Thứ Năm, 12 tháng 12, 2019

TĂNG CƯỜNG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRONG TÌNH HÌNH MỚI



(TG)- Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam thực chất là bảo vệ Đảng, bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối lãnh đạo của Đảng, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Lấy lại và củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, với nền tảng tư tưởng của Đảng, của giai cấp công nhân Việt Nam không chỉ bằng lý luận, lời nói hay nghị quyết mà phải hành động thực tiễn, “nói đi đôi với làm”, xây dựng, chỉnh đốn Đảng thành công để Đảng ta thực sự là một chính đảng, khoa học, cách mạng và nhân văn, của giai cấp công nhân Việt Nam, của dân tộc Việt Nam.
Nhận diện âm mưu tuyên truyền của các thế lực thù địch chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Thời gian gần đây, nhất là khi chúng ta chuẩn bị Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng; các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã đẩy mạnh tuyên truyền chống phá cách mạng Việt Nam, bằng mọi âm mưu, thủ đoạn chúng tăng cường xuất bản, tán phát các loại ấn phẩm, tài liệu như: Các báo cáo, nghị quyết, dự luật của nghị viện, quốc hội một số nước phương Tây; các văn bản pháp lý của các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ như: Tổ chức Ân xá Quốc tế (AI), Tổ chức theo dõi nhân quyền quốc tế (HRW)…; các ấn phẩm xuất bản, như: sách báo, tạp chí, tập san, tờ rơi… của các cá nhân, tổ chức phản động lưu vong, số đối tượng cơ hội chính trị trong và ngoài nước; các trang web, các chương trình phát thanh, phát hình bằng tiếng Việt, …
Trong đó, họ đã lập hàng nghìn trang web, blog, hàng trăm loại báo chí, nhà xuất bản và các đài  phát thanh truyền hình có chương trình tiếng Việt, tổ chức nhiều cuộc hội thảo, tọa đàm làm việc trực tiếp với các tổ chức, cá nhân phản động trong và ngoài nước… để xuyên tạc nền tảng tư tưởng lý luận của Đảng ta. Qua đó, chúng phủ nhận đường lối lãnh đạo của Đảng, phủ nhận những thành tựu đã đạt được trong các cuộc chiến tranh đã qua và trong công cuộc đổi mới, bóp méo thực tế những hạn chế, yếu kém trong quản lý xã hội, những sơ hở thiếu sót trong thực hiện chính sách, pháp luật hoặc những vụ việc phức tạp nảy sinh trong dân tộc, tôn giáo nhằm kích động, lôi kéo các tầng lớp nhân dân vào các hoạt động biểu tình, gây mất an ninh, chính trị trật tự an toàn xã hội; nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xuyên tạc đường lối lãnh đạo của Đảng, hiến pháp, pháp luật của Nhà nước.
Tư duy mới về bảo vệ nền tảng tư tưởng, đường lối lãnh đạo của Ðảng
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn nhấn mạnh vị trí, vai trò của công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, coi đó là một bộ phận quan trọng trong công tác tư tưởng, lý luận của Đảng nhằm bảo vệ đường lối, Cương lĩnh lãnh đạo của Đảng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Ngày 22-10-2018, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị, về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Nghị quyết nêu rõ: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là bảo vệ Ðảng, bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối lãnh đạo của Ðảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”. Ðó là nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân, trong đó các cơ quan báo chí tuyên truyền các cấp là nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị - xã hội các cấp; của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, của cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu.
Nghị quyết nêu bảy nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu. Trọng tâm là tiếp tục làm cho toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội, xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; đổi mới nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục đối với các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, nhằm nâng cao sức đề kháng, khả năng chủ động đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch.
Để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh lãnh đạo của Đảng, những năm qua, các cấp uỷ, tổ chức đảng luôn coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện hiệu quả nhiệm vụ đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, làm cho cán bộ, đảng viên, nhân dân luôn kiên định nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Hiện nay, trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, nhiệm vụ đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch càng phải được coi trọng, lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, hiệu quả. Những năm qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo công tác phòng ngừa, đấu tranh trên lĩnh vực này, như nghị quyết các kỳ Đại hội của Đảng, trong đó, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Tích cực đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; chủ động phòng ngừa, đấu tranh phê phán, ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”[1]. Đảng ta yêu cầu“Tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch”[2]. Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII), Đảng ta chỉ rõ: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” nhấn mạnh: Chủ động chuẩn bị các phương án, biện pháp cụ thể, sát với tình hình; xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc nền tảng tư tưởng, cương lĩnh, đường lối lãnh đạo của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì thế, để bảo vệ nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng, việc tăng cường đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái của các thế lực thù đich, cơ hội chính trị chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng là đòi hỏi khách quan, nhiệm vụ cấp bách trước mắt, đồng thời cũng là nhiệm vụ thường xuyên, cơ bản, lâu dài.
Thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước sẽ gia tăng các hoạt động thực hiện “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi và xảo quyệt hơn, nhất là hoạt động tuyên truyền phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, hiến pháp, pháp luật của Nhà nước trên không gian mạng và các trang mạng Internet, mạng xã hội. Các thế lực thù địch sẽ triệt để lợi dụng những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, nhất là những khó khăn, hạn chế, yếu kém của ta trong phát triển kinh tế xã hội, tệ nạn tham ô, tham nhũng để tuyên truyền xuyên tạc chống phá Đảng, Nhà nước; lôi kéo tập hợp lực lượng và kích động tư tưởng chống đối; chia rẽ nội bộ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa’ trong nội bộ, gây mất ổn định chính trị, an ninh, trật tự an toàn xã hội. Công tác đảm bảo quốc phòng, an ninh trên lĩnh vực  chính trị - tư tưởng, văn hoá sẽ gặp nhiều thách thức mới.
Giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Trước hết, thường xuyên bám sát định hướng chỉ đạo, hướng dẫn trong các chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị (khoá XII) đối với công tác đấu tranh phòng chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận; gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, để xây dựng các chương trình, kế hoạch, giải pháp công tác cụ thể; đưa công tác phòng, chống “diễn biến hòa bình”, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội đi vào nền nếp đạt hiệu quả cao.
Hai là, chủ động nắm tình hình, phát hiện sớm hoạt động chống phá của đối tượng để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Công tác nắm tình hình cần tập trung vào những vấn đề cụ thể như: Phát hiện các trang web, blog, “diễn đàn” thường xuyên đăng tải những nội dung xấu, thù địch; phát hiện âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động tuyên truyền chống phá của chúng trên không gian mạng, kịp thời nhận diện những phương thức, thủ đoạn mới; phát hiện cá nhân, tổ chức sở hữu, quản lý, điều hành các trang mạng xã hội thường xuyên đăng tải các bài viết, hình ảnh, video tuyên truyền phá chống phá cách mạng Việt Nam; phát hiện những bất cập, hạn chế của các biện pháp, công tác nghiệp vụ đã và đang được triển khai...
Để nắm tình hình có hiệu quả, đòi hỏi các cơ quan báo chí cách mạng cần sử dụng tổng hợp các lực lượng, phương tiện, biện pháp; thường xuyên rà quét, lên danh sách các trang web, blog, diễn đàn có nội dung phức tạp, các đối tượng viết bài trên những trang mạng này (có thể là tên thật hoặc nickname, bút danh); khai thác thông tin trên các trang web, blog để xác định được đối tượng sở hữu, quản lý bài viết và đề xuất biện pháp kịp thời xử lý.
Ba là, phát huy tốt vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu, Ban Chỉ đạo 35, cơ quan chức năng các cấp, nhất là vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Tập trung lãnh đạo kiện toàn, xây dựng phát triển lực lượng đấu tranh theo hướng chủ động tạo thế liên hoàn, vững chắc, có bộ phận nòng cốt, chuyên sâu, tập hợp lực lượng rộng rãi; quản lý chặt chẽ tình hình chính trị nội bộ, nắm, dự báo, xử lý kịp thời những vấn đề tư tưởng nảy sinh. Trong tổ chức thực hiện, cần duy trì tốt các chuyên trang, chuyên mục chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở các cơ quan, đơn vị. Các cơ quan báo chí cần phát huy vai trò nòng cốt đấu tranh vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, phản động, góp phần định hướng dư luận xã hội.
Cùng với đó, cấp ủy, chính quyền các cấp cần tích cực thông tin và tăng cường đối thoại với nhân dân; chủ động, linh hoạt tham gia các vấn đề cụ thể của xã hội. Thường xuyên duy trì, thực hiện có hiệu quả việc phối hợp với các cơ quan chức năng; phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, tạo thế trận rộng khắp, chặt chẽ trong đấu tranh phản bác quan điểm, luận điệu sai trái thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Bốn là, thường xuyên tổ chức các cuộc tọa đàm, trao đổi, rút  kinh nghiệm giữa các cơ quan chức năng, lực lượng nòng cốt chuyên sâu trong đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trên internet, mạng xã hội. Với phương châm vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, cấp ủy, tổ chức đảng cơ quan, đơn vị cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo việc tổ chức các cuộc tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, hội nghị rút kinh nghiệm theo hướng thiết thực, hiệu quả. Lực lượng đấu tranh nòng cốt chuyên sâu phải thường xuyên được trau dồi kiến thức, nâng cao trình độ lý luận, chuyên môn, bồi dưỡng nghiệp vụ; được trang bị đầy đủ, vững chắc lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Các thông tin đấu tranh phải trung thực, khách quan, vì lợi ích lâu dài của dân tộc, của đất nước, mang tính đảng, tính khoa học cao. Cuộc đấu tranh này phải được triển khai sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân với nội dung phong phú, phù hợp với từng đối tượng. Đặc biệt, cần huy động được rộng rãi trí tuệ, tâm huyết của các nhân sĩ, trí thức và nhân dân tiến bộ trên thế giới tham gia công tác phòng ngừa, đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, thù địch với nước ta.
Năm là, tăng cường hoạt động quản lý, kiểm soát đối với các trang mạng xã hội và chủ động sử dụng các biện pháp kỹ thuật, ngăn chặn việc truy cập vào các trang mạng “độc hại” một cách có hiệu quả. Chủ động phối hợp với các nhà cung cấp dịch vụ, tính toán sử dụng các giải pháp về công nghệ để ngăn chặn một cách triệt để các tin tức xấu độc trên các trang mạng. Đặc biệt, phải chủ động sử dụng các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ để xâm nhập, chiếm quyền quản trị, điều hành các trang web, blog, diễn đàn mạng xã hội, sau đó xóa dữ liệu, vô hiệu hóa hoặc ngăn chặn việc truy cập vào các trang mạng có nội dung “độc hại” trong một thời gian nhất định. Kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm Cương lĩnh chính trị, Ðiều lệ Ðảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Ðảng. Siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong Ðảng. Các cấp ủy và tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn; nghiêm cấm để lộ bí mật của Ðảng, Nhà nước, lan truyền những thông tin sai lệch hoặc tán phát những đơn thư nặc danh, mạo danh, hoặc thư có danh nhưng có nội dung xấu, xuyên tạc, vu khống, kích động.
