vô ơn với hàng triệu anh hùng nghĩa sĩ đã ngã xuống cho Tổ quốc Việt Nam được trường tồn”.
Trên thực tế, đã có rất nhiều tiếng nói từ những người ở phía bên kia chiến tuyến sau này thừa nhận sai lầm của họ và ghi nhận chiến thắng vĩ đại của cả dân tộc cũng như chiến công của những người cộng sản. Tướng Nguyễn Hữu Có, phó thủ tướng kiêm tổng trưởng quốc phòng Việt Nam cộng hòa, sau này trả lời phóng vấn Báo Pháp luật TP Hồ Chí Minh, nói: “Chiến thắng 30-4 rất vĩ đại, là chiến thắng của sức mạnh toàn dân tộc Việt Nam... Không còn chiến tranh, không còn bom rơi đạn nổ trên quê hương mình là điều lớn nhất mà việc kết thúc chiến tranh mang lại". Cựu thủ tướng Việt Nam cộng hòa Nguyễn Cao Kỳ nhận xét về việc gọi ngày 30-4 là "quốc hận" và đòi "phục quốc": "Thống nhất xứ sở là nhiệm vụ lịch sử của mỗi một người con Việt Nam nhưng chúng tôi đã không làm được. Những người anh em phía bên kia đã làm được, phải chấp nhận đó là lịch sử và đất nước đã được thống nhất rồi. Vậy mà còn quay ra nói phục quốc? Nước Việt Nam có mất cho Tây... đâu mà phục quốc?".
Bài học cho tương lai
Ngay cả những người Mỹ đương đại cũng luôn nhìn lịch sử với sự tôn trọng để rút ra bài học cho tương lai. Trong bài thuyết trình "Cuộc chiến đã qua đi: Hồi ức và bài học lịch sử" trình bày tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh năm 2018, Giáo sư D.G.Faust, Hiệu trưởng Trường Đại học Harvard nói: “Lịch sử soi rọi những sự mù quáng và tàn bạo đã làm nên chiến tranh. Nó giúp chúng ta hình dung và đấu tranh cho hòa bình”.
Chúng ta cũng có thể tham khảo được nhiều bài học từ nước Nga. Sau khi Liên Xô tan rã, đã xuất hiện nhiều tiếng nói phủ nhận những thành tựu thời Xô viết, xét lại Cách mạng Tháng Mười, coi đó như một cuộc đảo chính man rợ, coi chế độ Xô viết như chủ nghĩa phát xít… Thế nhưng sau đó, chính quyền từ thời Tổng thống Nga Putin đã nhanh chóng bác bỏ những quan điểm sai trái trên, tiếp tục đề cao các giá trị truyền thống tốt đẹp thời Xô viết, coi đó là niềm tự hào chung để cố kết dân tộc Nga, tăng thêm sức mạnh. Phê phán những quan điểm sai trái, một bài báo từ hãng thông tấn Sputnik của Nga khẳng định: Không có chính quyền dân chủ nào được lập nên trên đầu mũi súng và không có nền dân chủ nào lại xúi giục những người anh em trong cùng một đất nước bắn giết lẫn nhau, dối trá và phỉ báng lịch sử của mình.
Sự dối trá, hèn hạ phỉ báng lịch sử, khơi gợi hận thù để lặp lại sai lầm, kích động mâu thuẫn… không chỉ là hành động vô luân, vô ơn với tiền nhân, với người hy sinh vì hòa bình, độc lập, thống nhất mà còn là sự phá hoại tương lai của dân tộc. Chúng ta phải kiên quyết lên án, xóa bỏ những tư tưởng ấy để “mở nền thái bình muôn thuở", "dập tắt chiến tranh muôn đời”.    
