Thứ Hai, 19 tháng 11, 2018

VIỆT NAM ĐÓNG GÓP TÍCH CỰC, CÓ TRÁCH NHIỆM TẠI APEC 26


VIỆT NAM ĐÓNG GÓP TÍCH CỰC, CÓ TRÁCH NHIỆM TẠI APEC 26
Phát huy vai trò của nước chủ nhà APEC 2017, Đoàn đại biểu cấp cao nước ta do Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc dẫn đầu đã đóng góp tích cực chủ động và có trách nhiệm tại Tuần lễ Cấp cao năm nay.
Từ ngày 12-18/11 tại Papua New Guinea đã diễn ra Tuần lễ Cấp cao APEC lần thứ 26, kết thúc Hội nghị, Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn, đã trả lời phỏng vấn về kết quả của Hội nghị, và những đóng góp của Đoàn Việt Nam tại hội nghị lần này.
Phóng viên (PV): Xin Thứ trưởng thường trực cho biết những kết quả chính của Tuần lễ Cấp cao 2018 vừa diễn ra từ ngày 12-18/11 tại Papua New Guinea?
Thứ trưởng Bùi Thanh Sơn: Tuần lễ Cấp cao APEC lần thứ 26 diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực chuyển biến nhanh chóng và sâu sắc. Cạnh tranh thương mại giữa các nước lớn gay gắt. Hệ thống thương mại đa phương đứng trước nhiều thách thức.
Trong bối cảnh đó, các thành viên đã thúc đẩy một số kết quả quan trọng nhằm triển khai cam kết của các nhà Lãnh đạo tại Tuần lễ Cấp cao APEC 2017 về liên kết kinh tế khu vực, kết nối toàn diện, kinh tế số, tăng trưởng bền vững và bao trùm.
Thứ nhất, các thành viên nhất trí nỗ lực hoàn tất thực hiện các Mục tiêu Bogor về tự do hóa thương mại và đầu tư vào năm 2020, thúc đẩy thương mại điện tử, dịch vụ, giải quyết các hàng rào phi quan thuế, hướng tới hình thành Khu vực Thương mại tự do châu Á – Thái Bình Dương (FTAAP). Hội nghị nhất trí đẩy nhanh thực hiện
Kế hoạch tổng thể kết nối APEC đến năm 2025, chú trọng kết nối hạ tầng - thể chế - con người, đầu tư hạ tầng chất lượng, kết nối chuỗi cung ứng, tiểu vùng, vùng sâu, vùng xa, tăng tính bổ trợ giữa các sáng kiến kết nối khu vực….
Thứ hai, triển khai Chương trình hành động về phát triển bao trùm và Khuôn khổ phát triển nguồn nhân lực trong kỷ nguyên số được thông qua tại Đà Nẵng, các thành viên ủng hộ thúc đẩy tăng trưởng bền vững, sáng tạo, bao trùm, đẩy mạnh cải cách cơ cấu, hỗ trợ doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa (MSMEs), phát triển nông thôn-đô thị, nâng cao quyền năng kinh tế của phụ nữ. Những kết quả này tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của APEC đóng góp thực hiện các Mục tiêu Phát triển bền vững của Liên hợp quốc (SDGs).
Thứ ba, theo Lộ trình kinh tế mạng và kinh tế số được thông qua năm 2017, tại Hội nghị lần này, các thành viên đã đề ra một số biện pháp nhằm tạo môi trường mở, dễ tiếp cận và an toàn cho kinh tế số, tăng trưởng bao trùm về số, phát triển cơ sở hạ tầng số, thương mại số, thúc đẩy sáng tạo và các công nghệ số, đào tạo kỹ năng và thu hẹp khoảng cách số.
Thứ tư, các thành viên nhất trí đẩy mạnh triển khai cam kết đạt được năm 2017 về xây dựng Tầm nhìn APEC sau năm 2020. Hội nghị ủng hộ xây dựng Tầm nhìn APEC sau 2020 hướng tới cộng đồng châu Á – Thái Bình Dương hòa bình, ổn định, năng động, gắn kết và thịnh vượng, vì người dân và doanh nghiệp.
Bên cạnh nhiều kết quả quan trọng đạt được, Hội nghị cũng bộc lộ quan điểm khác biệt sâu sắc giữa một số thành viên, nhất là giữa Mỹ và Trung Quốc về bảo hộ thương mại và hệ thống thương mại đa phương. Đây cũng là nguyên nhân chính dẫn đến Hội nghị Cấp cao kết thúc không thông qua được Tuyên bố của các nhà Lãnh đạo APEC như thông lệ.
