Thứ Năm, 5 tháng 10, 2017

ĐÁNH GIÁ SAI LỆNH VỀ TỰ DO, DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM CỦA FH
                                                      Trần Trí Nam
Thời gian qua, rất nhiều tổ chức phi chính phủ dựa vào các thông tin thiếu khách quan, trung thực trên các phương tiện thông tin truyền thông để quy kết, đánh giá sai lệnh về tình hình tự do, dân chủ ở Việt Nam. Mà một trong số đó là đánh giá của tổ chức phi chính phủ Freedom House (FH).
Ngày 31/1/2017, FH - một tổ chức tự cho mình chức năng là “theo dõi tiến trình dân chủ hóa toàn cầu, cũng như khảo sát và nghiên cứu về tình trạng thực thi tự do chính trị cũng như các quyền tự do cơ bản của công dân tại các quốc gia trên thế giới”, đã công bố phúc trình về tự do toàn cầu với 195 quốc gia trên thế giới. Trong đó, FH đã liệt Việt Nam vào 1 trong số 49 quốc gia trên thế giới hoàn toàn không được tự do về nhiều mặt. Trong lời tuyên bố của mình, bà Sarah Repucci (Giám đốc chuyên trách xuất bản toàn cầu của FH), nói rằng: “Chúng tôi nhận thấy, năm nay Việt Nam chẳng có thay đổi nào đáng kể so với năm ngoái, nhiều người đối lập vẫn bị bắt giữ, tiếng nói của các xã hội dân sự hay của những nhà hoạt động độc lập bị dập tắt”. Nếu theo dõi đầy đủ các bản báo cáo của FH, chúng ta có thể nhận thấy hầu như năm nào, FH cũng cho rằng Việt Nam là nước không có tự do, dân chủ. Đây chính là đánh giá hoàn toàn sai lệch về tình hình tự do, dân chủ ở Việt Nam. Nói cách khác, đó chính là sự vu cáo trắng trợn, mang tính áp đặt, thể hiện rõ ý đồ muốn lợi dụng chiêu bài dân chủ - nhân quyền, hòng can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Vậy vì sao FH lại đánh giá hoàn toàn sai lệch về tình hình tự do, dân chủ ở Việt Nam?
Thứ nhất, có thể trả lời một cách chắc chắn cho bà Sarah Repucci cũng như toàn thể tổ chức FH rằng, Việt Nam là một nước có tự do, dân chủ và đang ngày càng mở rộng, đảm bảo quyền tự do, dân chủ của người dân. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn khẳng định nhất quán việc phát triển giá trị tự do, dân chủ. Và tự do là một trong 3 tiêu chí để xây dựng nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Độc lập – Tự do – Hạnh phúc). Tự do, dân chủ còn được văn bản có giá trị pháp lý cao nhất ở Việt Nam là Hiến pháp hiến định từ khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời năm 1945 đến nay. Trong đó, riêng ở bản Hiến pháp mới nhất của Việt Nam - Hiến pháp năm 2013, đã dành hẳn 1 chương để hiến định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Điều này, phản ánh nội dung quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân thông qua các chế định từ Điều 14 đến Điều 49, chương II (36 điều), hiến định một cách đầy đủ, toàn diện các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân ở Việt Nam, cũng như việc bảo đảm các quyền đó. Đề cập về quyền tự do, Điều 23, 24, 25, Hiến pháp 2013 hiến định các quyền tự do về đi lại và cư trú; tự do tín ngưỡng, tôn giáo; tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Tuy nhiên các quyền tự do này đều phải tuân theo pháp luật, chứ không chấp nhận tự do tùy tiện, vô nguyên tắc dẫn tới xâm hại đến lợi ích, quyền của con người, cũng như lợi ích của quốc gia dân tộc.
Thứ hai, thực tế trong những năm vừa qua, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn chú ý đảm bảo quyền tự do, dân chủ về chính trị của nhân dân. Người dân được trực tiếp lựa chọn người lãnh đạo của mình, được trực tiếp tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội – cơ quan quyền lực cao nhất, thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân và tham gia bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân các cấp. Người dân được quyền cho ý kiến về hoạt động của cơ quan công quyền thông qua hình thức dân chủ đại diện hoặc dân chủ trực tiếp. Vì vậy, quan điểm của FH cho rằng có rất nhiều nhà hoạt động đối lập bị bắt giữ, bị phạt tù là hoàn toàn vô lý. Bởi lẽ, nhà hoạt động đối lập đó là ai khác ngoài Cấn Thị Thêu, Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Trần Thị Nga,… Đây là những đối tượng đã nhận tiền từ các tổ chức phản động bên ngoài, lợi dụng tự do ngôn luận để tuyên truyền xuyên tạc, kích động người dân gây rối trật tự công cộng, gây dư luận xấu trong nhân dân, vi phạm pháp luật Việt Nam. Mặc dù đã được các cơ quan chức năng nhắc nhở nhiều lần nhưng vẫn quyết tâm chống đối, hòng nhận thêm tiền viện trợ từ bên ngoài. Việc bắt giữ các đối tượng trên là thực hiện đúng quy định của pháp luật, được nhân dân địa phương ủng hộ, hoàn toàn không phải là đàn áp người bất đồng với chính quyền. Đây là một hành động nhằm đảm bảo đúng đắn việc thực hiện quyền tự do, dân chủ của nhân dân Việt Nam. Và trên thực tế, rất nhiều quốc gia đều tiến hành bắt giữ các đối tượng lợi dụng tự do ngôn luận để xuyên tạc, vu cáo chính quyền, kích động người dân gây rối như: Singgapo, Anh, Nga,… và cả ở Mỹ.
