Thứ Năm, 17 tháng 1, 2019

PH. ĂNG-GHEN BÀN VỀ CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA NHÀ NƯỚC VÀ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI VIỆT NAM HIỆN NAY


PH. ĂNG-GHEN BÀN VỀ CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA NHÀ NƯỚC VÀ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI VIỆT NAM HIỆN NAY
Hiện nay, Việt Nam đang xây dựng nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Để thực hiện mục tiêu này, chúng ta cần thực hiện tốt chức năng xã hội của Nhà nước. Vì thế, việc nghiên cứu quan điểm của Ph. Ăng-ghen về chức năng xã hội của nhà nước và vận dụng vào giải quyết vấn đề này ở nước ta hiện nay là cần thiết.
Quan điểm của Ph. Ăng-ghen về chức năng xã hội của nhà nước
Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước”, Ph. Ăng-ghen đã tổng kết sự phát triển của lịch sử và rút ra kết luận: “Nhà nước quyết không phải là một quyền lực từ bên ngoài áp đặt vào xã hội. Nó cũng không phải là cái “hiện thực của ý niệm đạo đức”, là “hình ảnh và hiện thực của lý tính” như Ph. Hê-ghen khẳng định. Đúng ra, nhà nước là sản phẩm của một xã hội đã phát triển tới một giai đoạn nhất định”(1). Bởi vì, trong xã hội cộng sản nguyên thủy chưa xuất hiện nhà nước. Tổ chức xã hội đầu tiên của xã hội loài người là thị tộc, bộ lạc. Đứng đầu thị tộc, bộ lạc là tù trưởng, tộc trưởng. Quyền lực của người đứng đầu thị tộc, bộ lạc dựa vào chính sức mạnh đạo đức và uy tín của mình.
Theo Ph. Ăng-ghen, sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn tới sự ra đời của chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, theo đó, xã hội bị phân chia thành các giai cấp. Cuộc đấu tranh giữa hai giai cấp đối kháng đầu tiên xuất hiện trong lịch sử - xã hội là chủ nô và nô lệ. Cuộc đấu tranh này dẫn tới nguy cơ chẳng những các giai cấp đó tiêu diệt lẫn nhau mà tiêu diệt luôn cả xã hội. Để thảm họa đó không diễn ra, một cơ quan quyền lực đặc biệt đã ra đời, đó là nhà nước. Điều đó cho thấy, ngay từ khi ra đời, nhà nước đã là cơ quan quyền lực giải quyết những vấn đề công cộng, nhằm giữ cho xã hội có sự ổn định trong khuôn khổ nhất định.
Bên cạnh đó, “Vì nhà nước nảy sinh ra từ nhu cầu phải kiềm chế những sự đối lập giai cấp; vì nhà nước đồng thời cũng nảy sinh ra giữa cuộc xung đột của các giai cấp ấy, cho nên theo lệ thường, nhà nước là nhà nước của giai cấp có thế lực nhất, của cái giai cấp thống trị về mặt kinh tế và nhờ có nhà nước mà cũng trở thành giai cấp thống trị về mặt chính trị và do đó có thêm được những phương tiện mới để đàn áp và bóc lột giai cấp bị áp bức”(2). Từ quan niệm trên của Ph. Ăng-ghen cho thấy, nhà nước là một tổ chức xã hội đặc biệt của quyền lực chính trị được giai cấp thống trị về mặt kinh tế thành lập nhằm thực hiện quyền lực chính trị của mình. Trong lĩnh vực kinh tế, nhà nước là công cụ bảo vệ, củng cố và phát triển quan hệ sản xuất mà giai cấp thống trị là đại biểu, vì nhu cầu, lợi ích cơ bản của giai cấp thống trị và nhu cầu, lợi ích của toàn xã hội. Để đạt được mục đích đó, trước hết nhà nước phải thể chế hóa mục đích của giai cấp thống trị thành những quy định, quy tắc chuẩn mực chung (hiến pháp, pháp luật) và tạo lập tổ chức bộ máy nhà nước. Trên cơ sở những quy định, quy tắc chuẩn mực chung, các cơ quan nhà nước thực hiện những chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong quản lý, điều tiết đất nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đây chính là chức năng giai cấp của nhà nước - chức năng thực hiện sự thống trị chính trị của giai cấp đối với xã hội.
Tuy nhiên, nhà nước sẽ không thể tồn tại nếu nó chỉ phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị mà không tính đến lợi ích của các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội. Điều đó cũng có nghĩa là không phải có chính quyền nhà nước trong tay rồi thì giai cấp thống trị có thể sử dụng nó như một công cụ để thực hiện những lợi ích kinh tế của mình. Nhà nước muốn hoạt động có hiệu lực, hiệu quả thì không chỉ phụ thuộc vào giai cấp thống trị về mặt kinh tế, mà còn tùy thuộc rất lớn vào mức độ phù hợp của nó đối với yêu cầu của sự phát triển xã hội, vào mức độ ủng hộ của xã hội, của quần chúng nhân dân đối với những hoạt động của nó. Do vậy, trong chừng mực nhất định, nhà nước phải quan tâm giải quyết những công việc của các giai cấp, tầng lớp khác nói riêng, của cả xã hội nói chung để bảo đảm cho xã hội ổn định và giữ cho nó hoạt động trong vòng “trật tự” nhất định. Nói cách khác, nhà nước phải hoàn thành những chức năng mà xã hội giao phó, đó là chức năng xã hội của nhà nước.
Nhà nước là bộ máy quản lý xã hội trong xã hội có giai cấp, do vậy, chức năng xã hội của nhà nước không mang tính xã hội “thuần túy”, mà cũng mang tính giai cấp. Tuy nhiên, tính giai cấp của chức năng xã hội biểu hiện ít rõ nét hơn chức năng giai cấp, nhưng suy cho cùng, nó cũng bị chi phối bởi ý chí và lợi ích cơ bản của giai cấp thống trị. Tính hiệu quả của chức năng xã hội không chỉ phụ thuộc vào mức độ phù hợp của thiết chế, tổ chức bộ máy đối với yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội, mà quan trọng hơn, còn tùy thuộc vào vai trò lịch sử của giai cấp cầm quyền. Giai cấp cầm quyền khi còn là giai cấp tiên tiến, còn là giai cấp đại biểu cho sự tiến bộ xã hội, thì nhà nước có khả năng thực hiện tốt các chức năng xã hội. Ph. Ăng-ghen viết: “Các giai cấp thống trị ở thời phát triển đi lên của mình, đã thực hiện những chức năng xã hội hoàn toàn xác định và chính nhờ điều đó họ mới trở thành giai cấp thống trị”(3). Ngược lại, khi giai cấp cầm quyền đã trở nên lỗi thời, phản động thì dù muốn hay không, nó cũng không thể thực hiện tốt chức năng xã hội của nhà nước. Khi đó, nền kinh tế - xã hội sớm muộn sẽ rơi vào tình trạng khủng hoảng. Do vậy, cố gắng thực hiện chức năng xã hội ở mức độ cần thiết có vai trò vô cùng quan trọng trong việc củng cố địa vị thống trị của giai cấp cầm quyền, của lực lượng cầm quyền. Bởi vì, chính chức năng xã hội là cơ sở, điều kiện và phương thức thực hiện chức năng giai cấp của nhà nước, “sự thống trị giai cấp chỉ có thể tồn tại với điều kiện là nó bảo đảm được cho những người bị áp bức không bị nghèo túng đến cùng cực”(4).
