Thứ Ba, 14 tháng 2, 2017

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KINH TẾ, CHÍNH TRỊ, XÃ HỘI TRONG PHÒNG, CHỐNG “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG VĂN HÓA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
                                                                             Trần Trí Nam
“Diễn biến hoà bình” (DBHB) là một chiến lược toàn cầu của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, nhằm tiêu diệt chủ nghĩa xã hội (CNXH) và phong trào cách mạng vô sản thế giới bằng thủ đoạn phi quân sự. Chiến lược này được thực hiện thông qua việc sử dụng tổng hợp các biện pháp tư tưởng, chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao; phá hoại ngầm, răn đe quân sự để gây bất ổn về chính trị, xã hội cũng như tập trung khai thác triệt để các yếu kém nội tại ở các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN), thúc đẩy các nước này đi đến khủng hoảng, sụp đổ hoặc chuyển hoá các nước XHCN vào quỹ đạo các nước tư bản chủ nghĩa (TBCN).
Hiện nay, chiến lược “DBHB” đang được các thế lực thù địch sử dụng với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hơn và một trong những vấn đề mà chúng chĩa mũi nhọn vào chống phá Việt Nam, là lợi dụng những vấn đề phức tạp về kinh tế, chính trị, xã hội để đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền phá hoại tư tưởng, làm suy giảm niềm tin của các tầng lớp dân chúng đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN. Đáng chú ý, trong thời gian qua, lợi dụng vào các diễn đàn dân chủ, các đài phát thanh và trên Internet, các thế lực thù địch ra sức công kích vào các hạn chế của Đảng, Nhà nước ta về công tác xây dựng chỉnh đốn đảng; về cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; về hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, nhất là quản lý điều hành kinh tế vĩ mô cũng như đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực… Từ đó, chúng phủ nhận các thành tựu cơ bản mà chúng ta đạt được qua 30 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới; quy chụp rằng Đảng, Nhà nước ta không đủ năng lực lãnh đạo, điều hành đất nước và cần phải nhanh chóng xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp năm 2013 để xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, việc giải quyết có hiệu quả những vấn đề phức tạp về kinh tế, chính trị, xã hội nảy sinh trong quá trình phát triển của đất nước là nhiệm vụ quan trọng nhằm giữ vững ổn định chính trị, xã hội, khắc phục môi trường và các điều kiện thuận lợi cho hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Mặt khác, khắc phục các yếu kém về kinh tế, chính trị, xã hội là yếu tố tiên quyết nhằm củng cố lòng tin của các tầng lớp nhân dân đối với Đảng, Nhà nước ta. Do đó, trong thời gian tới, chúng ta cần quan tâm, chú trọng giải quyết, khắc phục các vấn đề về kinh tế, chính trị, xã hội đặt ra sau đây:
Thứ nhất, cần thấy rõ vấn đề trọng tâm là khắc phục suy giảm kinh tế, hạn chế những tác động tiêu cực của khủng hoảng kinh tế thế giới, duy trì tốc độ tăng trưởng đúng và vượt chỉ tiêu đề ra. Chú ý gắn phát triển bền vững kinh tế với bảo vệ môi trường, bảo đảm an sinh xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Bảo đảm tốt về quyền và lợi ích chính đáng của mọi công dân trong xã hội gắn với khắc phục bất bình đẳng và phân hóa giàu – nghèo. Thực hiện có hiệu quả chính sách xã hội, xóa đói giảm nghèo đối với những vùng khó khăn và các đối tượng chính sách. Phát triển văn hóa xã hội, nâng cao trình độ dân trí, thực hiện công bằng, bình đẳng, dân chủ, nhân đạo trên các lĩnh vực xã hội, đặc biệt là lĩnh vực y tế và giáo dục.
Thứ hai, tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chương trình, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng ở các vùng chiến lược trọng điểm như: Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ nhằm giải quyết các vấn đề phức tạp trong tôn giáo và dân tộc. Cụ thể cần chú ý các nội dung sau:
Tập trung củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ… của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn, từng bước xây dựng được bộ máy chính quyền ở các địa phương bảo đảm thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng bào ở vùng sâu, vùng xa.
Tiếp tục thực hiện các chương trình xóa đói, giảm nghèo bền vững đối với vùng dân tộc thiểu số, nhất là vùng sâu, vùng xa.
Làm tốt công tác vận động quần chúng đối với đồng bào dân tộc, đồng bào tôn giáo theo Nghị quyết số 25/NQ-TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về “Đẩy mạnh thực hiện công tác dân vận trong tình hình mới”. Chú ý bằng nhiều hình thức, phương pháp và huy động nhiều lực lượng tham gia vận động nhằm tranh thủ người có uy tín trong đồng bào dân tộc, tôn giáo. Gắn kết chặt chẽ công tác vận động quần chúng với công tác củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh. Từ đó, hướng tới mục tiêu cơ bản chiến lược là ổn định tình hình, hóa giải, ngăn chặn, vô hiệu hóa các tư tưởng ly khai, tự trị dân tộc. Bằng mọi biện pháp không để các thế lực thù địch kích động quần chúng đòi thành lập “Nhà nước Đề ga độc lập” ở Tây Nguyên, “Nhà nước Khmer Krôm” ở Tây Nam Bộ, “Vương quốc Mông” ở Tây Bắc, “Vương quốc Cham pa” ở Nam Trung Bộ. Trên cơ sở đó, củng cố niềm tin của các tầng lớp nhân dân với Đảng và chính quyền, củng cố cơ sở ở các vùng tôn giáo, dân tộc thiểu số.