Thứ ba, tình hình tự do báo chí, tự do thông tin ở Việt Nam ngày càng được thực thi hiệu quả. Những năm qua, hầu hết người dân Việt Nam đều được thụ hưởng thành tựu về sự phát triển như vũ bão của các cơ quan thông tin đại chúng, mà nổi bật là báo chí, xuất bản. Trong đó, báo mạng có sự phát triển hết sức mạnh mẽ. Theo số liệu của Bộ Thông tin và truyền thông, đến hết năm 2015, Việt Nam có 858 cơ quan báo chí. Trong đó có: 199 cơ quan báo in chiếm 24% (86 báo trung ương và các bộ, ngành, đoàn thể; 113 báo địa phương) và 659 tạp chí chiếm 76% (522 tạp chí trung ương, các bộ, ngành, trường đại học và viện nghiên cứu; 137 tạp chí địa phương); 105 cơ quan báo điện tử (Trong đó có: 83 báo, tạp chí điện tử của cơ quan báo chí in và 22 báo, tạp chí điện tử độc lập), 207 trang thông tin điện tử tổng hợp của các cơ quan báo chí; 66 đài phát thanh, truyền hình (Trong đó có: 02 đài Trung ương, 64 đài địa phương (riêng TP. Hồ Chí Minh có 02 đài: Đài Truyền hình TP. Hồ Chí Minh và Đài Tiếng nói nhân dân TP. Hồ Chí Minh); có gần 18.000 nhà báo được cấp thẻ đang hoạt động trên khắp mọi vùng miền của Tổ quốc và ở nước ngoài[1]. 
Hiện nay, Việt Nam trở thành nước dẫn đầu trong khu vực về sự phát triển của Internet, với gần 50 triệu người dùng (chiếm 52% dân số cả nước[2]). Tỉ lệ phủ sóng phát thanh đạt 98%; tỉ lệ phủ sóng truyền hình đạt 98%[3]. Đây cũng chính là kênh thông tin để người dân nâng cao nhận thức về tình hình mọi mặt của đất nước, cũng như quốc tế. Và từ lâu Việt Nam đã không có vùng cấm trong báo chí, báo chí đã tham gia tích cực vào công cuộc xây dựng đất nước, góp phần  vào việc thực hiện đúng đắn chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, phanh phui ra hàng trăm trường hợp các quan chức tham ô, tham nhũng, trực tiếp đấu tranh vào những mảng tối nhất của xã hội. Vậy nếu Nhà nước không đảm bảo quyền tự do báo chí, liệu báo chí Việt Nam có phát triển như vậy không? Vì thế, đánh giá của FH khi cho rằng Việt Nam không có tự do báo chí, tự do thông tin và tự do mạng là thiếu khách quan và áp đặt.
Thứ tư, thực chất nguyên tắc tổ chức và hoạt động của FH chỉ là tổ chức do Chính phủ Mỹ dựng ra nhằm mục đích áp đặt quan điểm chính trị về tự do kiểu Mỹ. Xem lại lịch sử, dễ nhận thấy rằng, từ khi bắt đầu được thành lập năm1941, FH đã là “cỗ máy tuyên truyền” do cố Tổng thống Roosevelt lập ra, nhằm thực hiện những ý đồ chính trị của chính quyền Mĩ, cổ súy giá trị tự do của Mĩ. Trong chiến tranh lạnh, FH phát động chương trình đào tạo về nhân quyền cho các phần tử chống đối ở Ðông và Trung Âu; khuyến khích công đoàn và người lao động tham gia các hoạt động bí mật, qua đó can thiệp vào công việc nội bộ của một số nước ở Ðông và Trung Âu. Hầu hết kinh phí của FH do Chính phủ Hoa Kỳ tài trợ, và có liên quan trực tiếp tới rất nhiều các quan chức của Chính phủ Mỹ. Do vậy, có thể khẳng định, đứng sau FH chính là Chính phủ Mỹ, nhằm sử dụng tổ chức này như một công cụ, núp dưới chiêu bài dân chủ, nhân quyền, coi “nhân quyền” cao hơn chủ quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác.
Như vậy, đánh giá của FH về tự do, dân chủ ở Việt Nam năm 2017, là hoàn toàn sai lệch và mang tính áp đặt về chính trị. Đánh giá đó đi ngược lại với kết quả về thực hiện quyền tự do, dân chủ ở Việt Nam những năm qua. Và về thực chất thì FH chẳng qua cũng chỉ là công cụ mà Chính phủ Mỹ lợi dụng để xuyên tạc tình hình tự do, dân chủ trên thế giới, tuyên truyền giá trị tự do kiểu Mĩ với các quốc gia khác, trong đó có Việt Nam. Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam không chấp nhận các đánh giá mang tính bịa đặt, vu cáo và xuyên tạc, bóp méo tình hình tự do, dân chủ ở Việt Nam. Thực tiễn tình hình tự do, dân chủ ở Việt Nam đã khẳng định quyền tự do, dân chủ là quyền cơ bản của con người, công dân và luôn được Đảng, Nhà nước Việt Nam quan tâm thông qua các chính sách nhất quán và được pháp luật quy định, cũng như bảo đảm thực thi trên thực tế./.




