Thứ Năm, 2 tháng 5, 2019

VẪN LÀ TƯ DUY CŨ, THIẾU KHÁCH QUAN VỀ TÌNH HÌNH NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM



Theo thông lệ hằng năm, ngày 13-3-2019, tại Washington, D.C, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã công bố “Phúc trình về tình hình nhân quyền trên thế giới năm 2018”. Ngày 14-3, tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao, trả lời câu hỏi của phóng viên về vấn đề này, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam - Bà Lê Thị Thu Hằng nói: “Tuy đã ghi nhận những thành tựu bảo vệ quyền con người của Việt Nam, nhưng Báo cáo nhân quyền thường niên năm 2018 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vẫn chứa đựng những nhận định thiếu khách quan, dựa trên những thông tin không chính xác, không phản ánh đúng tình hình thực tế ở Việt Nam”.
Đúng như người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Việt Nam, Phúc trình về tình hình nhân quyền năm 2018 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã đưa ra nhiều nhận định, đánh giá không chính xác tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Hơn nữa, báo cáo này đã lấy thông tin từ những phần tử vi phạm pháp luật làm chứng cứ. Chẳng hạn, Phúc trình viết: “Chính phủ Việt Nam tiếp tục duy trì chế độ “công an trị” để điều hành quốc gia… nhân quyền ở nước này bị vi phạm… như tra tấn người dân; bắt bớ dân chúng tùy tiện, bắt giữ và kết án một cách vô pháp những cá nhân lên tiếng đòi hỏi các quyền tự do hội họp, tự do ngôn luận và tự do thông tin; tự do tôn giáo… cấm đoán người dân hoạt động cho phong trào tự do dân chủ hay tham gia các tổ chức chính trị…”. Thiết nghĩ, Báo cáo nhân quyền năm 2018 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ nói chung, về Việt Nam nói riêng vẫn mang dấu ấn của tư duy chính trị lạc hậu từ thời kỳ “Chiến tranh lạnh”: kỳ thị đối với chế độ xã hội, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; làm tổn thương đến quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ - hiện là đối tác toàn diện của nhau.
Phúc trình về tình hình nhân quyền thế giới ra đời dưới thời Tổng thống J. Carter (1977 - 1981). Thời kỳ “Chiến tranh lạnh”, Hoa Kỳ và các quốc gia phương Tây đã không thể chiến thắng các nước xã hội chủ nghĩa bằng sức mạnh vũ lực. Điều này khiến cho J. Carter phải thay đổi chiến lược của mình: muốn chiến thắng các nước xã hội chủ nghĩa, Hoa Kỳ cần dùng một chiến lược khác - chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Mục tiêu của chiến lược này là sử dụng vũ khí “mềm - phi vũ trang” để làm sụp đổ chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa. Với chiến lược đó, trong nhiệm kỳ của mình, J. Carter đã quyết định thành lập “Cục nhân quyền trực thuộc Bộ Ngoại giao”, có nhiệm vụ hằng năm ra 3 báo cáo, gồm: “Báo cáo về tình hình quyền con người các nước”; “Báo cáo tự do tôn giáo thế giới” và “Báo cáo về nạn buôn người”. Có thể nói, đây là lần đầu tiên Hoa Kỳ xác định chiến lược mới, dùng vấn đề dân chủ và quyền con người để chống phá các quốc gia xã hội chủ nghĩa và những quốc gia không đi theo quỹ đạo của họ.
Còn nhớ, vào thời kỳ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu “cải tổ” (1985 - 1991), lợi dụng “tư duy chính trị mới” - “cải tổ để có nhiều dân chủ hơn, có nhiều chủ nghĩa xã hội hơn”, Hoa Kỳ và các nước phương Tây đã dùng vũ khí dân chủ, quyền con người với quan điểm “dân chủ - công khai”, “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” để “thẩm thấu” các giá trị của Hoa Kỳ, phương Tây vào “chế độ cộng sản”; ủng hộ các lực lượng chính trị đối lập với Đảng Cộng sản Liên Xô, v.v. Rút cuộc, Nhà nước Liên bang Xô viết tan rã, các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ. Cho đến nay, không ít đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô, người dân Xô viết đã hối tiếc về sự sụp đổ một chế độ lẽ ra vẫn có thể đổi mới, phát triển; hối tiếc về một nhà nước siêu cường với những giá trị cao đẹp không còn nữa.
Trở lại Phúc trình quyền con người năm 2018 của Hoa Kỳ, ngay sau khi nó được công bố, nhiều quốc gia trên thế giới đã bày tỏ sự bất bình, cho rằng “Hoa Kỳ không có tư cách để phê phán tình hình nhân quyền của các nước, Hoa Kỳ hãy “sờ lên gáy” (về tình hình nhân quyền - an ninh) của mình, trước khi đánh giá về quyền con người nước khác”. Nhiều chính khách, nhà khoa học cho rằng, Hoa Kỳ đã dùng vấn đề quyền con người để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước.
Có thể nói, quyền con người không có gì xa lạ trên đất nước Việt Nam. Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đến nay, quyền con người luôn là mục tiêu nhất quán, xuyên suốt. Các Cương lĩnh của Đảng, từ Chánh cương vắn tắt (năm 1930) cho đến Cương lĩnh được thông qua tại Đại hội XI (năm 2011) đều xem quyền con người là một mục tiêu phấn đấu của Đảng. Hiến pháp nước ta, từ Hiến pháp đầu tiên - năm 1946, đến Hiến pháp năm 2013, quyền con người và quyền công dân đều được tôn trọng và bảo đảm. Hiến pháp năm 2013 dành cả một chương quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân. Theo đó, tất cả quyền con người, từ quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa đều được hiến định minh bạch và tương thích với Công ước quốc tế về quyền con người. Ngày 25-01-2019, Nhóm làm việc về Rà soát định kỳ phổ quát chu kỳ III, cơ quan Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc đã đồng thuận thông qua Báo cáo về kết quả rà soát của Việt Nam về tình hình nhân quyền.
