Thứ Ba, 7 tháng 11, 2023

Tuyên truyền pháp luật cho gần 300 đại biểu đại sứ quán, các cơ quan, tổ chức quốc tế tại Việt Nam

Ngày 7/11, tại Hà Nội, Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Bộ Công an tổ chức Hội nghị tuyên truyền, phổ biến Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam và Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam tới các cơ quan đại diện ngoại giao, tổ chức quốc tế.

Cùng dự có đại diện các đơn vị nghiệp vụ của Bộ Công an gồm: Cục An ninh đối ngoại, Cục Đối ngoại, Cục Pháp chế và Cải cách hành chính, tư pháp và gần 300 đại biểu, đại diện đại sứ quán các nước; đại diện các cơ quan, tổ chức quốc tế tại Việt Nam.

Hội nghị nhằm tuyên truyền, phổ biến những nội dung liên quan đến trách nhiệm của công dân khi ra nước ngoài; việc cấp, kiểm soát giấy tờ xuất nhập cảnh đối với công dân; quyền, trách nhiệm của người nước ngoài, cơ quan, tổ chức mời, bảo lãnh người nước ngoài; những sửa đổi, bổ sung để tiếp tục tạo điều kiện hơn nữa cho người nước ngoài nhập, xuất cảnh Việt Nam như: nâng thời hạn cấp thị thực điện tử, mở rộng danh sách các nước, vùng lãnh thổ... Đồng thời, thông qua cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài, tổ chức quốc tế tại Việt Nam để tuyên truyền, phổ biến lan tỏa những điểm mới trong lĩnh vực xuất nhập cảnh của Việt Nam.

Hội nghị có 3 nội dung gồm: giới thiệu về Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam và những vấn đề mới về các thủ tục hành chính liên quan đến công dân Việt Nam; cấp phép nhập cảnh, thị thực, tạm trú cho người nước ngoài thuộc diện làm thủ tục tại Bộ Ngoại giao; quy định mới của pháp luật Việt Nam về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam trong Luật số 23/2023/QH15.

Sau khi Chính phủ ban hành Đề án 06, thực hiện Quyết định số 430/QĐBCA ngày 26/1/2023 của Bộ trưởng Bộ Công an về việc phê duyệt danh mục dịch vụ công trực tuyến toàn trình, một phần cung cấp trên Cổng dịch vụ công Bộ Công an, Cơ quan quản lý xuất nhập cảnh đã triển khai 22 dịch vụ công liên quan đến nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài trên Cổng dịch vụ công Bộ Công an. Trong đó, có 13 thủ tục thực hiện tại Cục quản lý xuất nhập cảnh và 6 thủ tục thực hiện tại Công an cấp tỉnh.

Các thủ tục hành chính được xây dựng theo hướng người nộp hồ sơ và nhận kết quả không phải đến trụ sở cơ quan quản lý xuất nhập cảnh. Theo đó, ngoài các thủ tục đạt mức độ trực tuyến toàn trình, đối với các thủ tục cấp giấy tờ vào hộ chiếu như cấp thị thực, gia hạn tạm trú, cấp giấy miễn thị thực, người nộp hồ sơ thực hiện khai trực tuyến, nộp phí trên Cổng dịch vụ công của Bộ Công an và gửi hộ chiếu và các giấy tờ liên quan (trường hợp giấy tờ chưa được chứng thực điện tử) qua dịch vụ bưu chính công ích đến cơ quan quản lý xuất nhập cảnh. Sau khi được giải quyết, cơ quan quản lý xuất nhập cảnh gửi kết quả dịch vụ bưu chính đến người nộp hồ sơ.

Đồng thời, thực hiện chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Công an, hiện Cục quản lý xuất nhập cảnh đã phân cấp mạnh mẽ cho Công an cấp tỉnh trong giải quyết thủ tục hành chính cấp giấy tờ cư trú ở trong nước cho người nước ngoài tại Việt Nam. Cụ thể, Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện toàn bộ việc tiếp nhận, giải quyết cấp, gia hạn, hủy bỏ hoặc thu hồi các loại giấy tờ có giá trị nhập cảnh, xuất cảnh cư trú cho người nước ngoài, trừ các trường hợp sau thực hiện tại Cục Quản lý xuất nhập cảnh (thủ tục đã được cung cấp trên Cổng dịch vụ công Bộ Công an).

Trong đó, có đề nghị cấp giấy miễn thị thực cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài là vợ, chồng, con của người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc của công dân Việt Nam (thực hiện theo quy định tại Nghị định số 82/2015/NĐ-CP ngày 24/9/2015).

Hồ sơ do các cơ quan cấp Trung ương gồm: các ban, cơ quan, đơn vị trực thuộc Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, cơ quan của Quốc hội, cơ quan thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước, bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; cơ quan Trung ương của tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam; cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện tổ chức quốc tế thuộc Liên hợp quốc, tổ chức liên chính phủ tại Việt Nam; Văn phòng đại diện tổ chức kinh tế, văn hóa và tổ chức chuyên môn khác của nước ngoài tại Việt Nam đề nghị.

Việc triển khai dịch vụ công trực tuyến cùng với phân cấp mạnh mẽ trong giải quyết thủ tục hành chính cho người nước ngoài tại Công an các địa phương góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan, tổ chức doanh nghiệp, cá nhân trong việc giải quyết các thủ tục hành chính trong lĩnh vực xuất nhập cảnh, giúp giảm chi phí đi lại, tiết kiệm thời gian.

Nguồn: Báo CAND

Bộ trưởng Tô Lâm: Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trở thành xu thế không thể đảo ngược

Đại tướng Tô Lâm, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an cho biết, đấu tranh phòng, chống tham nhũng là công tác rất trọng tâm của lực lượng Công an triển khai trong thời gian qua. Đồng thời, ngành tiếp tục sắp xếp tại tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, hoạt động ngày càng hiệu lực, hiệu quả hơn.