[1] http://mic.gov.vn/Pages/TinTuc/116095/Tinh-hinh-phat-trien-linh-vuc-bao-chi-va-phat-thanh-truyen-hinh-nam-2015.html
[2] http://mic.gov.vn/Pages/TinTuc/116095/Tinh-hinh-phat-trien-linh-vuc-bao-chi-va-phat-thanh-truyen-hinh-nam-2015.html
[3] http://mic.gov.vn/Pages/TinTuc/116095/Tinh-hinh-phat-trien-linh-vuc-bao-chi-va-phat-thanh-truyen-hinh-nam-2015.html

Thứ Ba, 3 tháng 10, 2017

HÃY CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG HOẠT ĐỘNG CHỐNG PHÁ QUÂN ĐỘI CỦA TỔ CHỨC PHẢN ĐỘNG "VIỆT TÂN"

                                                              Thiên Thanh (St)

Ngày 30-4-1980, Hoàng Cơ Minh, nguyên chuẩn tướng, phó đề đốc Hải quân ngụy cùng một số ngụy quân lập ra một tổ chức, gọi là “Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam” (Việt Tân). Tổ chức này được sự hậu thuẫn trực tiếp của các phần tử cực đoan Mỹ và các phần tử người Việt lưu vong ở nước ngoài có khuynh hướng chống đối cách mạng Việt Nam. Ngay từ khi thành lập, Việt Tân đã lộ rõ bản chất phản động, với những “mưu hèn, kế bẩn” của một tổ chức khủng bố quốc tế.
Thời gian gần đây, trước những biến động của tình hình an ninh chính trị quốc tế, khu vực, những vấn đề nảy sinh, và những khó khăn thách thức về kinh tế, xã hội khi nước ta tham gia hội nhập sâu rộng vào kinh tế thế giới, những vấn đề phức tạp nảy sinh từ các mâu thuẫn, tranh chấp biên giới lãnh thổ, biển đảo… các thế lực thù địch và tổ chức phản động Việt Tân không những không từ bỏ âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước, quân đội mà chúng còn triệt để lợi dụng các vấn đề trên, gia tăng các hoạt động chống phá với tính chất ngày càng quyết liệt và tinh vi hơn. Đối với quân đội ta, chúng tập trung vào một số vấn đề sau:
- Triệt để lợi dụng sự phát triển của khoa học công nghệ, nhất là sự bùng nổ của công nghệ thông tin để tiến hành các hoạt động thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ quân đội, tích cực tuyên truyền phá hoại tư tưởng, kích động để hướng lái cán bộ, chiến sĩ xa rời mục tiêu lý tưởng chiến đấu, “thoát ly” sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện “phi chính trị hóa” quân đội.
- Lợi dụng vấn đề “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền” để gia tăng các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc bản chất quân đội, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với quân đội, chia rẽ khối đoàn kết quân dân, làm rạn vỡ các cơ sở chính trị, xã hội  của quân đội ta.
- Chú trọng lôi kéo, móc nối cán bộ, chiến sĩ đang tại ngũ và cán bộ đã nghỉ hưu để tham gia vào các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội.
Với các âm mưu đó, Việt Tân đã tiến hành hàng loạt các hoạt động chống phá quân đội, cụ thể như sau:
Thứ nhất, chúng phát tán các thông tin, tài liệu có nội dung, quan điểm đả kích chế độ XHCN, xuyên tạc và phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng, lý tưởng chiến đấu của quân đội. Chúng khoét sâu vào những khó khăn, yếu kém của ta, nhất là những vấn đề hệ trọng, nhạy cảm; thổi phồng những sự việc, những vấn đề mà chúng cho là “khuyết tật” thuộc về “bản chất của chế độ” XHCN để tác động làm suy giảm lòng tin của cán bộ, chiến sĩ với Đảng, Nhà nước và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta; tác động làm cho cán bộ, chiến sĩ dao động, giảm sút ý chí chiến đấu, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, phụ họa theo những nhận thức, hàng động, việc làm sai trái, từ đó rơi vào chủ nghĩa cơ hội, nhất là cơ hội về chính trị, hướng và lái cán bộ, chiến sĩ tự “từ bỏ” mục tiêu lý tưởng chiến đấu.
Thứ hai, chúng tập trung xuyên tạc, công kích vào nội bộ, bôi nhọ, nói xấu, hạ uy tín cá nhân các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy cấp cao trong quân đội, xuyên tạc nội bộ, tình hình quân đội nhằm gây tâm lý hoài nghi trong cán bộ, chiến sĩ; xuyên tạc, phủ nhận quan điểm, đường lối và những vấn đề có tính nguyên tắc xây dựng quân đội, bài xích cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, kích động khuynh hướng đòi “Quốc gia hóa quân đội”, “Dân sự hóa quân đội”, “Quân đội chỉ hành động theo sự điều hành của Nhà nước và tuân theo pháp luật”, nhằm làm cho quân đội mất định hướng chính trị, bị tha hóa, biến chất, suy giảm sức mạnh chiến đấu.
Thứ ba, chúng lợi dụng mạng xã hội trên Internet để tuyên truyền bôi nhọ hình ảnh và bản chất truyền thống tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”.
Số liệu thống kê cho thấy, chỉ riêng năm 2016 và đầu năm 2017, thông qua các phương tiện truyền thông, các Website, mạng xã hội của Việt Tân (Đài phát thanh “Chân trời mới”, trang Website “Việt tân”, facebook “Việt Tân”, “Chân trời mới”...), Việt Tân đã tán phát, tuyên truyền hàng trăm tin bài, tài liệu, hình ảnh, clip xuyên tạc nội bộ, xuyên tạc sai sự thật về các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy, các tướng lĩnh cấp cao trong quân đội, xuyên tạc chức năng, nhiệm vụ của quân đội. Trong đó hoạt động bôi nhọ bản chất, truyền thống quân đội được chúng tiến hành một cách rầm rộ như một chiến dịch chống phá với việc tán phát hàng trăm hình ảnh, video vi phạm pháp luật, kỷ luật, phản cảm của quân nhân, thậm chí chúng còn lợi dụng hình ảnh cán bộ, chiến sĩ để lồng ghép, bịa đặt các quan điểm, những ý kiến trái chiều, phản động…
Thứ tư, chúng triệt để lợi dụng vấn đề “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền” để gia tăng các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc bản chất quân đội, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với quân đội, chia rẽ khối đoàn kết quân dân, làm rạn vỡ các cơ sở chính trị, xã hội của quân đội ta.
Lợi dụng việc ta mở rộng dân chủ để tấn công trực diện vào hệ thống pháp luật, thông qua pháp luật để hướng lái, chia tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, hạ thấp vai trò quân đội. Chúng gia tăng sức ép đòi sửa đổi Hiến pháp, pháp luật, trong đó có hủy bỏ các quy định về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với lực lượng vũ trang; chúng vu cáo Đảng, Nhà nước ta “Vi phạm dân chủ, nhân quyền”, “Hạn chế tự do” để tạo tâm lý hoài nghi của cán bộ, chiến sĩ về chủ trương và cách thức giải quyết các vấn đề nảy sinh của Đảng, Nhà nước, từ đó lôi kéo cán bộ, chiến sĩ vào các hoạt động chống phá của chúng. Chúng thường xuyên lợi dụng việc quân đội tham gia phối hợp bảo đảm an ninh, trật tự để tuyên truyền, xuyên tạc về chức năng, nhiệm vụ của quân đội, vu cáo quân đội “đàn áp” nhân dân, sao nhãng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; đồng thời tuyên truyền, khuyếch đại những hiện tượng tiêu cực nảy sinh trong quân đội, cho rằng những phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” đã bị phai nhạt bởi cơ chế thị trường và lối sống thực dụng, làm suy giảm lòng tin của nhân dân với quân đội, chia rẽ quân đội với nhân dân, làm rạn vỡ các cơ sở chính trị, xã hội của quân đội ta.
Bên cạnh đó Việt Tân còn đẩy mạnh tuyên truyền, xuyên tạc mối quan hệ giữa quân đội với công an, hạ thấp vai trò của quân đội trong điều kiện hiện nay, đề cao vai trò của lực lượng công an nhằm gây chia rẽ và làm giảm sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang.
Mặc dù trong thời gian qua, trước sự tuyên truyền lôi kéo chống phá của tổ chức phản động Việt Tân, cán bộ, chiến sỹ trong quân đội không bị lay động, mà luôn tỏ rõ lập trường quan điểm kiên định vững vàng, tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, thực sự là công cụ bạo lực sắc bén bảo vệ Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Đến nay, chúng ta chưa phát hiện trường hợp quân nhân nào bị móc nối, tham gia vào tổ chức này và có các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, quân đội. Tuy nhiên trước các hoạt động tuyên truyền phá hoại tư tưởng chính trị của Việt Tân và các thế lực thù địch, mỗi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội cần nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, không để kẻ địch lôi kéo trong bất kỳ hoàn cảnh nào./.


