Thứ Bảy, 10 tháng 10, 2020

HÒA HỢP DÂN TỘC PHẢI TỪ CÁI TÂM TRONG SÁNG, MANG TINH THẦN XÂY DỰNG

 


Sau ca mổ tách cặp song sinh dính liền nhau Song Nhi (Trúc Nhi-Diệu Nhi), tên tuổi Anh hùng Lao động, Giáo sư (GS), Tiến sĩ khoa học, Thầy thuốc Nhân dân Trần Đông A liên tục làm “nóng” truyền thông trong nước và quốc tế.

Cũng như một số nhân vật có uy tín trên các lĩnh vực, ngay sau khi tiếp tục nổi tiếng, GS Trần Đông A được một bộ phận truyền thông quốc tế và người Việt Nam ở nước ngoài quan tâm, khai thác, không chỉ về đề tài chuyên môn. Phóng viên Báo Quân đội nhân dân đã có cuộc phỏng vấn ông, giúp bạn đọc hiểu rõ hơn những vấn đề này.

Càng nổi tiếng càng phải có bản lĩnh

PV: Xin chúc mừng GS Trần Đông A và tập thể y sĩ, bác sĩ đã thực hiện thành công ca mổ tách cặp song sinh Song Nhi. Sau gần 32 năm kể từ ca mổ tách cặp song sinh Việt-Đức, ông lại tiếp tục góp công đưa vị thế của nền y học Việt Nam lên tầm cao mới trên bản đồ y khoa thế giới.

GS Trần Đông A: Sau gần 3 tháng thực hiện ca phẫu thuật lịch sử và thực hiện quy trình hậu phẫu nghiêm ngặt, đến hôm nay chúng ta đã tự tin khẳng định, ca mổ tách cặp Song Nhi đã thành công tốt đẹp. Với ca mổ này, tôi tham gia cố vấn chuyên môn cho các học trò của mình ở tất cả các khâu. Rất hạnh phúc vì sau gần 32 năm kể từ khi mổ tách thành công cặp song sinh Việt-Đức, thế hệ học trò của tôi, nay đã là các phó GS, tiến sĩ, đã hoàn toàn làm chủ y thuật hiện đại để có thể thực hiện, xử lý những tình huống rất phức tạp và hiếm gặp của y văn thế giới.

PV: Không ít người là chuyên gia trên các lĩnh vực, sau khi nổi tiếng thường được một bộ phận truyền thông quốc tế và hải ngoại quan tâm rất kỹ lưỡng. Một số trường hợp có biểu hiện sa đà quá mức, có những phát ngôn thiếu chuẩn mực, phán xét những vấn đề ngoài chuyên môn, ngoài tầm hiểu biết của mình, tạo cớ cho các thế lực thù địch, phản động lợi dụng công kích, chống phá đất nước. GS có lúc nào rơi vào hoàn cảnh này không?

GS Trần Đông A: Có chứ! Chẳng phải đến bây giờ người ta mới để ý khai thác mà truyền thông quốc tế và hải ngoại đã quan tâm đến tôi từ rất lâu rồi, bởi tôi từng là sĩ quan quân y phục vụ trong quân lực Việt Nam Cộng hòa. Sau ngày đất nước thống nhất, tôi là một trong 30 trường hợp được ưu tiên, bảo lãnh cấp thẻ thường trú nhân (thẻ xanh) để sang Mỹ định cư, nhưng tôi đã khước từ, quyết định ở lại đất nước. Sau ca mổ tách cặp song sinh Việt-Đức, tôi liên tục được mời đi nhiều nước tham quan, giao lưu, tham dự các hội nghị quốc tế, gặp gỡ nhiều cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Trong khuôn khổ của những diễn đàn ấy, người ta không chỉ hỏi mình về chuyên môn mà còn đặt ra rất nhiều vấn đề liên quan đến quan điểm chính trị, đường lối đối ngoại của đất nước, về hòa hợp dân tộc, tình hình thời sự của đất nước. Nếu mình không tỉnh táo, rất dễ nói “hớ”. Từ những phát ngôn thiếu cân nhắc, có thể dẫn đến những sai lầm, hậu quả rất khó lường.

PV: Trong những hoàn cảnh đó, GS ứng xử như thế nào để không bị “hớ”?

GS Trần Đông A: Phải đọc, phải chịu khó nghiên cứu. Trước khi ra nước ngoài, tôi phải tìm hiểu, trang bị cho mình những kiến thức, kỹ năng cần thiết. Tôi nói được cả tiếng Anh và tiếng Pháp nên việc giao tiếp với khách quốc tế không gặp khó khăn. Nhưng quan trọng nhất vẫn là ý thức dân tộc, bản lĩnh chính trị. Đi đâu, làm gì mình cũng phải thể hiện trách nhiệm công dân với đất nước. Nói gì, làm gì đều phải đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết. Người nổi tiếng càng đòi hỏi phải có bản lĩnh, bởi những phát ngôn của cá nhân, dù trong hoàn cảnh nào, về lĩnh vực gì cũng sẽ có tác động, ảnh hưởng lớn với công chúng, nhất là trong môi trường công nghệ truyền thông phát triển như vũ bão hiện nay.

PV: GS có thể nêu dẫn chứng?

GS Trần Đông A: Nhiều lắm. Những nội dung mình chủ động, có sự chuẩn bị từ trước thì không vấn đề gì. Nhưng có những tình huống người ta hỏi bất ngờ, kiểu như “cài” mình vậy, thì mình cũng phải có cách ứng xử tỉnh táo. Năm 2003, khi sang Mỹ, trong một diễn đàn có nhiều nghị sĩ và truyền thông tham dự, người ta hỏi tôi: “Được biết ngài từng bị chính quyền cộng sản Việt Nam bắt cải tạo 2 năm sau ngày giải phóng miền Nam. Ngài có bị họ phân biệt, đối xử không”? Tôi trả lời: “2 năm trong trại cải tạo là khoảng thời gian vô cùng khó khăn đối với tôi. Nhưng sau đó và cho đến hôm nay nhìn lại, tôi luôn thấy đó là điều cần thiết. Nếu có sự phân biệt đối xử, chắc hôm nay tôi không có vinh hạnh được gặp quý vị ở đây”. Đó là một tình huống hoàn toàn bất ngờ. Người ta hỏi nhanh và tôi cũng trả lời rất nhanh. Câu trả lời ấy đã được nhiều người tán thưởng. Lại có lần truyền thông một nước đặt vấn đề như thế này: Ở nhiều nước, dân số chỉ bằng 1/3 Việt Nam nhưng người ta có 4-5 đảng, kinh tế mạnh hơn hẳn Việt Nam. Tại sao Việt Nam dân số đông lại chỉ có một đảng? Có phải vì thế nên Việt Nam vẫn nghèo? Tôi nói, ở Việt Nam, thế hệ như tôi đã mất hơn nửa cuộc đời chìm trong khói lửa chiến tranh thì làm sao đất nước có thể giàu nhanh được. Những người như tôi, cho dù trước đây đứng ở bên kia chiến tuyến, nhưng hiện nay chỉ có khát vọng duy nhất là giữ cho đất nước hòa bình, ổn định, phát triển. Vì vậy chúng tôi chỉ cần có một đảng thôi. Việt Nam còn nhiều khó khăn về kinh tế, nhưng đặt trong bối cảnh chung, trong lúc nhiều nước xảy ra khủng bố, bạo loạn, biểu tình, nội chiến... thì hơn 90 triệu dân Việt Nam vẫn chung sống thân thiện, đoàn kết. Vậy, chúng tôi đâu cần phải có nhiều đảng để rước cái rối ren, phức tạp cho quốc gia, dân tộc?

Muốn hòa hợp phải thực tâm, xây dựng

PV: Đất nước hòa bình, thống nhất đã gần nửa thế kỷ, vậy nhưng trong các mối quan hệ quốc tế, hội nhập, chúng ta vẫn gặp những biểu hiện mang tư tưởng thù hận. GS có cho rằng, những điều ấy đang là lực cản của hòa hợp dân tộc?