Ở nước ta, quyền con người đã được luật hóa trong Hiến pháp năm 2013 và nhiều đạo luật. Trên lĩnh vực thông tin truyền thông, Quốc hội nước ta đã sửa chữa, ban hành nhiều bộ luật, như: Luật Báo chí sửa đổi (2016); Luật Tiếp cận thông tin (2013); Luật An ninh mạng (2018); Nghị định của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng (2018), v.v. Những quy định của các văn kiện pháp luật này, một mặt, bảo đảm quyền cho người sử dụng thông tin, mạng xã hội và trách nhiệm của các cơ quan chức năng liên quan; mặt khác, nhằm ngăn chặn những kẻ xấu lợi dụng môi trường thông tin trên mạng để xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích của người khác. Không có chuyện Luật An ninh mạng kiếm cớ “bôi nhọ người khác” để bóp nghẹt quyền con người, “quyền tự do biểu đạt”; chế tài của luật này chỉ áp dụng đối với những hành vi phạm tội (thông qua lợi dụng internet, mạng xã hội - Điều 8); đồng thời, cho phép cơ quan chức năng điều tra, làm rõ chủ thể nguồn thông tin xấu độc khi cần thiết mà thôi. Tuy nhiên, đối với những kẻ đã và đang có những âm mưu, kế hoạch lợi dụng internet, mạng xã hội để chống lại Đảng, Nhà nước ta hoặc làm tổn thương đến quyền và lợi ích của công dân thì Luật An ninh mạng là một chế tài nghiêm khắc.
Về việc bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam cho thấy, internet, mạng điện tử nói chung, mạng xã hội nói riêng đã phát triển rất nhanh chóng, bất cứ ai nếu có kiến thức và kỹ năng nhất định đều có thể trở thành “cư dân” thế giới ảo - hệ sinh thái số. Ở đó, người ta có thể dễ dàng tìm kiếm thông tin mình cần (cả bằng tiếng Anh và tiếng Việt) trên các ứng dụng. Được biết hiện nay, ở nước ta, gần 70% dân số sử dụng internet trung bình 7 tiếng truy cập mỗi ngày/người với giá dịch vụ rẻ nhất thế giới. Không ít không gian cộng cộng ở Việt Nam khi có sự kiện chính trị, lịch sử lớn còn được cung cấp Wifi miễn phí. Theo thống kê chưa đầy đủ, cho đến năm 2018, đã có 58 triệu người dùng mạng Facebook, tăng 5% trong quý đầu năm 2018 và 16% so với cùng kỳ năm 2017. Cho đến nay, Việt Nam xếp ở vị trí thứ 7 trên thế giới, thành phố Hồ Chí Minh cũng nằm trong tốp 6 thành phố có người dùng Facebook đông nhất. Các thế lực thù địch với chế độ ta cũng lợi dụng điều này để đưa thông tin can thiệp, chống phá Đảng, chế độ, Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Hằng năm, Hoa Kỳ công bố hai bản phúc trình thường niên về tình hình nhân quyền và tình hình tôn giáo trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Văn bản được đăng tải trên trang web của Bộ Ngoại giao và sứ quán Hoa Kỳ, sau đó được các cơ quan báo chí, hãng thông tấn phương Tây, như: BBC, RFA, VOA, RFI tiếp tục phát tán. Bản Phúc trình về tình hình nhân quyền thế giới năm 2018 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vừa qua cũng không nằm ngoài quy luật đó.
Về quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, Luật Tôn giáo năm 2016 đã có những quy định cởi mở hơn. Chẳng hạn, Luật quy định quyền này không chỉ đối với người có quốc tịch Việt Nam mà cả người nước ngoài sinh sống tại Việt Nam. Quyền này còn quy định cho phép người đang thi hành án phạt tù, ở các trại tạm giam, tạm giữ được sử dụng kinh thánh. Hiện nay, hằng năm, Việt Nam có khoảng 8.500 lễ hội tôn giáo được tổ chức. Được biết, Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc Vesak 2019 sẽ diễn ra từ ngày 12 đến 14-5-2019 tại Trung tâm Văn hóa Phật giáo Tam Chúc (Ba Sao, Kim Bảng, Hà Nam). Ngoài 10.000 phật tử và người dân Việt Nam, Đại lễ dự kiến sẽ đón hơn 1.500 chức sắc và lãnh đạo các giáo hội, nhà nghiên cứu, học giả,... đến từ gần 100 quốc gia, vùng lãnh thổ. Đây là lần thứ 3 Đại lễ Vesak tổ chức tại Việt Nam, sau hai lần đăng cai vào năm 2008 và 2014.
Về việc bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, theo báo cáo của Chính phủ, năm 2018, tổng thu nhập quốc nội (GDP) bình quân đầu người/năm tiếp tục tăng; tỷ lệ hộ nghèo còn 5,35% (giảm 1,35% so với năm 2017); 87,7% người dân được bảo hiểm y tế (tăng 2,31% so với năm 2017); năm học 2018 - 2019, cả nước có hơn 23,5 triệu học sinh, sinh viên, tăng hơn 1 triệu so với năm học trước, v.v.