Thứ ba, tăng cường hiệu quả trong công tác giải quyết đơn, thư, khiếu nại, tố cáo của công dân, phát hiện sớm và giải quyết triệt để các mâu thuẫn phát sinh trong nội bộ nhân dân, không để hình thành các “điểm nóng” về an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Trong đó, cần tập trung giải quyết, xử lý thỏa đáng các vụ việc tiêu cực, tham nhũng lớn theo đúng tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Thủ tướng Chính phủ. Chú ý giải quyết dứt điểm các vụ khiếu kiện lớn, phức tạp, kéo dài cũng như vấn đề đình công, bãi công và những vấn đề phức tạp trong đồng bào tôn giáo, dân tộc thiểu số. Đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong toàn bộ hệ thống chính trị và toàn xã hội bằng các biện pháp kiên quyết ở các cấp, các ngành, nhất là phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu và giám sát của các tầng lớp nhân dân, giám sát của báo chí, truyền thông.
Thứ tư, làm tốt việc giải quyết đi đôi với thuyết phục dư luận xã hội để khắc phục tâm trạng bất bình, bất an, bất mãn, bi quan, dao động, suy giảm niềm tin trong các tầng lớp xã hội trong thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở các cấp chính quyền. Đặc biệt, cần tập trung vào các chủ trương, chính sách có liên quan đến tôn giáo, dân tộc, quan hệ đối ngoại; các chủ trương, chính sách lớn, có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống các tầng lớp dân cư và có ảnh hưởng trực tiếp đến tiến trình phát triển của đất nước, đến chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia; những chủ trương, chính sách, pháp luật có tác động trực tiếp đến các tầng lớp xã hội nhạy cảm như: trí thức, văn nghệ sĩ, học sinh, sinh viên, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có liên quan đến các lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, báo chí, xuất bản, thông tin, truyền thông, dân chủ, nhân quyền…
Có thể khẳng định rằng trong thời gian qua, nước ta dù phải đối diện với rất nhiều khó khăn, thách thức nhưng với những quyết sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước và sự đoàn kết, nỗ lực quyết tâm của toàn xã hội, nên chúng ta vẫn đạt được những thành quả được quốc tế đánh giá cao về kinh tế, chính trị, xã hội. Tuy nhiên, chúng ta còn bộc lộ những hạn chế, bất cập trong công tác cán bộ, trong tái cấu trúc nền kinh tế, vận hành kinh tế vĩ mô và các chính sách phát triển bền vững. Chính các hạn chế, bất cập này đã được các thế lực thù địch lợi dụng để tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và sự nghiệp đổi mới ở nước ta. Do đó, việc nghiên cứu, giải quyết có hiệu quả một số vấn đề đặt ra ở trên, có ý nghĩa quan trọng làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch và góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”./.



MỘT SỐ YÊU CẦU TRONG ĐẤU TRANH TRỰC DIỆN PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC HỒ CHÍ MINH
                                                                          Thiên Thanh
Hiện nay, các lực lượng phản động trong và ngoài nước vẫn đang điên cuồng chống phá cách mạng Việt Nam nhằm đưa Việt Nam đi theo con đường khác,  không phải là con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Một trong những thủ đoạn mà các thế lực thù địch của cách mạng Việt Nam đã và đang tiến hành là “hạ bệ thần tượng” Hồ Chí Minh, để đi đến xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Chúng ta đều biết: Cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đã trở thành giá trị văn hóa có tính bền vững của cả dân tộc Việt Nam. Giá trị đó càng có ý nghĩa đặc biệt quan trong với Đảng Cộng sản Việt Nam, với sự phát triển của đất nước ta trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. “Hạ bệ thần tượng” Hồ Chí Minh nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng cũng chính là đánh vào sự nghiệp cách mạng Việt Nam, tức là làm mất đi giá trị văn hóa và làm cho Việt Nam đi theo con đường khác. Chính vì vậy, trên các phương tiện thông tin đại chúng, có hàng loạt những bài, những sách viết xuyên tạc một cách trắng trợn, vô căn cứ về Hồ Chí Minh.
Các công trình khoa học nghiên cứu chân thực về Hồ Chí Minh đã được công bố cả ở trong nước và ngoài nước trong những năm qua, tự nó đã là những mũi tiến công sắc bén vào những luận điệu xuyên tạc về Hồ Chí Minh. Nhưng, nếu chỉ dừng lại ở những công trình, tác phẩm đó thôi là chưa đủ. Trong cuộc đấu tranh này rất cần có cả những bài viết, những tác phẩm đấu tranh trực diện để chống lại những luận điệu sai trái, phản động đang tấn công vào Hồ Chí Minh.
Có người cho rằng, những luận điệu xuyên tạc với cái dã tâm xấu xa ấy, những giọng điệu cực đoan, chửi rủa theo kiểu “hàng tôm hàng cá” ấy không đáng để chúng ta viết bài chống lại; cách tốt nhất là hãy cứ “lờ” đi, chỉ cần có những công trình nghiên cứu nghiêm chỉnh, đúng đắn về Hồ Chí Minh là đủ, v.v. Vấn đề không đơn giản như vậy. Trong tình hình hiện nay, chúng ta rất cần thiết phải có những bài bút chiến trực diện để phản bác lại những luận điệu xuyên tạc cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Để đấu tranh phản bác lại những luận điểm xuyên tạc cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh, cần đẩy mạnh hơn nữa việc công bố những bài viết phản bác trực diện trên các phương tiện thông tin đại chúng. Song, muốn những bài biết kiểu này có hiệu lực thực sự, cần nắm vững một số yêu cầu sau đây:
Một là, cần nghiên cứu nắm vững đối tượng phản bác.