Hội nghị năm nay là lần đầu tiên trong 26 kỳ Hội nghị Cấp cao APEC mà các nhà Lãnh đạo không đưa ra được Tuyên bố chung. Đây là kết quả thất vọng đối với tất cả các thành viên, song cũng phản ánh tình hình căng thẳng trong quan hệ thương mại quốc tế giai đoạn hiện nay.
Tuy vậy, các thành viên đều bày tỏ tin tưởng vào vai trò quan trọng không thể thiếu của APEC, một cơ chế liên kết kinh tế đã đứng vững qua nhiều thăng trầm trong ba thập niên phát triển, đồng thời đã khẳng định vị thế là cơ chế liên kết kinh tế hàng đầu, có quy mô lớn nhất tại châu Á – Thái Bình Dương, góp phần quan trọng đưa khu vực trở thành động lực của tăng trưởng và liên kết kinh tế toàn cầu.
Các nhà Lãnh đạo APEC sẽ gặp lại nhau tại Hội nghị Cấp cao APEC lần thứ 27 vào tháng 11/2019 tại thủ đô Santiago của Chile để tiếp tục thúc đẩy hợp tác và liên kết kinh tế trong APEC và tại châu Á – Thái Bình Dương.
PV: Xin Thứ trưởng cho biết Việt Nam tiếp tục tham gia và những đóng góp như thế nào tại Tuần lễ Cấp cao năm nay?
Thứ trưởng Bùi Thanh Sơn: Phát huy vai trò của nước chủ nhà APEC 2017, Đoàn đại biểu cấp cao nước ta do Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc dẫn đầu đã đóng góp tích cực, chủ động và có trách nhiệm tại Tuần lễ Cấp cao năm nay.
Thủ tướng Chính phủ đã đề xuất nhiều định hướng đẩy mạnh thương mại và đầu tư tự do và mở, liên kết kinh tế khu vực, kết nối và phát huy vai trò đi đầu của APEC trong thúc đẩy trật tự quốc tế dựa trên luật lệ, ủng hộ vai trò của các định chế toàn cầu, hệ thống thương mại đa phương mở, minh bạch, công bằng và vai trò trung tâm của WTO.
Thủ tướng Chính phủ đề nghị APEC cần đóng vai trò khởi xướng, “vườn ươm” cho những ý tưởng về đổi mới sáng tạo để châu Á – Thái Bình Dương trở thành trung tâm công nghệ toàn cầu. Thủ tướng Chính phủ cũng đưa ra nhiều đề xuất nhằm phát triển kinh tế số, nổi bật là, kết nối số, thương mại số, công nghệ tài chính, kết nối các trung tâm đổi mới sáng tạo, đầu tư hạ tầng số, đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số, hỗ trợ các thành viên đang phát triển chuyển đổi cơ cấu, xây dựng năng lực quản trị, nền tảng công nghệ số, thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tại châu Á – Thái Bình Dương.
Đoàn ta đã phối hợp với các thành viên đẩy mạnh triển khai các kết quả quan trọng của Năm APEC 2017. Thủ tướng Chính phủ đề nghị APEC cần thúc đẩy tăng trưởng bao trùm và sáng tạo, thực hiện SDGs, đặt người dân vào trung tâm của phát triển, bảo đảm an ninh lương thực, an ninh nguồn nước và ứng phó với biến đổi khí hậu.
Với vai trò khởi xướng xây dựng Tầm nhìn APEC sau năm 2020 của Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã đưa ra nhiều đề xuất nhằm hướng tới xây dựng cộng đồng châu Á - Thái Bình Dương hòa bình, ổn định, năng động, gắn kết và thịnh vượng.
Đoàn ta cũng tích cực đóng góp thúc đẩy những quan tâm chung về duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực, kết nối tiểu vùng, vùng sâu vùng xa, nâng cao năng lực, quản lý và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên, trong đó có nguồn nước.
Trước tình hình căng thẳng của Hội nghị, trên cơ sở kinh nghiệm và những kết quả của năm 2017, Đoàn ta cũng phối hợp chặt chẽ với các nước ASEAN và chủ nhà Papua New Guinea đưa ra nhiều giải pháp để hỗ trợ tháo gỡ khó khăn.
Trong dịp Tuần lễ Cấp cao, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã có các cuộc hội đàm, trao đổi sâu rộng với nhiều lãnh đạo các nền kinh tế, trong đó có Thủ tướng chủ nhà Papua New Guinea, New Zealand, Vanuatu, Lãnh đạo các quốc đảo Thái Bình Dương và nhiều thành viên APEC khác. Thủ tướng đã tọa đàm với nhiều doanh nghiệp lớn thành viên ABAC và Liên minh doanh nghiệp Hoa Kỳ trong APEC.
Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh cũng đã có cuộc gặp với Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao New Zealand, các Bộ trưởng Ngoại giao Papua New Guinea, Nhật Bản, Australia và nhiều Bộ trưởng Ngoại giao APEC, gặp và trao văn bản phê chuẩn Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) cho Bộ trưởng Thương mại và Xuất khẩu New Zealand.  
Nhiều thành viên chúc mừng và đánh giá cao việc chúng ta chính thức trao văn kiện phê chuẩn Hiệp định CPTPP cho New Zealand - nước lưu chiểu Hiệp định - trong dịp Tuần lễ Cấp cao APEC cũng như những thành tựu phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế của ta thời gian gần đây. 
Thủ tướng và Lãnh đạo các nước đã nhất trí về những phương hướng và các biện pháp thúc đẩy quan hệ song phương và tăng cường hợp tác, phối hợp trên các diễn đàn đa phương. Các nhà lãnh đạo nhất trí phối hợp chặt chẽ để thúc đẩy các kết quả mà APEC đã đạt được trong năm 2017 tại Việt Nam và 2018 tại Papua New Guinea. Lãnh đạo các nước cũng khẳng định hoặc tái khẳng định sự ủng hộ đối với việc Việt Nam ứng cử vào vị trí Ủy viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021 và tin tưởng Việt Nam sẽ đảm nhiệm thành công vai trò này.
Lãnh đạo các doanh nghiệp đánh giá cao vai trò ngày càng tăng của Việt Nam trong chuỗi sản xuất khu vực và toàn cầu cũng như quyết tâm của chính phủ trong kiến tạo phát triển, tiếp tục đổi mới và hội nhập quốc tế. Các doanh nghiệp đã khẳng định sẽ sớm thúc đẩy các hoạt động kinh doanh hoặc tiếp tục tăng cường, mở rộng đầu tư và kinh doanh tại Việt Nam.
Những hoạt động song phương nói trên đã góp phần làm tăng thêm hiệu quả của Việt Nam khi tham gia các hoạt động của Tuần lễ Cấp cao APEC 2018, đem lại những lợi ích thiết thực cho đất nước và nâng cao vị thế quốc tế của nước ta.
PV: Xin cảm ơn Thứ trưởng./.
Mạnh Hùng
http://dangcongsan.vn/thoi-su/viet-nam-dong-gop-tich-cuc-co-trach-nhiem-tai-apec-26-505465.html

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC BẢN CHẤT CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA DO ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO


KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC BẢN CHẤT CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA DO ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO

Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam ngày nay do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng. Bản chất của chế độ đó là quyền làm chủ của nhân dân gắn liền với bảo vệ độc lập dân tộc do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo theo con đường của Chủ nghĩa Mác-Lênin.
Tư tưởng đó xuyên suốt các giai đoạn cách mạng Việt Nam từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (năm 1930), qua các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược cho đến ngày nay-sự nghiệp xây dựng đất nước, hội nhập quốc tế. Thế nhưng, vì những mục tiêu xấu độc, trên internet, mạng xã hội (MXH) có kẻ cho rằng “Nhà nước Việt Nam theo mô hình Xô viết”, chế độ “độc tài toàn trị'', ''lệ thuộc vào nước ngoài''... Vậy lịch sử và thực tiễn chế độ xã hội XHCN ở Việt Nam đã vận động và phát triển như thế nào?
 Cương lĩnh đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi thảo-Chính cương vắn tắt của Đảng (năm 1930)-xác định mục tiêu trước mắt của Đảng Cộng sản Việt Nam là: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Về xã hội: “Dân chúng được tự do tổ chức; nam, nữ bình quyền”… Về chính trị: “Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến; làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập”…
Sau thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám, trong Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945, tư tưởng gắn chế độ dân chủ với nền độc lập dân tộc được Chủ tịch Hồ Chí Minh nâng cao từ những giá trị tư tưởng lớn trong Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ (năm 1776) và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp (năm 1789). Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”… “Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”.
Vào năm 1966, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam đang ở giai đoạn quyết liệt, kế thừa, phát triển tư tưởng gắn liền chế độ dân chủ với độc lập dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát một chân lý thời đại: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”!
Sau khi đất nước được hoàn toàn giải phóng, Bắc-Nam sum họp một nhà (năm 1975), mục tiêu của Đảng Cộng sản Việt Nam là “Dân giàu, nước mạnh”. Tuy nhiên, nhận thức về chế độ dân chủ có lúc cũng phạm những sai lầm. Thời kỳ từ khi đất nước được hoàn toàn giải phóng đến trước Đại hội VI (1975-1985), Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương xây dựng xã hội theo mô hình cũ của CNXH. Về chính trị, đó là xây dựng “Nhà nước chuyên chính vô sản”; về kinh tế đó là xây dựng “nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung” với hai thành phần duy nhất là kinh tế tập thể và kinh tế nhà nước. Do đó, nhiều quyền về chính trị, kinh tế của người dân không được tôn trọng, bảo đảm.
