Thứ Hai, 15 tháng 5, 2023

Tham nhũng và những lỗ hổng cần bịt kín

 Trong hơn 20 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ ba, khóa VIII về Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bên cạnh những thành tựu đạt được, thì “việc sắp xếp, bố trí, phân công, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử vẫn còn tình trạng đúng quy trình nhưng chưa đúng người, đúng việc, để lại không ít bức xúc trong nhân dân.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chưa thật gắn chặt với quy hoạch cán bộ; chưa đánh giá và sử dụng đúng mức đội ngũ cán bộ trí thức, các nhà khoa học đầu đàn… Những hạn chế, yếu kém trên của công tác cán bộ là một nguyên nhân dẫn tới một bộ phận cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền, phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy quy hoạch, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy khen thưởng, chạy danh hiệu, chạy tội…, trong đó có cả cán bộ cao cấp, chậm được ngăn chặn, đẩy lùi. Tình trạng bổ nhiệm cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, trong đó có cả người nhà, người thân, họ hàng, “cánh hẩu” xảy ra ở một số nơi, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Nếu như tham nhũng trong các lĩnh vực khác thường là những hành vi vụ lợi vật chất, tiền bạc, được luật pháp quy định rõ thành những hành vi cấu thành tội phạm, thì tham nhũng trong công tác cán bộ nhiều khi thuộc loại “tham nhũng quyền lực”, “tham nhũng quan hệ”, vụ lợi tinh thần, rất khó kết luận là tham nhũng, lại càng khó khởi tố, xét xử, như những chuyện “cả họ làm quan”, “cả nhà làm quan”, “nâng đỡ không trong sáng”…

Thực tế cho thấy tham nhũng trong công tác cán bộ diễn ra ở nhiều khâu của công tác cán bộ với rất nhiều cách thức từ đơn giản, trắng trợn đến tinh vi; từ dễ nhận thấy đến mập mờ tốt xấu, đúng sai không dễ nhận ra. Bởi bản chất, những hành vi, hiện tượng đó vẫn là tham nhũng vì đều là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi, vi phạm kỷ luật của Đảng, gây hại cho Đảng, Nhà nước, nhân dân, cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, cần phải kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn. Có thể kể tới một số ví dụ tiêu biểu như Dương Chí Dũng một cán bộ quản lý kinh doanh toàn thua lỗ nhưng vẫn cứ được cất nhắc lên cao dần và cuối cùng là được bổ nhiệm làm Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam để rồi bị bắt ngay sau đó. Trịnh Xuân Thanh từ một cán bộ quản lý kinh doanh có nhiều khuyết điểm, sai phạm nghiêm trọng, thậm chí phạm pháp nhưng lại được tuyển dụng, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm thành cán bộ lãnh đạo cấp cao và còn được khen thưởng những danh hiệu cao quý…

Lỗ hổng là quá lớn ở rất nhiều khâu quan trọng trong công tác cán bộ. Sở dĩ còn tồn tại các lỗ hổng này là do các đối tượng trên đã biết vung tiền ra để làm mờ mắt nhiều người làm công tác cán bộ. Biểu hiện của hành vi này là người đứng đầu với quyền lực của mình đã đề xuất, vận động, gợi ý, gây sức ép, hướng lái tập thể lãnh đạo theo ý đồ, thậm chí tự ý quyết định hay áp đặt theo chủ ý của mình về công tác cán bộ, làm tê liệt vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, vô hiệu hóa nguyên tắc tập trung dân chủ.

Những dòng họ làm quan hay bổ nhiệm thần tốc những “hạt giống” thời gian qua ở Đà Nẵng, Quảng Nam, Hà Giang, Thanh Hóa… cho thấy ở nhiều nơi sự lạm quyền, mất dân chủ, độc đoán, thao túng, tự tung, tự tác của người đứng đầu trong công tác cán bộ đã ở mức báo động. Động cơ vụ lợi rõ ràng của những người đứng đầu trong công tác cán bộ đã khiến họ bố trí, bổ nhiệm người thân, người quen, người nhà dù không đủ tiêu chuẩn, điều kiện giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc bố trí, sắp xếp vào vị trí có nhiều lợi lộc. Những vụ việc vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, quyết định chủ trương công tác cán bộ không đúng quy định, vượt thẩm quyền trong thời gian dài tại một số tỉnh như Hà Giang, Cà Mau, Ninh Bình, Gia Lai, Bình Định… hay tại Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ thời gian qua là điển hình cho hành vi lạm quyền, lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong công tác cán bộ. Nhiều địa phương có tình trạng bổ nhiệm người nhà làm quan được bổ nhiệm, tuyển dụng sai quy định. Đơn cử như vụ: “Nâng đỡ không trong sáng” ở Thanh Hóa; con trai nguyên Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam dù không đủ tiêu chuẩn, điều kiện vẫn được bổ nhiệm đến Giám đốc Sở Kế hoạch – Ðầu tư…

Nhìn bề ngoài, mọi thứ đều đúng quy trình, nhưng thử hỏi có cán bộ nào ở địa phương không e ngại việc người đứng đầu dùng “quyền lực mềm” trên cương vị lãnh

đạo, quản lý để tác động, gợi ý thu vén cho gia đình, người thân dẫn đến chuyện “cả họ làm quan”… mà cấp dưới dám “cả gan” chống lại. Và không chỉ trực tiếp “ra tay” tại địa phương mình, họ còn bắt tay liên minh với người có chức vụ tương đương nhằm đổi chác việc tiếp nhận, bố trí nhân sự giữa các cơ quan, đơn vị theo kiểu “có đi có lại”, ai cũng có “suất”, có “phần”; con cháu lãnh đạo thì sẽ luôn có vị trí “thơm tho”.