NHẤT MINH
https://www.qdnd.vn/chong-dien-bien-hoa-binh/xuyen-tac-lich-su-chinh-la-pha-hoai-tuong-lai-572280

DIỆN VÀ ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG BIỂU HIỆN CỦA “TƯ DUY NHIỆM KỲ” Ở NƯỚC TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY



Nhiệm kỳ của cán bộ, lãnh đạo các cấp ở nước ta hiện nay thông thường là 5 năm. Khoảng thời gian đó tuy không quá dài, nhưng cũng đủ để Nhà nước, xã hội và nhân dân đánh giá được tư chất, năng lực của cán bộ, lãnh đạo một cách cụ thể, khách quan. Dù sớm hay muộn, hành vi đi ngược lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp cả tổ chức, cá nhân cũng sẽ bị vạch trần.
Đấu tranh với “tư duy nhiệm kỳ” là vấn đề mang tính chiến lược, cấp bách nhưng không phải dễ dàng. Để thực hiện mục tiêu xóa bỏ “tư duy nhiệm kỳ”, thời gian tới, các ngành, các cấp cần quan tâm thực hiện tốt một số vấn đề sau:
Một là, nhận thức đúng bản chất, tính nguy hiểm, dấu hiệu nhận diện, hậu quả… của “tư duy nhiệm kỳ”; quán triệt đầy đủ những quan điểm chỉ đạo trong đấu tranh với “tư duy nhiệm kỳ”; tuyên truyền, phổ biến cho mọi tầng lớp nhân dân, mọi cán bộ, đảng viên hiểu rõ và thấy rõ ý thức trách nhiệm của bản thân trong công tác đấu tranh đẩy lùi thực trạng trên; tiếp tục phát huy vai trò của cấp ủy, chính quyền các cấp trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, rà soát, kiểm tra, chấn chỉnh công tác cán bộ, nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng; hoàn thiện các cơ sở pháp lý để phòng ngừa, đấu tranh với cán bộ, lãnh đạo có “tư duy nhiệm kỳ”, trước hết tập trung hoàn thiện các Nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là Bộ luật Hình sự, Luật Quy hoạch, Luật Cán bộ, công chức…
Hai là, kịp thời khắc phục những sơ hở, thiếu sót mà các cá nhân trên lợi dụng trong thời gian qua để quy hoạch, bổ nhiệm, đề bạt, luân chuyển… người sai quy định nhằm trục lợi cá nhân, kéo bè kết phái; kiên quyết xóa bỏ cơ chế “xin - cho” trong công tác quản lý hành chính; thu hồi các quyết định bổ nhiệm hoặc triển khai các dự án trái pháp luật, kiên quyết xử lý nghiêm minh những trường hợp vi phạm, cán bộ, lãnh đạo có “tư duy nhiệm kỳ”; chỉ đạo thực hiện tốt việc thanh tra, kiểm tra, giám sát, kê khai tài sản theo quy định; đảm bảo tính dân chủ, minh bạch trong khâu tuyển sinh, tuyển công chức, trong công tác đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm… cán bộ; hoàn thiện cơ chế để bảo vệ sự an toàn và khuyến khích cán bộ, đảng viên tố cáo, vạch trần sai phạm, biểu hiện có liên quan đến “tư duy nhiệm kỳ” tại đơn vị mình công tác. 
Công tác đấu tranh với “tư duy nhiệm kỳ” cần đặt dưới sự chỉ đạo thống nhất, trực tiếp, toàn diện của cấp ủy đảng, chính quyền các cấp, huy động sự ủng hộ và tham gia của mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân.
Ba là, tiếp tục hoàn thiện và thực hiện tốt các chủ trương, quy định, biện pháp cụ thể về công tác chính trị, tư tưởng, đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) về “tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ”; Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với việc thực hiện Quy định số 47-QĐ/TW, ngày 1-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương về “những điều đảng viên không được làm” và Quy định số 101 - QĐ/TW, ngày 7-6-2012 của Ban Bí thư về “trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp” để nâng cao nhận thức, khả năng “đề kháng” chống “tư duy nhiệm kỳ”, kiên quyết đấu tranh, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, “lợi ích nhóm”, “bệnh thành tích”, tư tưởng chủ quan, duy ý chí và cục bộ địa phương; xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp trong sạch, vững mạnh; xây dựng môi trường làm việc lành mạnh, dân chủ, đoàn kết trong từng cơ quan, đơn vị.