Từ Đại hội VI (năm 1986) đến Đại hội XI (năm 2011) và Đại hội XII (năm 2016), Đảng Cộng sản Việt Nam đã chuyển sang đường lối đổi mới. Mục tiêu của Đảng Cộng sản Việt Nam là xây dựng chế độ XHCN gắn với độc lập dân tộc. “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011)” được Đại hội XI của Đảng thông qua, xác định mục tiêu tổng quát của Đảng Cộng sản Việt Nam và dân tộc Việt Nam là xây dựng xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện;… có Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.
Thể chế hóa Cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 2011, Hiến pháp năm 2013 quy định cụ thể hơn các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Có thể khẳng định Hiến pháp năm 2013 và hệ thống pháp luật của Việt Nam không chỉ tương thích với pháp luật quốc tế mà còn tiên tiến hơn nhiều quốc gia, trong đó có việc ký kết các công ước quốc tế về quyền con người. Thực tế, có quốc gia phát triển cao nhưng chưa phê chuẩn “Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa”, hoặc có quốc gia không gia nhập “Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị”. Trong khi đó, Việt Nam đã gia nhập cả hai công ước nói trên.
Không phải ngẫu nhiên Điều 4, Hiến pháp 2013 quy định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo xã hội và Nhà nước. Lịch sử hơn 80 năm, từ khi ra đời đến nay (1930-2018), Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng chính trị duy nhất lãnh đạo cuộc đấu tranh giành và bảo vệ độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam; đồng thời, cũng là tổ chức chính trị dẫn dắt dân tộc Việt Nam sớm đi vào trào lưu văn minh của nhân loại.
Đại hội XII của Đảng xác định đường lối đối ngoại, quan hệ quốc tế của Việt Nam là “Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia-dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển... Trên cơ sở vừa hợp tác, vừa đấu tranh, nhằm phục vụ mục tiêu giữ vững hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước”(1).
Trong giai đoạn 1989-1991, Việt Nam luôn phải đối diện với nhiều nguy cơ, thách thức, việc xác định “đối tác”, “đối tượng” của cách mạng là vấn đề chính trị mới và nhạy cảm. Hội nghị Trung ương 8, khóa IX của Đảng đề ra “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”. Trên tinh thần thêm bạn, bớt thù, phân hóa, cô lập các thế lực thù địch, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định “đối tác” và “đối tượng” của cách mạng Việt Nam có nguyên tắc và linh hoạt: “Những ai chủ trương tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta. Bất kể thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh…”, trong đối tác có thể có đối tượng và ngược lại. Như vậy, thay vì quan điểm chính trị trong thời kỳ chiến tranh lạnh-lấy ý thức hệ làm tiêu chí “bạn”, “thù”, thì nay Đảng Cộng sản Việt Nam lấy lợi ích quốc gia, dân tộc làm tiêu chí bạn-thù. Đồng thời, lấy nguyên tắc tôn trọng chế độ chính trị, hai bên cùng có lợi làm tiêu chí để hợp tác với các quốc gia không phân biệt chế độ chính trị, ý thức hệ.
Ngày nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đặt trong bối cảnh chính trị quốc tế, khu vực và sự ra đời của internet, MXH, nguy cơ những cuộc chiến tranh xâm lược bằng vũ trang cổ điển dường như giảm đi, thì nguy cơ mất chế độ xã hội từ những chiến lược “mềm”-chiến lược “diễn biến hòa bình” với thủ đoạn lợi dụng internet, MXH có xu hướng tăng lên. Ứng phó với cuộc chiến này, vũ khí của chúng ta không chỉ bằng công tác tư tưởng, chính trị, mà còn bằng pháp luật và các chế tài theo luật định.
Các thế lực thù địch trong và ngoài nước gần đây đã tăng cường hoạt động nhằm từng bước chuyển hóa chế độ xã hội ở Việt Nam sang con đường tư bản chủ nghĩa. Những vụ án liên quan đến tội “lợi dụng quyền tự do ngôn luận…” gần đây là một ví dụ. Chẳng hạn, Tòa án Nhân dân (TAND) tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm bị cáo Lê Đình Lượng về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” (ngày 16-8-2018). Trước đó, vụ Trần Thị Nga (Hà Nam), Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (Đà Nẵng) cùng tội danh và cùng thủ đoạn sử dụng internet, MXH để tung tin xuyên tạc chế độ xã hội và Nhà nước Việt Nam. Gần đây nhất, ngày 19-9-2018, TAND tỉnh Hòa Bình xét xử bị cáo Đào Quang Thực về tội danh “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Những bản án nghiêm khắc cho các đối tượng chống phá chế độ nói trên để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, bảo vệ cuộc sống bình yên cho nhân dân là cần thiết.