Ngày 7/11, chất vấn Bộ trưởng, Trưởng ngành trước Quốc hội, đại biểu Đỗ Huy Khánh (Đồng Nai) chất vấn Bộ trưởng Bộ Công an. Đại biểu Đỗ Huy Khánh cho biết, thời gian qua, cử tri và nhân dân cả nước đánh giá rất cao vai trò của ngành Công an trong việc điều tra phòng, chống tội phạm tham nhũng. “Vậy giải pháp của Bộ trưởng trong việc tiếp tục điều tra các vụ án tham nhũng thời gian tới là như thế nào để đảm bảo các tiêu chí: không bỏ lọt tội phạm, đồng thời không làm oan người vô tội và khẳng định quan điểm chỉ đạo nhất quán của Trung ương cũng như của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Đó là không có vùng cấm, không có ngoại lệ, xử lý một vụ, cảnh tỉnh cả vùng, một lĩnh vực?” – đại biểu nêu câu hỏi.

Trả lời đại biểu, Đại tướng Tô Lâm, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an cho biết, đấu tranh phòng, chống tham nhũng là công tác rất trọng tâm của lực lượng Công an triển khai trong thời gian qua. Bộ Công an triển khai gương mẫu, đi đầu trong khâu tổ chức thực hiện trên cả 3 phương diện.

Thứ nhất, công tác phát hiện, điều tra, xử lý các vụ án tham nhũng, tiêu cực được ngành Công an tích cực đẩy mạnh. Công tác này được được lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đặc biệt là đồng chí Tổng Bí thư – Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực coi đây là điểm sáng.

Thứ hai, ngành Công an tập trung chống tham nhũng, tiêu cực ngay trong nội bộ. Để làm được điều đó thì phải sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, nâng cao ý thức, làm trong sạch nội bộ.

Thứ ba, cải cách thủ tục hành chính, quản lý quản trị xã hội bằng pháp luật, đồng thời phải tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp, chứ không phải gây khó khăn, nhũng nhiễu, khó dễ.

Đặc biệt, Bộ trưởng Tô Lâm nhấn mạnh, với cải cách hành chính theo Đề án 06, Chính phủ đang tập trung chỉ đạo triển khai, không chỉ với ngành Công an mà các ngành. Nếu làm được thì không chỉ cải cách hành chính phục vụ nhân dân mà còn giảm hẳn được “tham nhũng vặt” – điều cử tri bức xúc phản ánh nhiều. Không tiếp xúc người giải quyết thủ tục hành chính thì không còn điều kiện thực hiện “tham nhũng vặt”.

Bộ trưởng Tô Lâm khẳng định, thực tế điều tra, quyết định đến truy tố, xét xử nghiêm đối tượng tham nhũng đã thực hiện tốt phương châm không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không có đặc quyền, bất kể người đó là ai.

“Việc này đã góp phần cảnh tỉnh, răn đe, phòng ngừa vi phạm, thu hồi được nhiều tài sản cho Nhà nước. Không để cho đối tượng trốn ra nước ngoài và cũng không dám trốn ra nước ngoài. Vừa qua, xử lý được nhiều đối tượng này. Từ việc đó tiếp tục đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trở thành xu thế không thể đảo ngược” –  Bộ trưởng Tô Lâm khẳng định.

Nêu 4 giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thời gian tới, Bộ trưởng Tô Lâm cho biết, trước tiên, tập trung hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực, không để sơ hở thiếu sót để các đối tượng lợi dụng hoạt động phạm tội, những vấn đề có sơ hở, thiếu sót thì phải khắc phục ngay.

“Qua các vụ án thực tế vừa qua kiến nghị sửa đổi, chỉnh lý nhiều quy định liên quan trên lĩnh vực tài chính, tín dụng, chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, đăng kiểm phương tiện, phòng chống buôn lậu...”- Bộ trưởng Tô Lâm cho biết.

"Cùng với đó, chỉ đạo rà soát, bổ sung quy định về kiểm soát quyền lực, nhất là người đứng đầu các Bộ, ngành, địa phương; quy định cụ thể và có chế tài mạnh mẽ để cắt đứt các quan hệ doanh nghiệp sân sau, không để hình thành các đối tượng có thể thao túng được nhiều cơ quan như một số vụ án xảy ra vừa qua, ví dụ vụ Việt Á, “chuyến bay giải cứu”…"- Bộ trưởng Tô Lâm nhấn mạnh và cho biết, vừa qua đã xử lý các đối tượng với 2 tội danh chính trong nhóm tham ô, tham nhũng: Một là, tham ô tài sản, tức ăn cắp tài sản của Nhà nước, của nhân dân làm tài sản riêng; thứ hai là, đưa và nhận hối lộ.

“Chúng tôi chưa bắt đối tượng nào vừa qua liên quan việc đó mà không nhận tiền. Ở đâu đó có chuyện rằng bây giờ xử lý quá thì cán bộ sợ, không dám làm là không phải” – đồng chí Bộ trưởng khẳng định và cho rằng, việc xử lý cán bộ nhận hối lộ được nhân dân rất đồng tình.

Bộ trưởng Tô Lâm cho biết thêm, trong một số vụ án thì số người bị hại rất đông nên việc thu hồi tài sản có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Đấu tranh phòng, chống tham nhũng nhưng phải làm sao thu hồi được tài sản của Nhà nước, của nhân dân; phải làm tốt từ khâu phát hiện, kê biên, kê khai, không để tẩu tán tài sản. Ngoài ra, phải đẩy mạnh chuyển đổi số, đảm bảo công khai, minh bạch trên các lĩnh vực, góp phần hạn chế tham nhũng, nhất là với “tham nhũng vặt”.

Nguồn: Báo QĐND

Chủ Nhật, 15 tháng 10, 2023

Đời sống Công giáo - thực tiễn sinh động phản bác các luận điệu sai trái

Trong hai ngày 11 và 12/10/2023, tại Hà Nội, hơn 400 linh mục, tu sỹ và giáo dân tiêu biểu đã tham dự Đại hội đại biểu người Công giáo Việt Nam xây dựng và bảo vệ Tổ quốc lần thứ VIII. Vai trò, vị trí của tổ chức Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam trong xã hội và khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng được khẳng định. Đại hội được tổ chức một lần nữa khẳng định vị trí đồng bào các tôn giáo, trong đó có đạo Công giáo là một bộ phận không thể tách rời trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, gắn bó, đoàn kết, đồng hành cùng dân tộc. Thực tiễn đó cũng là minh chứng sinh động phản bác luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Khi nói đến văn hóa của một dân tộc hay khu vực, không thể không nhắc đến bộ phận cấu thành là tôn giáo. Giá trị văn hóa của tôn giáo thể hiện ở niềm tin, các nguyên tắc đạo đức, các giá trị, những di sản hữu hình và vô hình. Quá trình hình thành, phát triển giáo lý, các nguyên tắc, giáo luật của tôn giáo dần ảnh hưởng, thẩm thấu đến nhận thức, tư tưởng, tâm lý và lối sống không chỉ của tín đồ mà còn ảnh hưởng tới nhiều mặt của xã hội.