Tại sao những  hành vi ấy lại khó bị phanh phui và tồn tại trong thời gian dài? Nhiều bài báo đã dẫn lời các chuyên gia chỉ ra, đó là do cơ chế, chính sách, quy định nói chung, cũng như trong công tác cán bộ nói riêng vẫn còn tồn tại “kha khá” những sơ hở, thiếu sót. Chính những cán bộ chủ chốt kia đã nhìn ra kẽ hở ấy mà đưa người nhà, người thân “lách” qua khe cửa hẹp thay vì họ tìm cách bịt nó lại theo đúng trách nhiệm của mình.

Vai trò thế giới quan và phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại ngày nay

 Thế giới ngày nay đang diễn ra những biến đổi hết sức sâu sắc, đã và đang bị chi phối bởi xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế tri thức và nó đang diễn ra trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong bối cảnh ấy, vai trò của triết học Mác – Lênin không hề bị suy giảm mà trái lại ngày càng được thể hiện rõ vai trò trong nhận thức và cải tạo thực tiễn. Vì vậy, tất cả các quốc gia, dân tộc muốn tồn tại và phát triển trong đó có Việt Nam, cần phải phát triển giáo dục – đào tạo, khoa học công nghệ, nâng cao dân trí để góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Muốn làm tốt điều này, triết học phải góp phần giải đáp các vấn đề về phát huy nhân tố con người, khơi dậy tiềm năng, xem đó là những nhân tố đặc biệt quan trọng, quyết định thành công con đường xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh.

Triết học Mác – Lênin là khoa học về thế giới quan và phương pháp luận cho nhận thức và hoạt động thực tiễn, không thể đứng ngoài cuộc mà phải nghiên cứu và kịp thời cung cấp các luận cứ khoa học để tham mưu, xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển nguồn nhân lực và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực đó.

Hiện nay, dưới tác động của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế tri thức đã và đang làm cho các quốc gia, dân tộc vận động, biến đổi. Theo đó, đổi mới chương trình, nội dung nghiên cứu, phương pháp giảng dạy triết học là một tất yếu khách quan, song vấn đề đổi mới như thế nào, đổi mới cái gì, cần phải được cân nhắc cẩn trọng và có quyết định sáng suốt, chính xác. Trong quá trình đổi mới cần khẳng định rõ quan điểm có tính nguyên tắc: triết học Mác – Lênin là thế giới quan, phương pháp luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta; là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động. Tính đảng trong triết học phải gắn chặt với tính khoa học. Đó là nền tảng vững chắc để chúng ta không rơi vào phương pháp tư duy siêu hình, máy móc, duy ý chí.

Trước tác động của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế tri thức, thế giới ngay nay càng trở nên phẳng hơn, song cũng gồ ghề hơn. Đó là sự thống nhất của hai mặt đối lập. Ngày nay, Khoa học là lực lượng sản xuất trực tiếp như điều Mác dự báo trước đây đã trở thành hiện thực. Thời cơ, vận hội đã và đang đến với từng quốc gia, dân tộc và đang mở ra cho quốc gia, dân tộc đi tới và phát triển. Tuy nhiên làm gì và làm như thế nào để nắm bắt thời cơ, vận hội và thách thức thì vai trò to lớn đó phụ thuộc vào sự hiểu biết, vận dụng sáng tạo thế giới quan, phương pháp luận của triết học Mác.

Theo đó, có thể khẳng định rằng, sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa không thể thành công được nếu chúng ta không vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Trước những thay đổi của thế giới, của thực tiễn vận động phát của đất nước cũng đang đặt ra đối với đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy triết học ở các cơ sở đào tạo có cách nhìn nhận và giải quyết những mâu thuẫn của thời đại một cách khách quan, toàn diện, lịch sử cụ thể và phát triển để đúc kết, khái quát, bổ sung cái mới, tư duy mới để giải quyết thấu đáo vấn đề do toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế đang đặt ra.

Nói cách khác, đối tượng nghiên cứu của triết học trong giai đoạn hiện nay là những vấn đề mang tính chất toàn cầu hóa, bao hàm sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, dân tộc. Đó là cách tốt nhất để triết học nước ta không đứng ngoài cuộc những vấn đề toàn cầu, đặc biệt là những vấn đề về tính tất yếu khách quan, bản chất, đặc điểm, vai trò...do toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tạo nên. Hướng vào nghiên cứu và giải quyết các vấn đề do toàn cầu hóa đặt ra, xây dựng thế giới quan, phương pháp luận đúng đắn; triết học sẽ giúp cộng đồng nhân loại nói chung, nhân dân ta nói riêng, nhận thức sâu sắc hơn về vị trí vai trò làm chủ thế giới, làm chủ tri thức, cải tạo và sáng tạo thế giới của mình trên cơ sở làm chủ tồn tại xã hội và làm chủ chính bản thân mình.

Đối với chúng ta, nhận thức đúng và giải quyết tốt những vấn đề thực tiễn mà công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đặt ra trong bối cảnh hiện nay phải được coi là một trong những định hướng chủ đạo, nhiệm vụ chính trị trọng tâm. Chỉ có như vậy, triết học Mác – Lênin mới hoàn thành xuất sắc, chức năng thế giới quan, phương pháp luận khoa học cho nhận thức và cải tạo hiện thực; đồng thời làm tốt các vai trò, chức năng vốn có: chuẩn mực, phê phán, định hướng, tiên đoán, khoa học…của mình. Đó cũng là con đường cần đi tới của triết học Mác – Lênin trong kỷ nguyên toàn cầu hóa: đem lại cách tiếp cận phức hợp, liên ngành để nhận thức sâu sắc bản chất, xu hướng vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng; từ đó có những luận chứng mới, sâu sắc về mặt lý luận giúp cho Đảng, Nhà nước và các cơ quan chức năng từ trung ương đến địa phương hoạch định đúng đắn đường lối, chủ trương, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng, phát triển đất nước đúng hướng, hoàn thành thắng lợi các mục tiêu. Sai lầm trong thực tiễn là đáng sợ, nhưng sai lầm trong nhận thức và nghĩ mình luôn đúng còn đáng sợ hơn nhiều. Theo đó, cách tốt nhất để mỗi người không mắc phải sai lầm là nắm chắc tri thức khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là chiếc chìa khóa vạn năng mở ra con đường đưa chúng ta tự tin bước vào thế giới của kỷ nguyên toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế tri thức.