Đề cập đến chức năng của nhà nước xã hội chủ nghĩa, Ph. Ăng-ghen luôn nhắc nhở cần phải coi chức năng xã hội là thuộc tính cơ bản nhất và quan trọng nhất của nhà nước. Tuy nhiên, nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước không nguyên nghĩa, là nhà nước “nửa nhà nước” nên chức năng xã hội của nó cũng phải thay đổi. Ph. Ăng-ghen khẳng định: “Tất cả mọi người xã hội chủ nghĩa đều đồng ý công nhận rằng nhà nước và cùng với nhà nước là quyền uy chính trị, sẽ mất đi sau cuộc cách mạng xã hội tương lai, nghĩa là những chức năng xã hội sẽ mất tính chất chính trị và sẽ biến thành những chức năng quản lý đơn thuần chăm lo đến lợi ích của xã hội”(5). Điều đó cho thấy, khi xã hội không còn giai cấp thì những nội dung thuộc chức năng xã hội của nhà nước sẽ do xã hội tự đảm nhiệm.
Vận dụng quan điểm của Ph. Ăng-ghen vào giải quyết vấn đề đổi mới chức năng xã hội của nhà nước ở Việt Nam hiện nay
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là nhà nước dựa trên chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu (đó là điều kiện khách quan cho sự bình đẳng về kinh tế); mặt khác, giai cấp thống trị chính trị là giai cấp công nhân - đó là giai cấp của những người lao động, có lợi ích cơ bản thống nhất với lợi ích của quảng đại quần chúng nhân dân. Vì thế, nhà nước Việt Nam có cơ sở khách quan cho sự thống nhất giữa tính giai cấp và tính nhân dân.
Tuy nhiên, thời kỳ trước đổi mới, vì những nguyên nhân khác nhau, chúng ta có sự lệch lạc trong thực hiện chức năng xã hội của Nhà nước. Cụ thể, quy những chức năng đa dạng của Nhà nước vào chức năng giai cấp, ít quan tâm nghiên cứu tính xã hội, chức năng xã hội của Nhà nước, quá nhấn mạnh tính giai cấp, tính chính trị của Nhà nước. Đem mô hình nhà nước trong thời kỳ chiến tranh áp đặt vào thời kỳ hòa bình. Vận dụng hình thức quản lý nhà nước ở Liên Xô một cách rập khuôn, máy móc. Quan niệm một cách giản đơn về tăng cường chức năng xã hội của Nhà nước, cho rằng Nhà nước can thiệp càng sâu càng tốt, càng tỉ mỉ càng tốt, tức là tính nhà nước “càng nhiều càng tốt”. Từ đó, dẫn đến tình trạng tổ chức bộ máy cồng kềnh, nặng nề, hoạt động kém hiệu quả; nhà nước hóa tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, không kích thích được tính năng động, sáng tạo của con người.
Bước vào thời kỳ đổi mới, tại Đại hội VI, Đảng ta khẳng định: “Thực hiện một cuộc cải cách lớn về tổ chức bộ máy của các cơ quan nhà nước”(6). Tuy nhiên, sau 5 năm thực hiện, Nhà nước vẫn chưa có những chuyển biến đáng kể, có những mặt chưa vượt khỏi cơ chế cũ, thậm chí còn tạo ra khe hở và cản trở mới trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước. Từ thực tế đó, đến Đại hội VII, Đảng ta ý thức được rằng, để khắc phục những khiếm khuyết của bộ máy nhà nước, để cơ quan nhà nước thực hiện chức năng xã hội một cách có hiệu quả, không chỉ dừng lại ở cải cách bộ máy, mà là đổi mới căn bản cả về thiết chế tổ chức, cả về cơ chế hoạt động của Nhà nước. Do vậy, từ sau Đại hội VII của Đảng, chúng ta càng có quyết tâm cao hơn trong đổi mới Nhà nước, nhất là đổi mới phương thức hoạt động của Nhà nước.
Do có quyết tâm cao trong đổi mới Nhà nước từ Đại hội VII đến nay mà vị trí, vai trò và chức năng xã hội của Nhà nước có sự chuyển biến rõ rệt. Đại hội XII của Đảng nhận định: “Vai trò của Nhà nước được điều chỉnh phù hợp hơn với cơ chế thị trường, ngày càng phát huy dân chủ trong đời sống kinh tế - xã hội”(7). Nhà nước chuyển dần từ vai trò “một người bảo trợ” chung cho toàn xã hội thành “người cầm lái”, người khởi xướng tổ chức các hoạt động xã hội và là chủ thể hoạch định, thực thi các chính sách xã hội.
Tuy nhiên, quá trình thực hiện chức năng xã hội của Nhà nước ở Việt Nam hiện nay cũng đang đặt ra một số vấn đề:
Thứ nhất, xây dựng môi trường pháp lý chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, chưa bảo đảm thuận lợi cho phát triển xã hội, còn có sự nhầm lẫn giữa chức năng kinh tế và chức năng xã hội. Chẳng hạn, Việt Nam đang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều đó đòi hỏi Nhà nước phải đổi mới phương thức điều hành, quản lý kinh tế, xã hội, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Nhà nước với doanh nghiệp và công dân, giữa các thành phần kinh tế và giữa các chủ thể sở hữu. Thế nhưng, hệ thống pháp luật trong quản lý kinh tế thị trường chưa hoàn thiện; hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế còn kém, mà nguyên nhân là do Nhà nước can thiệp quá mức vào nền kinh tế, không phù hợp với sự vận động của thị trường, trong khi lại thiếu công cụ và cơ chế giám sát, chế tài để bảo đảm các chủ thể tham gia các quan hệ thị trường tuân thủ “luật chơi” đã đề ra. Do đó, Đại hội XII của Đảng nhận xét: “Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước chưa cao; kỷ luật, kỷ cương không nghiêm; Nhà nước còn can thiệp trực tiếp, quá lớn trong nền kinh tế. Vẫn còn tình trạng bao cấp, xin - cho trong xây dựng và thực hiện một số cơ chế, chính sách”(8).
Thứ hai, việc thực hiện các chính sách xã hội vẫn còn nhiều hạn chế. Đặc thù của chính sách xã hội ở Việt Nam hiện nay là nó được Nhà nước đứng ra tổ chức thực hiện. Nhà nước vẫn vừa là người ban hành chính sách, vừa là người thực hiện chính sách thông qua bộ máy của mình. Tại nhiều địa phương còn có tình trạng thiếu sự phân tách giữa quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ (cán bộ chính quyền vừa xét duyệt đối tượng trợ cấp xã hội, vừa thực hiện việc chi trả trợ cấp). Hệ thống chính sách xã hội hiện còn phân tán, chưa có sự gắn kết, tính thống nhất chưa cao và độ bao phủ thấp. Nguồn tài chính để thực hiện chính sách xã hội chủ yếu là từ ngân sách nhà nước. Người dân vẫn chưa ý thức được nguyên tắc “có đóng thì có hưởng” trong hoạt động bảo hiểm.