Tôn giáo du nhập, hình thành ở Việt Nam từ rất sớm, được người dân đón nhận bởi những giá trị nhân bản mà tôn giáo mang lại phù hợp với đạo lý, văn hóa truyền thống tốt đẹp của người Việt. Trải qua chiều dài lịch sử dân tộc, tôn giáo luôn gắn kết chặt chẽ, đồng hành cùng dân tộc, biểu hiện rõ nét nhất là các giá trị đạo đức, văn hóa. Điều đó đã được thể hiện qua các cuộc kháng chiến cứu quốc, nhiều linh mục, tu sĩ, giáo dân đã tham gia, ủng hộ kháng chiến. Tiêu biểu như linh mục Phạm Bá Trực, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội; linh mục Hồ Ngọc Cẩn, Vũ Xuân Kỷ, Hồ Thành Biên, Đậu Quang Lĩnh, Nguyễn Thần Đồng, Nguyễn Thế Vịnh, Võ Thanh Trinh… Trong chống Mỹ cứu nước, hơn 5 vạn thanh niên Công giáo lên đường bảo vệ Tổ quốc, nhiều người trở thành Anh hùng lực lượng vũ trang, dũng sĩ diệt Mỹ và biết bao tấm gương hy sinh anh dũng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Nhiều bà mẹ Công giáo được phong tặng danh hiệu “Mẹ Việt Nam anh hùng”.

Ngày nay, là một bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng bào Công giáo Việt Nam đã có nhiều đóng góp trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, với phương châm sống “tốt đời, đẹp đạo”, “đồng hành cùng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào”, đồng bào Công giáo tiếp tục kề vai cùng nhân dân cả nước vượt qua khó khăn, thử thách, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển, nâng cao vị thế con người và đất nước Việt Nam trên trường quốc tế. Từ đường hướng “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào” của Hội đồng Giám mục Việt Nam năm 1980 và Huấn từ của Đức Giáo hoàng Benedict XVI: “Người Công giáo tốt cũng là người công dân tốt”, người Công giáo đã chủ động tham gia các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Trung ương Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam phát động. Với nội dung thiết thực, nhất là lĩnh vực từ thiện xã hội và xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, phong trào thi đua yêu nước đã góp phần tích cực vào chăm lo đời sống an sinh, phát triển kinh tế, kiến thiết hạ tầng…

Thời gian qua, cùng với các hoạt động tôn giáo, Công giáo Việt Nam đã tích cực tham gia các lĩnh vực y tế, giáo dục, từ thiện nhân đạo. Giáo hội Công giáo đẩy mạnh các hoạt động như thành lập các trường mẫu giáo, nhà trẻ; tổ chức lớp học tình thương, bổ túc văn hoá cho trẻ em cơ nhỡ, lang thang, trẻ em nghèo thất học, trẻ em khuyết tật; lập quỹ khuyến học hỗ trợ, động viên học sinh, sinh viên nghèo, trao học bổng cho học sinh; mở phòng khám nhân đạo, cơ sở nuôi dưỡng trẻ em nghèo, chăm sóc người già neo đơn, khuyết tật, nạn nhân chất độc da cam, HIV-AIDS; làm đường liên thôn, bắc cầu và làm cây nước cho bà con nghèo vùng sâu; tham gia tích cực công tác đảm bảo an ninh, quốc phòng… Đó là những đóng góp quan trọng của bà con Công giáo trong công cuộc xây dựng, bảo vệ  và phát triển đất nước.

Từ khi Đảng ta lãnh đạo cách mạng đã luôn thực hiện nhất quán chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp từng giai đoạn, tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết các tôn giáo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong bối cảnh đất nước vừa mới giành được độc lập, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ, ngày 3/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ quan điểm mang tính nguyên tắc trong chính sách tôn giáo của Việt Nam: “Tôi đề nghị Chính phủ tuyên bố tín ngưỡng, tự do và lương-giáo đoàn kết”. Thể chế quan điểm đó, ngày 14/6/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 234/SL, gồm 5 chương, 16 điều - văn bản pháp quy đầu tiên, quy định trách nhiệm của Chính phủ trong việc bảo đảm quyền tự do tôn giáo của người dân và trách nhiệm, nghĩa vụ của chức sắc tôn giáo và tín đồ về hoạt động tôn giáo tại Việt Nam.

Quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền theo hoặc không theo tôn giáo của người dân, bảo đảm sự bình đẳng, không phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo, tín ngưỡng, bảo hộ hoạt động của các tổ chức tôn giáo bằng pháp luật. Những quan điểm nhất quán này đã được ghi nhận trong Hiến pháp, kể từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp 2013. Quốc hội khóa XIV đã ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, Chính phủ ban hành Nghị định số 162/2017/NĐ-CP ngày 30/12/2017 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng ta khẳng định: “Vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống “tốt đời đẹp đạo”, đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bảo đảm cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo quy định của pháp luật và Hiến chương, điều lệ được Nhà nước công nhận…”.

Những chủ trương và chính sách, pháp luật nêu trên đã góp phần giải quyết nhiều vấn đề mà thực tiễn công tác tín ngưỡng, tôn giáo đòi hỏi như điều kiện để tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo; điều kiện công nhận tổ chức tôn giáo; điều kiện thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc; điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo… Đồng thời quy định trình tự, thủ tục, thẩm quyền, nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp tỉnh, huyện và cấp xã, phường, thị trấn trong việc giải quyết kiến nghị của cá nhân, tổ chức tôn giáo. Luật quy định rõ về thời hạn giải quyết, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, hạn chế sự nhũng nhiễu, chậm trễ, tắc trách của công chức trong việc thực thi công vụ, tạo hành lang pháp lý ổn định, thuận lợi cho các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo.