Đến nay, Việt Nam đã gia nhập đầy đủ và nội luật hóa các công ước quốc tế cơ bản về quyền con người vào hệ thống pháp luật quốc gia. Đó là “Công ước quốc tế về xóa bỏ các hình thức phân biệt chủng tộc” (năm 1981); “Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ” (năm 1982); “Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội” (năm 1982); “Công ước quốc tề về các quyền dân sự chính trị” (năm 1982) ; “Công ước về quyền trẻ em” (năm 1990); “Công ước về chống tra tấn” và “Công ước về quyền của người khuyết tật” (năm 2015), v.v. Thực tế cho thấy, Việt Nam đã ký kết, gia nhập nhiều công ước quốc tế về quyền con người mà những quốc gia phát triển cao hơn chưa ký hoặc ký nhưng chưa phê chuẩn.
Trong quan hệ giữa Việt Nam với Hoa Kỳ, Phúc trình về tình hình nhân quyền trên thế giới năm 2018 đã làm tổn thương đến mối quan hệ giữa hai quốc gia - dân tộc. Ngày nay, cả hai quốc gia đã vượt qua thời kỳ khó khăn, từ “cựu thù” đã trở thành “đối tác toàn diện”. Những khác biệt nào đó về chính trị, tư tưởng, chế độ xã hội, kể cả quyền con người, hai bên đều có thể đối thoại cởi mở. Việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ dùng hình thức tán phát văn bản Phúc trình trên internet, mạng điện tử là không phù hợp với văn hóa chính trị và quan hệ giữa hai quốc gia ngày nay. Sự kiện Tổng thống Đô-nan Trăm lựa chọn Hà Nội, Việt Nam làm địa điểm tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ - Triều Tiên lần thứ hai vừa qua để tiếp tục chủ đề hóa giải mâu thuẫn hai quốc gia về vấn đề phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên là một ví dụ về quyền con người được Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo đảm như thế nào. Mặc dù chỉ trong 2 ngày ở Hà Nội, cả hai nguyên thủ Mỹ - Triều đều được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tiếp đón nồng hậu. Về an ninh, có lẽ chưa ở đâu, sự kiện chính trị nào mà công tác an ninh lại được tổ chức hoàn hảo đến từng chi tiết. Về dịch vụ kỹ thuật, tại Trung tâm Báo chí, các nhà mạng Việt Nam đã lắp đặt thiết bị phát sóng wifi tại tất cả các khu vực cần phủ sóng, với 115 thiết bị và 1.299 đầu chờ internet có dây đã được triển khai. Ngoài ra, các nhà mạng còn lắp đặt thêm thiết bị tăng cường thu phát sóng chất lượng 2G, 3G, 4G trên toàn địa bàn thủ đô Hà Nội để nhân dân Việt Nam và người ở nước ngoài có thể trực tiếp theo dõi sự kiện chính trị này.
Về văn hóa, cũng tại sự kiện trên, không chỉ hai nguyên thủ hài lòng về cách ứng xử của lãnh đạo Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam, mà khách quốc tế đến Việt Nam đều ngạc nhiên về vẻ đẹp thiên nhiên trên từng đường phố và những cảnh quan ở nhiều khu du lịch, như: Tràng An (Ninh Bình), Hạ Long (Quảng Ninh), v.v. Đặc biệt là sự thân thiện, vui vẻ, tự tin, hào phóng và niềm tự hào của người Việt Nam đối với dân tộc, chế độ xã hội và nhà nước của mình.
Có thể nói, lịch sử cách mạng Việt Nam trên 70 năm qua, Hiến pháp, hệ thống chính sách, pháp luật và cuộc sống thực tại của nhân dân Việt Nam đã bác bỏ hoàn toàn những nhận định, đánh giá sai trái về tình hình quyền con người trong bản Phúc trình (năm 2018) của Hoa Kỳ
BẮC HÀ
http://tapchiqptd.vn/vi/phong-chong-dbhb-tu-dien-bien-tu-chuyen-hoa/van-la-tu-duy-cu-thieu-khach-quan-ve-tinh-hinh-nhan-quyen-o-viet-nam/13510.html

VỊ THẾ CỦA VIỆT NAM BÁC BỎ MỌI SỰ XUYÊN TẠC



Một trong những thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch là xuyên tạc, phủ nhận những thành quả của sự nghiệp đổi mới do Đảng ta lãnh đạo. Tuy nhiên, vị thế ngày càng cao của Việt Nam trên trường quốc tế đã bác bỏ mọi sự xuyên tạc, phủ nhận.
Xuyên tạc sự thật là một thủ đoạn quen dùng của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam. Họ thường tập trung xuyên tạc vị thế lãnh đạo của Đảng, khi cho rằng “chế độ một đảng lãnh đạo chỉ đưa dân tộc đến ngõ cụt”(!). Gần đây, trên một số trang mạng xã hội, họ rêu rao rằng “Hơn 70 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ngày càng lún sâu vào xu thế lụn bại, tụt dốc không phanh”(!). Xuyên tạc đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, họ cho rằng “Đó là sự bế tắc của những người cộng sản, bởi đường lối này là đầu Ngô mình Sở”(!). Xuyên tạc đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, gắn với chủ trương “Việt Nam không tham gia liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia”, họ cho rằng “đường lối trung dung này tự cô lập Việt Nam, tước đi cơ hội hợp tác với các nước lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(!). Xuyên tạc những thành tựu của sự nghiệp đổi mới, họ cố bịa đặt: “đất nước đang lâm vào khủng hoảng toàn diện”(!), v.v.
Dẫn một số biểu hiện nổi bật của thủ đoạn xuyên tạc nói trên để thấy rằng, các thế lực thù địch không chừa lĩnh vực nào, miễn là có thể làm lẫn lộn “thật, giả”, gây hoang mang, dao động, suy giảm niềm tin ở cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và chế độ chính trị hiện nay; qua đó, hòng phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta. Tuy nhiên, vị thế đang lên của Việt Nam trên trường quốc tế xét ở mọi lĩnh vực đã bác bỏ những xuyên tạc ác ý.