Chế độ dân chủ nhân dân, nay là dân chủ XHCN do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng. Bản chất của chế độ là bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân gắn liền với bảo vệ độc lập dân tộc. Chế độ đó đã trải qua nhiều thời kỳ lịch sử và phát triển cùng với nền văn minh nhân loại. Toàn thể dân tộc Việt Nam không cho phép bất cứ ai, với bất cứ lý do gì để xuyên tạc, bôi nhọ chế độ xã hội mà cả dân tộc đã đổ không biết biết bao nhiêu mồ hôi, xương máu để giành và bảo vệ chế độ đó.
BẮC HÀ
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, NXB Chính trị Quốc gia, 2016, tr.153.

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC, BÔI ĐEN HÌNH ẢNH ĐẤT NƯỚC TRONG ĐỔI MỚI, HỘI NHẬP QUỐC TẾ


KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC, BÔI ĐEN HÌNH ẢNH ĐẤT NƯỚC
TRONG ĐỔI MỚI, HỘI NHẬP QUỐC TẾ

Hơn 30 năm qua kể từ khi Đảng và Nhà nước Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới (từ năm 1986 đến nay), nhìn tổng thể, công cuộc đổi mới của đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam đất nước đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, xã hội-nhất là sau cuộc khủng hoảng, sụp đổ của Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) Đông Âu (1985-1991). Từ tình trạng một quốc gia kém phát triển, lương thực không đủ… đến nay Việt Nam trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình; sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên: Chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao.
Thế nhưng lợi dụng internet, mạng xã hội (MXH) và những mặt tiêu cực trong xã hội chưa được khắc phục, một số kẻ đã tán phát luận điệu, xuyên tạc bản chất của xã hội XHCN, bôi đen hình ảnh của đất nước Việt Nam. Về tình hình trong nước, họ cường điệu những khó khăn trên lĩnh vực kinh tế, rằng “nền kinh tế Việt Nam đang đứng bên bờ vực thẳm”. Về cuộc đấu tranh chống tham nhũng họ viết: Đó chỉ là “cuộc đấu đá giữa nhóm tham nhũng mới với nhóm tham nhũng cũ”. Về chế độ xã hội họ viết: Ở Việt Nam “các quyền của người, nhất là quyền tự do ngôn luận, quyền “tự do internet, MXH” bị xâm phạm bởi Luật An ninh mạng…".
Tuy nhiên, nhìn từ thực tiễn có thể thấy, từ khi được hoàn toàn giải phóng đến nay, Việt Nam đã trải qua những thời kỳ đầy khó khăn, do cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Trong thời kỳ trước đổi mới (1975-1985), dân tộc Việt Nam đã phải đấu tranh với cuộc bao vây cấm vận nghiệt ngã của Mỹ (từ năm 1975 đến năm 1994). Trong thời kỳ này, Mỹ đã cản trở các tổ chức tài chính quốc tế và các nước cho Việt Nam vay tín dụng… Đến năm 1994, Mỹ mới tuyên bố bãi bỏ hoàn toàn cấm vận Việt Nam và bình thường hóa quan hệ với Việt Nam vào tháng 7-1995. Cũng trong thời kỳ 1975-1985, những sai lầm của mô hình xây dựng xã hội theo mô hình chủ nghĩa xã hội (CNXH) kiểu cũ khiến nền kinh tế đất nước trì trệ, đời sống của nhân dân gặp rất nhiều khó khăn. Là một quốc gia nông nghiệp, đất đai phì nhiêu, người dân cần cù, sáng tạo thế nhưng ở nhiều nơi đã xuất hiện tình trạng thiếu đói. Còn nhớ thời kỳ này, trong khi vết thương chiến tranh chưa được hàn gắn, thì dân tộc Việt Nam lại phải tiến hành hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.
Bước sang thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến nay), mở đầu là Đại hội VI (năm 1986), dựa trên đổi mới tư duy lý luận-chính trị và kinh tế, Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện đường lối chính sách xây dựng xã hội theo mô hình mới của CNXH. Về chính trị, đó là xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Trong mô hình này, các quyền bình đẳng về dân sự và chính trị được bảo đảm (về phương diện pháp lý). Về kinh tế đó là nền kinh tế thị trường, nhiều thành phần, cạnh tranh bình đẳng… theo định hướng XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Về đối ngoại, Việt Nam thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, với phương châm đa dạng hóa, đa phương hóa; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Như vậy có thể nói, trong mô hình mới của CNXH các quyền bình đẳng về chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội và văn hóa đã được bảo đảm.