Thực tế cũng cho thấy, chỉ tính trong 20 năm qua (2003-2023), số lượng chức sắc, chức việc, cơ sở thờ tự của các tôn giáo gia tăng đáng kể, phản ánh nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo chính đáng của người dân, khẳng định chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước ta về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Đến năm 2022, Nhà nước ta đã công nhận 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo khác nhau với khoảng 27 triệu tín đồ, trên 53 nghìn chức sắc, 135 nghìn chức việc, hơn 29 nghìn cơ sở thờ tự… Ngoài ra, hằng năm có hơn 8.000 lễ hội về tín ngưỡng, tôn giáo với hàng vạn tín đồ tham gia. Trong 10 năm thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã cấp hàng trăm hecta đất để xây dựng cơ sở thờ tự như TP Hồ Chí Minh đã giao 7.500m2 đất cho Tổng Liên hội thánh Tin lành Việt Nam xây dựng Viện thánh kinh thần học; tỉnh Đắk Lắk giao hơn 11.000m2 đất cho Tòa Giám mục Buôn Ma Thuột; thành phố Đà Nẵng giao hơn 9.000m2 đất cho Tòa Giám mục Đà Nẵng; tỉnh Quảng trị giao thêm 15ha cho Giáo xứ La Vang…

Thành tựu về thực hiện chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước và thực tiễn đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam nói chung và Công giáo nói riêng ngày càng sôi động đã củng cố niềm tin của chức sắc, tôn giáo và đồng bào có đạo với Đảng, Nhà nước ta, tăng cường khối đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo, phát huy dân chủ ở cơ sở, tạo không khí phấn khởi tin tưởng trong các tầng lớp nhân dân nói chung và chức sắc tôn giáo, đồng bào có đạo nói riêng. Đại hội đại biểu toàn quốc Người Công giáo Việt Nam xây dựng và bảo vệ Tổ quốc lần thứ VIII đã phát huy trí tuệ tập thể, truyền thống đoàn kết dân tộc trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, sống tốt đời, đẹp đạo, hòa nhịp với tiến trình hội nhập, phát triển của đất nước.

Bất chấp thực tiễn đó, các thế lực xấu chưa bao giờ từ bỏ âm mưu lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo, móc nối với số cơ hội, bất mãn, có tư tưởng định kiến để xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo. Họ xuyên tạc quy định “việc đăng ký điểm nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung” trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo là nhằm “kìm kẹp hoạt động tôn giáo”, lấy cớ vu cáo Đảng, Nhà nước ta. Các đối tượng lợi dụng những vấn đề xã hội như ô nhiễm môi trường, những tồn tại về công tác cán bộ, tình trạng tham nhũng, tiêu cực để xuyên tạc quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Họ quy chụp hiện tượng thành bản chất, vi phạm của cá nhân thành “bản chất chế độ”, vu cáo Đảng, Nhà nước phân biệt lương giáo.

Nhiều tổ chức thù địch không ngừng phê phán tình hình tôn giáo ở Việt Nam, cho rằng chính quyền vẫn hạn chế tôn giáo, bắt giam những nhân vật “đấu tranh cho tự do, tín ngưỡng tôn giáo”, vu cáo chính quyền cô lập, không cho những nhóm tôn giáo được đầy đủ các quyền như các tổ chức tôn giáo đã được công nhận. Cách tiếp cận của các thế lực thù địch là cố gắng tìm kiếm những hạn chế, cho dù là rất nhỏ trong đời sống tôn giáo ở Việt Nam để biến những hạn chế rất nhỏ ấy thành bản chất. Các thế lực thù địch, phản động tìm cách tiếp xúc với những cá nhân, nhân vật bất mãn trong các tôn giáo (có những nhân vật đã bị chính các tổ chức tôn giáo tẩy chay) để phỏng vấn, lấy những quan điểm, nhận xét của các nhân vật này để làm “bằng chứng” vu cáo Việt Nam không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Ở Việt Nam, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (năm 2016), đã quy định rất rõ: Để được công nhận về mặt tổ chức, các nhóm tôn giáo phải đáp ứng các yêu cầu cụ thể. Do vậy, khi các nhóm, tổ chức tôn giáo chưa đáp ứng được yêu cầu thì khi đó chính quyền chưa xem xét công nhận tư cách pháp nhân. Tuy nhiên, các quan điểm thù địch lại cho rằng, Nhà nước phải công nhận tất cả những tổ chức đó, cho dù họ chưa có đủ các điều kiện. Đây là sự can thiệp sai trái vào công việc nội bộ, can thiệp vào pháp luật Việt Nam, đó là điều không thể chấp nhận. Thực tế, các nước trên thế giới cũng có những quy định rất rõ về việc công nhận các tổ chức tôn giáo.

Nguồn: Báo CAND

NHẬN DIỆN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.

Tuy nhiên, với âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước ta, lợi dụng internet và mạng xã hội, thời gian qua, một số cá nhân, tổ chức phản động đã “mượn gió bẻ măng”, lộng ngôn xuyên tạc, phủ nhận thành quả đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ráo riết tung ra những luận điệu xuyên tạc nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng , Nhà nước Việt Nam; trong đó, đường lối đối ngoại là một mặt trận mà họ quyết liệt chống phá nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với ngành ngoại giao Việt Nam.

Trên một số trang mạng xã hội, nổi cộm như: “Chân trời mới media”, “Hội anh em dân chủ”... đã xuất hiện những quan điểm, ý kiến của cái gọi là “luật sư độc lập”, “nhà báo tự do”, “nhà dân chủ”, “nhà nghiên cứu”, “người Việt yêu nước”... dưới các hình thức “thư góp ý”, “lời kêu gọi”, “tư vấn cho Nhà nước Việt Nam”, “phản biện”, “kiến nghị”... nhằm phê phán, xuyên tạc, phủ nhận đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta.