Trên lĩnh vực chính trị, ngoại giao, từ chỗ nước ta chỉ là “một xứ thuộc địa”, ngày nay đã trở thành một nước độc lập, tự do, có quan hệ ngoại giao với 189/193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, là thành viên tích cực của hơn 70 tổ chức quốc tế và khu vực; đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với 16 nước, đối tác toàn diện với 11 nước, bao gồm cả 5 nước Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Việt Nam là Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008 - 2009 và hiện nay là ứng viên duy nhất của nhóm các nước châu Á - Thái Bình Dương tại Liên hợp quốc ứng cử vào vị trí này trong nhiệm kỳ 2020 - 2021. Nhiệm kỳ 2014 - 2016, Việt Nam là Ủy viên Hội đồng Nhân quyền thế giới; nhiệm kỳ 2013 - 2017 đảm nhiệm vị trí Tổng thư ký ASEAN và năm 2020 Việt Nam sẽ đảm nhiệm lần hai vị trí Chủ tịch ASEAN. Năm 2016, Việt Nam được bầu làm thành viên Ủy ban Luật pháp Quốc tế và cuối năm 2018 được bầu làm thành viên Ủy ban Luật Thương mại quốc tế nhiệm kỳ 2019 - 2025 của Liên hợp quốc. Điều đó khẳng định, vị thế của Việt Nam đã chuyển từ “tham gia tích cực” sang “chủ động đóng góp xây dựng, định hình luật chơi chung”. Việc được bầu với số phiếu rất cao vào các vị trí nói trên của Liên hợp quốc cho thấy, vị thế của Việt Nam và mức độ tin cậy ngày càng tăng của cộng đồng quốc tế đối với nước ta.
Năm 2017, lần thứ hai tổ chức Tuần lễ Cấp cao Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Việt Nam đã trở thành tâm điểm chú ý của cả thế giới khi là nơi hội tụ toàn bộ lãnh đạo các nền kinh tế thành viên APEC, trong đó có lãnh đạo các nền kinh tế hàng đầu thế giới, như: Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản. Trong bối cảnh chủ nghĩa dân túy và bảo hộ nổi lên mạnh mẽ, với tư cách chủ nhà, Việt Nam thể hiện vai trò cân bằng trong điều hành, khéo léo điều hòa khác biệt, thúc đẩy điểm tương đồng giữa các thành viên để tạo tiếng nói chung; qua đó, tô đậm dấu ấn của Việt Nam trên tiến trình hợp tác của APEC. Cũng trong dịp này, với sự điều hành linh hoạt, uyển chuyển của Việt Nam và Nhật Bản, 11 nước thành viên đã ký kết Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Những việc làm đó đã khẳng định vai trò và khả năng của Việt Nam trong xử lý những vấn đề quốc tế; thể hiện sự chủ động và “tầm vóc” của Việt Nam trong tham gia kiến tạo và định hình các thể chế khu vực và toàn cầu. Nhận định về vai trò của Việt Nam, Tổng thống Hoa Kỳ Đô-nan Trăm nói: “Việt Nam là một đối tác tuyệt vời trong khu vực và có rất nhiều cơ hội để chúng tôi tìm ra phương cách hợp tác song phương nói riêng và cả khu vực nói chung nhằm thúc đẩy tăng trưởng ở khu vực”.
Sau thành công của Năm APEC-2017, Việt Nam trở thành địa điểm tin cậy của các sự kiện quốc tế đa phương. Năm 2018, Việt Nam đăng cai và tổ chức thành công nhiều hội nghị quốc tế quan trọng, như: Diễn đàn Nghị viện châu Á - Thái Bình Dương lần thứ 26, Hội nghị Thượng đỉnh Tiểu vùng Mê Kông mở rộng lần thứ 6, Hội nghị cấp cao Tam giác phát triển Cam-pu-chia - Lào - Việt Nam lần thứ 10, Hội nghị Diễn đàn Kinh tế Thế giới về ASEAN (WEF ASEAN). Đáng chú ý là, Hội nghị WEF ASEAN 2018 do Việt Nam tổ chức được đánh giá là hội nghị khu vực thành công nhất của WEF trong 27 năm qua, khi quy tụ được nhiều nguyên thủ của các quốc gia ASEAN, lãnh đạo cấp cao của các nước đối tác, khoảng 1.000 đại diện các tập đoàn đa quốc gia, các doanh nghiệp ASEAN và quốc tế. Trong tháng 5 tới đây, Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc Vesak 2019 sẽ được tổ chức tại Việt Nam. Đây là lần thứ 3 sau hai lần nước ta đăng cai vào năm 2008 và 2014. Điều đó khẳng định vị thế, trách nhiệm của Việt Nam với các hoạt động của Liên hợp quốc trên tất cả các lĩnh vực.
Sự kiện nổi bật, thu hút sự quan tâm của cả thế giới đầu năm 2019 là Việt Nam được chọn làm nơi diễn ra Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ - Triều Tiên lần 2 để bàn về vấn đề phi hạt nhân hóa và thiết lập nền hòa bình lâu dài trên bán đảo Triều Tiên. Điều đó cho thấy, Việt Nam không chỉ là một địa điểm được tin cậy về mặt an ninh, mà còn có vai trò đóng góp quan trọng cho công việc chung của thế giới và khu vực, vì hòa bình, ổn định và phát triển. Sau sự kiện này, giáo sư Lee Woong-Hyeon, Chủ tịch Viện Nghiên cứu địa chính trị Hàn Quốc chia sẻ: “Việt Nam cho thế giới thấy vị thế của một cường quốc tham gia ngoại giao thế giới”. Cùng với những sự kiện đó, hàng loạt chuyến thăm chính thức của lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước (Tổng Bí thư, Chủ tịch Nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội) đến các nước trong ASEAN, Trung Quốc, Nga, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ô-xtrây-li-a, Ấn Độ, Hàn Quốc, một số nước Tây Âu, Bắc Âu và Va-ti-căng,… cũng như nguyên thủ các nước này đến thăm nước ta trong những năm qua, đã khẳng định vị thế ngày càng tăng của Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam trên trường quốc tế.