Trong điều kiện hiện nay, để thực hiện tốt chức năng xã hội của mình, hoạt động của Nhà nước cần dựa trên một số nguyên tắc sau:
Một là, thực hiện chức năng xã hội trên cơ sở thống nhất biện chứng với chức năng giai cấp; xây dựng chính sách xã hội dựa trên điều kiện kinh tế của đất nước và phát triển kinh tế phải gắn liền với phát triển văn hóa, tiến bộ xã hội và công bằng xã hội. Do vậy, đổi mới và tăng cường chức năng xã hội của Nhà nước không có nghĩa là coi nhẹ, bỏ qua chức năng giai cấp, mà là sự thể hiện và khẳng định bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước ta do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Đồng thời, trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chức năng giai cấp của Nhà nước cũng cần đổi mới theo hướng xây dựng nhà nước kiến tạo, như mục tiêu của Chính phủ đề ra: “Phải chuyển mạnh từ nhà nước điều hành nền kinh tế sang nhà nước kiến tạo phát triển”. Nhà nước cần phát huy thế mạnh của mình là tạo khuôn khổ thể chế và mọi điều kiện cần thiết khác để từng người dân có thể dễ dàng làm ăn và mưu cầu hạnh phúc. Xây dựng cho được những khuôn khổ thể chế cần thiết để công việc làm ăn của người dân ngày một dễ dàng hơn. Trong sản xuất, kinh doanh, sự minh bạch phải được tăng cường, các hợp đồng phải được tôn trọng và bảo vệ, các tranh chấp phải được giải quyết nhanh chóng và hiệu quả. Ngoài ra, một điều kiện không thể thiếu trong vai trò của Nhà nước ở đây là bảo đảm sự ổn định kinh tế vĩ mô.
Hai là, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Chỉ có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mới có đầy đủ cơ sở khách quan để giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích trong xã hội; phát huy được quyền dân chủ của nhân dân, bảo đảm quyền sống, quyền được làm việc, lao động, học hành của công dân, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Ở đó, mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, được nhân dân tham gia ý kiến khi xây dựng, hoạch định và ở đó, dân chủ được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó dân chủ đi đôi với kỷ cương, trật tự, được thể chế hóa thành pháp luật và trong khuôn khổ của pháp luật. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân phải biểu hiện được sức mạnh trực tiếp của hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ba là, Nhà nước sử dụng các nguồn lực của mình và các công cụ, cơ chế, chính sách để định hướng, điều tiết nền kinh tế, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, bên cạnh sự phát triển tất yếu của xã hội, xuất hiện sự phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng. Do vậy, Nhà nước cần có những biện pháp phân phối lại của cải xã hội nhằm hạn chế sự phân hóa này, giữ vững ổn định xã hội, tránh để xảy ra mâu thuẫn, xung đột trong xã hội. Nhà nước thực hiện phân phối thu nhập quốc dân một cách công bằng, thực hiện tăng trưởng kinh tế gắn với cải thiện đời sống nhân dân, với tiến bộ và công bằng xã hội. Điều này thể hiện rõ nhất tính định hướng xã hội của nền kinh tế thị trường ở nước ta.
Trong thu nhập, Nhà nước sử dụng các biện pháp: điều tiết tăng thu nhập thông qua trợ cấp, ưu đãi đối với người có công với đất nước; có chính sách đối với người yếu thế, dễ bị tổn thương trong xã hội, như người già, trẻ mồ côi không nơi nương tựa, người tàn tật; điều tiết giảm thu nhập thông qua công cụ thuế đối với người có thu nhập cao, như thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp. Việc điều chỉnh thuế sẽ góp phần phân phối lại một bộ phận thu nhập trong xã hội.
Trong giải quyết vấn đề an sinh xã hội, Nhà nước có vai trò quyết định tới việc nâng cao phúc lợi công cộng, xóa đói, giảm nghèo, giải quyết các vấn đề về việc làm, sức khoẻ, bảo hiểm y tế, lương hưu, trợ cấp khó khăn.
Bốn là, kết hợp hài hòa giữa “nhà nước hóa” và “xã hội hóa”, kết hợp Nhà nước và nhân dân cùng làm trong việc giải quyết các vấn đề xã hội và trong các lĩnh vực thiết yếu như y tế, văn hóa, giáo dục đào tạo, bảo vệ môi trường...
Trong tình hình hiện nay, chức năng xã hội của Nhà nước phải được nhận thức và thực hiện theo tư duy mới, cơ chế mới, phương thức và cách làm mới. Trên cơ sở phân định rõ sự bao cấp và sự đầu tư xã hội, Nhà nước không thể đầu tư hoặc bao cấp tràn lan, đơn phương, độc quyền, tự coi mình là nhà cung cấp duy nhất, chịu trách nhiệm duy nhất trong việc thực hiện chức năng xã hội, mà cần có cơ chế, chính sách phù hợp để khai thác mọi tiềm năng, động viên mọi nguồn lực trong nhân dân và các thành phần kinh tế, thực hiện chủ trương xã hội hóa, kết hợp nhà nước và nhân dân cùng làm./.
-------------------------------------------
(1), (2), (3) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 21, tr. 252, 255, 700
(4) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Sđd, t. 16, tr. 779
(5) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Sđd, t. 18, tr. 421 - 422
(6) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1987, tr. 118
(7), (8) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 98, 100
Lê Thị Thanh Hà, PGS, TS, Viện Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2019/53758/Ph-Angghen-ban-ve-chuc-nang-xa-hoi-cua-nha-nuoc-va.aspx

ĐỔI MỚI CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU, NHIỆM VỤ TRONG TÌNH HÌNH MỚI


ĐỔI MỚI CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU, NHIỆM VỤ TRONG TÌNH HÌNH MỚI
Chủ thể tạo nên năng lực quản lý nhà nước, xét cho cùng, chính là đội ngũ cán bộ, công chức. Vì vậy, để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, phải nâng tầm năng lực, tư duy, khả năng hành động của đội ngũ cán bộ, công chức, trong đó đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ này là một giải pháp quan trọng.
Một số hạn chế của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở nước ta thời gian qua
Thứ nhất, chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước trong giai đoạn hiện nay. Mặc dù công tác đào tạo, bồi dưỡng được tăng cường, số lượng cán bộ, công chức qua các lớp, khóa đào tạo, bồi dưỡng khá lớn, nhưng nhìn chung, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là về kiến thức quản lý nhà nước mới và kỹ năng nghiệp vụ hành chính còn thấp. Bằng cấp, chứng chỉ tăng, nhưng chất lượng chuyên môn của cán bộ, công chức có bằng cấp, chứng chỉ lại đang là vấn đề đáng lo ngại.