Chủ Nhật, 1 tháng 10, 2017

CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN – GIÁ TRỊ VẸN NGUYÊN VÀ SỨC SỐNG TRƯỜNG TỒN
                                                 Bạch Long
Chủ nghĩa Mác - Lê-nin là thành tựu nổi bật và vĩ đại của trí tuệ loài người về lý luận phát triển xã hội trong lịch sử thế giới hiện đại. Sức sống và ảnh hưởng của nó không chỉ được minh chứng bởi những biến đổi trong thế kỷ XIX, mà còn cả trong thế kỷ XX với cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, mở ra thời đại mới - thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH. Thời đại ấy vẫn đang là chiều hướng vận động, phát triển của lịch sử thế giới ngày nay. Vì vậy, quan điểm cho rằng, hiện nay “chủ nghĩa Mác - Lênin” không còn phù hợp nữa là hoàn toàn phi lý, phiến diện.
1.Cách mạng XHCN Tháng Mười Nga năm 1917 là một sự kiện “rung chuyển thế giới”, có tầm ảnh hưởng lớn lao quyết định đến tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại; khẳng định thắng lợi của chủ nghĩa Mác – Lênin trong thực tiễn. Nó đã biến “bóng ma ám ảnh châu Âu” thành sức mạnh hiện hữu, chủ nghĩa Mác – Lênin từ lý luận trở thành hiện thực sinh động trên một vùng đất rộng lớn. Lần đầu tiên thế giới biết đến một chế độ xã hội mới, rồi một hệ thống thế giới mới-hệ thống xã hội chủ nghĩa-mà ở đó, quyền làm chủ của con người được bảo đảm và ngày càng thể hiện sinh động trong thực tế.
Sự sụp đổ CNXH ở Liên Xô và Đông Âu đến nay vẫn như là một cái “cớ” không thể tốt hơn để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, công kích và phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin; và có vẻ như chúng ngày càng tìm thấy trong sự sụp đổ đó những “lý lẽ” có sức “thuyết phục” để xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin. Những luận điệu công kích, bóp méo ý nghĩa và tầm vóc của Cách mạng Tháng Mười, phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, cho đó là học thuyết “viển vông”, “phi thực tế”, cùng những luận điệu cho rằng CNXH đã “cáo chung”, rằng “CNXH mà Mác nêu ra chỉ là một lý tưởng, một CNXH “không tưởng”, không bao giờ thực hiện được”[1]... được tung ra trên khắp các châu lục, được tuyên truyền trên khắp các phương tiện thông tin từ thô sơ đến hiện đại, được “mớm” lời cho tất cả các phần tử chống đối, thù địch ở mọi nơi, mọi chỗ.
2. CNXH ra đời dựa trên học thuyết cách mạng và khoa học, một học thuyết ra đời trên cơ sở “mảnh đất hiện thực khách quan”. C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã phát hiện ra một sự thật lịch sử: “Không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ”[2]. Trên cơ sở đó, các ông đã từng bước tìm ra được quy luật vận động, phát triển của lịch sử, chỉ ra tính tất yếu diệt vong của CNTB và tính tất yếu thắng lợi của chủ nghĩa xã hội. Các ông cho rằng: CNXH là “một phong trào hiện thực”[3], CNXH“không cần phải thực hiện một lý tưởng nào cả, mà chỉ cần giải phóng những nhân tố của xã hội mới đã phát triển trong lòng xã hội tư sản cũ đang sụp đổ”[4]. Cách mạng Tháng Mười Nga thành công là sản phẩm trực tiếp, hiện thực của chủ nghĩa Mác - Lênin; là kết quả của việc giải quyết các mâu thuẫn thời đại ở nước Nga những năm đầu thế kỷ XX; là sự “giải phóng những nhân tố của xã hội mới đã phát triển trong lòng xã hội” Nga đương thời. CNXH được sinh ra từ cuộc cách mạng ấy là sinh ra từ hiện thực, thực tế; chủ nghĩa Mác – Lênin không phải là “ảo tưởng”, “viển vông”, “phi thực tế”, chủ nghĩa Mác – Lênin là sản phẩm từ “hiện thực khách quan”, nó dẫn dắt các lực lượng xã hội tiến bộ thúc đẩy lịch sử phát triển và cải tạo “hiện thực khách quan”.  
3. Không thể vì sự đổ vỡ của một hiện thực mà cho rằng học thuyết là ảo tưởng. Không thể vì sự sụp đổ của một mô hình cụ thể mà đồng nhất với sự sụp đổ của học thuyết. Cũng không thể vì những sai lầm, giáo điều, máy móc trong vận dụng và tổ chức thực hiện mà nói bừa rằng học thuyết sai lầm. Sự sụp đổ CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu không phải là do sai lầm của học thuyết, không đồng nghĩa với sự sụp đổ, sự  “cáo chung” của chủ nghĩa Mác - Lênin. Lý luận về CNXH của chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn giữ nguyên giá trị, tiếp tục soi sáng cho nhân loại trên hành trình đi đến tương lai xã hội chủ nghĩa.
Ở đây, vẫn cần nhắc lại cho rõ: Sự sụp đổ CNXH ở Liên Xô và Đông Âu không phải do chủ nghĩa Mác – Lênin lỗi thời, không phải là “lỗi” của học thuyết; mà đó thực sự là do đã hiểu sai, vận dụng sai, làm sai và cả sự phản động của Ban lãnh đạo ở các nước đó trong quá trình cải tổ, cải cách cùng với sự thúc đẩy của “diễn biến hòa bình”. Đáng lý phải thực hiện quyền lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản, thì lại thực hiện “đa nguyên chính trị”; đáng lý phải giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, thì lại buông lỏng, cắt xén và từ bỏ sự lãnh đạo ấy; đáng lý phải củng cố Đảng trên nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lênin, nâng cao sức chiến đấu, bảo đảm Đảng thực sự là đội tiền phong của giai cấp công nhân, của nhân dân và dân tộc, thì lại “biến” Đảng thành “một tổ chức chính trị-xã hội tự quản”, thành một “câu lạc bộ” đơn thuần, mất sức chiến đấu và đi đến tan rã. Đó là vấn đề quyết định làm sụp đổ CNXH ở Liên Xô và Đông Âu.
4. Trong bối cảnh mới hiện nay, chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn tỏ rõ sức sống và giá trị trường tồn cùng thời đại của nó. Chủ nghĩa Mác – Lênin không phải là giáo điều, CNXH không phải là một khuôn mẫu có sẵn, CNXH sinh động và sáng tạo trong đời sống hiện thực. Những người cộng sản không hề coi lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin như một cái gì đã “xong xuôi hẳn” và “bất khả xâm phạm”, mà phải “đẩy” nó lên, phát triển nó phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn. Không có CNXH chung chung, trừu tượng, mà bao giờ cũng phải dựa trên mảnh đất hiện thực, được thể hiện sinh động cụ thể trong từng quốc gia dân tộc.
CNXH hiện thực đang ở thập kỷ thứ mười của sự phát triển với những bước thăng trầm gồm cả những thành tựu, công lao to lớn đối với nhân loại và cả những tổn thất nặng nề, để rồi một số nước còn lại đang tiếp tục trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, tạo cho CNXH hiện thực một diện mạo mới năng động, sáng tạo và phong phú hơn. Dù còn nhiều khó khăn, phức tạp, nhưng sự phát triển của các nước XHCN còn lại đã chứng minh một cách rõ ràng: CNXH là hiện thực, thực tế, đã và đang đổi mới, được xây dựng, phát triển trên cơ sở từ những bài học kinh nghiệm rút ra trong quá khứ; từ sự nhận thức lại và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin trong điều kiện mới, dựa trên cơ sở “hiện thực khách quan” mới, dựa chắc vào đặc điểm, đặc thù của từng quốc gia dân tộc. Điều đó cho thấy sức sống bất diệt của chủ nghĩa Mác – Lênin trong bối cảnh lịch sử mới.
Mục tiêu giải phóng con người khỏi mọi ách áp bức, bóc lột, đưa con người lên làm chủ, đem lại cuộc đời tự do, hạnh phúc thực sự cho quần chúng nhân dân bằng con đường cách mạng XHCN mà chủ nghĩa Mác – Lênin đã vạch ra là mục tiêu hiện thực, là con đường thực tiễn, hợp quy luật, đã và đang diễn ra trên thế giới và ở Việt Nam. Điều đó cho thấy sức sống bất diệt và giá trị trường tồn của chủ nghĩa Mác - Lênin; tỏ rõ con đường mà nhân dân ta đang đi là đúng đắn, chứ không phải là chúng ta “cố tình phải theo” một “học thuyết viển vông”, “phi thực tế” như sự bịa đặt, xuyên tạc của một số người.
5. Gần chín thập kỷ qua dư­ới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, do Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Nhân dân ta đã hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thống nhất Tổ quốc, đưa cả n­ư­ớc đi lên chủ nghĩa xã hội; ngày nay, trước những biến động phức tạp của tình hình, sự nghiệp đổi mới đất nước ta vẫn tiếp tục phát triển và đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Điều đó có được là bởi vì cách mạng Việt Nam được dẫn dắt và được soi sáng bởi chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Những điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, tư tưởng của thế giới đương đại vừa đòi hỏi, vừa tạo điều kiện cho sự phát triển mới của chủ nghĩa Mác - Lênin. Bản chất cách mạng và khoa học, giá trị và sức sống của chủ nghĩa Mác – Lênin đòi hỏi và đặt ra yêu cầu rất cao đối với chúng ta hôm nay là phải trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa ấy, thúc đẩy sự nghiệp cách mạng tiến lên. Vấn đề quan trọng là từ những thành công và thất bại của CNXH hiện thực, cần nghiêm túc phân tích, rút ra những bài học, những vấn đề lý luận, tiếp tục bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin. Đó là yêu cầu sống còn của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Trung thành, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đặt nó trên “cơ sở hiện thực” mới đương đại, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn, thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đất nước là câu trả lời rõ ràng của chúng ta, làm thất bại, phá sản mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Đó là trung thành, đi theo một học thuyết cách mạng và khoa học, một học thuyết thực tế; là đi tiếp lịch sử dân tộc ta đã từng đi gần chín thập kỷ qua; là sự nối tiếp hiện thực-thực tiễn CNXH đã có, đang có ở Việt Nam, chứ không phải là “khư khư giữ lấy” một “chủ nghĩa hết thời”, “phi hiện thực”, một “lý tưởng mơ hồ”, cũng không phải là để “tự trấn an” như sự xuyên tạc, bóp méo sự thật của các thế lực thù địch.