Thời gian qua, đã có nhiều bài viết của các học giả, các nhà khoa học đấu tranh trực diện với những quan điểm xuyên tạc về Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, có không ít tác giả chưa thực sự chú ý đến đối tượng mà mình phản bác. Những kẻ xuyên tạc Hồ Chí Minh, thường có cái tâm xấu với ý đồ đen tối. Đó thường là những kẻ phản động. Những người này hoàn toàn có quan điểm, lập trường khác chúng ta, hoàn toàn không đứng trên quan điểm của Đảng. Do vậy, khi đấu tranh với những loại người này bên cạnh việc chỉ rõ những luận điệu chúng đưa ra là sai trái, bịa đặt, thì cần phải làm cho độc giả thấy rõ: chúng là ai? chúng làm cho ai? mục đích mà chúng đang làm là gì? Muốn như vậy cần phải nắm vững đối tượng phản bác.
Hai là, sử dụng những ngôn từ văn hóa để đối lại lời lẽ chửi rủa của những kẻ xuyên tạc.
Những luận điệu xuyên tạc Hồ Chí Minh của những người không có tâm lành thường là rất cực đoan, bôi đen, chửi rủa kiểu “hàng tôm hàng cá”. Song, để chống lại những luận điệu đó một cách có hiệu quả cao, những chiến sĩ đấu tranh trên mặt trận này cần phải có tâm, có tầm, phải vượt lên trên đối tượng phản bác cả về trí tuệ và cách ứng xử văn hóa. Sự phê bình nào cũng cần cái chất văn hóa, có như thế sự phê bình, phê phán mới ở tầm trí tuệ, mới có tác dụng, và qua đó cũng có thể hy vọng làm cho đối tượng được phê bình, phê phán tâm phục, khẩu phục.
Những bài phê phán, phản bác sắc bén bao giờ cũng đi kèm với lối lập luận, lối hành văn trong sáng, hấp dẫn, đầy tính nhân văn, hướng thiện. Qua đó để hướng cho người đọc vào cái đẹp, cái chân thực của tình và lý. Điều này khác một trời một vực với kiểu lý lẽ thiếu sắc bén, nhưng lại được viết theo kiểu đao to búa lớn, chửi cho bõ tức, chửi rủa thô tục, “hòn đá ném đi, hòn chì ném lại”. Điều này đòi hỏi, những bài luận chiến này càng phải được đặt trên cái nền của văn hóa. Có như thế, những lời lẽ của người viết mới có sức sống lâu bền. Cái bền và cái lan tỏa của văn hóa chính là ở đó.
Ba là, những bài viết cần kịp thời, có lý lẽ khoa học.
Những luận điệu xuyên tạc Hồ Chí Minh thường rải rác cả thời gian và không gian, cho nên cần theo dõi chặt chẽ để có những bài viết phản bác kịp thời. Muốn vậy, chúng ta phải có bộ phận chuyên trách theo dõi để phối hợp hoạt động nhịp nhàng, chú ý cung cấp tài liệu kịp thời cho người viết. Kịp thời, đúng thời cơ là một nhân tố bảo đảm sự thắng lợi trong cuộc đấu tranh tư tưởng nói chung, nhất là trong thời buổi công nghệ thông tin phát triển nhanh chóng như hiện nay. Với công nghệ này, cần tận dụng các phương tiện một cách phong phú, hiệu quả. Chưa bao giờ mặt trận tư tưởng được mở rộng với nhiều phương tiện, hình thức như giai đoạn hiện nay. Đó là các phương tiện nghe nhìn, là truyền miệng, là báo viết, điện tử, báo hình, là phương tiện lưu truyền không chỉ là trên giấy, v.v. Người chiến sĩ trên mặt trận này hiện nay chưa bao giờ có được những lợi thế hành nghề như thế. Nhưng, lợi thế đó cũng nằm ở phía bên kia, khi chúng được chu cấp nguồn kinh phí lớn, phương tiện với công nghệ hiện đại để làm việc này. Do vậy, yêu cầu đặt ra với chúng ta là phải có sự đầu tư thêm để nâng cấp các phương tiện, mặc dù phương tiện không phải là số 1, càng không phải là duy nhất, nhưng chúng có vai trò cực kỳ quan trọng trong cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng.
Bốn là, coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ xung kích đấu tranh chống lại các luận điệu xuyên tạc Hồ Chí Minh.
Thực tế cho thấy, có một số bài viết, bài nói phê phán lại các luận điệu xuyên tạc của một số người về Hồ Chí Minh không có sức thuyết phục, chất lượng đấu tranh còn hạn chế. Nguyên nhân chủ yếu là do những bài viết đó ít có chất liệu khoa học, lý lẽ không xác đáng. Do vậy, vấn đề đặt ra ở đây là: người viết phải có trình độ chuyên sâu, với phương pháp tốt. Một bài viết phản bác phải là sự kết tinh của trí tuệ, trách nhiệm, tình cảm của tác giả. Một bài bút chiến dù có dùng bút pháp phù hợp đến đâu nhưng nội dung nhạt nhòa thì không thể có sức thuyết phục, không thể làm cho độc giả tâm phục, khẩu phục được.