Theo thống kê của Bộ Nội vụ, trong giai đoạn 2011 - 2015, cả nước tiến hành đào tạo, bồi dưỡng cho hơn 3.230.000 lượt cán bộ, công chức, trong đó khối các bộ, ngành có hơn 889.000 lượt người và khối các tỉnh, thành phố là 2.344.000 lượt người. Trong tổng số 3.230.000 lượt người nói trên, có 456.000 lượt người được đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị; 489.000 lượt người được đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ. So với giai đoạn 2006 - 2010, số lượng cán bộ, công chức được đào tạo, bồi dưỡng trong giai đoạn này tăng khoảng 24% ở khối các bộ, ngành và tăng 42% ở khối các tỉnh, thành phố. Tuy nhiên, chất lượng quản lý nhà nước và dịch vụ công vẫn còn thấp, môi trường phát triển kinh tế - xã hội và môi trường đầu tư vẫn chưa được cải thiện nhiều.
Chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) năm 2017 do Tổ chức Minh bạch quốc tế công bố cho thấy, mặc dù điểm của Việt Nam tăng nhẹ trong 2 năm liên tiếp (năm 2016 - 2017), song mới chỉ đạt 35/100 điểm và xếp thứ 107/180 quốc gia, vùng lãnh thổ; theo đó, vấn đề tham nhũng trong khu vực công ở Việt Nam vẫn được đánh giá rất nghiêm trọng. Theo Báo cáo Chỉ số năng lực quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) qua các năm, tỷ lệ người dân cho biết họ phải chi “lót tay” cho công chức để làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn tiếp tục tăng lên...
Thực trạng nói trên phần nào cho thấy, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức hiện nay vẫn chưa đem lại hiệu quả như mong đợi, chưa thực sự là công cụ để nâng cao năng lực thực thi công vụ cho đội ngũ này.
Thứ hai, tư duy về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức chưa phản ánh đầy đủ bản chất của đào tạo, bồi dưỡng, nhất là chưa gắn với yêu cầu phát triển năng lực. Quá trình đào tạo, bồi dưỡng phải là quá trình phát triển năng lực cho cán bộ, công chức, vì vậy, việc đào tạo, bồi dưỡng phải xác định được những khiếm khuyết, những “khoảng trống” trong năng lực của cán bộ, công chức để “lấp đầy”, đồng thời xác định được những năng lực cần có trong giai đoạn tiếp theo để xây dựng cho họ. Chính vì tư duy về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức chưa gắn với yêu cầu phát triển năng lực nên việc thiết kế chương trình, phương thức đào tạo, bồi dưỡng chưa hướng đến bổ sung, xây dựng năng lực cho họ nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của quá trình thực thi công vụ.
Hiện nay, phương thức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức chủ yếu vẫn là đào tạo, bồi dưỡng theo chức nghiệp, nhằm đáp ứng tiêu chuẩn ngạch, bậc của cán bộ, công chức, chưa chú trọng trang bị kiến thức và kỹ năng để cán bộ, công chức thực hiện tốt hơn công việc và nhiệm vụ được giao. Trong bối cảnh của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các loại hình dịch vụ cần được cá nhân hóa, tùy biến hóa để thích ứng với từng đối tượng, trong khi đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở nước ta vẫn tồn tại tư duy đào tạo, bồi dưỡng đại trà cho nhiều nhóm đối tượng khác nhau. Việc phân tầng, phân loại kiến thức, kỹ năng cho từng nhóm đối tượng chưa được chú ý đúng mức và sự dàn trải về nội dung làm giảm hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng. Việc đánh giá tác động của đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ, công chức ít được chú ý, dẫn đến thiếu cơ sở thực tiễn để đổi mới chương trình, nội dung đào tạo, bồi dưỡng. Bởi vậy, nảy sinh “vòng luẩn quẩn” là, đào tạo, bồi dưỡng chưa hiệu quả dẫn đến năng lực làm việc của cán bộ, công chức không được cải thiện, sức ép về đào tạo, bồi dưỡng lại càng tăng lên, nhưng đào tạo, bồi dưỡng lại tiếp tục không đáp ứng được yêu cầu, khiến cho việc nâng cao hiệu quả thực thi công vụ của cán bộ, công chức càng gặp trở ngại, khó khăn...
Thứ ba, quy trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức chưa được thực hiện một cách khoa học. Hoạt động đánh giá nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng thường được thực hiện trong phạm vi tương đối hẹp, chưa phản ánh đầy đủ nhu cầu được đào tạo, bồi dưỡng của cán bộ, công chức. Chương trình, nội dung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức còn lạc hậu, chưa có sự phân biệt rõ nội dung đào tạo, bồi dưỡng theo đối tượng, vẫn nặng về lý thuyết, xem nhẹ kinh nghiệm thực tiễn, kỹ năng; còn trùng lặp nhiều nội dung giữa các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức; chưa bổ sung những thiếu hụt về kiến thức, kỹ năng cho đội ngũ cán bộ, công chức. Chính vì vậy, có tình trạng không ít cán bộ, công chức tham gia nhiều khóa đào tạo, bồi dưỡng, nhưng vẫn thiếu kiến thức, thiếu kỹ năng làm việc, bởi lẽ chưa được học đúng kiến thức, chưa được lĩnh hội đủ kỹ năng.
Thứ tư, việc đánh giá kết quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức chưa bảo đảm tính toàn diện. Các báo cáo đánh giá về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức hầu hết chỉ dừng lại ở việc thống kê về số lượng khóa học, lớp học, số lượt cán bộ, công chức tham gia, hoặc đánh giá về số lượng, chương trình, tài liệu. Điều này có nghĩa là, việc đánh giá kết quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức mới chỉ dừng lại ở đánh giá hoạt động đào tạo, bồi dưỡng mà chưa đi vào bản chất của vấn đề. Bản thân các hoạt động đó chỉ là yếu tố “đầu vào”, chưa đủ cơ sở bảo đảm sẽ tạo ra kết quả như mong đợi. Sự lầm lẫn giữa đánh giá hoạt động và đánh giá kết quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức dẫn đến không đánh giá được hiệu quả sau đào tạo, bồi dưỡng đối với chất lượng hoạt động công vụ của cán bộ, công chức.
Những giải pháp đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở nước ta trong thời gian tới
Một là, đổi mới triết lý đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo hướng chuyển từ bồi dưỡng kiến thức sang phát triển năng lực. Đây không đơn thuần là sự thay đổi phương pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, mà là sự thay đổi trong cách tiếp cận, trong tư duy về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. Để phát triển năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức, vấn đề căn bản là phải để cán bộ, công chức tham gia tích cực, chủ động vào quá trình đào tạo, bồi dưỡng. Theo đó, cán bộ, công chức phải chủ động tiếp thu kiến thức, chia sẻ kinh nghiệm và vận dụng có hiệu quả các kiến thức, kinh nghiệm vào thực thi công vụ. Việc thiết kế chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cần tập trung vào những định hướng lớn, như định hướng hành động, định hướng thực thi công vụ, định hướng nhận diện và giải quyết vấn đề, định hướng chiến lược phục vụ nền công vụ trong hiện tại và tương lai.