[1]Ban Tuyên giáo Trung ương, Phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb CTQG, H. 2007, tr. 48.
[2]C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 13, Nxb CTQG, H. 1995, tr. 15.
[3]C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 3, Nxb CTQG, H. 1995, tr. 51.
[4]C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 17, Nxb CTQG, H. 1995, tr. 445 - 446.

Thứ Hai, 11 tháng 9, 2017

ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM LÀ MỘT TẤT YẾU, KHÔNG PHẢI LÀ TÙ MÙ, HƯ ẢO
Việt Giang
Trong sự phát triển không ngừng của xã hội, mỗi quốc gia, dân tộc đều phải tự mình giải quyết bài toán tự định vị trong một thế giới đang thay đổi khôn lường. Do đó, phải luôn tỉnh táo và sáng tạo, lựa chọn hướng đi đúng đắn nếu không muốn chết chìm trong cơn lốc cạnh tranh toàn cầu. Bởi vậy, sự lựa chọn mục tiêu và hoạch định phương hướng phát triển là vấn đề có ý nghĩa căn bản, then chốt, có tính quyết định tới sự tồn vong của các quốc gia, dân tộc.
Trên con đường phát triển của mình, nước ta không nằm ngoài quy luật đó. Từ những trải nghiệm lịch sử và lý luận, Việt Nam luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Bởi nếu xa rời mục tiêu xã hội chủ nghĩa sẽ dẫn tới sự lệch lạc trong quyết sách chính trị và trong sự chỉ đạo thực tiễn, sẽ dẫn tới nguy cơ chệch hướng trong quá trình phát triển hướng tới những giá trị cao đẹp của loài người. Nếu như vậy, chúng ta sẽ phải trả cái giá rất đắt và có thể không thể cứu vãn được. Do đó, Việt Nam càng cần phải chỉ rõ và kiên định với hướng đi mà mình đã chọn - định hướng xã hội chủ nghĩa. Nắm vững điều này, cũng có nghĩa chúng ta đã nắm vững cái tất yếu, nhận thức được quy luật phát triển chung của nhân loại, nắm được bản chất của lịch sử xã hội trong sự biến đổi mờ ảo của thực tại, trên cơ sở phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam.
Cùng xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, song ở Việt Nam khác Trung Quốc. Trung Quốc xác định họ đã qua thời kỳ quá độ, đang xây dựng chủ nghĩa xã hội với khoảng thời gian dài, thậm chí rất dài, cho nên trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Trung Quốc không có khái niệm “định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đảng Cộng sản Việt Nam xác định, đất nước đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nên không thể không bao hàm vấn đề định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tại Đại hội lần thứ VII (6/1991), Đảng Cộng sản Việt Nam mới chính thức sử dụng thuật ngữ “định hướng xã hội chủ nghĩa” trong các văn kiện của mình. Khái niệm này vừa nói lên điểm xuất phát của nước ta từ một nước chậm phát triển…, vừa nói lên những chặng đường, những giai đoạn, những bước quá độ mà chúng ta sẽ phải đi qua, và thông qua những bước quá độ ấy, các nhân tố xã hội chủ nghĩa như những mầm non sẽ dần hình thành, phát triển, hoàn thiện đạt tới mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Như vậy, trong mối quan hệ biện chứng đó, chủ nghĩa xã hội vừa là mục tiêu của sự định hướng, vừa có mặt ngay từ đầu trong sự định hướng, với tính cách là những nhân tố hợp thành. Nói cách khác, ở tầm khái quát hơn, định hướng xã hội chủ nghĩa là một quá trình xác định những giới hạn, những “độ” tồn tại của những yếu tố đảm bảo, trong khoảng thời gian, trên con đường đi tới chủ nghĩa xã hội Việt Nam, bắt đầu từ điểm xuất phát tới mục tiêu xã hội chủ nghĩa đã xác định, nếu vượt ra ngoài những giới hạn ấy và “độ” ấy thì có thể (và tất yếu) xuất hiện một chế độ xã hội khác với chủ nghĩa xã hội.
Theo quan điểm của các nhà kinh điển sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin, lịch sử bắt đầu từ đâu thì tư duy cũng bắt đầu từ đó. Kinh nghiệm lịch sử đã xác nhận ý tưởng của các ông: không rõ cái đích thì cũng không rõ định hướng, không có cái chuẩn để quy tụ mọi sự vận động.
Do đó, xét trên bình diện lý luận, về lôgich hình thức, nếu chủ nghĩa xã hội là mục tiêu tất yếu thì hiển nhiên định hướng xã hội chủ nghĩa cũng là tất yếu trong chỉnh thể hữu cơ của toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nhưng đồng thời, đối tượng của nhận thức về định hướng xã hội chủ nghĩa không chỉ dừng lại ở tiền đề mục tiêu, mà rộng hơn và sâu hơn, nó bao hàm nhận thức cả tính quy luật, bản chất chủ nghĩa xã hội, những tiền đề, những điều kiện quy định toàn bộ sự vận động của xã hội Việt Nam hướng tới mục tiêu đã chọn, được thể hiện thông qua con đường, phương thức, bước đi và hệ giải pháp theo nguyên tắc xã hội chủ nghĩa.
Nếu xét theo lôgich biện chứng, định hướng xã hội chủ nghĩa là một bộ phận trong toàn bộ sự tất yếu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Về nhận thức, đây chính là vấn đề phương pháp luận vô cùng quan trọng. Có thể giả định, con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội là con đường thẳng, có thể hình dung đâu là bước đầu, đâu là bước tiếp theo và đâu là bước cuối cùng để khỏi lạc mất phương hướng. Tuy nhiên, lịch sử không vận động theo con đường thẳng tắp và trơn tru, không cho phép người ta có thể dự báo được tất cả mọi vấn đề một cách chính xác trong tiến trình vận động phức tạp của nó. Mà trái lại, lịch sử vận động mặc dù có quy luật, tuân theo quy luật nhưng lại theo một con đường quanh co, phức tạp. Để tránh chủ quan, duy ý chí, đốt cháy giai đoạn dẫn tới tình trạng làm cho con đường đó vốn đã phức tạp lại càng phức tạp hơn, quanh co hơn, thậm chí chệch hướng, thì không thể không hoạch định những giới hạn cho phép, trong những khả năng cụ thể, vững vàng đi tới mục tiêu đã vạch ra. Đó chính là quá trình định hướng xã hội chủ nghĩa.
Hơn nữa, xây dựng chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp hoàn toàn mới mẻ, chưa có tiền lệ trong lịch sử Việt Nam, nên quá trình nhận thức và tổ chức xây dựng sẽ rất khó khăn, lâu dài, thậm chí có những bất trắc, thất bại tạm thời. Do đó, nếu không có lý luận khoa học, cách mạng soi đường thì không thể có được một thế giới quan, phương pháp luận đúng đắn, không thể thấy được quy luật vận động của xã hội loài người trong muôn vàn cái hỗn độn, ngẫu nhiên, không thể nào đi tới đích được. Mặt khác, kinh nghiệm thực tiễn xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa từ lịch sử chủ nghĩa xã hội thế giới (bao gồm cả kinh nghiệm thất bại và thành công) trong suốt một thế kỷ qua và hôm nay càng thể hiện sự cần thiết trong định hướng xã hội chủ nghĩa của quá trình phát triển.
Cho nên, sự thống nhất giữa nhận thức quy luật và tính quy luật, sự đồng tâm về tư tưởng, sự tỉnh táo và đúng đắn trong xử lý các tình huống phức tạp có ý nghĩa hết sức to lớn, thậm chí có vai trò quyết định. Đặc biệt, khắc phục và ngăn ngừa những khuynh hướng tự phát và vô chính phủ, nhất là chủ nghĩa cơ hội và chủ nghĩa thực dụng, là vấn đề mang tầm chiến lược, có tính nóng bỏng, thành bại. Vì vậy, để xây dựng chủ nghĩa xã hội, rõ ràng không thể không bao hàm định hướng xã hội chủ nghĩa.
Xét trên phương diện tổ chức thực tiễn. Ở tầm vĩ mô, lịch sử thế giới càng về cuối thế kỷ XX, đầu XXI càng là thời kỳ phát triển rút ngắn với tốc độ  mạnh mẽ chưa từng thấy; đồng thời, xu thế toàn cầu hóa, quốc tế hóa với tốc độ chóng mặt tạo nên một thế giới vừa thống nhất, vừa đấu tranh hết sức phức tạp giữa các quốc gia dân tộc. Bối cảnh đó đã làm xuất hiện tính đa dạng của sự phát triển, với những quy luật riêng, nhưng đồng thời không loại trừ sự thống nhất với nghĩa là những vấn đề mang tính quy luật chung, có ý nghĩa phổ biến đối với mọi quốc gia, dân tộc trong tiến trình phát triển. Bởi vậy, càng cần phải định hướng trong sự phát triển đối với các quốc gia, dân tộc.