Cảnh báo về mối đe dọa từ trí tuệ nhân tạo

Trí tuệ nhân tạo (AI) có thể gây ra mối đe dọa khẩn cấp hơn cả biến đổi khí hậu. Đây là nhận định mới được nhà khoa học tiên phong nghiên cứu về AI, Geoffrey Hinton, đưa ra trong cuộc phỏng vấn với hãng tin Reuters (Anh) ngày 5/5.

Ông Hinton được biết đến là một trong những “cha đẻ” của AI. Mới đây, ông tuyên bố rút khỏi Alphabet, công ty chủ quản của Google, sau một thập kỷ gắn bó. Ông cho biết muốn được nói rõ ràng hơn về những nguy cơ từ công nghệ này mà không gây ảnh hưởng tới công ty cũ. Công việc của ông Hinton được đánh giá là đóng vai trò quan trọng với sự phát triển của các hệ thống AI ngày nay. Năm 2018, ông được trao giải thưởng Turing tôn vinh những đột phá trong nghiên cứu AI.

OpenAI, với sự hậu thuẫn từ Microsoft, đã khai mào cuộc đua trang bị AI khi công bố ứng dụng ChatGPT hồi tháng 11/2022. Ứng dụng này nhanh chóng lập kỷ lục phát triển nhanh nhất lịch sử, đạt 100 triệu người dùng có hoạt động hằng tháng chỉ trong hai tháng.

Tháng 4/2023, Giám đốc điều hành (CEO) Elon Musk của Twitter cùng với nhiều lãnh đạo các công ty công nghệ lớn khác như CEO Emad Mostaque của Stability AI, các nhà nghiên cứu của DeepMind thuộc Alphabet... đã cùng ký vào bức thư ngỏ kêu gọi tạm dừng sáu tháng việc phát triển những hệ thống khác mạnh hơn hệ thống GPT-4 của OpenAI.

Tại Liên minh châu Âu (EU), một ủy ban gồm các nghị sĩ châu Âu đã kêu gọi Tổng thống Mỹ Joe Biden cùng với Chủ tịch Ủy ban châu Âu (EC) Ursula von der Leyen chủ trì hội nghị thượng đỉnh toàn cầu bàn về hướng đi trong tương lai dành cho công nghệ này.

Tuần trước, ủy ban nêu trên đã thống nhất đề xuất buộc các công ty như OpenAI công bố các dữ liệu có bản quyền được sử dụng khi “huấn luyện” các mô hình AI.

Trong khi đó, Tổng thống Biden đã gặp một số lãnh đạo công ty AI, trong đó có CEO của Alphabet Sundar Pichai và CEO Sam Altman của OpenAI, tại Nhà trắng, khởi đầu cho tiến trình thảo luận mang tính xây dựng về vấn đề minh bạch các hệ thống AI.

Bảo đảm quyền của người lao động để thúc đẩy quá trình hội nhập

 Quyền của người lao động, trong đó có các quyền như thành lập tổ chức tại doanh nghiệp, thương lượng tập thể và không bị cưỡng bức lao động, là một bộ phận của hệ thống quyền con người mà Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm và thực hiện thông qua các chủ trương, chính sách lớn.

Tuy nhiên, đây cũng là vấn đề mà các thế lực thiếu thiện chí, thù địch hay lợi dụng để bịa đặt, bôi xấu Việt Nam.

Thời gian gần đây, một số cá nhân và tổ chức phương Tây liên tục có các hoạt động vu cáo, xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Họ cáo buộc Việt Nam hạn chế quyền tự do lập hội và thương lượng tập thể của người lao động tại các doanh nghiệp; vu cáo Việt Nam không thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết trong các hiệp định thương mại quốc tế như Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA), Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), vi phạm các công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO).

Đơn cử, một số cá nhân thiếu thiện chí với Việt Nam xuyên tạc rằng Bộ luật Lao động Việt Nam có nội dung vi phạm quyền thành lập tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp. Không dựa trên cơ sở nào, không đưa ra bằng chứng cụ thể nào, các cá nhân này hết khẳng định Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam hoàn toàn không phải là một tổ chức độc lập để bảo vệ quyền lợi của người lao động, lại bịa ra rằng Việt Nam cưỡng bách lao động tù nhân, sử dụng lao động trẻ em.

Cũng với giọng điệu xuyên tạc, có tổ chức đã chỉ trích Bộ luật Lao động Việt Nam không tuân thủ các nghĩa vụ trong CPTPP liên quan đến quyền tự do lập hội và thương lượng tập thể. Một số cá nhân và tổ chức phương Tây thì dựng chuyện Việt Nam bỏ tù một số nhân vật mà họ cho là thuộc tổ chức xã hội dân sự độc lập vì đã nộp đơn tham gia nhóm tư vấn giám sát việc thực thi Hiệp định EVFTA theo quy định của hiệp định này.