Bốn là, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, đoàn thể, ban, ngành, đơn vị chuyên môn phải thật sự tiên phong, gương mẫu trong công việc cũng như trong cuộc sống; phải đặt lợi ích xã hội lên trên lợi ích cá nhân; có tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và trọng dụng nhân tài. Trên cơ sở đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước, cán bộ lãnh đạo cần vận dụng một cách sáng tạo, khoa học, đổi mới phương pháp làm việc, đồng thời phát huy dân chủ và khối đoàn kết tại đơn vị do mình phụ trách.
Nhiệm kỳ của cán bộ, lãnh đạo các cấp ở nước ta hiện nay thông thường là 5 năm. Khoảng thời gian đó tuy không quá dài, nhưng cũng đủ để Nhà nước, xã hội và nhân dân đánh giá được tư chất, năng lực của cán bộ, lãnh đạo một cách cụ thể, khách quan. Dù sớm hay muộn, hành vi đi ngược lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp cả tổ chức, cá nhân cũng sẽ bị vạch trần (thực tiễn đã chứng minh).
Tôi nghĩ rằng, đấu tranh với cán bộ có “tư duy nhiệm kỳ” không dễ dàng, bởi nó luôn được che đậy khéo léo dưới những vỏ bọc, hình thức hợp pháp, “đúng quy trình”, đồng thời cũng là vấn đề nhạy cảm, liên quan trực tiếp đến công tác tổ chức cán bộ, thậm chí “đụng chạm” đến vấn đề nội bộ. Tuy nhiên, nếu cứ ngại việc “đụng chạm”, công tác đấu tranh với “tư duy nhiệm kỳ” sẽ không bao giờ có hồi kết, cuối cùng đó cũng chỉ là một cuộc đấu tranh mang tính hình thức, thậm chí trở thành cuộc đấu tranh mang chính đặc trưng của “tư duy nhiệm kỳ”.
Bài viết của Nguyễn Cao Thành, đăng trên Báo Công an nhân dân điện tử, ngày 14/02/2019

NHẬN DIỆN ĐỂ KHÔNG CHỆCH HƯỚNG, KHÔNG ĐỔI MÀU TRONG TÌNH HÌNH MỚI



Đổi mới phải định hướng đúng, không chệch hướng, không đổi màu, hòa nhập mà không hòa tan là nguyên tắc cao nhất bất di bất dịch đã được Đảng, Nhà nước ta nêu ra và kiên trì thực hiện từ đầu những năm đổi mới.
Thực hiện đúng theo nguyên tắc đó công cuộc đổi mới ở Việt Nam do Đảng Cộng sản lãnh đạo hơn 30 năm qua đã vượt qua nhiều khó khăn thách thức liên tiếp giành được thắng lợi to lớn như ngày nay. Chúng ta nhận thức không chệch hướng tức là phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, bảo vệ và phát huy thành quả cách mạng, bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, giữ vững sự ổn định về chính trị và an sinh xã hội. Không đổi màu là giữ vững hệ tư tưởng chính trị, giữ vững phẩm chất đạo đức cách mạng, loại trừ chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, chống “diễn biến” và “tự diễn biến”, “tự suy thoái”.
Thực tiễn cách mạng nước ta chỉ ra: Căn cứ vào tình hình mỗi giai đoạn mà Đảng nhấn mạnh từng vấn đề cho phù hợp. Chẳng hạn như thời kì đầu những năm đổi mới chúng ta rất chú ý đến vấn đề hòa nhập nhưng không hòa tan. Đây là vấn đề rất quan trọng. Bởi, từ bị bao vây cấm vận nay được tự do mở rộng cánh cửa hợp tác, hội nhập với quốc tế thì có thể rất dễ bị “choáng ngợp”, rất dễ bị hòa tan.