Như vậy, chúng ta thấy rằng, nói định hướng xã hội chủ nghĩa là chúng ta vừa nhận thức được vị trí của chính mình, vừa nhận thức được quy luật vận động của xã hội để xác định cái đích hướng tới, vừa phản ánh được khát vọng ngàn đời của dân tộc. Đồng thời đó cũng là sự xác định con đường tổng quát để đạt được mục tiêu đề ra trong sự vận động vô cùng phức tạp của thế giới đương đại, mà nếu lệch khỏi nó, chúng ta sẽ bị chệch hướng, thụt lùi. Từ đó, thấy rằng, định hướng xã hội chủ nghĩa là một tất yếu, một nhu cầu, một phương án duy nhất đúng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; là một biểu hiện thực tiễn sinh động của toàn bộ sự phát triển của chủ nghĩa xã hội hiện thực ngày nay.

Thứ Sáu, 8 tháng 9, 2017

VẠCH TRẦN MƯU ĐỒ ĐẰNG SAU LUẬN ĐIỆU
“ĐỂ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRỞ NÊN TRONG SẠCH HƠN”
Long vĩ
 Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI về xây dựng Đảng, với quyết tâm chính trị rất cao của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, chúng ta đã đạt được những kết quả bước đầu quan trọng, nhưng tình trạng suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" vẫn chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, có mặt còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn, có thể gây ra những hậu quả khôn lường. Chính vì vậy, tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, Ban chấp hành Trung ương đã thảo luận, thống nhất cao, quyết định ban hành Nghị quyết về "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ" nhằm xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo sức chiến đấu của Đảng.
Thế nhưng, trên trang mạng xã hội, đã xuất hiện những luận điệu chống phá của các thế lực thù địch nước ngoài, những phần tử cơ hội, xét lại và một số người bất đồng chính kiến. Với luận điệu: “để Đảng trở nên trong sạch”, chúng đã công khai yêu cầu Đảng và nhân dân ta  “từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa, từ bỏ chủ nghĩa Mác – Lê nin mà đi theo con đường Xã hội dân chủ; bỏ điều 4 Hiến pháp; chấp nhận một chế độ đa nguyên chính trị…”. Đây vẫn lại là những luận điệu phản động cũ rích, nhưng được che đậy trong cái vỏ bọc mang tính thời sự hơn.
Thử hỏi rằng: nhân dân ta được tự làm chủ vận mệnh của mình, được tự mình xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc trong một đất nước độc lập, tự do như ngày hôm nay, có phải là kết quả hy sinh, phấn đấu và cả xương máu của nhiều thế hệ người Việt Nam đi theo ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam? Không có chủ nghĩa xã hội thì làm sao có được độc lập dân tộc thực sự và triệt để, làm sao nhân dân được hạnh phúc, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao như hôm nay? Thế giới biết đến Việt Nam không chỉ vì nhân dân Việt Nam anh dũng, kiên cường và chiến thắng các đế quốc to, mà còn vì chúng ta gặt hái được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa sau hơn 30 năm đổi mới đất nước.
Ở nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền. Ngay từ khi ra đời cho đến nay Đảng Cộng sản Việt Nam được tôi luyện, trưởng thành gắn liền với lịch sử đấu tranh hào hùng của dân tộc, được nhân dân ta, dân tộc ta thừa nhận là đội tiền phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiền phong, lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, là chủ thể lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, được nhân dân mặc nhiên thừa nhận là Đảng ta. Với tư cách đó, việc Đảng Cộng sản Việt Nam công khai khẳng định vai trò lãnh đạo của mình đối với Nhà nước và xã hội trong điều 4 Hiến pháp là hoàn toàn hợp pháp, hợp hiến, thể hiện rõ trách nhiệm của Đảng trước nhân dân, dân tộc.
Thực tiễn lịch sử dân tộc ta cho thấy, để có cuộc sống như ngày nay, biết bao thế hệ cán bộ, đảng viên, nhân dân ta đã anh dũng chiến đấu, hy sinh vì đất nước, vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Trong những năm tháng cách mạng còn trong trứng nước, dân ta còn chìm đắm trong đêm dài nô lệ cũng như trong những năm chiến tranh gian khổ, ác liệt; trong những thời khắc vận mệnh của dân tộc như “ngàn cân treo sợi tóc” chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam là tuyệt đối trung thành với lợi ích giai cấp công nhân, của nhân dân, của dân tộc, gắn bó với nhân dân, với dân tộc, kiên cường lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Chính vì thế mà nhân dân ta, dân tộc ta thừa nhận Đảng Cộng sản Việt Nam là lãnh tụ chính trị của mình mà không lựa chọn các đảng phái chính trị khác. Để có được những thắng lợi, thành tựu của cách mạng Việt Nam đã có biết bao thế hệ người Việt Nam đã hy sinh xương máu, cống hiến trí tuệ, công sức để xây dựng đất nước được như hôm nay. Vì vậy, không có một lý do gì mà Đảng ta, nhân dân ta lại tự nguyện thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng tạo cơ hội cho các đảng phái chính trị của các lực lượng cơ hội, phản động, các giai cấp đối địch ra đời để tranh giành quyền lực chính trị với Đảng Cộng sản Việt Nam, để Đảng tự biến mình thành một đảng đối lập giống như các đảng phái chính trị ô hợp khác.
Chúng ta không phủ nhận vẫn còn những yếu kém, khuyết điểm trong công tác xây dựng Đảng, nhưng những kết quả đạt được ngày hôm nay là cố gắng to lớn, rất đáng tự hào của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Những thành tựu đó càng khẳng định bên cạnh nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm thì phải luôn luôn chăm lo xây dựng Đảng ta thật sự vững vàng về chính trị, tư tưởng; thống nhất cao về ý chí, hành động; trong sạch về đạo đức, lối sống; chặt chẽ về tổ chức; gắn bó mật thiết với nhân dân, đủ sức lãnh đạo đưa đất nước ngày càng phát triển.
Như vậy, đằng sau những luận điệu “để Đảng trong sạch” là mục tiêu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận hoàn toàn những thành quả của cách mạng Việt Nam, mở đường cho việc thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, từ đó đưa Việt Nam đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.
Từ tình hình trên đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần nêu cao tinh thần cảnh giác trước các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá được đăng tải trên các phương tiện thông tin điện tử, các trang mạng xã hội… Trên cơ sở đó đấu tranh vạch trần bản chất, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, bọn cơ hội phản động chống phá cách mạng nước ta./.  