GS Trần Đông A: Tư tưởng thù hận vẫn còn dai dẳng ở một bộ phận người Việt Nam ở nước ngoài và cả một số thành phần ở trong nước. Tôi nghĩ, trước những biểu hiện kích động hận thù, chống đối, cản trở hòa hợp dân tộc, chúng ta phải luôn bình tĩnh, đường hoàng trong ứng xử, vì lẽ phải, chân lý thuộc về mình. Nếu mình cũng có biểu hiện cay cú như họ, rồi thì đôi co, “trả đũa” nhau trên truyền thông và mạng xã hội thì không nên. Mình phải nói lẽ phải. Nói phải thì củ cải cũng nghe. Khi tôi sang Mỹ, gặp những thành phần chống đối, ban đầu họ tỏ thái độ ra mặt. Nhưng tôi cứ bình thản bước vào hội trường, đường hoàng đăng đàn phát biểu. Họ thấy mình như thế thì ngay sau đó họ kiếm cớ “lủi” mất. Vậy là người phải xấu hổ là họ chứ đâu phải mình. Khi ra nước ngoài, giữ phong thái, vị thế của đất nước là rất quan trọng. Bạn bè quốc tế người ta nhìn mình để đánh giá đất nước, dân tộc mình. Vì thế, chúng ta phải chứng tỏ cho người ta thấy, những gì mà một bộ phận người Việt thể hiện tư tưởng chống đối, thù địch với đất nước chỉ là thiểu số, lạc lõng.

PV: Về phần mình, có bao giờ GS tự đặt câu hỏi, nếu ngày đó GS quyết định sang Mỹ định cư thì cuộc sống của bản thân hiện nay sẽ thế nào?

GS Trần Đông A: Chưa bao giờ. Hơn 45 năm qua kể từ ngày đất nước thống nhất, tôi đã được rèn luyện, trưởng thành và cống hiến trong môi trường thuận lợi ở đất nước mình, phục vụ chăm sóc sức khỏe cho đồng bào mình, đặc biệt là bệnh nhi. Các danh hiệu Đảng, Nhà nước phong tặng cho tôi đã phần nào nói lên điều đó.

PV: Để chủ trương hòa hợp dân tộc của Đảng ngày càng phát huy hiệu quả, thực chất, theo GS, chúng ta cần phải đẩy mạnh và khắc phục những vấn đề gì?

GS Trần Đông A: Chủ trương hòa hợp dân tộc đã áp dụng ngay sau ngày đất nước thống nhất, nhưng để tạo sự chuyển biến mạnh mẽ thì phải đến khi chúng ta có Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Hơn 16 năm qua, kể từ khi thực hiện Nghị quyết số 36, vấn đề hòa hợp dân tộc ngày càng đi vào thực chất, hiệu quả. Chúng ta đã thu hút được nguồn lực to lớn từ kiều bào khắp nơi trên thế giới, chung tay, góp sức xây dựng đất nước. Tôi cho rằng, những vướng mắc hiện nay không phải ở chủ trương, mà ở cách vận dụng, thực hiện chủ trương từ cơ sở, địa phương và từ phía đối tượng của hòa hợp dân tộc. Người tài trong cộng đồng Việt kiều không hiếm, nhưng để thu hút họ toàn tâm toàn ý đóng góp xây dựng quê hương, đất nước thì phải có môi trường, bệ đỡ vững chắc từ cơ sở. Điều này đòi hỏi cấp ủy, chính quyền, cơ quan chức năng từ cơ sở phải năng động, nhạy bén, cởi mở. Tuy nhiên, nói đi cũng cần phải nói lại, sự thông thoáng không đồng nghĩa với dễ dãi. Mọi hoạt động đều phải thượng tôn pháp luật, không để tình trạng lợi dụng tính nhân văn của chủ trương, sự thông thoáng của cơ chế để thực hiện các âm mưu đen tối. Người Việt Nam ở nước ngoài, bất kể là ai, ở đâu, đều phải có nhận thức thấu đáo, bản thân mình vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của hòa hợp dân tộc. Thế nên, trước hết và trên hết, muốn hòa hợp thực chất, hiệu quả, phải xuất phát từ cái tâm trong sáng, mang tinh thần xây dựng. Mọi hành động, việc làm hướng về quê hương đất nước phải thực tâm. Đã là người Việt Nam thì phải luôn đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết.

PV: Xin cảm ơn GS đã trả lời phỏng vấn!

GS Trần Đông A sinh năm 1941 tại Hải Hậu (Nam Định), theo gia đình vào định cư ở Sài Gòn năm 1954. Sau khi tốt nghiệp tú tài, ông theo học ngành y tại Đại học Y khoa Sài Gòn, sau đó phục vụ trong ngành quân y của quân lực Việt Nam Cộng hòa từ năm 1968 đến tháng 4-1975. Sau ngày đất nước thống nhất, ông từ chối sang Mỹ định cư, tham gia học tập cải tạo, thực hiện cuộc hành trình phấn đấu, cống hiến bền bỉ. Ông là Đại biểu Quốc hội khóa XI và XII; là Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam liên tục từ khóa VI đến nay. Không chỉ đóng góp xuất sắc cho y học nước nhà, GS Trần Đông A còn là tấm gương mẫu mực về y đức và tinh thần cống hiến. Ông được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Thầy thuốc Nhân dân năm 2006, danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới năm 2008.

https://www.qdnd.vn/chong-dien-bien-hoa-binh/hoa-hop-dan-toc-phai-tu-cai-tam-trong-sang-mang-tinh-than-xay-dung-639860

HÀNH TRANG CHO CHẶNG ĐƯỜNG MỚI CỦA ĐẤT NƯỚC

 


(TG) - Ngày 31/8/2020, đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đã có bài viết nhan đề: “Chuẩn bị và tiến hành thật tốt Đại hội XIII của Đảng, đưa đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới”. Đây là một trong ba bài viết quan trọng của người lãnh đạo cao nhất của Đảng trong thời gian qua. Mỗi bài viết tập trung cho một chủ đề lớn, nhưng đều hướng về công tác chuẩn bị và tổ chức đại hội Đảng các cấp, sao cho đại hội lần này tạo nên một ấn tượng, một dấu mốc mới, đánh dấu sự trưởng thành của Đảng ta cả về lý luận và thực tiễn, cả về công tác tư tưởng và tổ chức.

Tháng 5/2019, sau khi Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị 35, về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng, đồng chí Nguyễn Phú Trọng đã viết bài: “Chuẩn bị và tổ chức thật tốt đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”. Không nhắc lại những nội dung cốt lõi trong Chỉ thị 35, trong bài viết, đồng chí nhấn mạnh bốn nội dung cơ bản của đại hội, giúp các cấp ủy, tổ chức đảng nắm vững hơn, có hệ thống hơn ý nghĩa, tầm quan trọng của đại hội đảng bộ các cấp, khi cả nước đang tiến vào ngưỡng cửa của thập niên thứ ba, thế kỷ XXI; khi cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, mang lại những thời cơ và cả những thách thức lớn.

Trước Hội nghị Trung ương 12 (tháng 5/2020) nội dung trọng tâm bàn về công tác nhân sự, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước viết bài thứ hai về: Một số vấn đề cần được đặc biệt quan tâm trong công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIII của Đảng.Với tinh thần thẳng thắn, cách nhìn khách quan, toàn diện, đánh giá đúng thực trạng, bài viết thể hiện rõ sự trăn trở của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương về tình trạng kéo dài trong Đảng, đó là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những cán bộ cấp chiến lược. Đồng chí khẳng định: Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII phải là một tập thể thật sự đoàn kết, trong sạch, vững mạnh, thống nhất cao ý chí và hành động, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức trong sáng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có tầm nhìn chiến lược; có trí tuệ, tư duy đổi mới, sáng tạo…

Bài viết thứ ba trong hệ thống bài viết nêu trên xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng, được đông đảo các tầng lớp nhân dân quan tâm và đóng góp nhiều ý kiến tâm huyết. Đây là bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng trước thềm Đại hội các đảng bộ trực thuộc Trung ương. Từ những nội dung tổng quát mang tính chỉ đạo chiến lược, đến những mục tiêu cụ thể hướng tới những dấu mốc phát triển quan trọng của đất nước ta, được xem là những gợi ý rất thiết thực để các cấp ủy đảng nghiên cứu, bổ sung vào các văn kiện, chuẩn bị ý kiến tham luận và chuẩn bị nhân sự.