Kinh nghiệm cho thấy, đấu tranh, phản bác các quan điểm, luận điệu sai trái, ngăn chặn hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, chống phá đường lối lãnh đạo của Đảng, chính  sách, pháp luật của Nhà nước bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là cuộc chiến đầy khó khăn, thách thức. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và các cơ quan chức năng của Đảng, Nhà nước ta, với những thành tựu đã đạt được trong công cuộc đổi mới và trong phòng chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch.
Chúng ta tin tưởng rằng, cuộc đấu tranh, ngăn chặn, phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá nền tảng tư tưởng, đường lối lãnh đạo của Đảng, hiến pháp, pháp luật của Nhà nước sẽ được bảo vệ vững chắc. Đó là những nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân, trong đó lực lượng tuyên giáo các cấp là nòng cốt; là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị; của các bộ, ban, ngành và từng địa phương, cơ quan, đơn vị; của cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu./.

[1][2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia. H.  2016, tr. 186, 201


NHẬN THỨC ĐÚNG VỀ ĐƯỜNG LỐI XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN CỦA ĐẢNG TA



Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, quan điểm, đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân (QPTD) vững mạnh là nội dung được Đảng ta xác định có vị trí quan trọng hàng đầu.
Tuy cách thể hiện có khác nhau, nhưng qua từng thời kỳ cách mạng, Đảng ta luôn khẳng định, muốn hoàn thành thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, chúng ta phải phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân. Yếu tố cốt lõi để tạo nên sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc đó chính là nền QPTD vững mạnh.
Cơ sở để Đảng ta xác định và nhất quán thực hiện quan điểm, đường lối ấy chính là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kinh nghiệm thực tiễn từ lịch sử dựng nước, giữ nước mấy nghìn năm của dân tộc và tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa giữ nước của nhân loại vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam.
 Lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ ra rằng: “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự bảo vệ”. Xuất phát từ luận điểm ấy, ngay sau cách mạng Tháng Mười Nga thành công, để bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ chế độ V.I.Lê-nin đã yêu cầu: "phải có một thái độ nghiêm túc đối với vấn đề khả năng quốc phòng và đối với vấn đề chiến đấu của nhà nước"(1).
Theo tư tưởng, quan điểm của V.I. Lênin sức mạnh bảo vệ chính quyền, bảo vệ chế độ, bảo vệ đất nước là sức mạnh tổng hợp, trong đó vai trò của quần chúng nhân dân rất quan trọng. Trong các tác phẩm đề cập đến vấn đề này, V.I Lê nin đều thống nhất quan điểm: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhân dân là người làm nên lịch sử”.  Sức mạnh QPTD theo tư tưởng của V.V. Lênin không phải là chiến lược chung chung, trừu tượng mà bao hàm những thành tố rất cụ thể, sức mạnh quốc phòng là sức mạnh tổng hợp, sức mạnh toàn diện trong đó quân đội giữ vai trò nòng cốt. Nói về tăng cường sức mạnh của nền QPTD, VI.Lê nin chỉ rõ rằng phải xây dựng được quân đội mạnh làm nòng cốt. VI.Lê nin khẳng định: “Muốn bảo vệ chính quyền của công nông... chúng ta phải có Hồng quân mạnh mẽ... Có Hồng quân mạnh, chúng ta sẽ vô địch”...
Kế thừa và phát triển truyền thống mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, đồng thời vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hình thành nên tư tưởng quân sự. Chính bằng tư tưởng quân sự ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã dẫn đường, chỉ lối quân và dân ta đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.
Nội dung cốt lõi của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh chính là xây dựng nền QPTD vững mạnh. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn, do đó để bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng và duy trì, phát triển hoạt động của chính quyền chuyên chính vô sản, không có con đường nào khác là phải bằng sức mạnh tổng hợp của nền QPTD.
Ngay trong Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, tư tưởng ấy đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: " Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy". 
Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: chúng ta phải xây dựng nền QPTD, toàn diện. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nền QPTD phải là nền quốc phòng mang tính chất nhân dân, nền quốc phòng của dân, do dân xây dựng nên, nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của nhân dân, bảo vệ thành quả cách mạng.
Mặt khác theo tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh xây dựng nền QPTD phải gắn liền với thế trận chiến tranh nhân dân phải có lực lượng vũ trang với ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích) làm nòng cốt, có hậu phương vững mạnh. Cùng với đó Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng nền quốc phòng hiện đại, xây dựng nền QPTD phải gắn liền với xây dựng nền an ninh nhân dân .