Trên lĩnh vực kinh tế, thực hiện đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã hội nhập ngày càng sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới; thoát khỏi vị thế của nước kém phát triển, trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình với mức tăng trưởng kinh tế khá cao trong nhiều năm. Quy mô và tiềm lực kinh tế của đất nước từ chỗ đạt 6,3 tỷ USD vào năm 1989 đã không ngừng tăng lên, đạt hơn 240 tỷ USD vào năm 2018. Đánh giá về vấn đề này, chiến lược gia về truyền thông của WEF 2018, Peter Vanham khẳng định: “Nếu như cách đây chỉ khoảng 30 năm, kinh tế Việt Nam còn rất khó khăn. Giờ đây, Việt Nam là một trong những “ngôi sao” trong nhóm các nước mới nổi”. Còn Chủ tịch điều hành WEF 2018 Borge Brende thì nhấn mạnh: “Từ năm 2010 đến nay, WEF đã chứng kiến sự tăng trưởng vị thế tuyệt vời của Việt Nam với GDP tăng gần gấp đôi trong tám năm, xuất khẩu tăng gần gấp ba lần. Quan trọng hơn là tỷ lệ đói nghèo tại Việt Nam đã giảm nhanh, năm 1990 tỷ lệ đói nghèo là 50% thì nay chỉ còn khoảng 3%. Những con số này là minh chứng rõ ràng cho sự thành công của Việt Nam trong tiến trình phát triển vững chắc”. Từ một nước phải nhập khẩu lương thực, nay Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu lương thực và đứng trong tốp đầu thế giới xuất khẩu nhiều mặt hàng nông sản, dệt may, da giày, đồ gỗ, điện tử, v.v. Đến nay, nước ta đã có quan hệ thương mại với 230 quốc gia và vùng lãnh thổ; là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới. 71 nước đã công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường. Nước ta cũng đã ký 14 hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với các nước, trong đó 11 hiệp định đã có hiệu lực. Hiện nay, Việt Nam đang cùng các nước tích cực thúc đẩy đàm phán Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP); đẩy mạnh các hoạt động vận động và thúc đẩy Liên minh châu Âu sớm ký kết, phê chuẩn và triển khai thực hiện Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu.
Cùng với việc đăng cai và tổ chức thành công nhiều hội nghị quốc tế về phát triển kinh tế khu vực và thế giới, Việt Nam còn được mời tham dự các hội nghị quốc tế lớn, như: Thượng đỉnh Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu thế giới (G20) tại Đức (tháng 7-2017); Thượng đỉnh Nhóm 7 nước công nghiệp phát triển (G7) mở rộng tại Ca-na-đa (tháng 6-2018); Diễn đàn Kinh tế thế giới tại Davos - Thụy Sĩ (tháng 01-2019). Điều đó cho thấy, sự coi trọng của các nước lớn đối với vai trò, vị thế ngày càng cao của Việt Nam trên trường quốc tế; khẳng định nước ta đã thực sự là thành viên tích cực của cộng đồng quốc tế trên cả ba cấp độ: song phương, khu vực và toàn cầu.
Trên lĩnh vực văn hóa, xã hội và quốc phòng, an ninh, nước ta cũng đạt được nhiều thành tựu quan trọng. “Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa, xã hội, y tế có bước phát triển. An sinh xã hội được quan tâm nhiều hơn và cơ bản được bảo đảm, đời sống của nhân dân tiếp tục được cải thiện… Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường”1. Nhiều cảnh quan thiên nhiên và giá trị văn hóa dân tộc, văn hóa của từng vùng, miền được công nhận là Di sản thiên nhiên hoặc Di sản văn hóa vật thể, phi vật thể của khu vực hay của nhân loại. GDP bình quân đầu người từ vị trí của nước kém phát triển, đã tăng hơn 20 lần so với trước thời kỳ đổi mới, đạt 2.590 USD vào năm 2018, đứng đầu nhóm nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình thấp. Đánh giá thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực này, bà Victoria Kwakwa, nguyên Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam cho rằng: “Ngày nay, Việt Nam là một nước có thu nhập trung bình. Các chỉ số phúc lợi xã hội hiện nay cao hơn phần lớn các nước có mức thu nhập cao hơn. Phần lớn người dân Việt Nam được hưởng nền giáo dục tốt hơn. Tỷ lệ tử vong ở bà mẹ khi sinh ở Việt Nam thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực”. Việt Nam là một trong số ít nước sản xuất được vacxin phòng bệnh cho người (đã sản xuất được 10 loại); là 1/14 nước được Tổ chức Y tế thế giới đặt hàng sản xuất vacxin cúm (chủng virut H1N1, H3N2 và B) phục vụ phòng, chống đại dịch trên thế giới. Thể thao nước nhà cũng đã vươn ra tầm châu lục và thế giới, gặt hái được thành công với nhiều huy chương vàng, bạc trong các giải đấu quốc tế lớn. Nhiều đoàn học sinh Việt Nam đạt huy chương vàng, bạc trong các kỳ thi quốc tế về Toán, Lý, Hóa, Sinh, v.v.