Liên đoàn Lao động phối hợp Tỉnh đoàn Bình Dương trao quà hỗ trợ đến công nhân. Ảnh minh họa/ qdnd.vn
Liên đoàn Lao động phối hợp Tỉnh đoàn Bình Dương trao quà hỗ trợ đến công nhân. Ảnh minh họa/ qdnd.vn

Đây hoàn toàn là những điều bịa đặt, những cáo buộc phi lý bởi nó không phản ánh thực tế khách quan, phủ nhận những nỗ lực vì con người của Việt Nam. Vấn đề quyền con người ở Việt Nam luôn được ghi nhận trong các bản Hiến pháp từ năm 1946 đến nay. Con người, trong đó có giai cấp công nhân và người lao động, được xác định là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu và động lực phát triển. Trong hơn 30 năm kể từ thời điểm tái gia nhập ILO (năm 1992), Việt Nam luôn thể hiện nỗ lực cam kết và thực hiện các công ước quốc tế nói chung, các công ước quốc tế về quan hệ lao động nói riêng, nhằm thúc đẩy và bảo đảm tiêu chuẩn lao động cơ bản cho người lao động ở Việt Nam theo đúng các chuẩn mực quốc tế về quyền của người lao động.

Cho đến nay, Việt Nam đã tham gia 25 công ước của ILO, trong đó có 7/8 công ước cơ bản. Chỉ riêng trong năm 2019, Việt Nam đã phê chuẩn 3 công ước của ILO, bao gồm Công ước 88 về tổ chức dịch vụ việc làm, Công ước 159 về tái thích ứng việc làm cho người khuyết tật, Công ước 98 về quyền thương lượng tập thể. Đặc biệt, Bộ luật Lao động năm 2019 (có hiệu lực từ ngày 1-1-2021) thể hiện nhiều ưu việt trong việc cụ thể hóa các quy định của công ước quốc tế về lao động. Các nội dung quan trọng nhất của cả 8 công ước cơ bản của ILO đều đã được phản ánh trong các quy định của bộ luật này. Trong đó có Công ước 98 là công ước cốt lõi, bản lề của ILO trong khuôn khổ các nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động, trở thành một cấu phần quan trọng của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP và EVFTA, cũng như trong phần lớn chính sách về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp của các công ty đa quốc gia.

Đặc biệt, kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới, trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, Việt Nam ngày càng nhận thức rõ hơn tính tất yếu của việc cho phép thành lập tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp để đáp ứng yêu cầu của hội nhập quốc tế, cụ thể là tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và kèm theo đó là việc cam kết tuân thủ các tiêu chuẩn chung, trong đó có vấn đề quyền của người lao động, nhất là quyền tự do liên kết, quyền tự do lập hội. Ngay từ Hội nghị Trung ương 4, khóa XII, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: “Bảo đảm sự ra đời, hoạt động của tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp phù hợp với quá trình hoàn thiện khuôn khổ pháp luật, kiện toàn các công cụ, biện pháp quản lý nhằm tạo điều kiện để tổ chức này hoạt động thuận lợi, lành mạnh theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam, phù hợp với các nguyên tắc của Tổ chức Lao động quốc tế, đồng thời giữ vững ổn định chính trị-xã hội”. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng sau khi định hướng một số nhiệm vụ lớn xây dựng giai cấp công nhân và phát triển tổ chức công đoàn đã khẳng định: “Định hướng, quản lý tốt sự ra đời, hoạt động của các tổ chức của công nhân tại doanh nghiệp ngoài tổ chức công đoàn hiện nay”.

 Những định hướng trên phản ánh quá trình nhận thức của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong vấn đề bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực lao động. Trên cơ sở đó, Bộ luật Lao động lần đầu tiên quy định cho phép người lao động được thành lập tổ chức đại diện cho mình tại doanh nghiệp, ngoài Công đoàn Việt Nam, gọi là tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp. Đây là một tổ chức mới, độc lập với Công đoàn Việt Nam, được xác lập trên cơ sở mở rộng quyền lựa chọn cho người lao động. Theo quy định của Bộ luật Lao động, công đoàn và tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong việc đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động trong quan hệ lao động. Điểm mới này có thể coi là bước tiến về công nhận quyền của người lao động tại cơ sở trong quá trình cử đại diện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của họ, bác bỏ hoàn toàn những luận điệu xuyên tạc rằng Bộ luật Lao động Việt Nam vi phạm quyền thành lập tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp.

Theo chức năng quy định, Công đoàn Việt Nam tiếp tục đóng vai trò là tổ chức chính trị-xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế-xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong khi đó, tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp được xác định là tổ chức xã hội/nghề nghiệp, làm chức năng đại diện bảo vệ quyền hợp pháp, lợi ích chính đáng của người lao động trong phạm vi quan hệ lao động.

Một bước tiến nữa trong việc bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực lao động là việc Việt Nam phê chuẩn Công ước 105 của ILO về xóa bỏ lao động cưỡng bức vào tháng 6-2020. Trong bối cảnh vấn đề lao động cưỡng bức trên thế giới được ILO cảnh báo là “khẩn cấp”, nỗ lực này của Việt Nam đã được thế giới ghi nhận và đánh giá tích cực. Bà Corrine Vargha, Trưởng ban Tiêu chuẩn Lao động quốc tế của ILO cho rằng với việc phê chuẩn này, Việt Nam chứng tỏ cam kết mạnh mẽ trong công cuộc đấu tranh chống lại lao động cưỡng bức dưới mọi hình thức. Còn ông Chang-Hee Lee, Giám đốc ILO Việt Nam thì khẳng định: “Đây là minh chứng cho thấy Chính phủ và các đối tác xã hội của Việt Nam đã và đang nỗ lực hết sức mình để có một khung khổ pháp lý tốt hơn nhằm mở đường cho Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình cao một cách bền vững”.