Nét đặc sắc trong xây dựng xã hội theo mô hình mới của CHXH, đó là các quyền con người, quyền công dân được bảo đảm bằng pháp luật cũng như trên thực tế. Hiến pháp năm 2013 dành một chương (Chương II) quy định về đầy đủ về “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”. Những quy định về quyền con người tại chương này hoàn toàn tương thích với các công ước quốc tế về quyền con người, trong đó có những quyền được xem là “nhạy cảm” cũng đã được đưa vào văn kiện này. Thể chế hóa Hiến pháp năm 2013 và nội luật hóa các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã gia nhập, ký kết, Quốc hội Việt Nam vừa qua đã sửa và xây dựng nhiều đạo luật mới. Đó là Luật Báo chí (năm 2016), Luật Tiếp cận thông tin (năm 2013), Luật An ninh mạng (năm 2018)... Các quy định của những bộ luật trên đều nhằm bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự công cộng và quyền con người. Việt Nam hòa mạng internet toàn cầu khá sớm so với nhiều quốc gia trong khu vực-từ ngày 1-12-1997. Theo tổ chức nghiên cứu về MXH quốc tế-Next Web, hiện nay Việt Nam nằm trong “Top 10 quốc gia có nhiều người dùng Facebook nhất thế giới” với 64 triệu người, chiếm 3% tổng số tài khoản Facebook toàn cầu.
Trên lĩnh vực kinh tế, hình ảnh đất nước, cuộc sống của nhân dân đã được nâng cao đáng kể. Triển khai Chương trình 135 về phát triển kinh tế-xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc ít người, miền núi, vùng sâu, vùng xa… cho đến nay các xã, cụm dân cư đã có đủ cơ sở xã hội thiết yếu, như: Điện, đường giao thông, trường học, trạm y tế. Tỷ lệ hộ đói, nghèo giảm nhanh, luôn đạt và vượt mục tiêu đề ra qua các giai đoạn, hoàn thành và vượt mức mục tiêu Thiên niên kỷ về giảm nghèo trước 10 năm… Giai đoạn 1992-1998, tỷ lệ đói nghèo ở Việt Nam bình quân mỗi năm giảm 2-3%. Đến hết năm 2010, tỷ lệ hộ nghèo của Việt Nam là 9,45%, vượt mục tiêu đề ra là 10%. Chính phủ Việt Nam đã xây dựng Định hướng giảm nghèo giai đoạn 2011-2020 với mục tiêu giảm số hộ nghèo còn 4-5% vào năm 2020. Theo đánh giá của Liên hợp quốc, Việt Nam đã giảm được một nửa tỷ lệ đói nghèo trong hơn một thập kỷ và là một trong những quốc gia đạt tốc độ giảm đói nghèo nhanh nhất thế giới.
Về cuộc đấu tranh chống tham nhũng, có thể nói chưa nhiệm kỳ nào Đảng Cộng sản Việt Nam triển khai một chiến lược bài bản, quy mô như hiện nay. Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam trong cuộc đấu tranh này là “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ” và “phải làm đến cùng”; là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị.
Trong quan hệ quốc tế, vị thế quốc tế của Việt Nam được nâng cao vượt bậc. Cho đến nay Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với 13 quốc gia; Việt Nam cũng đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Ấn Độ, Nga, Trung Quốc. Với Hoa Kỳ, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác toàn diện. Trong thời kỳ đổi mới Việt Nam tham gia vào nhiều cơ quan quan trọng của tổ chức quốc tế rộng lớn: (1) Là Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an nhiệm kỳ 2008-2009; (2) thành viên Hội đồng Kinh tế-xã hội nhiệm kỳ 2016-2018; (3) Việt Nam được bầu vào Hội đồng Nhân quyền (nhiệm kỳ 2014-2016)… Ngày 25-5-2018 vừa qua, trong cuộc họp của Nhóm châu Á-Thái Bình Dương tại Liên hợp quốc, các nước trong khu vực đã nhất trí thông qua đề cử Việt Nam là ứng cử viên duy nhất của nhóm vào vị trí Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an (nhiệm kỳ 2020-2021-tại cuộc bầu cử sẽ được tổ chức vào tháng 6-2019).
Là thành viên có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế, Việt Nam đã và đang tham gia vào lực lượng Gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. "Từ năm 2014, Việt Nam đã cử các sĩ quan tham gia các phái bộ gìn giữ hòa bình ở Cộng hòa Trung Phi và ở Nam Sudan. Mới đây, ngày 25-6-2018, Cục Hỗ trợ thực địa Liên hợp quốc đã công bố kết quả thanh sát địa điểm huấn luyện gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc tại các nước thuộc ASEAN, theo đó Việt Nam cùng với 3 nước là Campuchia, Indonesia, Thái Lan được chọn làm địa điểm huấn luyện gìn giữ hòa bình quốc tế luân phiên. Việt Nam cũng đang nỗ lực để triển khai Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 1 tại Nam Sudan”[1].