Hòa tan đồng nghĩa với chệch hướng và cũng đồng nghĩa với đổi màu. Đến nay khi mà công cuộc đổi mới đã giành được thắng lợi bước đầu, âm mưu thâm hiểm của thế lực thù địch là tấn công làm suy yếu ta từ bên trong, từ nội bộ thì chúng ta lại  chú ý nhấn mạnh  đến vấn đề chống “diễn biến” và “tự diễn biến”, “tự suy thoái”. Vì lúc này những vấn đề đó liên quan đến vận mệnh của Đảng, Nhà nước ta.
Vừa qua trong hội nghị của tiểu ban văn kiện Đại hội Đảng khóa XIII (7-1-2019), vấn đề về nguyên tắc đổi mới lại được khẳng định.
Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: Tư tưởng chỉ đạo là kết hợp nhuần nhuyễn giữa kiên định và đổi mới, đổi mới phải kiên định mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, phải kết hợp nhuần nhuyễn giữa kế thừa và phát triển, giữa lí luận và thực tiễn. Đây là quan điểm nhất quán và xuyên suốt.
Trong bối cảnh khoa học công nghệ thế giới phát triển, xu hướng toàn cầu hóa ngày càng cao, chủ nghĩa dân túy cùng với những vấn đề về dân chủ, nhân quyền đang bị lợi dụng một cách cố ý thì nhận diện giữa định hướng đúng và chệch hướng, giữa giữ màu và đổi màu nhiều khi rất khó, không đơn giản.
Bởi cái lằn ranh giới giữa các mặt đối lập giữa cái đúng và cái sai không dễ phân biệt, không dễ nhận ra. Yêu cầu đặt ra là phải nâng cao nhận thức tư tưởng, nhãn quan chính trị đúng đắn, nâng cao trình độ kiến thức để có tư duy đúng, có chọn lọc một cách khoa học, thận trọng…
Đồng thời cần đấu tranh với những biểu hiện: Mơ hồ, ảo tưởng, coi nhẹ các âm mưu thù địch  trong  cuộc đấu tranh bảo vệ thành quả cách mạng hiện nay, coi nhẹ nền tảng chính trị xã hội, thậm chí cho rằng chủ nghĩa xã hội đã lỗi thời, từ bỏ chủ nghĩa xã hội cũng là sự “đổi mới” hợp “xu thế”.
Nước Việt Nam với dấu ấn mang trên mình là những cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc kéo dài và khốc liệt thì chúng ta không xem nhẹ, càng không được mơ hồ, ảo tưởng. 
Cần làm cho đảng viên và quần chúng thấy rằng, những căng thẳng có thể dẫn tới những điểm nóng đang diễn ra ở không ít nơi trên thế giới hiện nay càng là bài học cho những ai mơ hồ, ảo tưởng; cần chống những tư tưởng đề cao lợi ích kinh tế xem nhẹ lợi ích các quan hệ xã hội, dẫn tới khác biệt giàu nghèo, tạo ra một tầng lớp bóc lột và bị bóc lột mới.
Phải rất chú ý phát hiện, loại trừ những biểu hiện chệch hướng, đổi màu từ từ, ngấm ngầm một cách tinh vi dưới nhiều hình thức, nhiều triệu chứng như biến chất về tư tưởng, thoái hóa về phẩm chất, lối sống…  đó chính là sự “tự diễn biến” “tự chuyển hóa” đang tồn tại hiện nay.
Tuy nhiên cần nói thêm rằng chúng ta cũng tránh tư tưởng cực đoan, máy móc, quan trọng hóa những cái được gọi là nguy cơ, từ đó bỏ lỡ thời cơ, không tận dụng được thuận lợi, gây ảnh hưởng đến tiến trình phát triển của đổi mới. Đó cũng chính là mặt thứ hai của chệch hướng mà chúng ta phải đề phòng. 