Liên quan đến một số nhân vật như Mai Phan Lợi, Đặng Đình Bách mà các thế lực chống đối cho là bị Việt Nam bỏ tù vì đã nộp đơn tham gia nhóm tư vấn giám sát việc thực thi Hiệp định EVFTA, đây thực chất là những người vi phạm pháp luật và đã bị tòa án xét xử công khai. Tháng 1-2022, Tòa án Nhân dân TP Hà Nội đã tuyên án sơ thẩm bị cáo Mai Phan Lợi, Chủ tịch Hội đồng khoa học Trung tâm Truyền thông giáo dục cộng đồng (MEC) 4 năm tù vì trốn thuế gần 2 tỷ đồng. Do đã nộp tiền khắc phục hậu quả, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân bị cáo đang bị bệnh, Mai Phan Lợi sau đó đã được Tòa án Nhân dân Cấp cao tại Hà Nội giảm án xuống 45 tháng, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Còn bị cáo Đặng Đình Bách, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu pháp luật và chính sách phát triển bền vững, thì bị Tòa án Nhân dân Cấp cao tại Hà Nội tuyên phạt y án sơ thẩm 5 năm tù về tội trốn thuế với tổng số tiền hơn 1,38 tỷ đồng. Tất cả thông tin này đều được báo chí đăng tải rộng rãi, nội dung rõ ràng chứ không phải như những điều bịa đặt mà các thế lực chống đối rêu rao.

Những nỗ lực chủ động và tích cực của Việt Nam vì người lao động đã củng cố uy tín của đất nước trên trường quốc tế, tạo thuận lợi cho quá trình hội nhập quốc tế và tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển và hướng đến một xã hội công bằng, nơi các lợi ích của quá trình hội nhập và phát triển được chia sẻ một cách công bằng cho người lao động, những người trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội.

Nguồn: Báo QĐND

Khai mạc Hội nghị giữa nhiệm kỳ Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII

 Sáng 15-5, Hội nghị giữa nhiệm kỳ Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã khai mạc trọng thể tại Thủ đô Hà Nội.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì, phát biểu khai mạc Hội nghị.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng điều hành Phiên khai mạc.

Tại Hội nghị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII cho ý kiến về các nội dung: Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư giữa nhiệm kỳ và một số nhiệm vụ trọng tâm đến hết nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng; lấy phiếu tín nhiệm của Ban Chấp hành Trung ương đối với các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIII; và một số vấn đề quan trọng khác.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu khai mạc hội nghị. 

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu khai mạc hội nghị. 

Đây là một Hội nghị có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc hoàn thành thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; là dịp nhìn lại, đánh giá một cách khách quan, toàn diện những kết quả, thành tựu đã đạt được từ đầu nhiệm kỳ khóa XIII đến nay, chỉ ra những hạn chế, yếu kém còn tồn tại, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm; dự báo bối cảnh tình hình mới với những thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen. Từ đó, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đề ra những chủ trương, quyết sách lớn cần phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện trong nửa cuối của nhiệm kỳ khóa XIII.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước cùng các đại biểu dự khai mạc hội nghị. 

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước cùng các đại biểu dự khai mạc hội nghị. 

 

Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đại biểu dự hội nghị. 

Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đại biểu dự hội nghị. 

Hội nghị Trung ương lần này là Hội nghị Trung ương giữa nhiệm kỳ, sẽ xem xét, quyết định nhiều vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII từ nay đến hết nhiệm kỳ trong bối cảnh tình hình thế giới, trong nước đã, đang và sẽ tiếp tục có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường; khó khăn, thách thức lớn hơn so với dự báo cũng như so với các nhiệm kỳ gần đây.

Theo chương trình, Hội nghị làm việc đến ngày 17-5-2023.

Nguồn: Báo QQDND

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, đáp ứng yêu cầu thời kỳ phát triển mới

 Sáng 15-5, Hội nghị giữa nhiệm kỳ Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã khai mạc trọng thể tại Thủ đô Hà Nội.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì, phát biểu khai mạc Hội nghị.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng điều hành Phiên khai mạc.

Tại Hội nghị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII cho ý kiến về các nội dung: Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư giữa nhiệm kỳ và một số nhiệm vụ trọng tâm đến hết nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng; lấy phiếu tín nhiệm của Ban Chấp hành Trung ương đối với các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIII; và một số vấn đề quan trọng khác.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu khai mạc, nhấn mạnh Hội nghị có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc hoàn thành thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; là dịp nhìn lại, đánh giá khách quan, toàn diện những kết quả, thành tựu đã đạt được từ đầu nhiệm kỳ khóa XIII đến nay, chỉ ra những hạn chế, yếu kém còn tồn tại, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm; dự báo bối cảnh tình hình mới với những thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen. Từ đó, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đề ra những chủ trương, quyết sách lớn cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện trong nửa cuối của nhiệm kỳ khóa XIII.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương giữa nhiệm kỳ khóa XIII. 

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương giữa nhiệm kỳ khóa XIII. 

Nêu cao trách nhiệm, dân chủ, thẳng thắn, khách quan

Về Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư giữa nhiệm kỳ và một số nhiệm vụ trọng tâm đến hết nhiệm kỳ Đại hội khóa XIII của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ, Báo cáo đã đề cập một cách khách quan, toàn diện bối cảnh tình hình thế giới, trong nước từ Đại hội XIII đến nay với những diễn biến nhanh chóng, bất thường và có nhiều khó khăn, phức tạp hơn so với dự báo cũng như so với cùng thời điểm các nhiệm kỳ trước. Báo cáo chỉ rõ những ưu điểm nổi bật, những hạn chế, khuyết điểm chủ yếu, và phân tích nguyên nhân, rút ra một số bài học kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; phát triển kinh tế - xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế; xây dựng, hoàn thiện pháp luật và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; công tác nội chính, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; công tác dân vận, dân tộc, tôn giáo; đặc biệt là việc đổi mới phương thức lãnh đạo, phong cách, lề lối làm việc. Đồng thời, phân tích, dự báo tình hình thế giới, trong nước từ nay đến hết nhiệm kỳ và đề ra một số nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện trong nửa cuối nhiệm kỳ khóa XIII.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị, Trung ương nêu cao tinh thần trách nhiệm, phát huy dân chủ, thẳng thắn, khách quan thảo luận, cho ý kiến vào toàn bộ các nội dung, vấn đề nêu trong Báo cáo; thể hiện rõ chính kiến của mình, đồng tình hay chưa đồng tình với những nhận xét, đánh giá của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và có những đề xuất, kiến nghị cụ thể đối với những nội dung, vấn đề cần bổ sung, làm rõ hoặc điều chỉnh, sửa đổi (nếu có).