Quán triệt và thực hiện quan điểm, chủ trương, nhiệm vụ xây dựng nền QPTD mà Đảng ta đã xác định những năm qua, chúng ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, toàn diện, thiết thực. Tiềm lực, sức mạnh quốc phòng, an ninh của đất nước được tăng cường, đáp ứng kịp thời yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Tuy nhiên, trên thực tế còn không ít những vấn đề đặt ra, đáng chú ý là bên cạnh sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, phản động, ngay trong nội bộ cũng có những quan điểm chưa đúng, những nhận thức lệch lạc về sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc; về đường lối xây dựng nền QPTD... Do nhận thức lệch lạc, chưa đầy đủ và hiểu chưa đúng nên quá trình thực hiện đường lối xây dựng nền QPTD còn nhiều tồn tại, hạn chế. Đáng chú ý là trong thực hiện chủ trương phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với xây dựng, củng cố quốc phòng – an ninh, nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương chỉ nhấn mạnh hiệu quả kinh tế mà xem nhẹ yếu tố quốc phòng – an ninh. Do quá trình triển khai cơ quan chức năng, chủ đầu tư và các tổ chức, cá nhân có liên quan không chú ý tới những tác động đến bảo đảm quốc phòng – an ninh và an toàn cộng đồng, nên không ít công trình, dự án phải đình chỉ. Đặc biệt, nhiều khu rừng, cánh rừng từng “che bộ đội”, “vây quân thù” trong kháng chiến, tạo vành đai xanh bảo vệ biên giới trong hòa bình, nay đang bị tàn phá không thương tiếc... 
Thực trạng ấy Đảng và Nhà nước ta đã thấy rõ, chỉ ra và có nhiều giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo đồng bộ, quyết liệt đấu tranh ngăn chặn, khắc phục.
Đặc biệt, sau khi thẳng thắn đánh giá thực trạng, phân tích cụ thể nguyên nhân, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, đã chỉ rõ những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Một trong những biểu hiện được Ban Chấp hành Trung ương chỉ ra là: “Phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang; đòi "phi chính trị hóa" quân đội và công an; xuyên tạc đường lối QPTD và an ninh nhân dân; chia rẽ quân đội với công an; chia rẽ nhân dân với quân đội và công an”.
Để đấu tranh phòng, chống có hiệu quả với biểu hiện ấy, Ban Chấp hành Trung ương xác định tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đồng bộ, toàn diện, có hiệu quả nhiều giải pháp. Một trong những giải pháp quan trọng, phải làm thường xuyên là tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, bồi dưỡng cho nhân dân, trước hết là cán bộ, đảng viên hiểu đúng, nhận thức đầy đủ về xây dựng nền QPTD.
Cùng với tuyên truyền làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn của đường lối, cần phân tích làm cho nhân dân hiểu rằng xây dựng nền QPTD vững mạnh là yêu cầu khách quan của sự nghiệp bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN chứ không phải do ý muốn chủ quan của cá nhân hay tổ chức nào. Đây là một chủ trương chiến lược của Đảng ta, đồng thời cũng là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Do đó, cần làm cho nhân dân, trước hết là cán bộ, đảng viên thấu suốt quan điểm, muốn hoàn thành thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, chúng ta phải biết phát huy sức mạnh tổng hợp và một trong những yếu tố tạo nên sức mạnh tổng hợp là phải xây dựng nền QPTD và an ninh nhân dân vững mạnh. Điều đó chỉ có được khi mọi công dân, mọi tổ chức, mọi lực lượng, mọi cấp, mọi ngành nhận thức đúng, ý thức đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm của mình đối với việc xây dựng nền QPTD, an ninh nhân dân. 
Để huy động được mọi nguồn lực, phát huy trách nhiệm của mọi người, mọi tổ chức, mọi lực lượng cùng tham gia xây dựng nền QPTD, chúng ta phải làm cho nhân dân hiểu rõ nền QPTD mà Đảng ta chủ trương xây dựng đó là nền quốc phòng mang tính chất “vì dân, do dân, của dân”, phát triển theo phương hướng toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường và ngày càng hiện đại, kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng – an ninh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, do nhân dân làm chủ, nhằm giữ vững hòa bình, ổn định của đất nước, sẵn sàng đánh bại mọi hành động xâm lược và bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Xây dựng nền QPTD gắn với xây dựng nền an ninh nhân dân vững mạnh là tạo ra sức mạnh để ngăn ngừa, đẩy lùi, đánh bại mọi âm mưu, hành động xâm hại, phá hoại công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Việc xây dựng nền QPTD, an ninh nhân dân của Việt Nam không nhằm mục đích nào khác là tự vệ chính đáng, là để chống lại thù trong, giặc ngoài, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chế độ XHCN và cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân. Đây chính là thể hiện sự khác biệt về bản chất trong xây dựng nền QPTD, an ninh nhân dân của Việt Nam cũng như các quốc gia có độc lập, chủ quyền đi theo con đường XHCN với các quốc gia khác.  
Sức mạnh của nền QPTD, an ninh nhân dân của Việt Nam là sức mạnh tổng hợp được tạo nên bằng nhiều yếu tố như: chính trị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng, khoa học, đối ngoại, quân sự, an ninh,... cả ở trong nước, ngoài nước, cả của dân tộc và của thời đại, trong đó những yếu tố bên trong bao giờ cũng giữ vai trò quyết định.