Tiếp thu và phát triển những bài học kinh nghiệm từ các Đại hội trước đây của Đảng ta, nhất là từ năm 1986 đến nay, Đại hội lần này có nhiệm vụ bao trùm, vừa thể hiện tầm nhìn xa trông rộng, vừa bám sát những nội dung, mục tiêu cụ thể. Đại hội không chỉ kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng, mà còn có cái nhìn xuyên suốt 35 năm đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, 10 năm thực hiện Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011), Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020. Nhìn lại, đánh giá, nói thẳng về những ưu điểm, khuyết điểm, để từ đó đề ra phương hướng, nhiệm vụ phù hợp,có khả năng thực thi. Đó là những mục tiêu, nhiệm vụ mang tính định tính và định lượng, từ mục tiêu của nhiệm kỳ 2021-2026, đến mục tiêu, phương hướng đến năm 2030 (kỷ niệm tròn 100 năm thành lập Đảng) và tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2045 (kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam mới).

Tuy không nằm trong hệ thống bài viết chỉ đạo tiến hành Đại hội Đảng, nhưng mới đây, trong khuôn khổ Phiên thảo luận chung cấp cao Khóa 75 Đại hội đồng Liên hợp quốc diễn ra từ ngày 22 đến 29/9/2020, tại trụ sở Liên hợp quốc, ngày 24/9, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã có thông điệp quan trọng gửi tới hội nghị.Thông điệp này một lần nữa nói về việc chuẩn bị Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam, liên quan mật thiết đến tình hình thế giới: “Từ một đất nước nghèo nàn, lạc hậu, bị tàn phá bởi chiến tranh và chịu bao vây cấm vận, sau 35 năm đổi mới, Việt Nam đã vươn lên trở thành một nước đang phát triển có thu nhập trung bình và đang nỗ lực phấn đấu hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045 (…). Với chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, là đối tác tin cậy và thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, Việt Nam luôn coi trọng và mong muốn phát huy quan hệ hợp tác toàn diện với Liên hợp quốc, góp phần xây dựng một thể chế đa phương toàn cầu công bằng, minh bạch và hiệu quả”.

Các bài viết, bài nói của đồng chí Nguyễn Phú Trọng đã nêu lên những đánh giá khái quát, những chỉ đạo tổng quát nhất về Đại hội Đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII vào đầu quý I năm 2021. Đặc biệt, trong bài viết: “Chuẩn bị và tiến hành thật tốt Đại hội XIII của Đảng, đưa đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới”, được xem là bài viết toàn diện hơn cả. Với phương châm: Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Sáng tạo - Phát triển,từ “nhìn lại” đến “hướng đi” đều có những đánh giá khách quan, toàn diện, xác đáng về hầu hết các lĩnh vực quan trọng; từ “việc”, đến “người”; từ thành tựu, ưu điểm, đến yếu kém,  khuyết điểm; từ Trung ương đến địa phương, các cấp, các ngành… Điểm mới ở đây là, khi tổng kết, đánh giá, hoặc khi đề ra các chủ trương, đường lối, cần:  “Đặc biệt chú trọng xử lý tốt hơn các mối quan hệ: Giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa nhà nước, thị trường và xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ; giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội”. Chẳng hạn, để tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội, trong nhiệm kỳ Đại hội XII, Trung ương đãtừng bước xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực trong Đảng, Nhà nước, nhất là trong công tác cán bộ; kiên quyết xử lý các vụ việc tham nhũng, tiêu cực. Nhiều vụ án kinh tế, tham nhũng, nhất là các vụ án lớn, nghiêm trọng đã được phát hiện, điều tra, tiến hành khởi tố, truy tố, xét xử nghiêm minh. Đúng là không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không vụ án nào bị “chìm xuồng” hoặc ngược lại là… kéo xuồng lên bờ phơi nắng. Điều đó đã có sức răn đe, cảnh báo, cảnh tỉnh, được cán bộ, đảng viên, nhân dân hoan nghênh,đồng tình ủng hộ.

Nhấn mạnh bài học quý giá của Đảng ta qua các thời kỳ cách mạng là nuôi dưỡng sức dân, coi sức dân chính là sức nước, trong tình hình hiện nay, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khẳng định: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, luôn xác định “dân là gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; kiên trì thực hiện đúng nguyên tắc: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.  Cái mới ở đây là “dân giám sát, dân thụ hưởng”, điều mà từ rất sớm Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”.

Nói về việc nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ cấp cao, đồng chí Nguyễn Phú Trọng yêu cầu “trong lãnh đạo, điều hành, tổ chức thực hiện, phải có quyết tâm rất cao, nỗ lực rất lớn, thật sự năng động, sáng tạo, chú trọng tạo đột phá để phát triển”. Đồng chí nêu rõ trách nhiệm của đội ngũ cán bộ chủ chốt ngay trong dịp Đại hội này - một sự kiện chính trị trọng đại, ngày hội của Đảng và cũng là ngày hội của Nhân dân:“Đại hội XIII của Đảng ta đã đến gần. Khối lượng công việc rất lớn trong khi thời gian không còn nhiều, các cấp ủy và các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng phải đề cao hơn nữa trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân, phấn đấu hoàn thành thắng lợi các mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội XII và nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2015-2020 đã đề ra”.

Các bài viết của người lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước ta không chỉ là sự chỉ đạo kịp thời, làm cơ sở quan trọng cho các cấp bộ Đảng trong cả nước chuẩn bị và tiến hành đại hội, mà còn là nguồn động viên, cổ vũ to lớn đối với toàn Đảng, toàn dân ta. Sự chỉ đạo nhất quán trong các bài viết, với tư tưởng đổi mới, với những thông tin cụ thể, tin cậy thể hiện tinh thần kiên quyết, kiên trì công cuộc đổi mới, đập tan luận điệu xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch, giúp chúng ta có thêm bản lĩnh và tự tin trước những khó khăn, thách thức mới.

Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Một giai đoạn phát triển mới đang trông đợi ở niềm tin, sức mạnh, ý chí của toàn Đảng, toàn Dân, toàn Quân ta. Khi ý Đảng - lòng Dân là một, khi lợi ích của Đảng chính là lợi ích của toàn dân thì  không có một trở lực nào ngăn cản nổi con đường đi lên của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trang mới của lịch sử đang mở ra, bắt đầu từ sự “chuẩn bị và tiến hành thật tốt”, như đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước mong muốn và tin tưởng./. 

http://tuyengiao.vn/bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang/hanh-trang-cho-chang-duong-moi-cua-dat-nuoc-130124

HỌC TẬP VÀ NOI THEO TẤM GƯƠNG CỦA V.I. LÊNIN VÀ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VĨ ĐẠI

 


(TCTG)- Kiên trì và đứng vững trên lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, học tập và làm theo tấm gương đạo đức của hai vị lãnh tụ vĩ đại, Ðảng ta đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành sự nghiệp Đổi mới, đưa nước ta ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chủ động và vững vàng hội nhập quốc tế.

1. Lênin – Người “sinh ra để cải tạo thế giới”

Vladimir Ilits Ulianov - V.I. Lênin sinh ngày 22/4/1870 ở Simbirsk (nay là Ulianovsk), mất ngày 2/1/1924 ở làng Gorki gần Moskva. Tốt nghiệp xuất sắc bậc Trung học, được nhận Huy chương vàng, nên V.I. Lênin được vào thẳng bất kỳ trường Đại học nào ở nước Nga, và người đã chọn học khoa Luật - Đại học Tổng hợp Kazan. Tại đây, V.I. Lênin tham gia nhóm cách mạng trong sinh viên, trở thành thành viên của Hội đồng hương bí mật Samarsko- Simbirskoe- mở đầu hành trình hoạt động cách mạng đầy gian khó của vị lãnh tụ vĩ đại.