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, chú ý gắn việc kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư với đánh giá việc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng trong bối cảnh, tình hình trong nước, thế giới có nhiều khó khăn, thách thức mới xuất hiện và phức tạp, nặng nề hơn.

Trung ương cần tập trung phân tích, làm rõ, tạo sự thống nhất cao về những ưu điểm, kết quả, thành tích đã đạt được; đồng thời thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, yếu kém còn tồn tại; phân tích những nguyên nhân và rút ra những bài học kinh nghiệm từ Đại hội khóa XIII đến nay. Phân tích, dự báo một cách có cơ sở khoa học về bối cảnh, tình hình mới, những xu hướng, vấn đề lớn có thể xảy ra trên thế giới và trong nước. Từ đó đề xuất những chủ trương, quyết sách lớn và những nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp chủ yếu cần tập trung quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện trong nửa cuối nhiệm kỳ khóa XIII, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Trung ương biểu quyết thông qua Báo cáo, làm cơ sở để Bộ Chính trị, Ban Bí thư tiếp tục phát huy những ưu điểm, bài học kinh nghiệm thành công có được trong nửa đầu nhiệm kỳ khóa XIII, khẩn trương, nghiêm túc khắc phục những hạn chế, khuyết điểm còn tồn tại để hoàn thành tốt hơn nữa trọng trách của mình trong nửa cuối nhiệm kỳ này, góp phần cùng với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắc lại, với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: "Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay". Tổng Bí thư khẳng định, những kết quả và thành tựu đạt được trong thời gian qua là sản phẩm kết tinh sự sáng tạo của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.

“Trong dịp phát biểu bế mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tôi lại nhắc nhở và lưu ý rằng: Kết quả và thành công của Đại hội là rất quan trọng, tuy nhiên đó cũng mới chỉ là bước mở đầu. Còn làm được hay không, có biến Nghị quyết thành hiện thực sinh động hay không; có làm ra của cải vật chất, mang lại giàu có và hạnh phúc cho nhân dân hay không, đấy mới là thành công thực tế của Đại hội”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói.

Quang cảnh hội nghị. 

Quang cảnh hội nghị. 

Tăng cường niềm tin đối với Đảng

Về việc lấy phiếu tín nhiệm của Ban Chấp hành Trung ương đối với các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư khóa XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, đây là một trong những nội dung đổi mới rất quan trọng trong công tác cán bộ của Đảng ta, bắt đầu được tiến hành từ nhiệm kỳ khóa XI đến nay. Mục đích là để thực hiện tốt hơn, có hiệu quả hơn các chủ trương, đường lối, nghị quyết, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cao của Đảng có đủ phẩm chất, năng lực, ngang tầm nhiệm vụ; giúp các đồng chí được lấy phiếu tín nhiệm "tự soi", "tự sửa", tiếp tục phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống và không ngừng nâng cao trách nhiệm nêu gương, trình độ, năng lực công tác, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, góp phần củng cố, tăng cường niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị các đồng chí Trung ương nghiên cứu kỹ các Báo cáo kiểm điểm cá nhân của từng đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư và từ thực tế quan hệ công tác, thể hiện rõ chính kiến của mình về mức độ tín nhiệm đối với từng đồng chí theo đúng Quy định số 96-QĐ/TW và Kế hoạch số 16-KH/TW của Bộ Chính trị.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ, bảo đảm sự lãnh đạo của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung, dân chủ, tự phê bình và phê bình; nêu cao trách nhiệm, tinh thần xây dựng của các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng trong việc xem xét, thể hiện sự tín nhiệm của mình; tôn trọng quyền báo cáo, giải trình của các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIII. Đánh giá đúng phẩm chất, năng lực, kết quả cụ thể thực hiện chức trách được giao và uy tín của người được lấy phiếu tín nhiệm. Bảo đảm tính dân chủ, khách quan, công tâm, công khai, minh bạch trong việc lấy phiếu tín nhiệm và sử dụng kết quả lấy phiếu tín nhiệm. Kiên quyết không để xảy ra vi phạm hoặc lợi dụng việc lấy phiếu tín nhiệm để gây chia rẽ, làm mất đoàn kết nội bộ.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu, Trung ương và các đồng chí tham dự Hội nghị phát huy trí tuệ, nêu cao tinh thần trách nhiệm, tập trung nghiên cứu, thảo luận kỹ lưỡng, cho ý kiến để hoàn thiện Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư giữa nhiệm kỳ và một số nhiệm vụ trọng tâm đến hết nhiệm kỳ Đại hội khóa XIII của Đảng. Đồng thời, thể hiện rõ chính kiến về mức độ tín nhiệm đối với từng đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, góp phần nâng cao hơn nữa năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, làm cho Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thời kỳ phát triển mới.

Nguồn: Báo QĐND

Ý chí và nghị lực của Nguyễn Tất Thành khi ra đi tìm đường cứu nước

 Cho đến hôm nay, sau 110 năm của sự kiện lịch sử ngày 5-6-1911 Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, nhiều người dân trong nước và bè bạn trên thế giới vẫn đang tìm câu trả lời một cách đầy đủ nhất cho những câu hỏi: Vì sao người thanh niên Nguyễn Tất Thành một thân một mình, bầu bạn không có, chỉ với chút kiến thức học ở trường cùng hai bàn tay trắng, dám vượt đại dương đi thẳng về phía kẻ thù của chính dân tộc mình để tìm con đường cứu nước?