Chỉ có thông qua tuyên truyền, phổ biến, giáo dục làm cho nhân dân, trước hết là đội ngũ cán bộ, đảng viên hiểu đúng, nhận thức đầy đủ những vấn đề cơ bản đó, chúng ta mới góp phần xây dựng niềm tin, nâng cao trách nhiệm và ý chí, quyết tâm trong xây dựng nền QPTD, an ninh nhân dân. Đây cũng là biện pháp quan trọng để chúng ta phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; huy động mọi nguồn lực cho sự nghiệp xây dựng, củng cố nền QPTD gắn với nền an ninh nhân dân nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

HƯ CẤU HAY BÔI NHỌ ANH HÙNG DÂN TỘC



Thời gian qua, một số người đã tự cho mình “quyền năng hư cấu” trong sáng tác văn học, nghệ thuật, bịa đặt ra những chi tiết phi lý, bôi nhọ, xúc phạm các danh nhân, anh hùng dân tộc. Đây đích thực là hành động phi nghệ thuật, mượn danh nghệ thuật để tuyên truyền những giá trị phi nhân văn, phản động, xuyên tạc lịch sử cần lên án, đấu tranh loại bỏ.
Đó chính là việc một số văn nghệ sĩ hoặc là do hạn chế về kiến thức lịch sử, hoặc là do non kém về tay nghề đã có những sáng tác hoặc phát ngôn thể hiện thái độ “đạp đổ”, “hạ bệ”, bịa đặt, bôi đen các danh nhân lịch sử - văn hóa, anh hùng dân tộc. Họ đã mượn “tinh thần đổi mới” để biểu đạt những anh hùng dân tộc bằng một cách nhìn, cách tiếp cận theo hướng của con người tự nhiên, con người bản năng; đưa hình tượng nghệ thuật là những anh hùng, vĩ nhân về với đời thường, để họ “thật hơn”, có “chất người” hơn. Họ còn cho rằng: “không nên phong thánh cho con người, hãy trả con người về với đúng kích thước của nó”. Thậm chí, có người coi hư cấu các nhân vật anh hùng trong lịch sử là “quyền sáng tác của nhà văn”, sự đồng tình hay phản bác là quyền của bạn đọc - đó là “biểu hiện của cái nhìn dân chủ”(!)
Cái thứ được gọi là “biểu hiện của cái nhìn dân chủ”, hay chỉ là mượn dân chủ, lợi dụng văn học, nghệ thuật để bịa đặt, đưa ra những thông điệp mù mờ, bệnh hoạn để xuyên tạc những hình tượng đã “đóng đinh” trong lòng nhân dân ta, dân tộc ta; làm cho mọi người hoài nghi nhân tính, có cái nhìn méo mó, lệch lạc, biến dạng các giá trị lịch sử và nhân cách văn hóa của các anh hùng dân tộc trong đời sống tinh thần của nhân dân, gây tổn thương lương tri, đạo lý dân tộc. Đó thực sự là hành động phản bội lại lịch sử, bôi nhọ tổ tiên, phủ nhận giá trị lịch sử, văn hóa, phủ nhận truyền thống, đạo lý mà dân tộc ta đã xây dựng hàng nghìn năm.
Như chúng ta đã biết, văn học, nghệ thuật thuộc ý thức xã hội, phản ánh hiện thực bằng các hình tượng nghệ thuật cụ thể. Văn học, nghệ thuật có đa chức năng, như: giáo dục, nhận thức, thẩm mỹ, giải trí, giao tiếp, tổ chức, điều chỉnh xã hội, v.v. Không thể phủ nhận khả năng kỳ diệu của văn học, nghệ thuật; đó là giúp con người nhận thức, khám phá hiện thực khách quan, làm chuyển biến tư tưởng, tình cảm, điều chỉnh hành vi sống và thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ của con người và xã hội. Người nghệ sĩ tài năng là người nắm bắt một cách mẫn cảm lý tưởng của thời đại, xây dựng nên hình tượng nghệ thuật để hướng dẫn con người theo tư tưởng, hành động cao đẹp. Mặc dù hình tượng nghệ thuật là sự chứa đựng trong đó những vấn đề về cuộc sống, nhưng không phải là sự sao chép nguyên bản hiện thực cuộc sống, mà quá trình xây dựng hình tượng nghệ thuật đòi hỏi phải có sự kết hợp cả nguyên tắc khái quát hóa và điển hình hóa. Nghĩa là, từ những vấn đề thực tiễn của đời sống hiện thực, người nghệ sĩ phải khái quát hóa để tìm ra được cái bản chất, cái quy luật của cuộc sống. Điển hình hóa là phải tìm ra được cái riêng, cái cá tính, cái điển hình trong cái chung. Để kết hợp được khái quát hóa và điển hình hóa trong hình tượng nghệ thuật, người nghệ sĩ cần có sự hư cấu. Tuy nhiên, sự hư cấu phải có hạn độ.
Tưởng tượng, hư cấu là thuộc tính của văn học, nghệ thuật và là quyền năng sáng tạo của văn nghệ sĩ, nhưng phải dựa trên nguyên tắc cao nhất là chân - thiện - mỹ. Hư cấu phải là sự tập hợp, sắp xếp, lựa chọn nhiều tài liệu từ một hay nhiều hiện tượng khác nhau mà tái tạo, tìm kiếm thông qua trí tưởng tượng để tạo dựng nên một sự vật, hiện tượng mới vừa riêng biệt vừa thể hiện được bản chất của cuộc sống. Trong sáng tạo nghệ thuật, bất kỳ tác phẩm nào cũng phải có hai phần: phần từ đời sống thực và phần hư cấu của văn nghệ sĩ. Hai phần này có vai trò, vị trí ngang nhau, không thể thiếu nhau và không thể đối lập, tách biệt nhau. Nếu tác giả nào đó chỉ quan tâm, đề cao phần đời sống thực thì tác phẩm ấy sẽ thành tư liệu lịch sử, ghi chép đời sống, không thể là nghệ thuật - sáng tạo. Ngược lại, nếu ai tự vỗ ngực cho rằng: tôi là văn nghệ sĩ, tôi sáng tác tác phẩm lịch sử, tôi không cần sự chuẩn xác của lịch sử, tôi chỉ cần hư cấu,... thì tác phẩm đó sẽ phi thực tế, phi lịch sử. Như vậy, họ sẽ đánh mất đi vai trò văn nghệ sĩ chân chính của chính mình.