Đi theo con đường của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, dân tộc Việt Nam không chỉ đã giành được quyền con người mà còn có những đóng góp to lớn trên lĩnh vực này từ tư tưởng lý luận cho đến thực tiễn. Công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế là một thời kỳ phát triển vượt bậc của Việt Nam về các phương diện, trong đó có quyền con người. Các quyền con người đều có những bước bảo đảm cao hơn, vị thế của dân tộc, đất nước được nâng cao hơn; được cộng đồng quốc tế trân trọng ghi nhận.
TIẾN BẮC

[1] - “Việt Nam chủ động phát huy vai trò tích cực tại Kỳ họp cấp cao Đại hội đồng LHQ” Báo Tin tức, TTXVN - 24-9-2018.
http://www.qdnd.vn/chong-dien-bien-hoa-binh/thanh-tuu-nhan-quyen-viet-nam/khong-the-xuyen-tac-boi-den-hinh-anh-dat-nuoc-trong-doi-moi-hoi-nhap-quoc-te-554854

CHÚ TRỌNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC


CHÚ TRỌNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC

Nhà giáo là nhân tố quyết định thành công của quá trình đổi mới giáo dục. Vì vậy, trong mọi thời kỳ, việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên luôn được ngành giáo dục xác định là nhiệm vụ trọng tâm. Thời điểm hiện nay, khi chương trình giáo dục phổ thông mới sắp được triển khai thì việc chuẩn bị tốt mọi mặt đội ngũ nhà giáo (ĐNNG) càng đóng vai trò tiên quyết.
Coi trọng chất lượng đội ngũ nhà giáo
Tính đến tháng 8-2018, cả nước có 1.161.143 giáo viên mầm non, phổ thông (công lập 1.089.837, ngoài công lập 71.306). Về cơ bản, ĐNNG và cán bộ quản lý giáo dục (QLGD) ở tất cả cấp học đã đạt chuẩn và trên chuẩn trình độ đào tạo. Đây là tiền đề để Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đề xuất nâng chuẩn trình độ đào tạo cho giáo viên trong Luật Giáo dục (sửa đổi). Hầu hết cán bộ quản lý, giáo viên có lòng yêu nghề, có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp tốt, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, có ý chí vươn lên, tích cực học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Năng lực sư phạm của phần lớn nhà giáo được nâng lên, đáp ứng được yêu cầu đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục.
Bộ GD&ĐT đã trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2025. Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để quản lý và phát triển đội ngũ cán bộ QLGD, giáo viên, nhân viên theo Luật Viên chức, góp phần phát triển và tạo động lực cho ĐNNG và cán bộ QLGD. 
ĐNNG và cán bộ QLGD đã tăng mạnh về số lượng, chất lượng và ngày càng đồng bộ về cơ cấu trong 5 năm qua, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục của đất nước. Sự bất hợp lý trong cơ cấu ĐNNG theo cấp, bậc học, theo chuyên môn, ngành nghề và vùng miền ở những năm đầu thực hiện nghị quyết đã dần được khắc phục.
Công tác bồi dưỡng nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên theo các yêu cầu của chuẩn nghề nghiệp được các địa phương quan tâm triển khai thông qua các hình thức khác nhau. Một số địa phương thực hiện nhiều giải pháp liên kết với các cơ sở uy tín ở nước ngoài trong công tác bồi dưỡng đội ngũ; tổ chức các hoạt động sinh hoạt chuyên môn, bồi dưỡng giáo viên thông qua nghiên cứu bài học. Công tác bồi dưỡng thường xuyên cho đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên mầm non, phổ thông được chú trọng, nhiều sở GD&ĐT đã tích cực chủ động phối hợp tốt với các cơ sở đào tạo giáo viên trong công tác xây dựng kế hoạch và bồi dưỡng đội ngũ; công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên ở nước ngoài tiếp tục được quan tâm đầu tư thông qua các đề án đào tạo bằng ngân sách Nhà nước, học bổng hiệp định và các chương trình học bổng khác, trong đó, hầu hết số tiến sĩ này là giảng viên các trường đại học, cao đẳng, đóng góp quan trọng trong nâng cao chất lượng giảng viên của Việt Nam.