Vì sao những khó khăn gian khổ trên hành trình dài đằng đẵng 30 năm tìm đường cứu nước vẫn không làm Người chùn bước, hay trước sự xa hoa tráng lệ của những đô thị và cuộc sống ở phương Tây hay nước Mỹ mà Người có dịp đặt chân đến vẫn không thể cám dỗ và làm lay chuyển được sự quyết tâm và lập trường kiên định của Người… Chỉ duy nhất có Người, với chuyến đi lịch sử 40 ngày của mình (từ Sài Gòn đến Marseille - nước Pháp), đã mở ra một chương lịch sử hào hùng cho dân tộc Việt Nam, cho thế giới thuộc địa và cho tất cả những con người bị áp bức trên Trái đất này. Có thể khẳng định ý chí và nghị lực là hai yếu tố rất quan trọng giúp Nguyễn Tất Thành quyết tâm đi ra tìm đường cứu nước và cũng chính ý chí, nghị lực đã giúp Người vượt qua tất cả những khó khăn, gian khổ trong hành trình bôn ba qua 3 đại dương, 4 châu lục, hơn 30 quốc gia và các vùng lãnh thổ, qua hàng trăm thành phố lớn nhỏ để tìm con đường cách mạng cho dân tộc Việt Nam.

Bến Nhà Rồng - nơi Bác Hồ rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước. Ảnh tư liệu: Báo Điện tử Đảng cộng sản.
Bến Nhà Rồng - nơi Bác Hồ rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước. Ảnh tư liệu: Báo Điện tử Đảng cộng sản.

Ở Nguyễn Tất Thành, ý chí và nghị lực được hình thành, phát triển trong môi trường sống và điều kiện, hoàn cảnh lịch sử của đất nước, từ những tố chất cá nhân của Người và thừa hưởng từ cha mẹ, gia đình, quê hương. Người sinh ra và lớn lên khi đất nước bị thực dân Pháp xâm lược, nhân dân bị lầm than đói khổ. Quê hương Người là Nghệ An, vùng đất địa linh nhân kiệt, giàu truyền thống yêu nước với những tên tuổi lớn như: Mai Thúc Loan, Nguyễn Biểu, Đặng Dung, Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu… Người xuất thân trong một gia đình nhà Nho nền nếp, mang những nét đặc trưng của xã hội Việt Nam thời phong kiến. Cha của Người là ông Nguyễn Sinh Sắc đã đỗ Phó bảng trong kỳ thi Hội năm 1901 nhưng nhiều năm liền trì hoãn việc làm quan bởi với ông: “Quan trường thị nô lệ trung chi nô lệ, hựu nô lệ” (nghĩa là: Làm quan là nô lệ trong đám nô lệ, lại càng nô lệ hơn). Mẹ của Người là bà Hoàng Thị Loan, một người phụ nữ Việt Nam điển hình, làm nghề nông và dệt vải, tần tảo nuôi chồng con ăn học. Được nuôi dưỡng bởi những truyền thống tốt đẹp của quê hương xứ Nghệ; của ý chí học tập và sự kiên nhẫn của người cha, của tâm hồn và tình cảm của người mẹ hiền, Nguyễn Tất Thành và anh chị em của mình ngay từ khi còn nhỏ tuổi đã biết nói những điều hay, làm những việc tốt, giàu lòng vị tha, nhân ái, chan hòa trong nghĩa cử đồng bào.

Bản thân Người, ngay từ thuở nhỏ đã có tố chất thông minh, ham học hỏi và thích khám phá những điều mới lạ. Được cha gửi đến học chữ Hán với các thầy giáo có tư tưởng yêu nước tiến bộ, Nguyễn Tất Thành dần hiểu được thời cuộc và sự day dứt, bế tắc của các bậc cha chú trước cảnh nước mất nhà tan. Lớn lên, càng tiếp cận với nền văn minh Pháp qua sách vở học ở nhà trường, Nguyễn Tất Thành càng muốn tiếp thu những tư tưởng tiến bộ của Tây Âu. Những điều thầy dạy ở trường khác xa với cuộc sống, với thân phận của người dân mà Người phải chứng kiến hằng ngày. Rồi thực tiễn thất bại của các phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX đã đặt ra nhiều câu hỏi và tác động đến chí hướng của Nguyễn Tất Thành, để rồi Người tự xác định mục đích cho hành động và định hướng hoạt động của mình: Rời Tổ quốc, sang phương Tây tìm đường cứu nước, cứu dân. Như chính Người đã xác nhận trong cuộc trả lời phỏng vấn nhà báo Nga Osip Mandelstam năm 1923: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế. Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy… Tôi quyết định tìm cách đi ra nước ngoài(1).

Ý chí và nghị lực của Nguyễn Tất Thành còn thể hiện sâu sắc ở sự khắc phục những khó khăn, gian khổ, không chỉ vượt qua khó khăn, gian khổ mà còn vượt qua cả những cám dỗ để vững vàng, kiên định với lý tưởng, mục đích của mình. Sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo, những năm còn nhỏ Nguyễn Tất Thành đã trải qua cuộc sống khó khăn, thiếu thốn. Và nỗi đau mất mát lớn nhất đầu tiên tác động đến tình cảm, ý chí và nghị lực trong cuộc đời Nguyễn Tất Thành là vào năm 1900. Mới 11 tuổi Người đã mất mẹ và em trai nhỏ, phải thay cha, thay anh chị, nhờ sự giúp đỡ của bà con hàng xóm ở Huế để lo tang cho mẹ. Hoàn cảnh khó khăn cùng với nỗi đau và sự mất mát đã tiếp thêm cho Nguyễn Tất Thành ý chí và nghị lực để vượt qua những thử thách, gian khổ trong cuộc hành trình tìm đường cứu nước của Người sau này.