Một số hãng truyền thông nước ngoài có phiên bản tiếng Việt như: RFA, VOA, RFI, BBC... còn bịa đặt rằng “đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay là “đu dây”, “tự sát”, bị lệ thuộc, chi phối bởi các cường quốc. Rồi họ đưa ra "lời khuyên" Việt Nam nên bỏ chính sách quốc phòng “4 không” để nghiêng về phương Tây, gắn với thực hiện “dân chủ hóa Việt Nam”. Sự nguy hại của những luận điệu phản động nêu trên dễ gây ra sự hoang mang, dao động, chia rẽ từ bên trong, ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước, khiến dư luận trong và ngoài nước hiểu sai lệch về Việt Nam.

Những quan điểm trên hoàn toàn là xuyên tạc và bịa đặt, bởi vì, đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa của Đảng, Nhà nước ta nói chung, trong đó có chính sách đối ngoại quốc phòng “4 không” nói riêng là kết tinh trí tuệ, ý chí, nguyện vọng, quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Đường lối đó có cơ sở lý luận, khoa học, thực tiễn, cơ sở pháp lý vững chắc, có sự tham khảo ý kiến của các tầng lớp nhân dân một cách dân chủ, công khai.

Để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho đất nước, trước hết cần bảo đảm tuyệt đối vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với công tác ngoại giao. Đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta là mở rộng quan hệ đối ngoại với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị-xã hội, được thể hiện sâu sắc trong các văn kiện đại hội của Đảng thời kỳ đổi mới. Thực tiễn đã minh chứng, đường lối, chính sách đối ngoại đa dạng hóa, đa phương hóa giúp Việt Nam tạo dựng một mạng lưới quan hệ rộng khắp, tranh thủ được nhiều yếu tố thuận lợi cho công cuộc phát triển đất nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

Cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội tuyệt đối không để xảy ra sơ hở, mất cảnh giác khiến kẻ thù có thể lợi dụng xâm nhập, thu thập bí mật, phủ nhận, truyền bá quan điểm tư tưởng thù địch, kích động, xuyên tạc phá hoại đường lối đối ngoại đúng đắn, tiến bộ của Đảng và Nhà nước ta.

Q.C.504

ĐÓN TỔNG THỐNG HỢP CHỦNG QUỐC HOA KỲ JOSEPH R. BIDEN LÀ ĐÚNG ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM!

 Trong hai ngày 10 – 11/9/2023, Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ Joseph R. Biden, đến Thủ đô Hà Nội, thực hiện chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam theo lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng. Tổng thống Biden đến Việt Nam ngay sau khi dự Hội nghị thượng đỉnh G20 tại New Delhi, Ấn Độ. Chuyến thăm Việt Nam của ông Biden thu hút sự chú ý từ truyền thông quốc tế, nhiều hãng tin lớn trên thế giới đều đăng tải những thông điệp tích cực của chuyến đi đến quan hệ song phương Việt Nam – Hoa Kỳ. Nhiều hãng tin trích dẫn phát biểu của Cố vấn an ninh quốc gia Nhà Trắng Jake Sullivan rằng “chuyến thăm là một bước quan trọng nhằm tăng cường quan hệ hai nước, nó phản ánh vai trò dẫn đầu của Việt Nam trong các đối tác của Hoa Kỳ tại khu vực”.

Hãng thông tấn Al Jazeera nhấn mạnh về việc Việt Nam và Hoa Kỳ khép lại quá khứ, từ “kẻ thù trong chiến tranh” đến một “mối quan hệ thay đổi đáng kinh ngạc”. “Khi Tổng thống Joe Biden đặt chân xuống Sân bay quốc tế Nội Bài ngày 10/9, ông sẽ đến một Việt Nam đã thay đổi rất nhiều”. Tờ báo cũng dẫn lời các chuyên gia cho biết hai nước kỳ vọng nâng tầm quan hệ song phương lên “mức cao nhất”. Reuters đánh giá chuyến thăm của ông Joe Biden diễn ra trong bối cảnh “quan hệ thương mại và đầu tư giữa hai nước đang tăng trưởng”, bày tỏ kỳ vọng rằng hai nước có thể ký thỏa thuận nâng tầm quan hệ. “Chúng ta có mối quan hệ rất tốt với Việt Nam và mối quan hệ đó đang được cải thiện trên nhiều lĩnh vực. Vì thế, chúng tôi sẽ tiếp tục tìm kiếm cơ hội để cải thiện mối quan hệ đó. Đây là mối quan hệ quan trọng ở một khu vực rất quan trọng trên thế giới”, CNN dẫn lời người phát ngôn Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ John Kirby nói khi đưa tin về chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Biden.

Washington Post dẫn lời Thomas Vallely, người từng tham gia lên kế hoạch thăm Việt Nam cho nhiều lãnh đạo Hoa Kỳ cho hay về mặt lịch sử, đây là chuyến thăm Việt Nam “có ý nghĩa lớn lao nhất từ trước đến nay của một Tổng thống Hoa Kỳ” và sẽ góp phần tăng cường quan hệ giữa hai quốc gia từng là “cựu thù trong chiến tranh”.

Theo Diplomat, sẽ rất tuyệt vời nếu Tổng thống Hoa Kỳ có thể “ở lại Hà Nội lâu hơn, dạo quanh Hồ Hoàn Kiếm và thậm chí ghé vào một quán ăn ven đường để thưởng thức hương vị địa phương, như tổng thống Barack Obama đã làm cách đây 7 năm”. “Dù vậy, chuyến thăm Hà Nội của Tổng thống Biden vẫn được coi là một thời khắc lịch sử trong quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ”.

Kết quả nổi bật nhất của chuyến thăm chính là việc hai nước chính thức nâng cấp lên quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện, mở ra  một giai đoạn lịch sử mới của tình hữu nghị và hợp tác song phương. Phát biểu với báo chí sau Hội đàm với Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, Việt Nam thúc đẩy quan hệ với Hoa Kỳ và các đối tác quốc tế khác với tinh thần Việt Nam là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế. Đối với Hoa Kỳ, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định nền độc lập hoàn toàn của Việt Nam và Việt Nam sẵn sàng hợp tác đầy đủ với Hoa Kỳ; nền độc lập và hợp tác đó có lợi cho toàn thế giới.


ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ TRONG ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG - CHỦ TRƯƠNG NHẤT QUÁN CỦA VIỆT NAM

Gần đây, các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội chính trị trong và ngoài nước đưa ra những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối đối ngoại quốc phòng của Việt Nam nhằm xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ của Đảng và Nhà nước ta. Các phần tử phản động, cơ hội chính trị cho rằng, Việt Nam theo đuổi chính sách đối ngoại quốc phòng độc lập, tự chủ là “bảo thủ”, “tự mình cô lập mình”, là “tự tách ra khỏi dòng chảy của thế giới bên ngoài”; trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Việt Nam cần tham gia các liên minh quân sự để tăng cường khả năng bảo vệ chủ quyền đất nước; để tránh đưa Việt Nam vào thế “tự cô lập” mình. Từ đó, các phần tử phản động ra sức xuyên tạc việc thực hiện chính sách đối ngoại quốc phòng là không phù hợp với thực tế, cần phải thay đổi nếu không sẽ không thể bảo vệ được độc lập, chủ quyền của đất nước.

Mục đích chống phá của các thế lực thù địch nhằm xuyên tạc, chống phá đường lối, chính sách đối ngoại quốc phòng độc lập, tự chủ của Đảng và Nhà nước ta, chống phá cách mạng Việt Nam; gây hoang mang, dao động, làm suy giảm niềm tin vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách đối ngoại quốc phòng của Nhà nước, gây khó khăn cho Việt Nam trong các quan hệ quốc tế. Vì vậy, khẳng định tính độc lập, tự chủ của đối ngoại quốc phòng Việt Nam là nhiệm vụ cấp bách nhằm góp phần phản bác những quan điểm sai trái, xuyên tạc nói trên.

Chủ trương nhất quán của Việt Nam là đẩy mạnh đối ngoại quốc phòng độc lập, tự chủ theo hướng phát triển sâu, rộng cả về phạm vi và mức độ hợp tác; chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh theo tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc, nhằm góp phần phát huy sức mạnh nội tại, củng cố sức mạnh quân sự, quốc phòng, tranh thủ tối đa ngoại lực để bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Trong quan hệ đối ngoại quốc phòng, Việt Nam nhất quán chính sách quốc phòng “bốn không”: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế nhằm phát huy sức mạnh của mọi nguồn lực để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Thực hiện nhất quán chính sách “bốn không” quy định tính chất độc lập, tự chủ của đối ngoại quốc phòng Việt Nam, nhằm chủ trương thực hiện kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển.

Trong đối ngoại quốc phòng, Việt Nam luôn chú trọng thúc đẩy mở rộng quan hệ hợp tác và không coi nhẹ sức mạnh bạo lực, không mơ hồ, ảo tưởng về một nền hòa bình không dựa trên sức mạnh tự bảo vệ; không dựa trên liên minh quân sự hoặc “chiếc ô” bảo vệ của nước khác. Khẳng định chân lý về tính tất yếu của bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, Đảng ta, Nhà nước ta không một phút lơ là, mất cảnh giác trong củng cố sức mạnh toàn diện quân đội. Việc mở rộng đối ngoại quốc phòng, trong đó có việc mua sắm vũ khí, trang bị hiện đại, với mục đích tự vệ chính đáng cho thấy bản chất tự vệ, tính chính nghĩa và phù hợp của chủ trương xây dựng quân đội của Đảng ta. Đồng thời với hiện đại hóa quân đội phù hợp với chiến tranh hiện đại thì nâng cao chất lượng nhân tố chính trị - tinh thần luôn được đặt lên hàng đầu trong xây dựng quân đội ta.

Hiện nay, thế giới đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế. Trong khi đó Chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng trong quan hệ quốc tế gia tăng; các vấn đề an ninh truyền thống, đặc biệt là tranh chấp chủ quyền biển, đảo diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt, tiềm ẩn nguy cơ xung đột. Từ đó, nêu bật tính độc lập, tự chủ của đối ngoại quốc phòng Việt Nam là rất cần thiết để phát huy sức mạnh dân tộc, tận dụng và khai thác triệt để sức mạnh của thời đại trong đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và trong xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong bối cảnh ấy càng cần đến sự nhất quán và tính độc lập, tự chủ trong đối ngoại quốc phòng để không rơi vào chiêu bài dụ dỗ, mua chuộc, lợi dụng lôi kéo của “các bên”, để Việt Nam có khả năng tự quyết định vận mệnh dân tộc mình mà không trông chờ vào bất cứ thế lực bên ngoài nào.

Thực tiễn tình hình thế giới những năm qua và gần đây cho thấy rõ, cái phải trả cho việc liên minh với nước này để chống nước kia, của việc “chọn bên” là vô cùng đắt, thậm chí một nước nhỏ có thể trở thành con bài “tốt thí” trong tay các nước lớn. Cho nên, đường lối đối ngoại quốc phòng độc lập, tự chủ là đặc biệt quan trọng trong bối cảnh khu vực hiện nay. Trong một thế giới đầy biến động, cạnh tranh chiến lược và nhiều sự lựa chọn, Việt Nam không chọn bên mà chọn chính nghĩa, sự công bằng, công lý và lẽ phải trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc, bình đẳng, tất cả cùng có lợi, cùng thắng, đó là quan điểm nhất quán, xuyên suốt và công khai của Đảng, Nhà nước ta trong thực hiện chính sách đối ngoại quốc phòng. Với việc kiên định nguyên tắc đó, chúng ta sẽ có đủ bản lĩnh, trí tuệ để xử lý đúng đắn các quan hệ đối ngoại mà không nhất thiết phải liên kết với nước này để chống nước kia. Chúng ta có thể chọn bạn, nhưng dứt khoát không chọn bên, đó là quan điểm nhất quán và cũng phù hợp với xu thế chung của thế giới đương đại.