VẠCH TRẦN MƯU ĐỒ ĐẰNG SAU LUẬN ĐIỆU
“ĐỂ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRỞ NÊN TRONG SẠCH HƠN”
Long vĩ
 Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI về xây dựng Đảng, với quyết tâm chính trị rất cao của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, chúng ta đã đạt được những kết quả bước đầu quan trọng, nhưng tình trạng suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" vẫn chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, có mặt còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn, có thể gây ra những hậu quả khôn lường. Chính vì vậy, tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, Ban chấp hành Trung ương đã thảo luận, thống nhất cao, quyết định ban hành Nghị quyết về "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ" nhằm xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo sức chiến đấu của Đảng.
Thế nhưng, trên trang mạng xã hội, đã xuất hiện những luận điệu chống phá của các thế lực thù địch nước ngoài, những phần tử cơ hội, xét lại và một số người bất đồng chính kiến. Với luận điệu: “để Đảng trở nên trong sạch”, chúng đã công khai yêu cầu Đảng và nhân dân ta  “từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa, từ bỏ chủ nghĩa Mác – Lê nin mà đi theo con đường Xã hội dân chủ; bỏ điều 4 Hiến pháp; chấp nhận một chế độ đa nguyên chính trị…”. Đây vẫn lại là những luận điệu phản động cũ rích, nhưng được che đậy trong cái vỏ bọc mang tính thời sự hơn.
Thử hỏi rằng: nhân dân ta được tự làm chủ vận mệnh của mình, được tự mình xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc trong một đất nước độc lập, tự do như ngày hôm nay, có phải là kết quả hy sinh, phấn đấu và cả xương máu của nhiều thế hệ người Việt Nam đi theo ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam? Không có chủ nghĩa xã hội thì làm sao có được độc lập dân tộc thực sự và triệt để, làm sao nhân dân được hạnh phúc, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao như hôm nay? Thế giới biết đến Việt Nam không chỉ vì nhân dân Việt Nam anh dũng, kiên cường và chiến thắng các đế quốc to, mà còn vì chúng ta gặt hái được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa sau hơn 30 năm đổi mới đất nước.
Ở nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền. Ngay từ khi ra đời cho đến nay Đảng Cộng sản Việt Nam được tôi luyện, trưởng thành gắn liền với lịch sử đấu tranh hào hùng của dân tộc, được nhân dân ta, dân tộc ta thừa nhận là đội tiền phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiền phong, lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, là chủ thể lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, được nhân dân mặc nhiên thừa nhận là Đảng ta. Với tư cách đó, việc Đảng Cộng sản Việt Nam công khai khẳng định vai trò lãnh đạo của mình đối với Nhà nước và xã hội trong điều 4 Hiến pháp là hoàn toàn hợp pháp, hợp hiến, thể hiện rõ trách nhiệm của Đảng trước nhân dân, dân tộc.
Thực tiễn lịch sử dân tộc ta cho thấy, để có cuộc sống như ngày nay, biết bao thế hệ cán bộ, đảng viên, nhân dân ta đã anh dũng chiến đấu, hy sinh vì đất nước, vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Trong những năm tháng cách mạng còn trong trứng nước, dân ta còn chìm đắm trong đêm dài nô lệ cũng như trong những năm chiến tranh gian khổ, ác liệt; trong những thời khắc vận mệnh của dân tộc như “ngàn cân treo sợi tóc” chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam là tuyệt đối trung thành với lợi ích giai cấp công nhân, của nhân dân, của dân tộc, gắn bó với nhân dân, với dân tộc, kiên cường lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Chính vì thế mà nhân dân ta, dân tộc ta thừa nhận Đảng Cộng sản Việt Nam là lãnh tụ chính trị của mình mà không lựa chọn các đảng phái chính trị khác. Để có được những thắng lợi, thành tựu của cách mạng Việt Nam đã có biết bao thế hệ người Việt Nam đã hy sinh xương máu, cống hiến trí tuệ, công sức để xây dựng đất nước được như hôm nay. Vì vậy, không có một lý do gì mà Đảng ta, nhân dân ta lại tự nguyện thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng tạo cơ hội cho các đảng phái chính trị của các lực lượng cơ hội, phản động, các giai cấp đối địch ra đời để tranh giành quyền lực chính trị với Đảng Cộng sản Việt Nam, để Đảng tự biến mình thành một đảng đối lập giống như các đảng phái chính trị ô hợp khác.
Chúng ta không phủ nhận vẫn còn những yếu kém, khuyết điểm trong công tác xây dựng Đảng, nhưng những kết quả đạt được ngày hôm nay là cố gắng to lớn, rất đáng tự hào của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Những thành tựu đó càng khẳng định bên cạnh nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm thì phải luôn luôn chăm lo xây dựng Đảng ta thật sự vững vàng về chính trị, tư tưởng; thống nhất cao về ý chí, hành động; trong sạch về đạo đức, lối sống; chặt chẽ về tổ chức; gắn bó mật thiết với nhân dân, đủ sức lãnh đạo đưa đất nước ngày càng phát triển.
Như vậy, đằng sau những luận điệu “để Đảng trong sạch” là mục tiêu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận hoàn toàn những thành quả của cách mạng Việt Nam, mở đường cho việc thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, từ đó đưa Việt Nam đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.
Từ tình hình trên đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần nêu cao tinh thần cảnh giác trước các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá được đăng tải trên các phương tiện thông tin điện tử, các trang mạng xã hội… Trên cơ sở đó đấu tranh vạch trần bản chất, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, bọn cơ hội phản động chống phá cách mạng nước ta./.  