Vốn là người “sinh ra để cải tạo thế giới - đó có thể coi là sứ mệnh cao cả nhất suốt cuộc đời vĩ lãnh tụ vĩ đại của nước Nga”, nên vượt qua những năm tháng bị lưu đày, vượt qua cả những khó khăn, thách thức trong chặng đường hoạt động cách mạng đầy hiểm nguy, đầu Tháng Mười năm 1917, V.I. Lênin từ Phần Lan bí mật trở về Petrograd và ngày 23/10/1917, kế hoạch khởi nghĩa vũ trang của V.I. Lênin đề ra, được Hội nghị Uỷ ban trung ương Đảng Công nhân xã hội dân chủ Nga thông qua. Tối ngày 6/11/1917, V.I. Lênin đến Cung điện Smolnưi trực tiếp chỉ đạo cuộc khởi nghĩa và rạng sáng ngày 7/11/1917, toàn thành phố Petersbuorg nằm trong tay những người khởi nghĩa. Đêm ngày 7/11/1917, Cách mạng Tháng Mười Nga đã toàn thắng. Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới do Đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo đã ra đời, và sau đó, tại Đại hội các Xô Viết toàn Nga lần thứ II, V.I. Lênin được bầu là Chủ tịch Hội đồng các Uỷ viên nhân dân (Hội đồng Dân uỷ)…Ngày 21/1/1924, V.I. Lênin qua đời.

Trong suốt cuộc đời mình, vì là người thích soi rọi mọi sự trên đời bằng "ánh sáng đẹp" của trí tuệ, để làm bật ra bản chất của mọi vấn đề, nên V.I.Lênin "thực sự không thể chịu được những kẻ nói văn hoa, trống rỗng, những kẻ hay dùng lời lẽ hoa hòe hoa sói để che giấu sự nghèo nàn về tư tưởng và sự thiếu sáng kiến. Chỉ một câu châm biếm, đồng chí có thể cho họ cụt hứng ngay lập tức" (B.Polevoi). Vừa là người kế tục, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác trong thời đại mới, vừa là người đưa CNXH khoa học từ lý luận - “một bóng ma ám ảnh” thành một thực thể sống, mà các thế lực tư bản, đế quốc phải đối mặt, đó chính là lãnh đạo thành công cuộc cách mạng XHCN đầu tiên trên thế giới, di sản Lênin để lại thật “hữu ích và thời sự”. Vì vậy, dù con đường đi tiếp của nhân loại trong hành trình tới tương lai công bằng, dân chủ và hạnh phúc vẫn còn đầy biến động, và mặc dù “không có những công thức bất di bất dịch cho sự phát triển của lịch sử”, nhưng tư tưởng và những luận điểm về cách mạng và xã hội trên tầm cao của tư tưởng thế kỷ XXI về xây dựng CNXH; về đặc điểm, tính chất và những biện pháp để một nước chưa qua giai đoạn phát triển TBCN, vượt qua thời kỳ quá độ theo kiểu phát triển "rút ngắn" - loại hình quá độ gián tiếp để đi lên CNXH; về vai trò và nhiệm vụ của Đảng trong quá trình lãnh đạo đất nước "chuyển trọng tâm sang tổ chức, xây dựng kinh tế"; về nhà nước XHCN và nền pháp chế XHCN, đặc biệt là những tư tưởng về "chính sách kinh tế mới", và tấm gương đạo đức cách mạng, sống giản dị, coi khinh sự xa hoa của V.I. Lênin,v.v.. vẫn còn nguyên giá trị thời sự.

Thực tiễn cho thấy, trí tuệ kiệt xuất và tấm gương đạo đức đã giúp cho tư tưởng khoa học và đời sống của V.I.Lênin “cho tới nay vẫn còn tính thời sự và cả tính vĩnh cửu, giúp Người trở nên gần gụi hơn với thời hiện tại”, ngay cả trong thời đại tin học. Và 87 năm sau khi V.I.Lênin mất, tờ báo Đức "Prager Tageblatt" đã viết: "Dường như ngay cả sau khi từ trần, Lênin vẫn vĩ đại, cao siêu và đáng sợ", vì những thể chế có bất công và đàn áp sẽ luôn cảm thấy những tư tưởng của Lênin là đáng sợ, và “vì những thế hệ mới sắp tới, một khi đã thấm nhuần được những gì vị lãnh tụ của cách mạng vô sản quốc tế nói, sẽ lại đứng lên làm những cuộc cách mạng mới để tìm kiếm cơ hội xây dựng một hình thái xã hội tốt đẹp hơn cho nhân loại”.

Là một lãnh tụ vĩ đại, một nhà hoạt động chính trị xuất sắc, viết và nói giỏi, làm được những công việc lớn lao, nhưng luôn là tấm gương sáng chói về bản lĩnh, đam mê sự sống, và cả đam mê trong mọi việc làm, để đưa “nước Nga thoát khỏi những bất công và lạc hậu, để người dân trong đế chế giàu tài nguyên và tiềm năng này có thể ngẩng mặt nhìn thế giới xung quanh”, V.I.Lênin – dù đã mất, song vẫn là người nói như Alexandra Kolontai (1872-1952), nhà ngoại giao Xôviết lừng danh là: "Có những cá nhân - hiếm thấy trong lịch sử loài người - là sản phẩm của một chuyển biến lớn lao đã chín muồi, đã tô đẹp cho cả một thời đại. Trong số những người vĩ đại về tinh thần và ý chí đó là Vladimir Ilich Lênin... Như ở một tiêu điểm, Người đã tập hợp vào trong mình tất cả những cái gì của cách mạng là nghị lực, là hùng mạnh, không ủy mị trong phá bỏ cái cũ và rất kiên quyết trong xây dựng cái mới".

2. V.I. Lênin và Hồ Chí Minh – Gặp gỡ trong tư tưởng và hành động

Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 thành công giữa lúc Nguyễn Tất Thành- Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh đang bôn ba trong hành trình tìm con đường để giải phóng dân tộc Việt Nam khỏi ách thống trị tàn bạo của chủ nghĩa thực dân. Khi ấy, Người ủng hộ thắng lợi của cuộc cách mạng vô sản đầu tiên trên thế giới một cách tự nhiên, vì không có nhiều thông tin, vì “chưa hiểu hết tầm quan trọng lịch sử của nó”[1], song với nhạy cảm chính trị đặc biệt, thắng lợi vĩ đại đó đã có tác động to lớn đến việc quyết định con đường cứu nước của Hồ Chí Minh sau này.

Sau đó, không chỉ tự tin bỏ phiếu cho Quốc tế thứ III của V.I. Lênin, trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên, một trong những người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, Người còn đến với đất nước của V.I. Lênin vĩ đại. Tuy nhiên, khi Hồ Chí Minh có mặt ở Liên xô chưa được bao lâu, thì V.I. Lênin đã qua đời. Dù chưa có điều kiện được gặp vị lãnh tụ kính yêu của giai cấp vô sản, song thực tiễn đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội trên đất nước Liên xô, tình cảm của nhân dân Liên xô đối với V.I. Lênin, đặc biệt là tình cảm của V.I. Lênin đối với các dân tộc thuộc địa đã làm Hồ Chí Minh xúc động. Trong niềm cảm phục và tiếc thương vô hạn, Hồ Chí Minh đã viết, tin V.I. Lênin qua đời “đến với mọi người như sét đánh ngang tai, truyền đi khắp các bình nguyên phì nhiêu ở châu Phi và các cánh đồng xanh tươi ở châu Á”, bởi rằng “họ coi Lênin là người giải phóng cho họ” khỏi ách áp bức bóc lột của kẻ thống trị. V.I. Lênin đã mất, nhưng Quốc tế thứ III- Quốc tế Cộng sản do Người sáng lập (6/3/1919), để lãnh đạo phong trào cộng sản và công nhân quốc tế và khẩu hiệu: “Vô sản các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại” đã nêu cao “ngọn cờ của quốc tế cho những người bị áp bức” vẫn sống mãi trong lòng nhân dân thế giới. Và do đó, “khi còn sống, Người là cha, thầy học, đồng chí và cố vấn của chúng ta. Ngày nay, Người là ngôi sao sáng chỉ đường cho chúng ta đi tới cuộc cách mạng xã hội. Lênin bất diệt sẽ sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta”[2].