Để thực hiện thắng lợi đường lối quốc phòng độc lập, tự chủ đòi hỏi phải tiếp tục phát huy cao độ tính chính nghĩa, tự vệ, khơi dậy lòng yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, tinh thần đoàn kết, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; qua đó nhân lên sức mạnh chính nghĩa của nền quốc phòng, của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cùng với đó, công tác đối ngoại quốc phòng cần cung cấp thông tin kịp thời, phản bác sắc sảo các luận điệu xuyên tạc, những thông tin thất thiệt, thổi phồng, bóp méo, xuyên tạc, suy diễn tiêu cực, gây ảnh hưởng đến hình ảnh việt Nam trên trường quốc tế, để bạn bè thế giới hiểu đầy đủ về đối ngoại quốc phòng của Việt Nam. Đẩy mạnh hoạt động đối ngoại quốc phòng độc lập, tự chủ trong cả quan hệ song phương và đa phương là phương cách đúng đắn để tiếp tục cụ thể hóa quan điểm thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, nhằm tăng đối tác, giảm đối tượng, thêm bạn, bớt thù; tiếp tục khẳng định lập trường của Đảng, Nhà nước ta đối với sự nghiệp quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc./.

 

QUAN NIỆM VÀ BIỂU HIỆN CỦA CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN TRONG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

 Có thể nói, cụm từ “chủ nghĩa cá nhân” xuất hiện trong đời sống và ngôn ngữ hàng ngày, nghĩa của nó khá rõ và đơn giản: đó là thói ích kỷ, trong mọi hoàn cảnh đều đặt lợi ích của mình lên trên hết và chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích của tập thể. Nó là kẻ thù từ bên trong, dường như tự sinh, tự dưỡng, có sức sống mãnh liệt, dù chúng ta luôn luôn cảnh báo và đã huy động mọi khả năng để tẩy trừ.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh không đưa ra một quan niệm lý luận hoàn chỉnh về “Chủ nghĩa cá nhân”. Song trong rất nhiều bài nói, bài viết của Người lại chỉ rõ những biểu hiện này trong Đảng, Quân đội và đời sống xã hội.

Trong khẩu hiệu “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân” mà sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập chính là nói đến thứ chủ nghĩa cá nhân này.

Theo Người, đó là một chủ nghĩa xấu chưa từng có

Người viết: “Tư tưởng không đúng cũng còn có nhiều. Nhưng có một tư tưởng mẹ: Đó là chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân là trái với chủ nghĩa tập thể. Do chủ nghĩa cá nhân mà đẻ ra các tư tưởng sai lệch khác…”[1].

 “Chủ nghĩa cá nhân là như một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm như: Bệnh tham lam; bệnh lười biếng; bệnh kiêu ngạo, bệnh hiếu danh; thiếu kỷ luật; óc hẹp hòi; óc lãnh tụ…”[2]

Tóm lại, theo Người: “Nó là mẹ đẻ ra tất cả mọi tính hư nết xấu... Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng, của chủ nghĩa xã hội”[3].

Vậy Chủ nghĩa xấu xa này xuất hiện trong đời sống xã hội ta từ khi nào?

Trong giai đoạn chống Pháp, giành độc lập trước (1945) hầu như sách báo và văn bản của ta chưa có nhóm từ “chủ nghĩa cá nhân”. Có lẽ, đó là nhờ tinh thần, tác phong gương mẫu và phẩm chất liêm chính của lớp cán bộ đảng viên và nhân dân đồng lòng xả thân vì lý tưởng ĐLTD, xây dựng một XH mới tốt đẹp.

Nhưng khi tạm thời có độc lập sau cách mạng tháng 8/1945, những mầm mống của các căn bệnh của một đảng cầm quyền bắt đầu xuất hiện, hay nói một cách khác, những biểu hiện đó chính là những căn bệnh từ chủ nghĩa cá nhân sinh ra.

Những biểu hiện của các căn bệnh này được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ trong “Thư gửi các đồng chí Bắc bộ, tháng 3/1947” và trong cuốn sách “Sửa đổi lối làm việc” (10/1947).

Cuốn sách được hoàn thiện vào cuối năm 1947, nghĩa là Đảng ta mới thực sự nắm quyền được 2 năm… Cũng chỉ 2 năm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát hiện ra một số căn bệnh của Đảng cầm quyền mà nếu không ngăn chặn kịp thời sẽ gây tổn hại lớn cho Đảng. Chính vì vậy, Người chỉ đạo việc xây dựng và chỉnh đốn Đảng để nâng cao năng lực lãnh đạo, nâng cao uy tín và đạo đức của Đảng trước nhân dân; đề cao và khẳng định sự gắn bó máu thịt giữa Đảng, chính quyền với nhân dân.

Người chỉ rõ: “Trong lúc dân tộc đang ở ngã tư đường, chết hay sống, mất hay còn, mỗi đồng chí và toàn cả đoàn thể phải đem tất cả tinh thần và lực lượng ra để đưa toàn dân quay về một hướng… Trong lúc này tư tưởng và hành động của mỗi một đồng chí rất có quan hệ đến toàn quốc. Nếu một người sơ suất, một việc sơ suất là có thể hỏng việc to... Vì vậy chúng ta phải kiên quyết tẩy sạch những khuyết điểm sau đây:… Địa phương chủ nghĩa; Óc bè phái; Óc quân phiệt quan liêu; Óc hẹp hòi; Ham chuộng hình thức; Vô kỷ luật, kỷ luật không nghiêm; Ích kỷ, hủ hoá… [4].

Tiếp theo, để phê phán, lên án và loại trừ mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân. Người đã có nhiều bài viết, bài nói trong nhiều hội nghị học tập chính trị, cũng như trong chỉnh huấn, chỉnh đảng, chỉnh quân. Trong đó, luôn có mục đề cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng và lên án chủ nghĩa cá nhân, để mỗi người tự liên hệ mà kiểm điểm bản thân. Đồng thời giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân phải kiên quyết đấu tranh loại trừ nó trong đời sống xã hội.

Tác phẩm:CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN”. (Báo Sự thật, số 101, ngày 15-10-1948). 

Tác phẩm: “PHẢI CHỮA CÁI BỆNH CẤP BẬC” (Báo Sự thật, số 136, ngày 15-7-1950).

BÀI NÓI TẠI BUỔI BẾ MẠC LỚP CHỈNH HUẤN CÁN BỘ ĐẢNG, DÂN, CHÍNH CÁC CƠ QUAN TRUNG ƯƠNG (9-6-1953).