Hai là, đổi mới chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. Nếu như chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trước đây được xây dựng chặt chẽ về cấu trúc, thì trong giai đoạn hiện nay cần phải có độ mở phù hợp; từ chỗ đại trà hóa thì nay cần tiến đến khu biệt hóa, cá nhân hóa. Nói cách khác, chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức phải được xây dựng để đáp ứng yêu cầu bổ sung kiến thức, kỹ năng mà cán bộ, công chức còn thiếu hụt, chứ không phải cung cấp cho họ những kiến thức, kỹ năng mà họ đã biết, đã có hoặc không còn phù hợp.
Chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nên được xây dựng theo lý thuyết chuỗi kết quả, nghĩa là xuất phát từ tiêu chuẩn về kiến thức, kỹ năng, thái độ, đạo đức công vụ của cán bộ, công chức để xác định những nội dung, cách thức đào tạo, bồi dưỡng. Cần thực hiện các chương trình đào tạo, bồi dưỡng ngắn ngày và tập trung vào các nội dung thiết thực, thiết thân, thiết yếu, phù hợp với đặc điểm công tác của cán bộ, công chức và linh hoạt trong việc biên soạn và thực hiện chương trình.
Ba là, đổi mới đội ngũ giảng viên làm công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. Cần kết hợp giữa đội ngũ giảng viên thỉnh giảng và đội ngũ giảng viên cơ hữu trong các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Đội ngũ giảng viên thỉnh giảng bao gồm các chuyên gia, nhà quản lý là những chủ thể có khả năng cung cấp nhiều kiến thức chuyên sâu và những kinh nghiệm quản lý cho cán bộ, công chức. Đội ngũ giảng viên cơ hữu là những người có kiến thức nền tảng chuyên sâu và đã gắn bó lâu dài với quá trình đào tạo, bồi dưỡng. Do đó, sự kết hợp giữa hai đội ngũ giảng viên này sẽ cung cấp cho cán bộ, công chức những kiến thức lý luận và kiến thức thực tiễn phong phú, hài hòa hơn, là yếu tố then chốt để phát triển năng lực cho họ.
Bốn là, đổi mới phương pháp dạy và học trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. Theo đó, chuyển từ “dạy” sang hướng dẫn; từ nghe và tiếp thu một cách thụ động sang tự học; chủ yếu là hướng dẫn, trao đổi thông tin, kinh nghiệm công tác, cùng nhau bàn bạc, thảo luận để tìm ra biện pháp giải quyết tối ưu một vấn đề nào đó đang được đặt ra. Điều này đòi hỏi “thày” và “trò” phải được trang bị phương pháp giảng dạy và học tập tích cực, có khả năng ứng dụng và sử dụng công nghệ, phương tiện giảng dạy - học tập hiện đại. Phần lớn cán bộ, công chức tham gia những chương trình đào tạo, bồi dưỡng là những người đã đạt chuẩn ở một số trình độ nhất định, trải qua thực tiễn, có nhiều kinh nghiệm công tác, có khả năng tự học, tự nghiên cứu, phân tích, đánh giá vấn đề. Do đó, với đối tượng này, các giảng viên chỉ nên định hướng nội dung học tập, nghiên cứu, nêu vấn đề, tình huống và hướng dẫn, gợi mở, đối thoại để rèn luyện phương pháp, kỹ năng giải quyết vấn đề, xử lý tình huống. Sau mỗi bài học, cụm chuyên đề, giảng viên nên tổ chức cho học viên đi nghiên cứu, khảo sát thực tế, thực tập với thời gian thích hợp.
Năm là, ứng dụng công nghệ hiện đại trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. Đào tạo, bồi dưỡng trực tuyến thông qua “lớp học ảo”, mô phỏng, số hóa bài giảng cần trở thành xu hướng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trong tương lai gần. Hiện nay, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ngày càng đòi hỏi tính chuyên sâu để nâng cao kiến thức, phát triển kỹ năng, rèn luyện thái độ công vụ phù hợp; nội dung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cũng không ngừng tăng lên về khối lượng kiến thức, kỹ năng, trong khi đó các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho đối tượng này lại có những giới hạn nhất định về không gian và thời gian, gây khó khăn cho giảng viên và học viên. Vì vậy, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trực tuyến chính là chìa khóa quan trọng để giải quyết mâu thuẫn đó.
Việc áp dụng giải pháp đào tạo, bồi dưỡng trực tuyến cho cán bộ, công chức có thể nâng cao hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng nhờ ứng dụng những thành tựu phát triển của khoa học, công nghệ. Ở nhiều quốc gia, đào tạo trực tuyến thường mang lại hiệu quả cao gấp nhiều lần so với đào tạo thông thường, do học viên hoàn toàn tự nguyện tham gia và giảng viên buộc phải chuẩn bị chu đáo, nghiêm túc hơn trong thiết kế bài giảng...
Đào tạo, bồi dưỡng trực tuyến cho cán bộ, công chức còn tăng cường cơ hội cho học viên được tiếp cận với các giảng viên có năng lực, trình độ cao. Nếu như trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo cách truyền thống, các giảng viên giỏi chỉ có thể đào tạo, bồi dưỡng cho một nhóm nhỏ cán bộ, công chức tham gia, thì trong đào tạo, bồi dưỡng trực tuyến cho cán bộ, công chức, bài giảng của giảng viên sẽ đến được với nhiều cán bộ, công chức hơn.
Sáu là, đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. Cần kết hợp giữa đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở trong nước và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở nước ngoài. Mời các chuyên gia, nhà quản lý ở những nước có nền hành chính phát triển trực tiếp giảng dạy cho đội ngũ cán bộ, công chức. Tổ chức cho cán bộ, công chức đi nghiên cứu thực tế ở nước ngoài sau khi được học tập các kiến thức ở trong nước, để họ có thể hình dung đầy đủ hơn về việc vận dụng các kiến thức vào thực tiễn nền hành chính nhà nước.
Bảy là, đổi mới công tác đánh giá kết quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. Đánh giá chất lượng và hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cần tập trung vào đánh giá “đầu ra”, nhất là kết quả cuối cùng của hoạt động đào tạo, bồi dưỡng. Đánh giá “đầu ra” của hoạt động đào tạo, bồi dưỡng là đánh giá học viên ngay sau khi kết thúc khóa học, dựa trên các chỉ số về năng lực, kiến thức, kỹ năng thực hành. Việc đánh giá này có thể được thực hiện thông qua các bảng kiểm trước và sau quá trình đào tạo, bồi dưỡng. Bảng kiểm cần được xây dựng, thiết kế thực sự công phu, bao gồm hệ thống câu hỏi về kiến thức và các bài tập thực hành để đánh giá hiện trạng của cán bộ, công chức trước và sau khi tham gia khóa học.