V.I. Lênin - một con người vĩ đại, không những muốn giải phóng nước Nga của mình mà còn muốn giải phóng tất cả các dân tộc khác nữa. Vì thế “thật dĩ nhiên là tất cả những hy vọng của người nô lệ bị áp bức ở các nước thuộc địa vào một tương lai tốt đep đều gắn với tên tuổi của Lênin”. Trong Quốc tế Cộng sản do Lênin lãnh đạo, vấn đề thuộc địa, công cuộc giải phóng nhân dân các thuộc địa luôn được quan tâm sâu sắc và Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Vì chúng ta tự coi mình là học trò của Lênin, cho nên chúng ta cần phải tập trung tất cả sức lực và nghị lực để thực hiện trên thực tế những lời di huấn quý báu của Lênin đối với chúng ta về vấn đề thuộc địa cũng như các vấn đề khác”[3].

Không chỉ ngưỡng mộ, kính yêu V.I. Lênin, Hồ Chí Minh còn kiên quyết bảo vệ và phát triển những luận điểm của V.I. Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, đồng thời đặt nền móng cho tình hữu nghị giữa nhân dân Nga và nhân dân các dân tộc khác đã từng có những đại diện đến thực tế ở nước Nga. Dù thời gian không dài, song những kiến thức trong những năm tháng ở nước Nga đã giúp Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc hơn về V.I. Lênin và học thuyết cách mạng của người, về cách mạng tháng Mười và những bài học kinh nghiệm quý báu của nhà nước Nga Xôviết, để từ đó hoạch định một lộ trình cho công cuộc giải phóng dân tộc Việt Nam.

Sau đó, dưới ngọn cờ độc lập, tự do của Hồ Chí Minh và Đảng ta, với đường lối chính trị đúng đắn của Đảng, cách mạng tháng Tám 1945 đã thành công. Nhà nước Việt Nam DCCH ra đời, một nhà nước kiểu mới được tổ chức trên cơ sở chọn lọc những yếu tố tích cực của mô hình tổ chức nhà nước Xô viết và các nhà nước khác, có những sáng tạo phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam, đã đồng hành cùng nhân dân vững vàng bước vào cuộc trường chinh chống thực dân Pháp xâm lược, và chống đế quốc Mỹ xâm lược.

Giữa những năm tháng khó khăn, ác liệt đó, dẫn những lời căn dặn của V.I. Lênin như: “Lênin dạy chúng ta đoàn kết toàn dân và đoàn kết giai cấp để chiến thắng kẻ thù”, “Lênin dạy chúng ta giản đơn và khiêm tốn, trong sạch và chính trực”, “Lênin dạy chúng ta không sợ gian nan, cực khổ, và tin chắc vào lực lượng quần chúng, vào tương lai của cách mạng” và “dưới ngọn cờ vẻ vang của chủ nghĩa Mác-Lênin, đi theo con đường mà cách mạng tháng Mười đã vạch ra, với lòng tin cậy hoàn toàn ở quần chúng và niềm tin tưởng tuyệt đối vào thắng lợi, chúng ta dũng cảm và kiên quyết tiến tới tương lai sung sướng và rực rỡ, tiến tới hữu nghị và hoà bình lâu dài, tiến tới xã hội xã hội chủ nghĩa”[4]. Tiếp tục đi theo con đường đã lựa chọn, tiếp tục giữ vững lòng tin son sắt vào thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp chính nghĩa, vào khát vọng độc lập, hoà bình, thống nhất và CNXH, nhớ lời dạy của V.I. Lênin, vận dụng những lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, “nhưng vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tế Việt Nam ngày nay”[5], và nhờ vũ khí không gì thay thế được là chủ nghĩa Mác-Lênin, và tư tưởng Hồ Chí Minh, trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và trong hai cuộc trường chinh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, nhân dân ta đã giành được thắng lợi trọn vẹn. Một đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, đang ngày một hồi sinh và phát triển. Và cũng nhờ kiên trì và đứng vững trên lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, học tập và làm theo tấm gương đạo đức của hai vị lãnh tụ vĩ đại, Ðảng ta đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành sự nghiệp Đổi mới, đưa nước ta ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chủ động và vững vàng hội nhập quốc tế.

3. Học tập và làm theo lời căn dặn của V.I.Lênin và Hồ Chí Minh

Học tập và noi theo tấm gương của Lênin, “người đã thực hiện và phát triển chủ nghĩa Mác-Ăngghen. Là người cha của cách mạng vô sản và cách mạng dân tộc giải phóng. Là người thầy đã đào tạo ra những chiến sĩ cách mạng khắp thế giới, chẳng những bằng lý luận cách mạng khoa học nhất, mà còn bằng đạo đức cách mạng cao cả nhất”[6], người mà Đại Văn hào Nga Maxim Gorky từng viết: "Giống như cái kim địa bàn, bao giờ cũng chỉ về lợi ích giai cấp của nhân dân lao động...Điều đặc biệt vĩ đại ở Lênin chính là lòng căm thù quyết liệt, không bao giờ tắt trước sự bất hạnh của mọi người, niềm tin chói lọi của đồng chí rằng, sự bất hạnh không phải là nền tảng không thể tiêu diệt được của cuộc đời, trái lại nó là điều xấu xa, nhơ nhuốc mà mọi người có thể và cần phải quét sạch đi"; và Chủ tịch Hồ Chí Minh – người mà “lần đầu tiên, thế giới được thấy vị Chủ tịch của một Đảng cộng sản kết hợp chặt chẽ văn học với chính trị, kết hợp những bài thơ với những con số”[7] và “giữa lúc vàng thau lẫn lộn, đồng chí Hồ Chí Minh trở thành trung tâm và tượng trưng cho cuộc xung đột lớn lao đang diễn ra giữa cái cũ và cái mới, giữa chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa xã hội? Sở dĩ bản anh hùng ca Việt Nam thu hút được lòng yêu mến của hàng trăm triệu người trên thế giới, chính là vì nó được tiêu biểu bởi nhân vật phi thường đó", mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng hãy nỗ lực phấn đấu và rèn luyện mình, “không quản thời gian và sức lực chăm lo” cho độc lập, tự do của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân.

Từ cuộc đời vĩ đại của hai vĩ lãnh tụ: V.I.Lênin và Hồ Chí Minh, thiết thực Kỷ niệm 141 năm ngày sinh của V.I Lênin (22/4/1870-22/4/2011) và 121 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2011), để mỗi cán bộ, đảng viên “thực sự xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”, nhất định phải làm thực hiện nghiêm túc những điều này:

- Cán bộ, đảng viên là những người không chỉ giác ngộ lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, trung thành vô hạn với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, suốt đời phấn đấu hy sinh cho sự nghiệp của giai cấp vô sản, vì hạnh phúc của nhân dân lao động, mà còn phải luôn luôn rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất, đạo đức cách mạng, và phải luôn “làm gương cho quần chúng lao động thấy một mẫu mực về lòng trung thành đối với lợi ích của những người lao động” (lời của V.I.Lênin), và “vị công vong tư. Không hiếu danh, không kiêu ngạo. Nói thì phải làm. Giữ chủ nghiã cho vững. Hy sinh. Ít lòng ham muốn về vật chất” (lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh) để hết lòng, hết sức phục vụ giai cấp vô sản, phục vụ nhân dân lao động.

- Cán bộ, đảng viên phải là những người có ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm minh và chặt chẽ, vì “tính tổ chức là sự thống nhất của hành động thực tiễn”; phải thực hiện đoàn kết nhất trí trong Đảng, phải quan hệ mật thiết với quần chúng và thường xuyên thực hành tự phe bình và phê bình trên cơ sở ‘có tình thương yêu đồng chí lẫn nhau”. Đó cũng là những người luôn chăm lo đến lợi ích của quần chúng, phát huy năng lực và trí tuệ của họ trong sự nghiệp cách mạng, vì chỉ có “tắm mình trong phong trào quần chúng và sử dụng vũ khí tự phê bình và phê bình người cán bộ, đảng viên mới trưởng thành, được tôi luyện và có những phẩm chất cao quý tốt đẹp”.