Thời điểm đầu thế kỷ XX, với Nguyễn Tất Thành và phần đông người Việt Nam lúc bấy giờ, thế giới Đông - Tây vẫn còn khép kín, tách biệt. Con đường đi sang phương Tây của tầng lớp lao động chỉ rộng mở hơn nếu họ có quan hệ với ngành hàng hải, thương mại. Nghĩ đến cuộc hành trình lênh đênh trên biển hàng vạn dặm, không phải Nguyễn Tất Thành không có băn khoăn. Người nói về quyết định của mình, bày tỏ những băn khoăn của mình với một người bạn, “đi một mình, thật ra cũng có điều mạo hiểm, ví như khi đau ốm…”, đồng thời bày tỏ nguyện vọng khuyên người bạn cùng đi. Và khi người bạn không dám mạo hiểm ra đi, Người đã quyết tâm ra đi bằng đôi bàn tay trắng, với ý chí “sẽ làm bất cứ việc gì để sống và để đi(2).

Cả cuộc hành trình 30 năm tiếp theo đó, Nguyễn Tất Thành phải đối mặt và vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách. Những ngày khó khăn, cực nhọc đầu tiên đó là những ngày Người làm phụ bếp trên tàu Latouche Tréville: Mỗi ngày phải làm từ bốn giờ sáng, quét dọn sạch sẽ nhà bếp lớn trên tàu, tối đốt lửa trong các lò, đi khuân than, xuống hầm lấy rau, thịt cá, nước đá... Công việc khá nặng nhọc vì dưới bếp rất nóng và trong hầm rất rét, nhất là khi vừa phải vác một bao nặng vừa leo lên những bậc thang trong khi tàu tròng trành, thậm chí có lần suýt chết đuối vì biển nổi sóng to... Nhiều lúc tưởng chừng như Người không vượt qua nổi thử thách đầu tiên. Nhưng ý chí và nghị lực kiên cường, càng gian khổ, khó khăn sức chịu đựng của Người ngày càng rắn rỏi. Công việc quen dần, nỗi vất vả như lùi lại phía sau mỗi hải lý con tàu vượt qua. Những năm tháng đặt chân đến Anh, Pháp, Mỹ, Nguyễn Tất Thành tiếp tục trải qua những tháng ngày lao động gian khổ với nhiều nghề vất vả khó khăn để kiếm sống và nuôi chí lớn tìm con đường cứu nước.

Những ngày trên đất nước Mỹ (năm 1912), Nguyễn Tất Thành làm thuê ở quận Brooklyn (ngoại vi thành phố New York) rồi làm thợ bánh và phụ giúp đầu bếp nấu những món ăn Pháp ở khách sạn Omni Parker House (Boston). Tại nước Anh (năm 1913), Người từng làm các công việc nặng nhọc như cào tuyết ở trường học, đốt lò ở hầm, làm phụ bếp ở khách sạn Drayton Court, làm dọn dẹp và rửa bát đĩa ở khách sạn Carlton trước khi được đầu bếp huyền thoại người Pháp Escosffier chuyển Người lên khu vực làm bánh và “truyền nghề” cho để Người có số lương cao hơn và có thì giờ hơn để học tiếng Anh. Những ngày trở lại Pháp (năm 1917) cuộc sống hết sức khó khăn, Nguyễn Tất Thành làm thuê cho một cửa hàng ảnh, công việc bấp bênh, thu nhập thấp. Người còn làm nhiều nghề khác như: Làm đồ giả cổ, vẽ quạt, lọ hoa, chao đèn… Mùa đông giá rét, mỗi buổi sáng trước khi đi làm, Người đều để một viên gạch vào bếp lò của bà chủ nhà. Đến chiều, Người lại lấy viên gạch ra, bọc trong những tờ báo cũ rồi để trên giường cho đỡ rét. Ăn uống thiếu thốn cùng với lao động và hoạt động vất vả, sức khoẻ của Nguyễn Tất Thành giảm sút, nhưng nhờ vào ý chí nghị lực rèn luyện Người đã vượt qua những khó khăn về sức khoẻ để tiếp tục tham gia vào những hoạt động chính trị.

Không chỉ gặp khó khăn, thiếu thốn về vật chất trong cuộc sống, mà trong cuộc hành trình suốt 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, Nguyễn Tất Thành luôn bị kẻ thù rình rập, theo dõi, giám sát, hăm dọa và tìm mọi thủ đoạn hãm hại. Bản án tử hình vắng mặt (năm 1929) và những ngày bị thực dân Anh bắt giam tại Nhà ngục Victoria, Hồng Kông (năm 1931) mà Người đã trải qua và tất cả những khó khăn gian khổ đó không làm Nguyễn Tất Thành chùn bước. Ngược lại, những thử thách đó càng tiếp thêm cho Người nghị lực, ý chí và sức mạnh để cổ vũ Người vượt qua, kiên định lập trường của mình là tìm con đường cứu nước cho nhân dân Việt Nam. Dù chịu cảnh tù đày nghiệt ngã trong dãy xà lim “bề rộng chỉ vừa một người nằm xiên xiên” nhưng sau này khi viết lại những năm tháng ấy, Người chỉ nói đến tâm tư của mình “khi bị bắt giam, trong tâm trạng chỉ có một điều là lo, không phải là lo cho số phận của mình sau này sẽ ra sao… lo là lo những công việc mình làm xong, ai sẽ tiếp tục làm thay?”.

Có thể nói, ý chí và nghị lực là tố chất rất quan trọng đối với mỗi một con người, giúp con người xác định mục đích và đưa ra những quyết định cho hướng hoạt động của mình và giúp con người vượt qua những khó khăn, thử thách nhằm đạt được mục đích. Ở Nguyễn Tất Thành ý chí và nghị lực mang tính nhân văn sâu sắc và được thể hiện ở một tầm cao mới, định hướng cho lý tưởng, cho mục đích cao cả trọn cuộc đời của Người: “nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”, giúp Người vượt qua tất cả những khó khăn gian khổ trong hành trình suốt 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước.

VŨ KIM YẾN, Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...