Do đó, lực lượng xung kích đấu tranh chống lại những luận điệu xuyên tạc Hồ Chí Minh phải là những người am hiểu tường tận về thân thế, cuộc đời, sự nghiệp Hồ Chí Minh. Điều này đặt ra yêu cầu lực lượng này phải được đào tạo, bồi dưỡng cơ bản để có sự hiểu biết toàn diện, sâu sắc về Hồ Chí Minh. Đồng thời, mỗi một chiến sĩ xung kích trên mặt trận này phải luôn hiểu rõ tính chất nguy hại của những luận điệu xuyên tạc, sai trái đối với sự nghiệp cách mạng nước ta, từ đó mà nêu cao ý thức trách nhiệm với nhiệm vụ này. Lực lượng đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng phải coi việc thường xuyên đấu tranh phản bác lại những luận điệu xuyên tạc Hồ Chí Minh là một trong những nhiệm vụ chính trị của bản thân và của cơ quan, đơn vị, là một tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của người cán bộ, đảng viên./.


Về luận điểm “thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc”     
                                                                        Thiên Thanh
 Thời gian qua, các thế lực thù địch, những phần tử phản động, bất mãn chính trị trong nước và ở nước ngoài đã sử dụng các cơ quan phát thanh, báo chí, xuất bản và những phương tiện truyền thông khác, như: internet, mạng xã hội, blog cá nhân,…để tuyên truyền, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta với tần suất ngày càng tăng, tính chất ngày càng nguy hại.
 Bằng lối suy diễn chủ quan, các lực lượng thù địch đã đưa ra nhiều luận điểm sai trái nhằm xuyên tạc, bóp méo tư tưởng, cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh - một con người được cả thế giới tôn vinh là “Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất”. Một trong những luận điệu xuyên tạc về tư tưởng Hồ Chí Minh là chúng quy chụp cho rằng: thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là “chủ nghĩa dân tộc”.
Đây là một cách diễn đạt thiếu chính xác, không đầy đủ và hoàn toàn thiếu cơ sở khoa học. Cách diễn đạt này dù vô tình hay hữu ý đã bỏ qua tính giai cấp, làm mờ đi lập trường, quan điểm giai cấp của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam. Cách diễn đạt đó đã tước bỏ nội dung cách mạng, tiên tiến nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh, hạ thấp tư tưởng Hồ Chí Minh và thực chất là để phủ nhận tư tưởng của Người. 
 Mấy điều phân tích ở trên cho thấy, những người đưa ra quan điểm này đang cố gắng cắt rời, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin.  Thực chất của vấn đề này không có gì khác là sự xuyên tạc, bóp méo tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm cô lập và làm suy yếu tư tưởng Hồ Chí Minh, hướng tới phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh, xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Tính chất nguy hiểm của thủ đoạn này còn biểu hiện ở chỗ: dễ gây nên sự hoang mang, dao động trong một bộ phận nhân dân ta về nền tảng tư tưởng của Đảng và con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà chúng ta đang thực hiện. Các thế lực thù địch cũng nhận thức được, nếu không xuyên tạc, xóa bỏ được nền tảng tư tưởng của Đảng thì không thể thủ tiêu được sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội, không thể xóa bỏ được CNXH ở Việt Nam. Vì vậy, sự công kích, xuyên tạc, bóp méo, hạ bệ tư tưởng Hồ Chí Minh và hình ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh trong đời sống tinh thần tư tưởng của nhân dân ta, chắc chắn sẽ còn tiếp tục gia tăng và còn có những chiêu thức mới.
  Luận điểm “thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc” thể hiện một  ý đồ chính trị rõ ràng, muốn tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin, tách rời độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, thực chất là cổ suý cho quan điểm muốn nước ta từ bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa, từ bỏ mục tiêu chủ nghĩa xã hội.
Chúng ta đều biết, tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc gắn bó thống nhất với tư tưởng của Người về chủ nghĩa xã hội. Người cho rằng, trong thời đại ngày nay, con đường phát triển tất yếu của cách mạng giải phóng dân tộc do đảng tiên phong của giai cấp công nhân lãnh đạo sẽ là tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Người khẳng định: cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn. Bởi: “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”[1]. Và theo Người, chủ nghĩa xã hội là làm cho dân giàu, nước mạnh, mọi người được ăn no, mặc ấm, sung sướng, tự do; về bản chất, chủ nghĩa xã hội là một xã hội do nhân dân lao động làm chủ, một xã hội không có chế độ người bóc lột người, một xã hội bình đẳng, ai làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm là không hưởng. Đó cũng là ước nguyện cháy bỏng của Người trước khi ra đi vào cõi vĩnh hằng: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”[2].