- Đặc biệt, cán bộ, đảng viên phải là những “công bộc” của dân, có năng lực về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và quản lý; có trình độ nhận thức lý luận và vận dụng lý luận vào thực tiễn công tác, mà “việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm; việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh”, v.v..để luôn xứng đáng với sự tin yêu và quý trọng của nhân dân ./.

Ths. Trần Hà Uyên

Nxb. Chính trị Quốc gia



[1] Hồ Chí Minh, Về Lênin và cách mạng tháng Mười, Nxb. Sự Thật, H, 1985, tr.154

[2] Hồ Chí Minh, Về Lênin và cách mạng tháng Mười, Sđd, tr.19

[3] Hồ Chí Minh, Về Lênin và cách mạng tháng Mười, Sđd, tr.43

[4] Hồ Chí Minh, Về Lênin và cách mạng tháng Mười, Sđd, tr.122,

[5] Hồ Chí Minh, Về Lênin và cách mạng tháng Mười, Sđd, tr.222

[6] Hồ Chí Minh, báo Nhân Dân, số 42, ngày 24/1/1952

[7] Hội thảo quốc tế về chủ tịch Hồ Chí Minh, Sđd, tr.27

http://tuyengiao.vn/dien-dan/hoc-tap-va-noi-theo-tam-guong-cua-v-i-lenin-va-chu-tich-ho-chi-minh-vi-dai-31124

Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2020

NHẬN DIỆN ÂM MƯU CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC CỦA CÁI GỌI LÀ “CÂU LẠC BỘ LÊ HIẾU ĐẰNG” VÀ MỘT SỐ TRANG MẠNG XÃ HỘI PHẢN ĐỘNG Ở HẢI NGOẠI

 


                                                            Cường Quốc

Những ngày qua, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử vụ án hình sự đặc biệt nghiêm trọng, giết người, chống người thi hành công vụ xảy ra tại xã Đồng Tâm (huyện Mỹ Đức, Hà Nội), trên mạng hải ngoại lan truyền bài viết của cái gọi là “câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng” (hội nhóm tự phát với sự tham gia của một số cá nhân bất mãn, chống phá Đảng, Nhà nước). Bài viết tiêu đề “Chính quyền từ sai lầm đến tội ác”, đưa ra 10 điểm, vu cáo chính quyền sai lầm về chính sách ruộng đất và quản lý đất đai; sai lầm về việc cố tình chiếm 59ha đất đồng Sênh của dân Đồng Tâm; sai lầm về công tác dân vận và thực thi pháp luật; sai lầm bịa đặt các kịch bản; quy kết thành “tội ác ép cung nhận tội trên tivi”; “tội ác ngăn cản sự cứu giúp nạn nhân và trợ giúp pháp lý”.

Bài viết dùng những câu từ xảo trá, bịp bợm như: “Nay nếu các nhà lãnh đạo cũng dũng cảm nhìn thẳng vào bản chất của vụ án Đồng Tâm để ứng xử như vậy thì cứu vãn được phần nào lòng tin của dân để cùng đoàn kết vì những mục tiêu lớn lao, cấp bách của đất nước. Còn nếu như Đảng cứ tiếp tục dùng cường quyền để thắng dân bằng mọi giá thì sẽ gây thêm tội ác, càng thêm nỗi đau đớn, hận thù trong lòng dân với Đảng mà thôi”.

Cùng với đó, một số trang mạng này còn lan truyền “Tuyên bố lên án tội ác Đồng Tâm” vốn được tung lên từ hồi tháng 2/2020, nay xới lại. Bản “tuyên bố” không nói của tổ chức nào nhưng liệt kê danh sách “ký tên” đến thời điểm này gồm 16 tổ chức (thực chất là các hội nhóm tự phát) và 440 cá nhân, cả trong và ngoài nước. Nếu nhìn vào danh sách, dễ dàng nhận thấy những hội nhóm “nhẵn mặt” về trò đội lốt dân chủ, nhân quyền để chống phá đất nước lâu nay. Thực chất, những người được nói là “ký tên” vào bản tuyên bố kia đều là giả dối. Xem thế đủ hiểu thủ thuật của những “ngọn cờ chính trị” này xảo trá đến độ nào. Xem mặt bắt hình dong, thật nực cười khi những đối tượng rắp tâm làm tổn hại đất nước, gây hậu hoạ cho dân lại giở giọng “dạy đời”, đưa ra những phán xét, những yêu cầu vốn là phẩm giá, lương tri con người.

Sau khi xảy ra vụ giết người, chống người thi hành công vụ và gây rối trật tự công cộng tại Đồng Tâm, trên mạng internet thông tin nhiễu loạn, trong đó rất nhiều thông tin giả mạo được tung ra nhằm gây tâm lý hoang mang, bất ổn trong xã hội. Kẻ xấu lợi dụng, nhắm vào chỉ trích, miệt thị chính quyền, đả phá chế độ. Xuất hiện tràn lan những bài viết, bình luận rất lệch lạc, không phân biệt đúng sai, phải trái hoặc cố tình đánh lận, tạo ra luồng thông tin hỗn độn đẩy trạng thái người xem vào rối ren, hoang mang rồi bức xúc, phẫn nộ, mặc sức chửi bới, miệt thị…

Trong khi đó, các trang mạng thù địch ở hải ngoại đưa ra nhiều bài viết cổ suý hành động tội ác của Lê Đình Kình và nhóm đồng phạm, thậm chí còn tung hình ảnh với lời lẽ coi đối tượng phạm tội như... anh hùng! Từ đó phê phán, miệt thị chính quyền, phỉ báng chế độ, xuyên tạc Nhà nước “cướp đất của dân”, tấn công, trấn áp dân Đồng Tâm!

Tất cả những lời nói, bài viết, hành động trên chúng là hoàn toàn xuyên tạc và bịa đặt, gây nhiễu dư luận, tạo cớ để các tổ chức hải ngoại nhân danh dân chủ, nhân quyền kiếm cớ can thiệp. Mọi người dân Việt Nam yêu nước cần phải nhận diện, đấu tranh để kiên quyết bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân. Và sớm muộn gì, những thông tin bịa đặt đó cũng bị vùi dập, những kẻ chuyên trị đi kích động cũng sẽ sớm phải gánh chị hậu quả và sự trừng trị nghiêm minh của pháp luật.

 

 

 

 

 

 

NÊU CAO CẢNH GIÁC ĐẤU TRANH BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CÔNG TÁC CÁN BỘ


 

Trọng Cao

 

Liên quan đến việc xử lý cán bộ thời gian qua, đặc biệt là cán bộ cấp cao, có thể thấy Đảng, Nhà nước đã thể hiện sự kiên quyết, không có “vùng cấm”. Gần đây nhất, chiều 28/8, ông Nguyễn Đức Chung, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã bị cơ quan an ninh điều tra Bộ Công an khởi tố, bắt tạm giam 4 tháng về hành vi chiếm đoạt tài liệu bí mật nhà nước. Đây là việc làm đúng quy định pháp luật, góp phần nâng cao uy tín của Đảng, Nhà nước, làm trong sạch đội ngũ cán bộ của Đảng, Nhà nước ta. Tuy nhiên, các đối tượng chống đối, cơ hội chính trị trong và ngoài nước lại lợi dụng sự việc này để xuyên tạc, hướng lái thông tin nhằm mục đích gây phương hại đến lợi ích của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Cụ thể, trên các trang mạng xã hội đang lan truyền bài viết với tiêu đề “Sự phá sản của các bí thư thành uỷ”. Trong bài viết này, các đối tượng điểm danh lại việc xử lý kỷ luật và xử lý hình sự đối với ông Đinh La Thăng (nguyên Bí thư Thành uỷ Hồ Chí Minh), xử lý kỷ luật ông Nguyễn Xuân Anh (nguyên Bí thư Thành uỷ Đà Nẵng) và ông Hoàng Trung Hải (nguyên Bí thư Thành uỷ Hà Nội), từ đó đưa ra những nhận định, đánh giá mang tính chất xuyên tạc, sai lệch bản chất vụ việc, gây ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín của Đảng, Nhà nước.