CHUYỆN CÁI ĐUÔI CON THẰN LẰN
                                       Long vĩ
Thằn lằn là một loại động vật có chân, chuyên sống trú ngụ ở các hang hốc đất, đá, không có tổ riêng; cũng đôi khi có con lại sống leo trèo trên cành cây cho qua ngày, đoạn tháng. Thằn lằn ăn sâu bọ, cũng sinh đẻ để duy trì nòi giống, nó cũng có chút “hiểu biết” của loài động vật, nhưng hay bị kích động đi gây chiến với kẻ khác, nên người đời gọi là “rắn thằn lằn”, quy nó về họ hàng nhà loài rắn độc ác. Đặc điểm nổi bật của thằn lằn khi bị tấn công là bỏ chạy, sẵn sàng vứt bỏ mọi thứ cốt để giữ lấy mạng sống. Cái mà thằn lằn thường vứt bỏ là cái đuôi, chỉ cần đối phương chạm đến cái đuôi là thằn lằn cắt khúc bỏ chạy. Thật là đáng thương cho cái đuôi, nó rất trung thành với chủ. Mặc dù bị cắt bỏ thí mạng, nhưng nó vẫn ngoáy tít xua đuổi đối phương để chủ trốn chạy rồi mới ngắc ngoải chết một cách thảm thương vì cô đơn, lạnh lẽo. Có nhiều người cho rằng, sự khôn ngoan của thằn lằn nằm ở cái đuôi, không phải ở cái đầu. Như thế thì thật là bất công vô cùng, bởi mỗi khi phải giải quyết quy luật tự nhiên “đầu vào, đầu ra” cái đuôi thằn lằn phải hứng chịu đủ thứ trên đời. Cho dù khoa học, công nghệ có phát triển hiện đại bao nhiêu cũng không thể khử hết mùi hôi hám.
Chuyện về cái đuôi con thằn lằn là như vậy, nhưng ngẫm nghĩ về con người trong thế giới hiện đại, hội nhập và phát triển, vẫn có những chuyện vừa buồn, vừa nực cười làm sao! Bởi lẽ loài người đang ở thế kỷ XXI mà vẫn có những kẻ danh xưng nhà văn, nhà báo, nhà khoa học lại chẳng khác gì cái đuôi con thằn lằn, đang cố ngoáy đống rác cũ để ngửi mùi hôi. Mới đây, ngày 27 tháng 8 năm 2017, trên mạng xã hội có đăng bài viết “Những tra vấn tháng 8 tự trả lờido tác giả - phỏng vấn viên nhà văn Nguyễn Thị Thanh Bình thực hiện với sự tham gia của GS nhà văn Đặng Phùng Quân, nhà văn Trần Doãn Nho và nhà văn Hồ Đình Nghiêm. Đọc qua bài viết về những nhận định của các nhân vật trên thật ngỡ ngàng, vì nghe tên tuổi của họ thật lừng danh, oai phong lẫm liệt mà trí khôn của họ không biết để ở đâu? Họ cố tình phớt lờ sự thật lịch sử hay do sự ngu dốt không hiểu biết? Xin được có một vài lời về sự thật lịch sử để mọi người cùng ngẫm và hiểu rõ hơn lời sám hối của những kẻ được ví như cái đuôi con thằn lằn, đang từ từ trôi về âm phủ.
1. Mọi người dân Việt Nam yêu nước ai cũng biết lịch sử đau thương của dân tộc dưới thời pháp thuộc; cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX các cuộc khởi nghĩa của nông dân và các sĩ phu yêu nước đều bị thực dân Pháp đàn áp dã man. Nguyên nhân cơ bản và chủ yếu nhất, đó là các cuộc khởi nghĩa chưa có đường lối cách mạng đúng đắn để tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân đứng lên kháng chiến chống xâm lược, giành độc lập, tự do. Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã tìm đến chủ nghiã Mác - Lênin, một học thuyết cách mạng và khoa học, chỉ ra con đường tập hợp, đoàn kết toàn thể giai cấp công nhân và nhân dân lao động vùng lên đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phòng con người. Nguyễn Ái Quốc đã truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, được nhân dân lao động cả nước đón nhận với tình cảm và trách nhiệm trân trọng nhất. Bởi lẽ, chỉ có chủ nghĩa Mác - Lênin mới công khai thừa nhận quyền làm chủ của con người, quyền làm chủ của nhân dân lao động trong xã hội và trong mỗi quốc gia. Nhờ có chủ nghĩa Mác - Lênin soi đường mà nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã vùng lên giành chính quyền tháng Tám năm 1945, đưa nhân dân lao đông cả nước bước lên vũ đài chủ nhân của đất nước. Ngày 6/1/1946, mọi công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên đã đi bỏ phiếu bầu ra Quốc hội khóa I, cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước. Từ đó đến nay quyền làm chủ, quyền công dân của các tầng lớp nhân dân lao động ở nước ta được bảo đảm, giữ vững. Công dân cả nước đang phấn khởi, tự hòa bước vào kỳ bầu cử Quốc hội khóa XIV với tình cảm, trách nhiệm chính trị và niềm tin sâu sắc. Vậy cớ sao những kẻ danh xưng có ăn, có học như nhà văn Nguyễn Thị Thanh Bình, nhà văn Trần Doãn Nho, nhà văn Hồ Đình Nghiêm đặc biệt là GS nhà văn Đặng Phùng Quân lại mù quáng, ngu dốt đến mức quên cả lịch sử. Phải chăng đây là những cái đuôi con thằn lằn đang lang thang phiêu bạt ở những cành cây, bụi cỏ, ăn của bố thí cầm hơi nên không đủ trí khôn để viết ra mấy dòng lương thiện, mà phải sám hối bằng những lời lẽ đầy sự vu cáo kích động bạo lực phá hoại sự bình yên của đất nước?.
2. Cả thế giới ghi nhận Cách mạng Tháng Tám lịch sử, đưa dân tộc Việt Nam từ thân phận người dân nô lệ tiến lên chân trời tự do, được làm chủ thực sự về mọi mặt…Đại thắng mùa Xuân năm 1975, một chiến thắng vĩ đại trong lịch sử dân tộc, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Trước đó, ngày 19 tháng 01 năm 1974, Quân đội Việt Nam Cộng hòa của Chính quyền ông Nguyễn Văn Thiệu với lực lượng không quân và hải quân hùng mạnh vào hàng thứ sáu trên thế giới, vậy cớ sao không giữ nổi chủ quyền quần đảo Hoàng Sa để Trung Quốc chiếm giữ? Phải chăng phía sau có ẩn ý gì mà đến nay GS, nhà văn Đặng Phùng Quân lú lẫn không cộng, trừ nổi con số 1974 và 1975? lại đổ lỗi cho “nhà nước dâng đất, biển đảo cho Tàu Cộng”. Có lẽ đây là chiến thuật hèn hạ “gắp lửa bỏ tay người” của GS Đặng Phùng Quân, một kẻ có danh nhưng vô học mà thôi.

Thiết nghĩ, lẽ ra các nhà văn Nguyễn Thị Thanh Bình, Trần Doãn Nho, Hồ Đình Nghiêm và GS nhà văn Đặng Phùng Quân nên làm điều gì đó thật nhân văn, thật “người” hơn trong tháng 9 này, để góp phần giữ vững sự bình yên cho non sông, đất nước; đó mới thật sự là những người Việt yêu quê hương, Tổ quốc của mình. Còn như những lời lẽ bịa đặt, vu cáo dựng lên trong “Những tra vấn tháng 8 tự trả lời” thì đó chỉ là những lời sám hối của họ trên con đường đi về địa ngục. Thật đáng thương cho những danh xưng có học, lại vô phúc làm cái đuôi con thằn lằn, cố vùng vẫy để cắn lại giống nòi của mình mà thôi.                                                                         

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...