Đối với đề tài về các anh hùng dân tộc, hư cấu được xem như một quy luật điển hình hóa trong văn học, nghệ thuật để có nhận thức sâu sắc hơn về bản thân họ, để hình tượng nghệ thuật - người anh hùng dân tộc sinh động hơn, điển hình hơn, khái quát hơn; nghĩa là mang những đặc điểm thẩm mỹ chân thực hơn mà không làm mất đi sự tự do sáng tạo của các văn nghệ sĩ. Hư cấu là để thỏa mãn nhu cầu khám phá bản chất thật, bản chất “người” của những nhân vật lịch sử là thần tượng của công chúng, nhưng phải giúp cho mọi người có cái nhìn toàn diện hơn, sâu sắc và nhân văn hơn.
Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam đã sản sinh ra rất nhiều anh hùng giải phóng dân tộc và chống giặc ngoại xâm; họ cũng đồng thời là những danh nhân văn hóa, đại biểu của văn hóa dựng nước, giữ nước. Đó là những thần tượng trong lòng nhân dân, là sự phóng chiếu tư tưởng, đạo đức, khát vọng của cộng đồng; đồng thời, là chất liệu để dệt nên bản sắc văn hóa dân tộc Việt và cũng đặt ra bổn phận cho văn học - nghệ thuật. Đúng như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: cái cao quý của một đất nước, một dân tộc là ở giá trị văn hóa; văn học - nghệ thuật có nhiệm vụ và tác dụng to lớn trong việc sáng tạo nên những giá trị cao quý ấy. Theo đó, trong văn học - nghệ thuật, cái nhìn lý tưởng hóa đã xây dựng nên hình tượng nhân vật trung tâm với tư thế và vẻ đẹp hào hùng. Họ chính là hóa thân của một dân tộc anh hùng; mang trong mình những phẩm chất giản dị, bình thường mà phi thường về sức mạnh tinh thần. Cho nên, trong sáng tạo nghệ thuật, những anh hùng dân tộc cần được ghi nhận, mô tả như những con người đẹp nhất, lớn lao nhất, giàu tính chiến đấu nhưng không khiên cưỡng, xơ cứng, mà trở nên sinh động hơn, gần gũi hơn với đời thực, làm cho những hình tượng này đẹp lên trong con mắt của các thế hệ sau.
Sáng tác các loại hình văn học, nghệ thuật về các anh hùng dân tộc, trước hết tác giả phải có cái “tâm”, không được đem “tà tâm” gửi vào tác phẩm của mình. Bởi, sáng tác về các anh hùng dân tộc là sáng tác những hình tượng nghệ thuật, mà qua đó khái quát nên những quy luật lịch sử, những bài học nhân sinh một cách gián tiếp theo phương thức tiếp nhận đặc thù của nghệ thuật. Xây dựng hình tượng người anh hùng dân tộc trong các tác phẩm văn học, nghệ thuật là một hình thức giáo dục sinh động, dễ nhớ và gây ấn tượng sâu sắc để người đọc, người xem hiểu biết đầy đủ những giá trị lịch sử truyền thống của các thế hệ đi trước, xây dựng lòng tự hào, tự tôn dân tộc, ý thức, trách nhiệm tiếp tục phát huy giá trị truyền thống đó. Trên cơ sở quan điểm, lý tưởng thẩm mỹ và sự cảm nhận sâu sắc, lòng biết ơn, sự ngưỡng mộ những anh hùng dân tộc, bằng tài năng sáng tạo và trách nhiệm công dân của mình, văn nghệ sĩ cần tạo ra các tác phẩm văn học - nghệ thuật về những nhân vật lịch sử này để góp phần nâng cao nhận thức, giáo dục, định hướng cho con người vươn tới. Do đó, hư cấu về anh hùng dân tộc trong văn học, nghệ thuật tuyệt nhiên không phải là phóng đại, bịa đặt, gán ghép cho nhân vật lịch sử những chi tiết về tính cách, tình cảm, tư tưởng xa lạ. Ngược lại, hư cấu luôn phải được kiểm soát bằng lô-gic của nghệ thuật và lịch sử. Qua sự hư cấu hình tượng những anh hùng dân tộc mà tác động vào tư tưởng, tình cảm con người, tạo nên những ấn tượng sâu sắc, thấm thía, lâu bền; không gò bó, áp đặt, mà tự nguyện, tự giác, tự cảm hóa, khuyên răn con người. Đó là quá trình tự giáo dục, tự trải nghiệm, tự thừa nhận, tự điều chỉnh hành vi của mình theo những chuẩn mực đạo đức của các hình tượng nghệ thuật mà tác phẩm đó xây dựng nên. Con người sẽ tự rút ra bài học, tự điều chỉnh hành vi, lối sống để hoàn thiện mình hơn trong cuộc sống.