Cốt lõi đảm bảo cho sự định hướng đúng, không bị đổi màu là đội ngũ cán bộ có đủ năng lực và phẩm chất mà quan trọng quyết định là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược. Bởi đây là vấn đề nhìn xa trông rộng mà phải sâu sắc thấu đáo, là đầu tàu cho sự chuyển bánh của toàn hệ thống chính trị. Sự định hướng đúng, không bị đổi màu được thể hiện từ khâu vạch ra cương lĩnh, đường lối đến khâu tổ chức thực hiện.
Phải có  phương châm hành động cụ thể, phải có nghệ thuật kết hợp hài hòa giữa nguyên tắc và linh hoạt theo lời Bác Hồ dạy “dĩ bất biến, ứng vạn biến”.
Những thành quả to lớn của hơn ba mươi năm đổi mới đã tạo nên sức sống mới trên đất nước ta. Nhân dân tin tưởng, thế giới thừa nhận Việt Nam là điểm đến của đổi mới. Với sự lãnh đạo dày dạn kinh nghiệm của Đảng, chúng ta tin tưởng trong bối cảnh mới con tàu Việt Nam xã hội chủ nghĩa sẽ tiếp tục tăng tốc đúng hướng, công cuộc đổi mới hội nhập của đất nước ta sẽ đạt được những thành tựu ngày càng to lớn và vững chắc hơn.
Bài viết của tác giả Phạm Văn Thạch, đăng trên Báo Công an nhân dân điện tử, ngày 16/01/2019



ÂM MƯU NHAM HIỂM CỦA NICKNAME “MIỀN NAM”



Khánh Anh
Ngày 29 tháng 04 năm 2019, trên trang mạng danlambaovn.blogspot Miền Nam viết bài: Nói về hai chữ “An Yên” trong ngôn ngữ cộng sản. Nội dung bài viết, Miền Nam lộ rõ âm mưu nham hiểm của mình.
Một là, phủ nhận nền văn hóa Việt Nam.
Theo Miền Nam, dưới thời cộng sản nền văn hóa Việt Nam đã băng hoại, xuống cấp trầm trọng. Đây là lời xuyên tạc bỉ ổi, nhằm phủ nhận nền văn hóa Việt Nam, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Miền Nam cố tình không hiểu rằng, mỗi người dân Việt Nam, miền ngược cũng như miền xuôi, ở trong nước hay định cư, làm ăn sinh sống ở nước ngoài đều hiểu rõ rằng, từ khi ra đời cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam làm nên bao kỳ tích oanh liệt, trong đó có phát triển văn hóa. Đặc biệt, qua hơn 30 năm đổi mới, văn hóa phát triển đa dạng, phong phú, xuất hiện nhiều loại hình, loại thể, các hoạt động văn hóa mới, có khả năng chiếm lĩnh các mặt khác nhau của đời sống xã hội. Nhân lực, vật lực, tài lực cho sự phát triển dòng mạch chính của văn hóa, mà nội dung chủ yếu là yêu nước, thủy chung với lý tưởng xã hội chủ nghĩa được phát huy cao độ, góp phần có hiệu quả vào công cuộc đổi mới đất nước. Văn hóa đã góp phần quan trọng tạo không khí dân chủ, cởi mở hơn, dân trí được nâng cao, tính năng động sáng tạo, tự chủ và tính tích cực xã hội của con người được phát huy, hình thành các nhân tố mới, giá trị mới của con người Việt Nam. Nhiều phong trào, cuộc vận động về văn hóa đạt kết quả tích cực, góp phần tạo môi trường văn hóa, bảo vệ và phát huy những giá trị nhân văn truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Các hoạt động văn hóa, văn nghệ diễn ra sôi động, đáp ứng nhu cầu đa dạng của công chúng. Sản phẩm văn hóa tăng về số lượng và chất lượng, đang góp phần hình thành thị trường sản phẩm văn hóa, văn học, nghệ thuật, khoa học, công nghệ. Văn học, nghệ thuật đã tạo ra nhiều tác phẩm chiếm lĩnh, phản ánh mọi lĩnh vực đời sống, đang nỗ lực đổi mới tư duy sáng tạo, tìm tòi phương thức mới để nâng cao năng lực khám phá cuộc sống. Hệ thống thông tin đại chúng có bước phát triển mạnh về loại hình, chất lượng, tính hiện đại, trực tiếp, nhanh nhạy chuyển tải, truyền bá văn hóa đến với công chúng. Công tác bảo tồn, phát huy di sản văn hóa các dân tộc đạt kết quả quan trọng, bước đầu gắn kết với kinh tế du lịch, và đang trở thành tài nguyên độc đáo của du lịch Việt Nam. Giao lưu, hội nhập quốc tế về văn hóa được mở rộng, từng bước đi vào chiều sâu, chú trọng tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm giàu văn hóa dân tộc trong quá trình hội nhập quốc tế tạo ra.