Hiện nay, đất nước ta đang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh mặt tích cực, kinh tế thị trường cũng tác động tiêu cực đến đời sống xã hội, nó kích thích chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng phát triển, coi tiền là tất cả mà coi thường đạo lý, coi nhẹ lý tưởng, tình đồng chí, làm băng hoại những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, làm gia tăng phân hóa giàu nghèo, theo đó là lối sống hưởng thụ ích kỷ, không có tình nghĩa. Trong bối cảnh đó, nếu cán bộ, đảng viên không có bản lĩnh chính trị vững vàng, thiếu tu dưỡng, rèn luyện thường xuyên thì rất dễ dao động về lý tưởng, suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống, dễ sa ngã bởi những cám dỗ vật chất tầm thường, rơi vào vũng bùn của chủ nghĩa cá nhân. Điều này đã được Hồ Chí Minh dự báo ngay từ năm 1927 (khi Đảng còn chưa ra đời), trong cuốn Đường cách mệnh, Người đã căn dặn “phải ít lòng tham muốn về vật chất” và “phải giữ chủ nghĩa cho vững”.
Vì vậy, đấu tranh chống quan điểm sai trái, bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trở thành một nhiệm vụ tất yếu chúng ta cần làm và nhất định phải làm thật tốt. Để thực hiện được điều đó, cần nhận rõ các dạng quan điểm sai trái để có những đối sách phù hợp. Yêu cầu chung nhất của việc đấu tranh chống quan điểm sai trái chính là làm tốt công tác tư tưởng trong Đảng và toàn dân bằng cách tuyên truyền, tổ chức, giáo dục hướng tới sự thống nhất tư tưởng và thống nhất hành động trong toàn xã hội.
Chúng ta cần đẩy mạnh việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là vấn đề được Đảng ta đặt ra từ lâu và đã đạt những kết quả quan trọng, mang tính đột phá, nhưng cũng còn nhiều vấn đề cần tiếp tục phải được tổ chức nghiên cứu sâu sắc hơn nữa. Sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh gắn với các thời kỳ hoạt động của Người trong phong trào cách mạng Việt Nam và quốc tế. Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, cần tuân thủ nguyên tắc lịch sử - cụ thể, là xem xét một cách toàn diện các mối liên hệ lịch sử cơ bản trong một hoàn cảnh cụ thể và sự phát triển các quan điểm của Người. Đồng thời, chú trọng hơn nữa công tác sưu tầm, xử lý những thông tin, tư liệu, tài liệu liên quan đến Người ở cả trong và ngoài nước. Mặt khác, phải tăng cường giao lưu, hợp tác nghiên cứu khoa học, trao đổi học thuật với những người nước ngoài, nhất là với những nhà nghiên cứu khoa học đang quan tâm tìm hiểu Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sự trao đổi học thuật là một trong những biện pháp quan trọng để tăng cường sự hiểu biết đúng đắn về Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó có việc sưu tầm, xử lý những tài liệu có liên quan đến cuộc đời, sự nghiệp của Người. Cùng với đó, chúng ta cần quan tâm làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, nhất là đối với thế hệ trẻ về thân thế, sự nghiệp và các giá trị của nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh, để cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng của mỗi người dân yêu nước Việt Nam. Trong giáo dục, tuyên truyền về tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta phải dựa trên cơ sở thật sự khoa học; tránh hiện tượng “thần thánh hóa” con người bình dị và vĩ đại Hồ Chí Minh.
Quân đội ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta sáng lập, giáo dục và rèn luyện; là đội quân cách mạng được nhân dân hết mực yêu quý, hơn lúc nào hết, trong giai đoạn hiện nay, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang càng phải vững vàng về chính trị, tư tưởng, nắm chắc tay súng để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN và nhân dân. Muốn vậy, mọi cán bộ, chiến sĩ phải không ngừng học tập, rèn luyện về mọi mặt, trước hết là về tư tưởng, bản lĩnh chính trị; nhận diện rõ cái tốt và cái xấu, những giá trị chân - thiện - mỹ; đồng thời, kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng, làm thất bại mọi luận điệu xuyên tạc thân thế, sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh./.




[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG-ST, Hà Nội, tr. 64
[2] Sđ d, t.4, tr.187

Thứ Hai, 16 tháng 1, 2017

VỀ CÁI GỌI LÀ “CHỦ NGHĨA CHIA RẼ VÀ CỰC ĐOAN DƯỚI HÌNH THỨC CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN”
                                                                                   Thanh Thiên
Trong các quan điểm, luận điệu xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin của các thế lực phản động hiện nay, có cái gọi là “chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan thể hiện dưới hình thức chủ nghĩa Mác - Lênin”. Thực chất của quan điểm này đem quy chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan, đối lập với tư tưởng đoàn kết giai cấp vô sản của chủ nghĩa Mác – Lênin.
Đây là sự quy chụp, áp đặt cho chủ nghĩa Mác - Lênin một cách vô căn cứ, vu khống, bịa đặt. Bởi vì chia rẽ, cực đoan không phải là bản chất của chủ nghĩa Mác - Lênin mà đó là tư tưởng sai lầm của những người theo chủ nghĩa chia rẽ, bè phái, tả khuynh hoặc hữu khuynh... Chủ nghĩa Mác - Lênin là một hệ thống các nguyên lý, quy luật khoa học phản ánh những quy luật khách quan của thế giới, dựa trên phương pháp biện chứng duy vật với các quan điểm khách quan, toàn diện, phát triển, lịch sử - cụ thể và thực tiễn chứ không phải dựa trên chia rẽ và cực đoan, phiến diện, không thể đồng nhất, lẫn lộn những sai lầm đó với chủ nghĩa Mác - Lênin.