Việc đánh giá mức độ sử dụng “đầu ra” của hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức phải chủ yếu dựa trên các chỉ số về kết quả giải quyết công việc, mức độ đáp ứng yêu cầu công việc của cán bộ, công chức sau khi được đào tạo, bồi dưỡng. Các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức sẽ đánh giá thông qua việc phỏng vấn trực tiếp học viên sau khi kết thúc khóa đào tạo, bồi dưỡng từ 3 tháng đến 6 tháng và ý kiến phản hồi của chính cơ quan đang sử dụng cán bộ, công chức. Các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cũng có thể yêu cầu học viên xây dựng bản kế hoạch hành động, trong đó đưa ra kế hoạch cụ thể về việc áp dụng những gì đã học vào thực tế công việc. Để có căn cứ đánh giá tác động của đào tạo, bồi dưỡng sau khóa học, cơ quan sử dụng cán bộ, công chức phải có sự hợp tác với cơ sở đào tạo, bồi dưỡng trong việc xây dựng, theo dõi và hỗ trợ các điều kiện cần thiết để kế hoạch hành động của cán bộ, công chức được thực hiện thành công./.
Đặng Xuân HoanTS, Giám đốc Học viện Hành chính quốc gia
http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2019/53789/Doi-moi-cong-tac-dao-tao-boi-duong-can-bo-cong-chuc.aspx

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG TUYÊN TRUYỀN TRÊN BÁO CHÍ VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG, THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU


GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG TUYÊN TRUYỀN TRÊN BÁO CHÍ VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG, THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách đối với sự phát triển bền vững của đất nước. Vai trò quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ này thuộc về công tác tuyên truyền, đặc biệt là tuyên truyền trên báo chí. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyên truyền về bảo vệ môi trường, cần thực hiện các giải pháp đồng bộ liên quan đến công tác lãnh đạo, quản lý báo chí cũng như chuyên môn, nghiệp vụ của bản thân các cơ quan báo chí.
1. Bảo vệ môi trường là trụ cột quan trọng của phát triển bền vững. Nhiệm vụ bảo vệ môi trường càng cấp bách hơn trong điều kiện biến đổi khí hậu. Biến đổi khí hậu ở nước ta là một thực tế hiện hữu, hàng ngày hàng giờ gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống nhân dân. Để thực hiện mục tiêu tổng quát mà Nghị quyết Đại hội XII của Đảng xác định: Phát triển kinh tế nhanh và bền vững, cần quan tâm đúng mức đến vấn đề bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu.
Nhận thức rõ những thách thức của vấn đề bảo vệ môi trường đối với phát triển kinh tế, ổn định xã hội, Đảng, Nhà nước rất quan tâm đến công tác bảo vệ môi trường, phòng, chống, giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu. Ngày 15-11-2004, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 41- NQ/TW về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chính phủ ban hành Chương trình, Chiến lược bảo vệ môi trường, phát triển bền vững,... Tháng 6-2013, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7, khóa XI đã thông qua Nghị quyết về “Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường” (Nghị quyết số 24-NQ/TW). Tiếp đó, Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi (Luật Bảo vệ môi trường 2014) ngày 23-6-2014 đã được thông qua tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIII.
Trong công tác bảo vệ môi trường thì tuyên truyền là một nhiệm vụ quan trọng. Qua tuyên truyền để thay đổi nhận thức, hành vi, thái độ của mỗi người và của cả xã hội theo hướng thân thiện với môi trường. Tuyên truyền ở nước ta là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, tuy nhiên, vai trò đặc biệt quan trọng thuộc về lực lượng tuyên truyền chuyên nghiệp, trong đó có các cơ quan báo chí. Ưu thế của thông tin báo chí là tính cập nhật, được chuyển tải một cách thường xuyên, liên tục, có khả năng tiếp cận với đông đảo các đối tượng bạn đọc. Tính khách quan, trung thực làm cho thông tin báo chí trở thành nguồn, cơ sở dữ liệu của các hình thức tuyên truyền khác như tuyên truyền trong các hội nghị, hội thảo, tuyên truyền trong sinh hoạt của các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp hay tuyên truyền miệng trong đời sống hàng ngày.
Từ vai trò đặc biệt quan trọng của báo chí trong tuyên truyền về bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu, nên đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác này sẽ tác động tích cực thay đổi nhận thức, hành vi, thái độ của mỗi cán bộ, đảng viên cũng như người dân đối với môi trường theo hướng thân thiện hơn và như thế, sẽ góp phần hoàn thành thắng lợi mục tiêu đưa đất nước ta phát triển kinh tế nhanh và bền vững như mục tiêu tổng quát mà Đảng đã đề ra.
2. Khảo sát một số báo, tạp chí (Tạp chí Cộng sản điện tử, Báo Nhân dân điện tử, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường bản in, Báo Phụ nữ Việt Nam bản in, Báo Thanh niên bản in) trong khuôn khổ Đề án cấp ban Đảng: Đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền về bảo vệ môi trường trong điều kiện thích ứng với biến đổi khí hậu trên báo, tạp chí hiện nay, thì thấy, về chủ đề môi trường, các báo, tạp chí có nhiều nỗ lực tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ môi trường; thông tin về các sự cố, hiện tượng môi trường, biến đổi khí hậu; tuyên truyền hoạt động thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường của các cơ quan quản lý nhà nước; tuyên truyền việc chấp hành pháp luật bảo vệ môi trường của các tổ chức, cá nhân; thông tin, tuyên truyền về các kịch bản biến đổi khí hậu và các hệ quả của nó ở Việt Nam cũng như trên thế giới; tuyên truyền về các kết quả nghiên cứu khoa học, các dự báo, cảnh báo liên quan đến bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu; thông tin về các sự kiện, phong trào, cuộc vận động về bảo vệ môi trường; các chương trình, dự án tham gia bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu; phản ánh các vi phạm về bảo vệ môi trường của các tổ chức, cá nhân; biểu dương những điển hình trong công tác bảo vệ môi trường, thông tin về những biện pháp để bảo vệ môi trường trong sản xuất và đời sống; chuyển đổi cơ cấu kinh tế, áp dụng kinh nghiệm địa phương trong thích ứng với biến đổi khí hậu…
Các báo, tạp chí bước đầu đã chú ý đến nhóm đối tượng bạn đọc chủ yếu của mình (về nhu cầu tìm hiểu thông tin, về năng lực tiếp nhận và xử lý thông tin,…) để từ đó xây dựng chuyên mục, tổ chức nội dung tin, bài, ảnh, đồ họa, video clip phù hợp. Mỗi báo, tạp chí, tùy theo đối tượng độc giả chủ yếu của mình sử dụng cách thể hiện phù hợp, qua đó, phát huy hiệu quả tuyên truyền về bảo vệ môi trường. Một số báo, tạp chí có nhiều sáng tạo trong việc thể hiện thông điệp tuyên truyền như sử dụng các công cụ tác nghiệp báo chí hiện đại, tạo nên các sản phẩm báo chí hấp dẫn, có giá trị thay đổi nhận thức, định hướng dư luận, tạo hiệu ứng lan tỏa cao.
Hầu hết các cơ quan báo chí đều quan tâm nắm bắt nhu cầu của bạn đọc để xây dựng kế hoạch tổ chức tin, bài thông qua việc mở các kênh tương tác, địa chỉ email, điện thoại để tiếp nhận ý kiến, phản hồi, bình luận của độc giả. Một số báo, tạp chí tích cực sử dụng truyền thông xã hội để nhân rộng đối tượng tiếp cận thông điệp tuyên truyền. Tuy ở các mức độ khác nhau nhưng nhìn chung các cơ quan báo chí đều tổ chức hoặc phối hợp tổ chức các sự kiện truyền thông về bảo vệ môi trường, qua đó, tăng thêm hiệu quả tuyên truyền về chủ đề này trên báo, tạp chí.