Quốc phòng và an ninh cũng hội nhập ngày càng sâu, rộng vào cộng đồng quốc tế. Nước ta đã có quan hệ quốc phòng chính thức với gần 70 nước; đặt văn phòng tùy viên quốc phòng tại hơn 30 nước và hơn 40 nước thiết lập tùy viên quốc phòng hoặc kiêm nhiệm tại Việt Nam. Bên cạnh việc coi trọng quan hệ hợp tác về quốc phòng và an ninh với các nước láng giềng (Lào, Cam-pu-chia, Thái Lan, Phi-líp-pin, Xin-ga-po...), nước ta cũng mở rộng quan hệ hợp tác với Nhật Bản, Ô-xtrây-li-a, I-xra-en, Cu-ba, Ấn Độ, I-ta-li-a, Liên minh châu Âu, v.v. Đặc biệt chú trọng hợp tác với các nước lớn, như: Nga, Trung Quốc và Hoa Kỳ. Việt Nam cũng rất coi trọng cấp độ hợp tác đa phương về quốc phòng và an ninh, nhất là tham gia các cơ chế hợp tác, như: Diễn đàn An ninh khu vực ASEAN, Đối thoại Shangri-La, Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN (ADMM) và ADMM+, v.v. Việt Nam cùng các quốc gia đồng chủ trì khác tổ chức thành công nhiều cuộc diễn tập, như: Diễn tập thực địa về hành động mìn nhân đạo tại Ấn Độ (tháng 3-2016), Diễn tập thực địa ADMM+ về an ninh hàng hải và chống khủng bố tại Bru-nây, Xin-ga-po (tháng 5-2016), Diễn tập thực địa về hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa và quân y tại Thái Lan (tháng 9-2016), v.v. Ở cấp độ toàn cầu, Việt Nam là thành viên của Tổ chức Cảnh sát Hình sự quốc tế (Interpol) từ năm 1991; năm 2014 tham gia vào sứ mệnh gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Từ chỗ chỉ cử số lượng ít sĩ quan, năm 2018 chúng ta đã cử một đơn vị (một bệnh viện dã chiến cấp 2) tham gia Phái bộ gìn giữ hòa bình ở Nam Xu-đăng. Đây là những hành động thể hiện trách nhiệm của Việt Nam trong việc xây dựng lòng tin, duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới; nâng cao vị thế của đất nước và Quân đội nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế.
Những thực tiễn nói trên đã khẳng định tầm vóc và vị thế của Việt Nam không ngừng được nâng cao trong khu vực và trên trường quốc tế. Vị thế đó không tự nhiên có, mà là kết quả sự nỗ lực của toàn dân, toàn quân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là bằng chứng sinh động khẳng định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa của Đảng là đúng đắn; đồng thời, là minh chứng thuyết phục bác bỏ mọi sự xuyên tạc của các thế lực thù địch.
NGUYỄN NGỌC HỒI
__________
1 - ĐCSVN - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H. 2016, tr. 58-59.
 http://tapchiqptd.vn/vi/phong-chong-dbhb-tu-dien-bien-tu-chuyen-hoa/vi-the-cua-viet-nam-bac-bo-moi-su-xuyen-tac/13587.html

LÀM THEO DI CHÚC CỦA BÁC, XÂY DỰNG ĐẢNG VỮNG MẠNH ĐỂ TỔ QUỐC TRƯỜNG TỒN



I. Tư tưởng đoàn kết trong Đảng theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Đoàn kết là một truyền thống quý báu của Đảng ta, dân tộc ta, là cội nguồn sức mạnh - nhân tố cơ bản, quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trong Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, tư tưởng đoàn kết trong Đảng được Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện hết sức cô đọng, súc tích.
1. Đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng
Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta”1. Sự kiện thành lập Đảng năm 1930 đánh dấu mốc khởi đầu cho truyền thống đoàn kết trong Đảng. Xét về mặt thống nhất lực lượng chính trị, Hội nghị thành lập Đảng thực chất là sự thống nhất các tổ chức cộng sản đã ra đời cuối năm 1929 ở Việt Nam. Bởi lẽ, ba tổ chức cộng sản riêng rẽ tự nó nói lên vấn đề lực lượng lãnh đạo bị phân tán; vì vậy, phải thống nhất thành một chính đảng duy nhất, thì mới có sức mạnh để lãnh đạo toàn dân tiến hành đấu tranh giành độc lập dân tộc. Với uy tín và trách nhiệm của mình, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đứng ra nhận trách nhiệm triệu tập và chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một đảng cộng sản duy nhất, thông qua các văn kiện, thiết lập bộ máy thống nhất và lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc và những đảng viên cộng sản kiên trung tham gia Hội nghị thành lập Đảng trở thành người đặt nền móng đầu tiên cho truyền thống đoàn kết của Đảng ta. Nhờ sức mạnh đoàn kết, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân tiến hành Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam); giành thắng lợi trước các cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân, đế quốc, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc nền độc lập của Tổ quốc. Giá trị truyền thống đoàn kết trong Đảng được bồi đắp và phát huy trên cơ sở những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, đặc biệt là nguyên tắc xây dựng đảng kiểu mới của V.I. Lê-nin, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ. Đảng đoàn kết trên nền tảng chung, lấy đó làm nguyên tắc để tổ chức đảng và đảng viên hành động thống nhất, tạo ra một “véc tơ” lực để giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội - giai cấp, giải phóng con người theo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Truyền thống đoàn kết trở thành tài sản cực kỳ quý báu của Đảng ta, là cội nguồn sức mạnh trong Đảng cũng như trong toàn xã hội. Đó là lý do tại sao Chủ tịch Hồ Chí Minh lại chốt lại ý nghĩa khi mà Người dùng bổ ngữ “cực kỳ” trước hai chữ “quý báu” khi đề cập truyền thống đoàn kết của Đảng trong bản Di chúc thiêng liêng.