Trên thực tế, như chúng ta biết, Mác, Ăngghen, Lênin luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, thống nhất trong phong trào cách mạng. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Mác và Ăngghen đã đưa ra khẩu hiệu “vô sản toàn thế giới hãy đoàn kết lại!”. Về sau này Lênin bổ sung thêm: “Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức hãy đoàn kết lại”. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, xây dựng các chính đảng cách mạng, Mác, Ăngghen, Lênin đều yêu cầu phải đoàn kết, thống nhất để tạo thành sức mạnh của tổ chức cách mạng. Lênin coi giữ gìn sự đoàn kết trong Đảng Cộng sản như giữ gìn con ngươi của mắt mình.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn giương cao ngọn cờ đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, đoàn kết toàn dân, đoàn kết toàn Đảng. Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy khi nào đoàn kết thì thắng lợi, chia rẽ là thất bại. Đảng đấu tranh chống lại tư tưởng và hành động cực đoan, phiến diện, duy ý chí, chia rẽ, bè phái. Coi chia rẽ, bè phái là một trong những tội nặng nhất, làm phá hoại tổ chức đảng. Tổng kết 80 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Cương lĩnh năm 2011 của Đảng đã đúc rút bài học quan trọng: “Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đó là truyền thống quý báu và là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công”. Đảng cũng khẳng định, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực chủ yếu, là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam.
Có ý kiến cho rằng “ngày nay chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan làm cho Việt Nam hòa bình đã 40 năm, song vẫn còn bị chia rẽ”.
Ý kiến trên đây là cực đoan, võ đoán, bất chấp thực tế lịch sử. Trước kia đất nước bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị - xã hội khác nhau là do sự xâm lược của đế quốc Mỹ muốn xâm chiếm Việt Nam, chia cắt đất nước ta. Để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, nhân dân ta phải tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trong suốt 21 năm. Đến ngày 30-4-1975 với Chiến dịch Hồ Chí Minh đại thắng, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước được hòa bình, thống nhất, không còn bị chia rẽ. Hiện nay, đối với những người đã từng tham gia chế độ cũ trước đây, đường lối của Đảng và Nhà nước ta là khép lại quá khứ, hướng tới tương lai, lấy lợi ích của Tổ quốc, của dân tộc làm mẫu số chung để đoàn kết toàn dân; lấy dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm mục tiêu chung, làm điểm tương đồng; xóa bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, tôn trọng những người có ý kiến khác, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; thực hiện hòa hợp dân tộc, đề cao truyền thống nhân nghĩa, khoan dung… để tăng cường đồng thuận xã hội, tập hợp đoàn kết mọi người vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chỉ có những người nào sau 40 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước rồi nhưng vẫn ôm mối hận thù dân tộc, vẫn bị định kiến chi phối, không vượt qua được sự mặc cảm của quá khứ mới tách mình ra khỏi dân tộc, thậm chí tìm cách chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Một bộ phận nhỏ người Việt ở nước ngoài do thiếu thông tin khách quan, trung thực về tình hình trong nước, vẫn ôm hận thù, chống phá Đảng và Nhà nước ta, vu khống Việt Nam đàn áp tôn giáo, dân tộc thiểu số, vi phạm dân chủ, nhân quyền, vận động các thế lực thù địch tiếp tục chống phá Việt Nam. Chính những người này mới là lực lượng đang theo chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan./.


Lại một sự xuyên tạc trắng trợ về quyền tự do, tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam
                                                                                       Thanh Thiên
HƯƠNG ĐẤT VIỆT: Trong thời gần đây, nhiều phần tử cơ hội, phản động trong và ngoài nước tiếp tục có những hành động xuyên tạc về vấn đề tôn giáo ở Việt Nam. Đáng chú ý là: vào ngày 08/12/2016, đối tượng Trần Gia Phụng (trú tại Canada) tán phát tài liệu, nội dung tuyên truyền, vu khống các cơ quan chức năng của Việt Nam “vi phạm tự do tôn giáo”; xuyên tạc Đảng và Nhà nước ta “dùng bạo lực để đàn áp giáo dân”; đồng thời kêu gọi các tổ chức và cá nhân ở nước ngoài hỗ trợ cho các phong trào đấu tranh ở Việt Nam”.
Hành vi và luận điệu mà Trần Gia Phụng đưa ra là một sự xuyên tạc trắng trợ, không có căn cứ về quyền tự do, tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.
Hiện nay, ở Việt Nam, không một tôn giáo nào đang hoạt động đúng pháp luật mà bị cấm đoán. Việc người dân theo hay không theo tín ngưỡng, tôn giáo nào là trên cơ sở tự nguyện. Tuyệt nhiên, không có chuyện các cơ quan chức năng ở Việt Nam “dùng bạo lực để ép buộc giáo dân”. Giáo hội các tôn giáo khi được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân đều được chính quyền các cấp quan tâm và tạo thuận lợi để hoạt động tôn giáo bình thường trong khuôn khổ luật pháp. Các tín đồ tôn giáo là một phần không thể thiếu trong cộng đồng người Việt Nam, được hưởng mọi quyền lợi của một công dân Việt Nam theo quy định của pháp luật. Vì vậy, các tổ chức tôn giáo và tín đồ tôn giáo không ngừng tăng lên. Theo Ban Tôn giáo Chính phủ, hiện nay, Nhà nước ta đã công nhận và cấp đăng ký hoạt động cho 39 tổ chức tôn giáo, một pháp môn tu hành, với trên 24 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số. Cả nước có gần 53 nghìn chức sắc, 133,7 nghìn chức việc, 28 ngàn cơ sở thờ tự. Trên thực tế, ai chũng nhận thấy, các lễ: Nôen, Phật đản cũng như những lễ trọng khác của các tôn giáo và tín ngưỡng dân gian từ lâu đã trở thành ngày hội chung của toàn dân, lôi cuốn hàng vạn người tham gia. Nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo chính đáng ấy được chính quyền các địa phương tạo điều kiện đáp ứng. Việc xây dựng, sửa chữa, tu bổ nơi thờ tự diễn ra khắp nơi. Nhiều chính quyền địa phương còn cấp đất cho giáo hội làm nơi thờ tự, sinh hoạt tôn giáo.