Hai là, phủ nhận nền giáo dục nước nhà.
Miền Nam cho rằng, ngành giáo dục là minh chứng cho sự băng hoại, xuống cấp trầm trọng của nền văn hóa. Y cố tình không biết rằng: Hệ thống giáo dục nước nhà đang được mở rộng, thống nhất và đa dạng hoá với việc hình thành đầy đủ các cấp học và trình độ đào tạo từ mầm non đến sau đại học. Từ một hệ thống giáo dục chỉ có các trường công lập và chủ yếu là loại hình chính quy, đến nay đã có các trường ngoài công lập với nhiều loại hình không chính quy, có các trường tư thục, dân lập, có phương thức đào tạo từ xa, phương thức liên kết đào tạo với nước ngoài.
Chất lượng giáo dục có chuyển biến rõ rệt. Trình độ hiểu biết, năng lực tiếp cận tri thức mới của một bộ phận học sinh, sinh viên được nâng cao. Giáo dục trung học phổ thông chuyên đạt trình độ cao của khu vực và thế giới. Số học sinh phổ thông đạt giải quốc gia và quốc tế ở một số môn học ngày càng tăng. Số đông sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng có hoài bão lập thân, lập nghiệp và có tinh thần tự lập, năng động. Chất lượng đào tạo của một số ngành khoa học cơ bản và khoa học công nghệ đã được nâng cao một bước. Giáo dục đại học đã từng bước vươn lên, đào tạo được một đội ngũ đông đảo cán bộ khoa học kỹ thuật từ cử nhân, thạc sỹ cho đến tiến sĩ, đã và đang công tác và có những cống hiến quan trọng trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế, xã hội.
Công bằng xã hội trong giáo dục được quan tâm đúng mức. Các trường đại học, cao đẳng và các địa phương đã có nhiều biện pháp giúp đỡ, tạo điều kiện học tập cho con em gia đình thuộc diện chính sách, con em đồng bào dân tộc và học sinh nghèo vượt khó. Cả nước đã hoàn thành công tác xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học và đang thực hiện phổ cập trung học cơ sở. Về cơ bản, nước ta đã đạt được sự bình đẳng nam nữ trong giáo dục.
Công tác xã hội hoá giáo dục được phát triển rộng khắp. Ở hầu hết các địa phương đều đã có phong trào xây dựng quỹ khuyến học, đóng góp công sức tiền của để phát triển giáo dục. Các nguồn lực thông qua con đường xã hội hóa, cùng với nguồn lực của Nhà nước, tạo nên sức mạnh tổng hợp thúc đẩy sự nghiệp giáo dục – đào tạo, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và nhu cầu học tập của các tầng lớp nhân dân.
Như vậy, đằng sau luận ngữ “An Yên”, Miền Nam không thể nói bừa rằng, dưới thời cộng sản, văn hóa Việt Nam đã băng hoại, xuống cấp trầm trọng và nền giáo dục Việt Nam là minh chứng cho sự băng hoại, xuống cấp đó. Sự cố tình xuyên tạc của Miền Nam nhằm phủ nhận nền văn hóa và nền giáo dục của Việt Nam. Chúng ta phải hết sức cảnh giác với những luận điệu này, đồng thời kiên quyết đấu tranh vạch trần và bác bỏ./.

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...