Bộ cũng đã trình Thủ tướng Chính phủ đề án nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục đại học và các trường cao đẳng sư phạm đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT giai đoạn 2018-2030; đã ban hành văn bản quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên và chuẩn hiệu trưởng theo định hướng cập nhật, đáp ứng yêu cầu của GD&ĐT trong giai đoạn mới; xây dựng khung năng lực giáo viên phổ thông các môn học đặc thù; xây dựng chuẩn nghề nghiệp giảng viên sư phạm; xây dựng tiêu chuẩn và quy trình lựa chọn giảng viên sư phạm chủ chốt, giáo viên và cán bộ quản lý trường phổ thông cốt cán; xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý với trường sư phạm và trường phổ thông trong bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ QLGD; nghiên cứu những vấn đề cần thiết để đề xuất sửa đổi các nội dung về nhà giáo trong quá trình sửa đổi Luật Giáo dục và Luật Giáo dục đại học; rà soát, sửa đổi, bổ sung chương trình bồi dưỡng thường xuyên giáo viên, cán bộ QLGD các cấp học mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông theo chuẩn.
Bộ GD&ĐT thường xuyên rà soát mạng lưới, quy mô và phương thức đào tạo của các cơ sở đào tạo giáo viên; triển khai chương trình phát triển các trường sư phạm để nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục phổ thông; khảo sát nhu cầu sử dụng giáo viên của các địa phương làm căn cứ xác định chỉ tiêu các ngành đào tạo giáo viên, nâng cao chất lượng đầu vào đối với ngành sư phạm. Các trường sư phạm đổi mới chương trình đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông và xây dựng mới 50 chương trình đào tạo. Các trường, khoa sư phạm là đơn vị chủ đạo trong công tác đào tạo và bồi dưỡng giáo viên và cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cho các ngành nghề khác.
Tiếp tục bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ nhà giáo đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
Triển khai nhiệm vụ và giải pháp về phát triển ĐNNG đáp ứng yêu cầu đổi mới GD&ĐT được đặt ra trong Nghị quyết số 29 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT, trước mắt và lâu dài, Bộ GD&ĐT sẽ tập trung vào một số nhiệm vụ cụ thể.
Xây dựng, hoàn thiện chính sách, chế độ đối với ĐNNG và cán bộ QLDG. Xây dựng, ban hành chuẩn nghề nghiệp theo tinh thần tiếp cận năng lực; phê duyệt đề án nâng cao năng lực giảng viên. Đồng thời xây dựng quy hoạch tổng thể và tiêu chuẩn trường sư phạm hiện đại, năng động, tự chủ; kiểm định, xếp hạng và sắp xếp lại mạng lưới các trường sư phạm. Đổi mới hoạt động đào tạo giáo viên dựa theo chuẩn đầu ra cho sinh viên sư phạm gắn với chuẩn nghề nghiệp.
Triển khai Dự án “Chương trình phát triển các trường sư phạm để nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục phổ thông” đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Ban hành các chương trình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý trường phổ thông thống nhất trong cả nước. Xây dựng hệ thống tập huấn, bồi dưỡng giáo viên qua mạng; tổ chức tập huấn, bồi dưỡng giáo viên kết hợp hai hình thức trực tiếp và qua mạng.
Chỉ đạo địa phương quán triệt tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6, khóa XII trong việc tuyển dụng, sử dụng giáo viên; xác định số giáo viên thừa, thiếu từng cấp học, môn học; thực hiện tốt việc đánh giá, xếp loại giáo viên và thực hiện tinh giản biên chế đối với giáo viên, cán bộ quản lý theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức.
Xây dựng và thực hiện các chính sách tạo động lực cho giáo viên và giáo sinh: Xây dựng các quy định gắn kết hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học của giảng viên sư phạm; điều chỉnh, bổ sung các quy chế thực hành nghiệp vụ sư phạm, quy chế thực tập sư phạm của sinh viên sư phạm; nghiên cứu chính sách hỗ trợ sinh viên sư phạm trong thời gian học và sau khi ra trường; nghiên cứu, rà soát và đề xuất chế độ, chính sách tuyển dụng, sử dụng, lương, phụ cấp và thu nhập của giáo viên,...
Phát triển và nâng cao chất lượng ĐNNG là nhiệm vụ xuyên suốt, bởi giáo viên là nhân tố quyết định thành công của quá trình đổi mới giáo dục. Thực tiễn cho thấy, nếu được quan tâm, tạo điều kiện tốt về thu nhập, đời sống, được trân trọng những cống hiến nghề nghiệp, chất lượng giáo viên, hiệu quả giáo dục sẽ được tăng lên. Trách nhiệm của ngành giáo dục là cùng toàn xã hội tạo ra điều kiện, môi trường tốt nhất cho giáo viên được phát triển và cống hiến.
TS NGUYỄN HỮU ĐỘ, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
http://www.qdnd.vn/van-hoa-giao-duc/giao-duc/chu-trong-nang-cao-chat-luong-doi-ngu-giao-vien-dap-ung-yeu-cau-doi-moi-giao-duc-554925

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...