Bên cạnh những mặt tích cực, công tác tuyên truyền trên báo chí về bảo vệ môi trường vẫn còn những hạn chế. Số lượng tin, bài, ảnh về chủ đề bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu không nhiều. Qua khảo sát, ngoại trừ Tạp chí Tài nguyên và Môi trường là tạp chí chuyên ngành có số lượng tin, bài nhiều hơn, còn lại các báo, tạp chí chỉ có xấp xỉ 2% lượng tin, bài về chủ đề này trong tổng số tin, bài hàng tháng. Trong số đó, chỉ có một phần là các tin, bài trực tiếp về nội dung bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu, còn lại là các tin, bài có nội dung liên quan đến chủ đề bảo vệ môi trường.
Các tin, bài còn nặng về tính thông tin các sự kiện, hoạt động, rất ít tin, bài mang tính chất thực tiễn, kinh nghiệm, các mô hình, phong trào, hoạt động hiệu quả, gương điển hình ở các địa phương, cơ sở. Nhiều tin, bài về các vụ, việc, nhất là các vụ, việc vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, ít tin, bài mang tính chất khoa học thường thức hay tuyên truyền, phổ biến kiến thức, kinh nghiệm. Trong nội dung về biến đổi khí hậu thì nhiều tin, bài về ứng phó với biến đổi khí hậu, ít tin, bài về thích ứng với biến đổi khí hậu.
Về hình thức tác phẩm báo chí, các báo, tạp chí sử dụng chủ yếu 3 hình thức là tin, bài và ảnh trong tuyên truyền về bảo vệ môi trường, tuy nhiên, hình thức thể hiện ở nhiều tin, bài chưa thực sự hấp dẫn, lôi cuốn, sức truyền tải thông điệp tuyên truyền chưa cao. Các hình thức sản phẩm báo chí như phóng sự, video clip, đồ họa, megastory, infographic, longform,… không nhiều.
Nhìn chung, các báo, tạp chí ít tổ chức các sự kiện hay tham gia tổ chức sự kiện truyền thông về bảo vệ môi trường; ít hoặc không có nguồn tài trợ cho tuyên truyền về bảo vệ môi trường;… Các cơ quan báo chí cũng ít sử dụng các kênh truyền thông khác hoặc mạng xã hội để tăng hiệu ứng tuyên truyền như facebook, zalo, twitter, fanpage, blogger, … Có chăng, chỉ là những nỗ lực đơn lẻ của các phóng viên, biên tập viên.
3. Những hạn chế nêu trên có cả nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan. Về nguyên nhân chủ quan, có thể nhận thấy:
- Công tác lãnh đạo, chỉ đạo tuyên truyền về bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu còn chưa sâu sát. Hàng năm, Ban Tuyên giáo Trung ương và Bộ Thông tin và Truyền thông đều có văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng các cơ quan báo chí cả nước thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền về bảo vệ môi trường, ban hành kế hoạch, đề cương tuyên truyền. Tuy nhiên, công tác lãnh đạo, chỉ đạo mới chỉ dừng ở việc ban hành văn bản; chưa có sự đôn đốc, kiểm tra, giám sát thực hiện thường xuyên cũng như sơ kết, tổng kết định kỳ để rút kinh nghiệm, vì vậy, việc thực hiện phần nhiều tùy thuộc vào nỗ lực của các cơ quan báo chí.
- Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cơ quan chủ quản cơ quan báo chí trong tuyên truyền về bảo vệ môi trường cũng còn mờ nhạt. Lãnh đạo các cơ quan chủ quản quan tâm nhiều hơn đến tuyên truyền nhiệm vụ chính trị của cơ quan, tổ chức mình, ít quan tâm đến các lĩnh vực, chủ đề khác, trong đó có chủ đề về bảo vệ môi trường.
- Mặc dù nhận thức rõ tính cấp bách của vấn đề bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu, tuy nhiên, sự quan tâm của lãnh đạo cũng như của đội ngũ cán bộ, phóng viên, nhà báo về mảng đề tài này chưa thật sự sâu sát, quyết liệt, thể hiện ở chỗ lãnh đạo, chỉ đạo chưa sâu sát, nhiều cơ quan báo chí xây dựng kế hoạch tuyên truyền về mảng chủ đề này một cách chung chung, chưa cụ thể hóa thành nhiệm vụ cụ thể theo thời gian cũng như đến từng cán bộ, phóng viên. Kế hoạch tuyên truyền về bảo vệ môi trường trong kế hoạch tuyên truyền chung của cơ quan báo chí, thậm chí có cơ quan báo chí không phân công phóng viên, biên tập viên chuyên trách theo dõi mảng đề tài này. Tin, bài tuyên truyền về bảo vệ môi trường có thời điểm thì dồn dập (khi có sự kiện, ngày kỷ niệm), còn những thời điểm khác thì khá thưa thớt.
Bên cạnh nguyên nhân chủ quan là những nguyên nhân khách quan:
- Cơ chế quản lý báo chí hiện hành có những bất cập. Cơ quan tuyên giáo, quản lý nhà nước định hướng tuyên truyền cho báo chí, tuy nhiên, đa số các cơ quan báo chí hiện đang hoạt động theo cơ chế đơn vị sự nghiệp có thu, Nhà nước bao cấp một phần chi phí, còn lại các cơ quan báo chí phải hạch toán, lấy thu bù chi. Vì vậy, để bán báo, tăng lượng truy cập, qua đó, làm kinh tế báo chí, các cơ quan báo chí chú trọng hơn đến các mảng đề tài hấp dẫn, hoặc có tài trợ. Các mảng đề tài khác thường ít được quan tâm, trong đó có mảng đề tài về bảo vệ môi trường.
- Một trong những khó khăn khác của các cơ quan báo chí là nguồn nhân lực. Trong điều kiện hạch toán, các cơ quan báo chí phải rất cân nhắc trong tuyển dụng. Hơn thế nữa, trong điều kiện Đảng, Nhà nước đang chủ trương sắp xếp tổ chức, tinh giản biên chế các đơn vị sự nghiệp, nhân sự của các cơ quan báo chí cũng chịu tác động, ảnh hưởng. Nguồn nhân lực hạn chế, đa số phóng viên, biên tập viên phải kiêm nhiệm nhiều công việc, nhiều mảng đề tài, không có điều kiện theo dõi chuyên sâu. Hơn nữa, do áp lực công việc nên họ cũng không có thời gian học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Cũng do khó khăn về nhân lực nên đa số các cơ quan báo chí không triển khai được các biện pháp sử dụng công nghệ, truyền thông xã hội để tăng hiệu quả tuyên truyền. Còn các khó khăn về tài chính làm cho các cơ quan báo chí không tự đầu tư nâng cấp trang thiết bị, phương tiện tác nghiệp, vì vậy không thể tiếp cận các loại hình tác phẩm báo chí mới, hấp dẫn bạn đọc.