2. Đoàn kết tạo thành sức mạnh
Trong Di chúc, Người khẳng định: “Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”2. Trong tác phẩm Đường kách mệnh (năm 1927), Nguyễn Ái Quốc khẳng định: Cách mạng “Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”3. Đảng thành lập và phát triển không do mục đích tự thân mà là do yêu cầu của dân tộc. Sự tồn tại và hoạt động của Đảng xuất phát từ sứ mệnh do dân tộc giao cho Đảng. Chính vì thế, Người cho rằng: Đảng không phải từ trên trời sa xuống mà Đảng từ trong xã hội mà ra, nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho đồng bào sung sướng. Như vậy, sự lãnh đạo của Đảng là một tất yếu, vai trò lãnh đạo của Đảng cũng là một tất yếu. Trong suốt tiến trình vận động của cách mạng Việt Nam, sự hiện diện của Đảng với vai trò được giai cấp, nhân dân, Tổ quốc giao phó lãnh đạo, đưa đất nước phát triển đã nói lên một thực tế rằng, sự lãnh đạo của Đảng là thực tế lịch sử khách quan, đáp ứng yêu cầu phát triển của dân tộc.
Thắng lợi của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng trong gần 90 năm qua không tách rời yếu tố đoàn kết trong Đảng, đoàn kết là thuộc tính tất yếu, là sức mạnh của Đảng và là một nguyên tắc trong xây dựng Đảng; nội bộ Đảng có đoàn kết thì mới có đoàn kết trong toàn xã hội. Đó chính là quy luật vận động nội tại của bản thân Đảng và là điều kiện tiên quyết cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong các thời kỳ lịch sử. Do đó, đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, trở thành nhân tố cốt lõi nhất, cơ sở vững chắc để xây dựng khối đoàn kết trong nhân dân, đoàn kết toàn dân tộc, tạo nên sức mạnh to lớn, từng bước đưa công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đến thành công.
3. Để thực hiện lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc
Theo quan điểm của Người, đoàn kết trong Đảng phải được coi là nhiệm vụ hàng đầu, phải được quán triệt trong mọi lĩnh vực, từ đường lối, chủ trương, chính sách, tới hoạt động thực tiễn. Ngày 03-3-1951, trong lời kết thúc buổi ra mắt Đảng Lao động Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam có thể gồm trong 8 chữ là: ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN, PHỤNG SỰ TỔ QUỐC”4. Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, thực hiện tư tưởng đoàn kết trong Đảng mà Bác đã nêu trong Di chúc, cần nhấn mạnh thêm những điểm sau đây:
Một là, từng cán bộ, đảng viên nêu cao ý thức, trách nhiệm và hành động nhất quán nhằm giữ gìn, bồi đắp và phát huy truyền thống đoàn kết trong Đảng trong mọi điều kiện, hoàn cảnh. Trong Di chúc, “TRƯỚC HẾT NÓI VỀ ĐẢNG”, Người căn dặn: “Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”5. Người coi đoàn kết trong Đảng là giá trị truyền thống cực kỳ quý báu; cho nên, với cách dùng lời ví von, so sánh dễ hiểu, dễ đi vào lòng người, Người mượn hình ảnh “con ngươi của mắt mình” để làm tâm điểm cho mọi suy nghĩ và hành động giữ gìn nó. Tiêu chí cơ bản để đánh giá chất lượng của một tổ chức đảng, từ Trung ương đến chi bộ, là ở sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Điều gì sẽ xảy ra nếu “con ngươi của mắt” bị bệnh và do đó mắt không sáng? Tất yếu sẽ là hậu quả xấu, rất tệ cho tầm nhìn của con người. Đối với tổ chức đảng cũng vậy, mất đoàn kết là mất tất cả, từ tình cảm con người đến sức mạnh của tập thể và cả sự nghiệp cách mạng. Những ai gây ra mất đoàn kết trong Đảng, bất kể cán bộ, đảng viên là đều có tội đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân.
Hai là, nghiêm chỉnh thực hiện Di chúc của Bác về công tác xây dựng Đảng. Trong đó, cần chú trọng những vấn đề sau:
1. “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng”6. Hai điều cốt yếu mà Bác căn dặn này, từ khi ra đời đến nay, Đảng ta đã và đang tiến hành. Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, Đảng cần phải mở rộng dân chủ trong Đảng hơn nữa; thường xuyên tự phê bình và phê bình, tích cực đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội và mọi hành động chia rẽ, bè phái, cục bộ trong Đảng. Hồ Chí Minh cho rằng, dân chủ trong Đảng là làm cho mọi đảng viên tích cực đóng góp ý kiến của mình cho Đảng với động cơ trong sáng. Đó là: dân chủ theo đúng nguyên tắc lãnh đạo, nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng, dân chủ gắn với tập trung; vừa phải chú trọng khắc phục tính thờ ơ, vô cảm của tổ chức đảng và đảng viên, vừa phải phòng, chống và khắc phục dân chủ hình thức, dân chủ vô lối, vô chính phủ, cực đoan, mang động cơ xấu, làm suy yếu sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng.