Về việc các đồng chí nguyên là Bí thư Thành uỷ Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Hà Nội bị xử lý kỷ luật, trong đó ông Đinh La Thăng đã bị kết án hình sự do các sai phạm nghiêm trọng mà mình gây ra, có thể nói đây là tổn thất trong công tác cán bộ của Đảng, Nhà nước. Cán bộ, đảng viên, đặc biệt là những cán bộ cấp cao để xảy ra sai phạm đã gây ra những thiệt hại lớn về vật chất cho Nhà nước, cho nhân dân; ảnh hưởng đến uy tín, hình ảnh của Đảng, Nhà nước; tác động đến niềm tin của quần chúng. Với tinh thần đấu tranh làm trong sạch nội bộ, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta thời gian qua đã có những thành quả đáng ghi nhận. “Củi tươi, củi khô” đã được xử lý, không còn vùng cấm trong công tác chống tham nhũng.

Tuy nhiên, với âm mưu chống phá quyết liệt, các đối tượng thù địch, cơ hội chính trị liên tục lợi dụng thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng của chúng ta để xuyên tạc, hướng lái thông tin. Đối với việc nguyên Bí thư Thành uỷ tại ba thành phố lớn của Việt Nam gồm Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và Đà Nẵng bị xử lý, các đối tượng đưa ra luận điệu rằng: “đây là sự thất bại nặng nề của công tác nhân sự mà Đảng Cộng sản lãnh đạo”. Đồng thời, đưa ra một loạt thông tin mang tính chất đả phá Đảng, Nhà nước như: công tác nhân sự của Đảng đầy lỗ hổng; Đảng lựa chọn cán bộ không theo một quy chuẩn nào; các cán bộ lãnh đạo ở Việt Nam chỉ được cất nhắc vì có “lòng trung thành” với Đảng chứ không hề có năng lực lãnh đạo…

Trên cơ sở xuyên tạc thông tin, các đối tượng này tiếp tục quy chụp nguyên nhân việc cán bộ sai phạm là do Đảng Cộng sản thiếu năng lực, không đảm bảo dân chủ khi làm công tác cán bộ. Các đối tượng rêu rao rằng công tác cán bộ không xuất phát từ lợi ích quốc gia, dân tộc mà chỉ phục vụ các “phe cánh chính trị”; việc quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ không dựa trên năng lực của từng người mà căn cứ trên sự thoả thuận của các “nhóm lợi ích” trong Đảng. Cuối cùng, các đối tượng cũng không quên “cài cắm” thông tin đòi thay đổi chế độ chính trị, yêu cầu xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Về mặt quy định, Đảng, Nhà nước ta đã xây dựng các bộ tiêu chuẩn đối với từng chức danh lãnh đạo, đưa ra một quy trình chặt chẽ để có thể đào tạo, bồi dưỡng, cất nhắc và bổ nhiệm cán bộ. Tuy nhiên, chúng ta phải thừa nhận rằng việc vận hành các quy trình liên quan đến công tác cán bộ ở một số nơi còn tồn tại sai phạm, có nơi sai phạm nghiêm trọng. Chính vì vậy, Đảng, Nhà nước đã phải đẩy mạnh công tác thanh – kiểm tra và xử lý sai phạm, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, làm trong sạch nội bộ. Chúng ta cũng không thể phủ nhận việc một số cán bộ khi có chức quyền trong tay đã nảy sinh những thói hư, tật xấu, bị lợi ích tiền tài, vật chất làm mờ mắt, dẫn đến việc để xảy ra các sai phạm trong khi thi hành công vụ. Nguyên nhân của các sai phạm trên xuất phát từ cá nhân của cán bộ.

Việc quy chụp, đổ lỗi cho Đảng, Nhà nước là thiếu khách quan, vô căn cứ. Để đánh giá bản chất sự việc, cần có cái nhìn công bằng và chuẩn xác; không thể dựa trên những vụ việc đơn lẻ để đánh đồng với bản chất của một chế độ.

Thẳng thắn đánh giá, đội ngũ cán bộ của chúng ta hiện nay có một bộ phận hoạt động theo kiểu cầm chừng, tạo ra gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Đồng thời, một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Điều này đã trở thành cái cớ để không ít đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị tiến hành xuyên tạc nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Những hạn chế, thiếu sót trong công tác cán bộ đã được Đảng ta thẳng thắn nhìn nhận. Cụ thể, tại Nghị quyết số 26-NQ/TW năm 2018 của Ban chấp hành Trung ương khoá XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ đã chỉ rõ những mặt hạn chế, bất cập trong công tác cán bộ và đưa ra giải pháp cụ thể trong thời gian tới. Ngoài ra, Đảng ta đã đưa ra nhiều Nghị quyết, chỉ thị liên quan để tăng cường quản lý công tác tác bộ.

Để củng cố uy tín, sức mạnh của Đảng, Nhà nước, một mặt chúng ta phải xây dựng, củng cố đội ngũ cán bộ có đủ năng lực, phẩm chất, đạo đức và uy tín để lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của đất nước. Mặt khác, chúng ta cũng cần chủ động nắm tình hình, kịp thời phát hiện những thông tin, luận điệu sai trái, xuyên tạc liên quan đến công tác cán bộ để kịp thời đấu tranh, phê phán.

 

“BẤT BẠO ĐỘNG” - MỘT PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 


                                                                                                                                                Trọng Cao

“Bất bạo động” là một phương thức hoạt động chống phá nguy hiểm nhưng lại thường được ngụy trang dưới danh nghĩa phản kháng “ôn hòa”, “dân sự”. Vì vậy, việc nhận diện đúng bản chất của phương thức “bất bạo động” không chỉ góp phần thống nhất nhận thức mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá âm mưu, thủ đoạn hoạt động của các thế lực thù địch, phản động, từ đó chủ động trong việc triển khai các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn.

 “Bất bạo động” được hình thành và phát triển mạnh mẽ trong những năm đầu của thế kỷ XX. Trên thế giới, Mahatma Gandhi được xem là người đầu tiên áp dụng phương thức đấu tranh này để giải phóng dân tộc Ấn Độ khỏi sự đô hộ của Anh. Đấu tranh “bất bạo động” cũng được biết đến từ cuộc nổi dậy của sắc dân da đen ở Mỹ đòi quyền bình đẳng, chống lại nạn kỳ thị, phân biệt chủng tộc, được lãnh đạo bởi mục sư Martin Luther King.

Ở nước ta, thuật ngữ “bất bạo động” được xuất hiện vào khoảng thập niên đầu của thế kỷ XX. Những tư tưởng ban đầu của phương pháp đấu tranh “bất bạo động” đã được nhà yêu nước Phan Châu Trinh tiến hành để đấu tranh chống lại thực dân Pháp xâm lược với phong trào Duy Tân. Phương thức hoạt động của phong trào là “bất bạo động”, công khai hoạt động nhằm khai hóa dân tộc, cải cách trên mọi lĩnh vực, khuyến khích giáo dục bỏ lối học từ chương, phát động phong trào học Quốc ngữ, mở mang công thương nghiệp, chấn hưng công nghiệp, bỏ mê tín dị đoan… Khẩu hiệu của phong trào lúc bấy giờ là “chấn dân khí, khai dân trí, hậu dân sinh”.