- Chủ đề bảo vệ môi trường là mảng đề tài khó, khá khô khan, đòi hỏi phóng viên, biên tập viên bên cạnh chuyên môn, nghiệp vụ báo chí phải có trình độ nhất định về khoa học thường thức, khoa học kỹ thuật. Đội ngũ phóng viên, biên tập viên, nhìn chung được đào tạo chuyên ngành báo chí hoặc các ngành khoa học xã hội nên gặp nhiều khó khăn trong viết, biên tập tin, bài về chủ đề bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu. Hơn thế nữa, họ cũng không thường xuyên được bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ tuyên truyền bảo vệ môi trường. Vì vậy, chất lượng các sản phẩm báo chí về bảo vệ môi trường còn hạn chế, chưa thật sự hấp dẫn, hiệu quả tuyên truyền chưa cao.
4. Để tăng cường tuyên truyền trên báo chí về bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu, cần thực hiện các giải pháp đồng bộ, bao gồm công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý báo chí, cơ chế tài chính báo chí và công tác chuyên môn, nghiệp vụ của các cơ quan báo chí.
Về công tác lãnh đạo, quản lý báo chí:
Các cơ quan lãnh đạo, quản lý báo chí của Đảng, Nhà nước mà cụ thể là Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Tuyên giáo các cấp của Đảng; Bộ Thông tin và Truyền thông và hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về thông tin và truyền thông cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan báo chí trực thuộc thực hiện tốt nhiệm vụ tuyên truyền về bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu, cụ thể:
- Định kỳ xây dựng đề cương tuyên truyền về bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu, trong đó, có các định hướng, các nội dung cần tuyên truyền, kế hoạch thực hiện và giao nhiệm vụ cụ thể cho các cơ quan báo chí trực thuộc. Thường xuyên đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực hiện; nhắc nhở, chấn chỉnh kịp thời những sai phạm, lệch lạc. Định kỳ sơ kết, tổng kết việc thực hiện; đánh giá kết quả đạt được cũng như những hạn chế, khó khăn, vướng mắc; xem xét nguyên nhân khách quan, chủ quan và đề ra giải pháp khắc phục hạn chế, khó khăn.
- Thường xuyên mở các lớp bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ báo chí, nhất là kỹ năng, nghiệp vụ liên quan đến tuyên truyền về bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu. Tăng cường hợp tác quốc tế để đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ cũng như chia sẻ kinh nghiệm tuyên truyền về bảo vệ môi trường cho phóng viên, biên tập viên, cán bộ lãnh đạo quản lý báo chí. Có cơ chế tôn vinh, khen thưởng các cơ quan báo chí thực hiện tốt nhiệm vụ, các nhà báo có tác phẩm tốt, hay, có tác động xã hội tích cực; có chế tài đối với các cơ quan báo chí thực hiện không tốt nhiệm vụ, các nhà báo có sai phạm.
Về cơ chế tài chính, kinh tế báo chí:
- Tài chính, kinh tế báo chí là vấn đề đặc biệt quan trọng trong hoạt động báo chí hiện nay. Trong quá trình đổi mới, sắp xếp hệ thống các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp, các cơ quan báo chí nói chung thực hiện cơ chế đơn vị sự nghiệp có thu, ngân sách nhà nước trang trải một phần chi phí. Vì vậy, cần bố trí nguồn kinh phí đủ cho đầu tư trang thiết bị, công cụ, phương tiện làm việc của các cơ quan báo chí. Để có thể cuốn hút người đọc, nâng cao hiệu quả tuyên truyền, báo chí phải đổi mới cả nội dung, hình thức, đa dạng hóa các loại hình sản phẩm báo chí, ứng dụng các loại sản phẩm báo chí mới,… Những công việc đó đòi hỏi phải có nền tảng trang thiết bị, phương tiện tác nghiệp tương ứng.
- Trong xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách hàng năm của các ngành, các cấp cần dự trù kinh phí cho công tác tuyên truyền về bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu. Từ nguồn kinh phí này, các cấp, các ngành đặt hàng tuyên truyền về bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu cho các cơ quan báo chí theo hình thức giao nhiệm vụ kèm điều kiện về kinh phí hoặc theo hình thức hợp đồng phối hợp tuyên truyền.
- Có cơ chế ưu đãi về thuế cho các hoạt động của cơ quan báo chí như trong mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc; trong thực hiện các hợp đồng phối hợp tuyên truyền, nhất là tuyên truyền về bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu hay trong tổ chức các sự kiện liên quan đến chủ đề bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu. Có cơ chế khuyến khích các tổ chức, cá nhân tài trợ từ nguồn lợi nhuận trước thuế (sẽ không phải tính thuế đối với nguồn lợi nhuận này) cho các cơ quan báo chí, nhất là trong các hoạt động tuyên truyền về bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu.
Đối với các cơ quan báo chí:
- Tăng cường trách nhiệm của cơ quan chủ quản cơ quan báo chí đối với tổ chức và hoạt động của cơ quan báo chí, từ công tác tổ chức, cán bộ; điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện làm việc đến kinh phí cho hoạt động. Quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra giám sát thường xuyên cơ quan báo chí trong thực hiện nhiệm vụ chính trị, trong đó, có nhiệm vụ tuyên truyền về bảo vệ môi trường.
- Đề cao vai trò, trách nhiệm chính trị của người đứng đầu cơ quan báo chí trong nhận thức tính cấp bách của vấn đề môi trường và trách nhiệm chính trị trong tuyên truyền về bảo vệ môi trường, từ đó, chủ động xây dựng kế hoạch tuyên truyền phù hợp; phân công cán bộ, phóng viên, bộ phận chuyên trách trong tổ chức thực hiện kế hoạch tuyên truyền hiệu quả.
- Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng làm báo, kỹ năng tuyên truyền về bảo vệ môi trường cho đội ngũ phóng viên, biên tập viên, cán bộ quản lý báo chí có vai trò quan trọng trong nâng cao hiệu quả tuyên truyền. Các cơ quan báo chí cần đặc biệt quan tâm đến công tác này, thường xuyên cử cán bộ, phóng viên, biên tập viên tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng báo chí nói chung, kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ tuyên truyền về bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu nói riêng, ở trong nước cũng như ở nước ngoài.
- Để có thông tin kịp thời, nhất là thông tin từ địa phương, cơ sở, các cơ quan báo chí cần quan tâm xây dựng đội ngũ cộng tác viên của mình tại các địa phương, cơ sở. Chú trọng tập huấn, hướng dẫn kỹ năng đưa tin, ảnh, viết bài; có chế độ đãi ngộ thường xuyên; kịp thời động viên, khen thưởng;… để đội ngũ cộng tác viên gắn bó với cơ quan báo chí, kịp thời cung cấp tin, bài về các vấn đề bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu ở địa phương, cơ sở./.
Nguyễn Đức Kha
Tạp chí Cộng sản
http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2019/53834/Giai-phap-tang-cuong-tuyen-truyen-tren-bao-chi-ve-bao-ve.aspx

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...