• THƯ GỬI CÁC LỚP CHỈNH HUẤN CƠ QUAN (Báo Nhân dân, số 120, từ ngày 26 đến ngày 30-6-1953).

BÀI NÓI TẠI HỘI NGHỊ CÁN BỘ (ngày 7-10-1954).

NÓI CHUYỆN TẠI LỚP CHỈNH HUẤN TRUNG, CAO CẤP CỦA BỘ QUỐC PHÒNG VÀ CÁC LỚP TRUNG CẤP CỦA CÁC TỔNG CỤC (tháng 5-1957).

Bài viết cuối cùng về vấn đề này của Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng trên báo Nhân Dân trong dịp 3-2-1969 đó là: “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”…

Như vậy, ở đây chúng ta thấy, đến những giây phút cuối đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn trăn trở dặn lại cho hậu thế phải kiên quyết tẩy trừ chủ nghĩa cá nhân… Song, thực tế cũng cho thấy sau hơn 50 năm những di huấn của Người, thì chủ nghĩa cá nhân vẫn chưa bị “quét sạch” như Người hằng mong muốn. Thậm chí nó còn nảy nở, len lỏi đầy thách thức vào mọi ngõ ngách, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội (Biểu hiện rõ nhất là nạn tham nhũng), đã tới mức đe doạ sự tồn vong của chế độ.

Vấn đề “ai thắng ai” lại được xem xét nhìn nhận ở đây, nhưng không phải giữa hai phe (XHCN và TBCN) như trước đây, mà là giữa tư tưởng cá nhân chủ nghĩa và tư tưởng XHCN ngay trong nội bộ ở nước ta. Do đó, điều quan trọng là: “cần tiếp tục uốn nắn tư tưởng sai lệch, nhất là tư tưởng cá nhân chủ nghĩa… Phải làm cho tư tưởng xã hội chủ nghĩa hoàn toàn thắng, tư tưởng cá nhân hoàn toàn thất bại”[5].

Bởi, sinh thời, Người đã căn dặn: “Tư tưởng cộng sản phải rèn luyện gian khổ mới có được. Còn tư tưởng cá nhân thì cũng như cỏ dại, sinh sôi, nảy nở rất dễ”[6].

“Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải có con người xã hội chủ nghĩa, muốn có con người xã hội chủ nghĩa phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, muốn có tư tưởng xã hội chủ nghĩa phải gột rửa tư tưởng cá nhân chủ nghĩa”[7].

Muốn làm được điều đó, trước hết phải nhận diện rõ mọi biểu hiện và mầm mống của chủ nghĩa cá nhân trong đời sống xã hội. Trong đó có cả những biểu hiện trong QĐ, mà như NQ 847 của QUTW đã chỉ rõ các đó là:

Một là, không quan tâm đến lợi ích chung, làm việc gì cũng chỉ mưu cầu cho lợi ích cá nhân; sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; ganh ghét, đố kị, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình.

Hai là, háo danh, tự cao, tự đại, thích được ca ngợi, sùng bái bản thân, tham vọng quyền lực, địa vị; chạy chức, chạy quyền, chạy thành tích, chạy tội, mua và sử dụng bằng cấp giả, giấy tờ giả; tìm mọi cách để vận động, tác động, tranh thủ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm cho mình.

Ba là, thiếu ý thức và trách nhiệm với tập thể, không chấp hành sự phân công, điều động của tổ chức, kén chọn chức danh, vị trí công tác; đùn đẩy trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ, không tận tâm, tận lực với công việc, không sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng.

Bốn là, thổi phồng thành tích, “đánh bóng” tên tuổi; sợ trách nhiệm, tranh công, đổ lỗi; giấu giếm, bao che và không trung thực về những khuyết điểm, sai phạm.

Năm là, ngại va chạm, dĩ hòa vi quý, “thấy đúng không bảo vệ”, “thấy sai không đấu tranh”; tinh thần tự phê bình và phê bình thấp, lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ và mục đích không trong sáng; đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức.

Sáu là, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vị trí công tác để tham ô, nhận hối lộ hoặc để người thân lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vị trí công tác của mình trục lợi; cố ý làm trái các quy chế, quy định, dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; kê khai tài sản, thu nhập không trung thực.

Bảy là, cục bộ, bè phái, lợi ích nhóm để chiếm đoạt tài sản của tập thể; tham gia, xúi giục, cưỡng ép, mua chuộc người khác làm những việc trái chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của Đảng, của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và đơn vị.

Tám là, độc đoán, gia trưởng, quân phiệt, coi thường tập thể; buông lỏng lãnh đạo, quản lý, chỉ huy, quan liêu, thiếu sâu sát; xử lý các sai phạm của cấp dưới không cương quyết, thiếu khách quan; thờ ơ, vô cảm, bàng quan trước những khó khăn, nguyện vọng chính đáng của đồng chí, đồng đội và nhân dân.

Chín là, coi thường lý luận, xa rời thực tiễn, lười học tập, rèn luyện, thích tự do, vô kỷ luật; hoang mang, dao động, hoài nghi về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái.

Mười là, phai nhạt, phản bội mục tiêu, lý tưởng cách mạng; nói, viết và làm không đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệnh, điều lệ, kỷ luật của quân đội, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.

 



[1] Nói chuyện tại lớp chỉnh huấn trung, cao cấp của Bộ Quốc phòng và các lớp trung cấp của các Tổng cục (1957), tập 10, tr.588.

[2] Sửa đổi lối làm việc - III. Tư cách và đạo đức cách mạng (1947), Tập 5, tr.195.

[3] Tập 13, tr.90.

[4] Thư gửi các đồng chí Bắc bộ - 1947, tập 5, tr.87.

[5] Nói chuyện tại lớp chỉnh huấn trung, cao cấp của Bộ Quốc phòng và các lớp trung cấp của các Tổng cục (1957), tập 10, tr.589-590.

[6] Nói chuyện tại lớp chỉnh huấn khoá II của Bộ công an (16-5-1959), tập 12, tr.222.

[7] Nói chuyện tại Nông trường quân đội an khánh, (10-1-1959), tập 12, tr.11.

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...