Tuy nhiên, công tác tôn giáo ở nước ta do nhiều nguyên nhân cũng đang phải đối mặt với những khó khăn, thách thức. Trong đó, có khó khăn do cả khách quan và chủ quan; có những khó khăn về điều kiện kinh tế - xã hội, môi trường sống; có những khó khăn do cơ chế, chính sách, pháp luật và khâu thực hiện; nhưng cũng có khó khăn do sự khác biệt về nhận thức, do chưa thấu hiểu nhau giữa các cơ quan chức năng và các tổ chức tôn giáo; có khó khăn do sự xúi giục, kích động từ các thế lực thù địch. Những luận điệu mà Trần Gia Phụng đưa ra tuy không mới, nhưng nó dễ đánh lừa những người nhẹ dạ, cả tin. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải nêu cao cảnh giác để không bị mắc phải những “chiêu trò” mà các phần tử cơ hội, phản động đang thực hiện nhằm chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta./.
MỘT SỐ YÊU CẦU VẬN DỤNG CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN,
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
                                                                                       Thanh  Thiên
                   Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, nhờ nắm vững và vận dụng sáng tạo bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà Đảng ta đã dẫn dắt cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Thực tiễn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, nhất là sau 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đã minh chứng hùng hồn: bản chất khoa học, cách mạng và nhân văn cao cả là nguồn gốc sức mạnh của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Hiện nay, trước những diễn biến hết sức phức tạp, khó lường của tình hình khu vực và trên thế giới. Đặc biệt, trước sự chống phá điên cuồng của các thế lực phản động, thù địch đối với cách mạng nước ta, chúng ta phải xem xét kỹ lưỡng những mâu thuẫn, đối lập nhau trong trật tự thế giới đa cực, trong quá trình toàn cầu hóa do chủ nghĩa tư bản chi phối hiện nay để chọn bước đi thông minh, sáng tạo, có lợi cho sự phát triển. Để đạt được mục đích đặt ra mà vẫn giữ vững phương hướng chính trị, không phạm sai lầm về đường lối, đòi hỏi Đảng ta không những phải nắm vững, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn phải vận dụng sáng tạo trong điều kiện, tình hình mới.
Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đòi hỏi phải nghiên cứu sâu sắc, toàn diện và có hệ thống những di sản tư tưởng, lý luận của C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lênin, Hồ Chí Minh; phải đổi mới tư duy để trở về với chính thực chất hệ thống luận điểm của các ông đã hình thành trong những điều kiện lịch sử cụ thể, trong đó cần hết sức chú ý đến những bổ sung, phát triển mà chính các ông phác họa trước những thay đổi của thực tiễn.
Vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh phải trên cơ sở khách quan, dám nhìn thẳng vào sự thật và chấp nhận thách thức. Chúng ta phải kiên quyết phê phán những quan điểm đi ngược lại những gì thuộc về bản chất, nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, phải dựa chắc trên cơ sở phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh để đánh giá đúng đắn tính chất, hiệu quả từng bước đi, từng sách lược xây dựng, phát triển đất nước, dám nhìn thẳng vào những sai lầm để khắc phục và hoạch định cho sự phát triển đi lên.
Vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh phải trên cơ sở thực tiễn xây dựng đất nước và những điều kiện cụ thể của thế giới đương đại. Điều này đòi hỏi chúng ta phải kiên định mục tiêu cơ bản của chủ nghĩa xã hội, đồng thời phải luôn tìm tòi sáng tạo những giải pháp đặc thù cho sự phát triển đất nước. Trong khi đòi hỏi phải cảnh giác với nguy cơ chệch hướng, chúng ta cũng cần phải đặt ra vấn đề chống chủ nghĩa giáo điều, bảo thủ - một thứ nguy cơ có thể dẫn tới những hậu quả tiêu cực đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
Vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh phải luôn hướng tới mục tiêu cuối cùng và quan trọng nhất, đó là con người. Trong suốt hành trình của mình, chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh không bao giờ xa rời mục tiêu giải phóng con người, giải phóng xã hội, giải phóng loài người. Đó là tư tưởng khoa học, mang tính nhân văn cao cả và phù hợp với nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân lao động trên toàn thế giới. Điều đó, đòi hỏi chúng ta phải vận dụng sáng tạo, hình thành những giải pháp hợp lý, xuất phát từ điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của nước ta để từng bước thực hiện mục tiêu giải phóng và phát triển con người toàn diện. Cương lĩnh chính trị của Đảng ta khẳng định: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển”. Từ định hướng có tính nguyên tắc chung ấy cần phải cụ thể hóa nhanh chóng thành các chính sách, xây dựng những cơ chế xã hội bảo đảm thực hiện các chính sách về con người, làm cho con người Việt Nam ngày càng được hưởng cuộc sống tự do hơn, hạnh phúc hơn cùng với mỗi bước phát triển của đất nước./.