Tự phê bình và phê bình là một nguyên tắc xây dựng Đảng. Vì vậy, để giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng thì tự phê bình và phê bình càng có ý nghĩa quan trọng trong tình hình hiện nay. Không phải ngẫu nhiên mà Bác lại cho rằng thực hành dân chủ cũng như tự phê bình và phê bình là “cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng”. Công việc này phải được tiến hành thường xuyên, như người ta rửa mặt hằng ngày; đó cũng là “thang thuốc tốt nhất” để chữa các căn bệnh tiêu cực ở trong Đảng. Người thường nhấn mạnh tới hai điểm cần chú ý trong tự phê bình và phê bình: tính mục đích và phương pháp. Về mục đích: “để làm cho phần tốt trong mỗi con người nẩy nở như hoa mùa Xuân và phần xấu bị mất dần đi”. Về phương pháp: phải được tiến hành một cách kiên quyết, không nể nang, phải trung thực, không đặt điều; phải phê bình việc chứ không phải phê bình người; phê bình phải có văn hóa, trên cơ sở tính nhân văn trong Đảng. Trong Di chúc, Người căn dặn: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”7.
2. “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”8. Trong một câu viết ngắn mà Bác dùng đến hai lần cụm từ “thật sự” thì đủ biết Người muốn nhấn mạnh tính hiệu quả của việc này như thế nào. Đạo đức cách mạng là tiêu chí quan trọng mà Đại hội XII của Đảng nêu lên về các mặt xây dựng Đảng, vì Đại hội đã tách riêng ra, nêu riêng, không như ở các đại hội trước chỉ nêu ba mặt xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức. Người cán bộ, đảng viên hơn người ngoài Đảng nhiều điểm, nhưng có điểm rất quan trọng phải trở thành gương sáng cho mọi người noi theo. Đây là một trong những nội dung quan trọng bậc nhất mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang tích cực học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, thực hiện các nghị quyết, quyết định của Đảng liên quan vấn đề đạo đức cách mạng của đảng viên cũng như nêu cao tính tiên phong, gương mẫu và trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là các Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy viên Trung ương Đảng.
3. “Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”9. Tiêu chí để đánh giá tổ chức đảng có trong sạch hay không, trong sạch đến mức nào thì có nhiều, nhưng tiêu chí quan trọng là nhìn vào chất lượng của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, làm lãnh đạo cũng tức là làm đày tớ cho nhân dân. Trong Di chúc, về việc riêng của mình, Người viết: “Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”10. Bác không “hối hận”, nhưng Người “tiếc”; không phải “tiếc” vì chưa được hưởng vật chất đầy đủ, mà là không còn thì giờ để cống hiến cho Đảng, cho dân, cho sự nghiệp cách mạng. Đó là sự tiếc nuối của bậc đại nhân, đại trí, đại dũng!
Hồ Chí Minh không “hối hận” khi “phải từ biệt thế giới này” vì Người tự nguyện đặt cả cuộc đời mình vào cuộc sống của nhân dân. Ngày 14-7-1969, trả lời phỏng vấn của nữ phóng viên báo Granma (Cuba), Người nói: “…Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi”11. Người đã hòa nhịp đập với trái tim của những người cần lao đang khát vọng giải phóng vươn lên làm chủ cuộc đời mình. Trả lời các nhà báo nước ngoài đầu năm 1946, Hồ Chí Minh khẳng định: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”12. Tinh thần, thái độ và hành động phục vụ cách mạng theo quan niệm của Hồ Chí Minh, tức là tinh thần làm người đày tớ, làm công bộc cho nhân dân. Người đã sống với cả một cuộc đời như thế và đúng là Người không có gì phải hối hận khi từ biệt thế giới này. Vì vậy, cần nhấn mạnh rằng: “… từ buổi thiếu niên cho đến phút cuối cùng, HỒ CHỦ TỊCH đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta và nhân dân thế giới. Người đã trải qua một cuộc đời oanh liệt, đầy gian khổ hy sinh, vô cùng cao thượng và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ”13. Bác luôn đặt cái tôi vào chung với toàn Đảng, đó mới thực sự là giữ gìn sự đoàn kết trong Đảng.
4. Để giữ gìn và tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, theo Di chúc của Bác, cán bộ, đảng viên phải thực hiện nói đi đôi với làm, phải phòng và chống được bốn căn bệnh, đó là: (1) Nói nhiều mà làm ít; (2) Nói hay mà làm dở; (3) Nói mà không làm; (4) Nói một đằng làm một nẻo. Những căn bệnh này nếu không được chữa trị thì đoàn kết trong Đảng sẽ bị triệt tiêu. Hơn ai hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại một gương sáng về việc này. Người đã nói thì phải làm, làm cho bằng được.
50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn coi trọng giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, lấy đó làm cơ sở để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong sự nghiệp cách mạng hiện nay, việc giữ vững và tăng cường đoàn kết, thống nhất trong Đảng là trách nhiệm của cấp ủy đảng các cấp, nhất là các tổ chức cơ sở đảng và của mọi cán bộ, đảng viên, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng ngang tầm nhiệm vụ, lãnh đạo toàn xã hội thực hiện điều “mong muốn cuối cùng” của Người trong Di chúc là: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”14.
_____________
1 - Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 15, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 622.
2 - Sđd, tr. 621- 622.
3 - Sđd, Tập 2, tr. 289.
4 - Sđd, Tập 7, tr. 49.
5, 6, 7, 8, 9, 10, 11 - Sđd, Tập 15, tr. 622, 622, 622, 622, 622, 623, 674.
12 - Sđd, Tập 4, tr. 187.
13, 14 - Sđd, Tập 15, tr. 626 - 627, 624.
http://tapchiqptd.vn/vi/hoc-tap-va-lam-theo-tu-tuong-dao-duc-phong-cach-ho-chi-minh/lam-theo-di-chuc-cua-bac-xay-dung-dang-vung-manh-de-to-quoc-truong-ton/13583.html

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...