Tư tưởng ban đầu là như vậy, tuy nhiên gần đây, đặc biệt là sau khi hàng loạt các cuộc “cách mạng sắc màu” nổ ra tại một số nước, với kịch bản được các thế lực thù địch áp dụng nhằm hậu thuẫn cho các lực lượng đối lập lật đổ chính quyền đương nhiệm tại các quốc gia này thì phương thức “bất bạo động” đã và đang được các thế lực thù địch, phản động triệt để sử dụng để chống phá Việt Nam với mục đích cuối cùng là lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ XHCN ở nước ta. Có thể hiểu, “bất bạo động” là thuật ngữ dùng để chỉ một phương thức hoạt động chống đối của các thế lực thù địch, phản động không sử dụng sung, đạn mà sử dụng các thủ đoạn “bất hợp tác”, “bất phục tùng”, “bất tuân dân sự” kết hợp với sử dụng áp lực của quần chúng để gây áp lực với Đảng, Chính phủ, từ đó làm suy yếu, tiến tới lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng cầm quyền và chính phủ, nhà nước đương nhiệm ở các quốc gia.

Có thể nhận diện phương thức “bất bạo động” chống phá cách mạng Việt Nam với những đặc trưng cơ bản sau:

Thứ nhất, “bất bạo động” là phương thức hoạt động không sử dụng súng, đạn mà sử dụng áp lực của quần chúng, từng bước làm suy yếu, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng cầm quyền và chính phủ, nhà nước đương nhiệm. Khác với phương thức bạo lực, vũ trang, “bất bạo động” là phương thức hoạt động chống đối không sử dụng vũ trang mà chủ yếu tập trung vào việc sử dụng sức mạnh của quần chúng để chống đối chính quyền, trên cơ sở hô hào, kích động quần chúng tẩy chay, bất hợp tác với chính quyền; kích động công nhân đình công, bãi công; lôi kéo, lừa bịp, kích động các giai tầng xã hội xuống đường tuần hành, biểu tình, gây áp lực với Đảng, Nhà nước, đòi thực hiện các yêu sách như: đòi Đảng cầm quyền từ bỏ vai trò lãnh đạo; đòi cải cách chính trị; phi chính trị hóa lực lượng vũ trang… từ đó làm suy yếu, tiến tới vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng cầm quyền, chính quyền đương nhiệm, lập nên chính quyền mới thân với các thế lực thù địch nước ngoài.

Thứ hai, tẩy chay, bất hợp tác với chính quyền, đưa chính quyền vào tình thế “tiến thoái lưỡng nan” là những nội dung cơ bản của phương thức “bất bạo động”. Thực tiễn các cuộc “cách mạng màu” diễn ra tại một số nước trên thế giới thời gian qua cho thấy, những nội dung chính được các lực lượng đối lập, chống đối sử dụng trong đấu tranh “bất bạo động” như sau: Một là, bất tuân dân sự. Tức là người tham gia phương thức này có thể từ chối thực hiện những việc mà họ vẫn thường làm, hoặc bắt buộc phải làm theo yêu cầu của luật pháp (tẩy chay bầu cử, biểu tình, đình công, bãi thị, bãi khóa…). Hai là, hành động một cách có chủ đích. Tức là người tham gia có thể thực hiện những việc mà họ thường không làm hoặc không được trông đợi sẽ làm, hoặc bị cấm thực hiện (tập hợp lực lượng, rải truyền đơn, kích động quần chúng xuống đường, chiếm trụ sở, bắt giữ cán bộ; tạo sự kiện, lấy cớ cho các tổ chức quốc tế, các nước phương Tây can thiệp...). Ba là, thuyết phục và thương lượng. Đưa ra các điều kiện phù hợp với tình hình, từ thấp đến cao, đẩy chính quyền vào thế buộc phải dùng vũ lực, gây đổ máu, tạo cớ bên ngoài can thiệp buộc chính quyền phải nhượng bộ.

Nói cách khác, tẩy chay, bất hợp tác với chính quyền được thực hiện trong phương thức “bất bạo động” chủ yếu là tẩy chay, bất hợp tác về kinh tế (không tuân theo các quy định, luật lệ, pháp luật của nhà nước về kinh tế, công nhân đình công, doanh nghiệp dừng sản xuất, bãi thị đồng loạt, rút tiền khỏi ngân hàng, từ chối trả các lệ phí, từ chối nhận tiền của nhà nước…); bất hợp tác về chính trị (công khai từ chối ủng hộ nhà nước; viết và phát biểu kêu gọi chống đối; tẩy chay bầu cử; ngồi ăn vạ; bất hợp tác về tư pháp, phản ứng; cản trở các hệ thống thông tin và tin tức…); bất hợp tác xã hội (tẩy chay giao tiếp; sinh viên biểu tình, bất phục tùng dân sự, rút lui khỏi các định chế xã hội; ở nhà, tạo khu an toàn, tiêu thổ tập thể...)…

Thứ ba, đình công, biểu tình, tuần hành chống đối chính quyền là hình thức chủ yếu, đặc trưng chính của “bất bạo động”. Mục tiêu chính của các thế lực thù địch, phản động trong thực hiện phương thức “bất bạo động” là bằng những “chiến thuật” hòa bình trong đấu tranh chính trị để lật đổ chính quyền. Do đó, đình công, biểu tình, tuần hành là hình thức được chúng xác định mang lại hiệu quả cao nhất, ít thiệt hại nhất. Đồng thời, sử dụng các hình thức này, trong trường hợp chính quyền sử dụng vũ lực để đàn áp thì đó sẽ là điều kiện thuận lợi, là “cái cớ” để các thế lực thù địch bên ngoài lợi dụng can thiệp, gây sức ép, thậm chí sử dụng sức mạnh quân sự để tấn công.

Thứ tư, “bất bạo động” đến một mức độ nhất định có thể chuyển thành “bạo động” khi có điều kiện, thời cơ. Về hình thức, “bất bạo động” được thể hiện thông qua các biện pháp “ôn hòa”, “dân sự”. Tuy nhiên, có thể thấy rằng, không phải bất cứ lúc nào, trong trường hợp nào “bất bạo động” cũng đều là ôn hòa, phi bạo lực. Khi “bất bạo động” đến một mức độ nhất định có thể chuyển thành “bạo động”. Nói cách khác, ranh giới giữa “bất bạo động” và “bạo động” là khá mong manh, có thể chuyển hóa cho nhau rất nhanh chóng.

Ở Việt Nam, thời gian gần đây được sự hậu thuẫn của các thế lực thù địch nước ngoài, các tổ chức phản động lưu vong, số đối tượng chống đối cực đoan trong nước đang ra sức hô hào, tuyên truyền rộng rãi về phương thức “bất bạo động” trên các trang mạng xã hội; mở các lớp huấn luyện, đào tạo về “bất bạo động” cho số đối tượng chống đối, phản động; triệt để lợi dụng các vụ việc, sự kiện chính trị, xã hội phức tạp, nhạy cảm để lôi kéo, kích động, thu hút quần chúng tham gia vào các hoạt động trái pháp luật…Các cuộc biểu tình phản đối Công ty Formosa Hà Tĩnh gây ô nhiễm môi trường xảy ra tại các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình năm 2016, 2017; các cuộc biểu tình phản đối Luật An ninh mạng và dự thảo Luật Đặc khu tại Bình Thuận, Bình Dương, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh… năm 2018… là những vụ việc phức tạp về an ninh, trật tự mang bóng dáng của “bất bạo động”.

Có thể thấy rằng, “bất bạo động” là một phương thức hoạt động với những thủ đoạn “mềm dẻo” không bộc lộ trực tiếp và lộ liễu tính thách thức về chính trị và sự đối kháng với chính quyền. Điều này không chỉ giúp các đối tượng tránh được sự trấn áp của chính quyền mà còn gây ra nhiều khó khăn đối với công tác phát hiện, đấu tranh của lực lượng chức năng. Nguy hiểm hơn nữa là nó có khả năng gây ra mơ hồ, ngộ nhận trong một bộ phận quần chúng và sự “ủng hộ” trong dư luận quốc tế và trong nước, dễ lừa bịp, lôi kéo sự tham gia của các tầng lớp xã hội, đặc biệt là đối với thanh niên, sinh viên, trí thức, văn nghệ sĩ, thậm chí kể cả cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị. Vì vậy, cần phải nhận diện đúng bản chất của “bất bạo động” để có giải pháp đấu tranh là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng của mỗi tổ chức, cá nhân ở nước ta hiện nay.

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...