Thứ Ba, 10 tháng 1, 2017

THẤY GÌ QUA CÁC LUẬN ĐIỆU ĐÒI TỰ DO NGÔN LUẬN Ở VIỆT NAM
                                                                              Trần Trí Nam
Dựa trên những thông tin thiếu khách quan, không trung thực, áp đặt, Nghị viện châu Âu ra Nghị quyết Ngày thứ Năm (09/6/2016), thúc giục Việt Nam chấm dứt ngay lập tức việc sách nhiễu, hăm dọa, và đàn áp các nhà hoạt động chính trị, các nhà báo, các blogger, các nhà đối kháng. Còn tại Hội nghị lần thứ 39 của Liên Đoàn Quốc tế Nhân quyền (FIDH, International Federation of Human Rights) ở Johannesburg, Nam Phi, từ ngày 23 đến 27 tháng 8 năm 2016, đã thông qua với đa số tuyệt đối “Nghị Quyết về tình trạng Nhân quyền tại Việt Nam”. Trong đó, Nghị quyết về tình trạng nhân quyền tại Việt Nam tố cáo chính sách của Việt Nam khoá cửa thông tin và kiểm duyệt nhằm thiết lập cuộc đàn áp man rợ (công an bạo hành, sách nhiễu, dựng các phiên toà bất công, ban hành các điều luật thủ tiêu tự do); Yêu cầu Việt Nam hợp tác thực sự và chân thành với Liên Hợp quốc trên lĩnh vực nhân quyền, bằng cách thực hiện các Thủ tục đặc biệt, như mời các Báo cáo viên Liên Hợp quốc đặc nhiệm trên các lĩnh vực tự do ngôn luận, … Lý do mà họ đưa ra không có gì khác là Việt Nam kiểm soát và ngăn chặn internet, bắt giữ, giam cầm các bloggers có tiếng nói đối lập, v.v…
Đây không phải lần đầu tiên Nghị viện châu Âu và FIDH đưa ra cái nhìn sai lệch về tình hình tự do ngôn luận ở Việt Nam. Cần phải khẳng định, sự thật về tự do ngôn luận ở Việt Nam trái ngược hẳn với những gì mà họ đưa ra.
Chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam là bảo vệ và bảo đảm cho mọi người dân có quyền tự do ngôn luận theo hiến pháp, pháp luật nhằm phục vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, hỗ trợ cải cách hành chính, nâng cao chất lượng cuộc sống và thực hiện các quyền tự do cơ bản của nhân dân. Theo tinh thần ấy, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu về tự do ngôn luận. Kết quả khảo sát của WeAreSocial - một tổ chức nghiên cứu độc lập về truyền thông xã hội toàn cầu đã cho thấy, tính đến tháng 12-2012, số người dùng internet ở Việt Nam là 30,8 triệu người (tăng 10,8 triệu người so với năm 2008), chiếm 34% dân số (cao hơn mức trung bình của thế giới là 33%). Việt Nam hiện có hơn 3 triệu người dùng blog cá nhân để bày tỏ chính kiến trên mạng xã hội, tổ chức các diễn đàn thảo luận, phản biện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, gửi các góp ý, kiến nghị đến các cơ quan chức năng... Tổ chức Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU) xếp hạng Việt Nam đứng thứ ba trong khu vực Đông Nam Á và thứ 8 châu Á về số lượng người sử dụng internet. Sự phát triển nhanh của các phương tiện thông tin đại chúng và internet cho thấy, quyền tự do ngôn luận, tự do thông tin ở Việt Nam đã có bước cải thiện và phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, cũng như mọi quốc gia trên thế giới, luật pháp Việt Nam quy định hạn chế quyền tự do ngôn luận trong một số trường hợp, phù hợp với Công ước về các quyền dân sự và chính trị, nhằm tôn trọng các quyền hợp pháp và chính đáng, uy tín, danh dự của người khác; nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, sức khỏe cộng đồng và đạo đức của xã hội.
Những trường hợp mà FIDH hay Nghị viện châu Âu gọi là “các bloggers có tiếng nói đối lập” thực chất, họ đã vi phạm pháp luật Việt Nam. Lợi dụng vào quyền tự do ngôn luận, những đối tượng đó đã sử dụng internet để tuyên truyền xuyên tạc các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời, truyền bá những luận điệu phản động gây hoang mang trong xã hội... nhằm chống phá công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của nhân dân Việt Nam. Các cơ quan bảo vệ pháp luật Việt Nam bắt giữ, xử lý họ là vì họ vi phạm pháp luật chứ không hề hạn chế họ về quyền tự do ngôn luận.
Rõ ràng những thành tựu về tự do ngôn luận nói chung, tự do báo chí, tự do khai thác, sử dụng internet nói riêng của Việt Nam là không thể phủ nhận. Những tiến bộ đó được sự ghi nhận, đánh giá cao của dư luận quốc tế. Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam có quyền tự hào về những thành quả của mình và kiên quyết đấu tranh, phản bác mọi suy nghĩ, hành động xuyên tạc, bóp méo sự thật về tình hình tự do ngôn luận nói chung, tự do báo chí, tự do internet nói riêng ở Việt Nam./.


Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...