Là quốc gia có vị thế địa chính trị quan trọng, đất nước và con người Việt Nam luôn gắn liền với bề dày lịch sử hào hùng, với nhiều biến động, nhiều sự kiện, thời khắc cá nhân anh hùng mang dấu ấn thời đại. Ðây chính là nền tảng, là kho tư liệu vô giá để gợi mở nhiều cảm hứng sáng tác cho đội ngũ văn nghệ sĩ. Trong bầu không khí đổi mới của đất nước hơn 30 năm qua, văn học - nghệ thuật Việt Nam đã có những tác phẩm tìm tòi sáng tạo theo khuynh hướng này và đạt được những giá trị tư tưởng, giá trị nghệ thuật nhất định. Những tác phẩm ấy đã phần nào giúp công chúng tiệm cận gần hơn với các bậc vĩ nhân, anh hùng dân tộc, nhân vật lịch sử,… khi họ được miêu tả gần hơn với cuộc sống đời thường, để công chúng chiêm ngưỡng và học tập; qua đó, góp phần vun đắp cho một hiện tại tốt đẹp hơn. Nhưng thực tiễn sáng tạo văn chương nói chung, sáng tạo nghệ thuật về các anh hùng dân tộc nói riêng lại chưa đáp ứng được kỳ vọng của xã hội, của cộng đồng thưởng thức, chưa sánh vai được với một số quốc gia trong khu vực. Hiện nay, chúng ta đang thiếu hẳn tác phẩm lịch sử có giá trị nhân văn sâu sắc về các anh hùng dân tộc, như: “Lá cờ thêu sáu chữ vàng”, “Trăng nước Chương Dương”, “Ông trạng thả diều”, v.v. Trong khi đó, những tác phẩm như kiểu “Trở lại Lệ Chi Viên” của Nguyễn Thúy Ái1 đã hư cấu theo kiểu “thêm râu thêm ria” với những chi tiết xúc phạm Danh nhân văn hóa, Anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi. Thật không thể chấp nhận được khi Nguyễn Trãi trong tác phẩm đó lại là con người háo danh, mưu mô với những mưu đồ chính trị đen tối, v.v. Thực chất, đây chính là sự lợi dụng văn học - nghệ thuật để xuyên tạc, bóp méo lịch sử, làm biến dạng anh hùng dân tộc, làm tầm thường hóa cái cao cả, gây tổn thương lương tri, đạo lý dân tộc. Và đó sẽ là những nhân tố, những điều kiện để các thế lực đen tối, phần tử phản động,... mượn cớ để xét lại lịch sử, phủ nhận truyền thống, đạo lý của dân tộc; dần dần làm phai nhạt, dẫn đến mất dần nền văn hóa tốt đẹp, truyền thống hào hùng hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của nhân dân ta. Những tư tưởng, hành động đó cần được cả xã hội kiên quyết đấu tranh, lên án, làm cho chúng không có “mảnh đất dung thân”, để cùng nhau xây dựng một xã hội văn minh, hiện đại.

XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH


(TG) - Qua thực tiễn xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng được củng cố; quyền con người, quyền công dân được bảo đảm tốt hơn; tổ chức bộ máy, cơ chế vận hành của hệ thống chính trị từng bước được đổi mới, hoàn thiện, nâng cao hiệu quả. 
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm chăm lo xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh. Từ khi giành được chính quyền, Đảng vừa là một bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị, vừa là hạt nhân lãnh đạo hệ thống ấy. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh chi phối tính chất, mục tiêu, nhiệm vụ, hiệu quả xây dựng hệ thống chính trị. Hiệu lực, hiệu quả hoạt động các tổ chức của hệ thống chính trị chính là thước đo năng lực lãnh đạo, uy tín, vị thế, địa vị cầm quyền của Đảng.
Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa quyết định bảo đảm sự thành công của công cuộc đổi mới. Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị là nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và cầm quyền của Đảng, tăng cường hiệu lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tính đồng bộ, phù hợp giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị.
Trên cơ sở kiên trì các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng Cộng sản, công tác xây dựng Đảng được tiến hành trên tất cả các mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và đã có nhiều chuyển biến mạnh mẽ. Xây dựng Đảng về chính trị đã giúp giữ vững, kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng; kiên định các nguyên tắc nền tảng; tăng cường bản lĩnh chính trị; nâng cao chất lượng đường lối, chính sách. Công tác tư tưởng, lý luận được tăng cường đã tạo sự thống nhất trong Đảng và đồng thuận xã hội trước những vấn đề lớn của đất nước, của công cuộc đổi mới; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; tìm tòi, bổ sung và phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Tổ chức đảng và hệ thống chính trị có bước đổi mới quan trọng, từ thể chế, tổ chức bộ máy, cơ chế vận hành, đến nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược; chỉnh đốn lề lối, tác phong công tác; siết chặt kỷ luật, kỷ cương, kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, lãng phí; tăng cường quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Giáo dục, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng được đặc biệt coi trọng, có tác dụng quan trọng trong đấu tranh ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phát huy vai trò tiền phong gương mẫu của đảng viên. Qua thực tiễn xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng được củng cố; quyền con người, quyền công dân được bảo đảm tốt hơn; tổ chức bộ máy, cơ chế vận hành của hệ thống chính trị từng bước được đổi mới, hoàn thiện, nâng cao hiệu quả.
Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh là nhân tố quyết định tạo nên những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới ở Việt Nam hơn 30 năm qua. Thông qua xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam trưởng thành hơn trong lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo và cầm quyền, tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân, khơi dậy tiềm năng sáng tạo, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, khuyến khích nhân dân tham gia xây dựng Đảng và quản lý Nhà nước.
Tuy nhiên, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị cũng bộc lộ những yếu kém, khuyết điểm: năng lực dự báo, định hướng chính sách, thể chế hóa, cụ thể hóa để tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu, còn khoảng cách với đòi hỏi của thực tiễn. Năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý, điều hành của Nhà nước, hiệu quả hoạt động của các đoàn thể chính trị - xã hội chưa nâng lên kịp với đòi hỏi của tình hình nhiệm vụ mới. Bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể chậm được sắp xếp lại cho tinh giản và nâng cao chất lượng, còn nhiều biểu hiện quan liêu, vi phạm quyền dân chủ của nhân dân. Công tác tuyển chọn, bồi dưỡng, thay thế, trẻ hoá, chuẩn bị cán bộ kế cận còn lúng túng, chậm trễ. Quản lý, giáo dục đảng viên chưa được quan tâm đúng mức, hiệu quả chưa cao. Năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị chưa tương xứng với yêu cầu của nhiệm vụ. Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng cách mạng, tha hoá về phẩm chất đạo đức; sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở Đảng chưa cao. Chất lượng sinh hoạt Đảng, tính chiến đấu trong tự phê bình và phê bình còn yếu, thực hiện trách nhiệm nêu gương của đảng viên nhiều nơi thiếu nền nếp, chưa trở thành ý thức tự giác. Chưa đạt hiệu quả cao trong đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; chưa phân định rõ vai trò lãnh đạo tập thể và trách nhiệm cá nhân; thực hiện kiểm soát quyền lực chưa tốt. Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” chậm được thể chế hóa một cách đồng bộ. Còn nhiều yếu kém trong quản lý kinh tế - xã hội, để nhiều vụ việc tồn đọng kéo dài, chậm được xử lý, gây bức xúc trong nhân dân.
Hệ thống chính trị ở cơ sở hiện nay còn nhiều mặt yếu kém, bất cập trong công tác lãnh đạo, quản lý, tổ chức thực hiện và vận động quần chúng. Tình trạng tham nhũng, quan liêu, mất đoàn kết nội bộ, vừa vi phạm quyền làm chủ của dân, vừa không giữ đúng kỷ cương, phép nước xảy ra ở nhiều nơi, có những nơi nghiêm trọng. Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận trong hệ thống chính trị chưa được xác định rành mạch, trách nhiệm không rõ; nội dung và phương thức hoạt động chậm đổi mới, còn nhiều biểu hiện của cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp. Đội ngũ cán bộ cơ sở ít được đào tạo, bồi dưỡng; chính sách đối với cán bộ cơ sở còn chắp vá. Có thể khẳng định, trước yêu cầu mới ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, cùng với đổi mới nền kinh tế, từng bước đổi mới kiện toàn hệ thống chính trị là đòi hỏi khách quan, yêu cầu cấp bách.

XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH, PHÁT HUY SỨC MẠNH KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC
Để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cần tập trung một số nhiệm vụ trọng tâm như sau:
Thứ nhất, tăng cường xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, phát huy sức mạnh toàn dân tộc. Theo đó, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Đảng ta kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới và chủ trương: “Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc”(1).
Bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ, tính chiến đấu của toàn Đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp phải được nâng cao; không dao động trong bất cứ tình huống nào. Bản chất giai cấp công nhân của Đảng, vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên phải được giữ vững.
Nâng cao năng lực hoạch định đường lối, chính sách của Đảng phù hợp với quy luật khách quan và đặc điểm của Việt Nam, tạo bước đột phá để phát triển.
Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tính thuyết phục, hiệu quả của công tác tư tưởng phục vụ yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị, phù hợp với từng giai đoạn, tạo sự thống nhất trong Đảng, đồng thuận trong xã hội;
Tiếp tục thực hiện tốt Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; coi đó là công việc thường xuyên của tổ chức đảng, chính quyền, tổ chức chính trị - xã hội các cấp, các địa phương, đơn vị và cần gắn với thực hiện các Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và khóa XII về công tác xây dựng Đảng, nhằm ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng.
Kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, bè phái, “lợi ích nhóm”, nói không đi đôi với làm. Thực hiện nghiêm cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát của tổ chức đảng, giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và của nhân dân về phẩm chất, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. 
Củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân đối với Đảng, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân; tập hợp, vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân, tạo thành phong trào cách mạng rộng lớn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng về công tác dân vận trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Đội ngũ cán bộ, đảng viên phải thật sự tin dân, trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân, có trách nhiệm với dân. Giải quyết kịp thời, có hiệu quả những bức xúc, những kiến nghị chính đáng của nhân dân và khiếu nại, tố cáo của công dân.
Tăng cường thực hiện tổ chức trao đổi, đối thoại với nhân dân theo Quy định 11-QĐi/TW ngày 18-2-2019 của Bộ Chính trị về trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của dân.
Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị, phát huy mạnh mẽ vai trò, hiệu lực của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, có hiệu lực và hiệu quả.
Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đổi mới hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Bảo đảm pháp luật vừa là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội vừa là công cụ để nhân dân làm chủ, kiểm tra, giám sát quyền lực nhà nước. Quản lý đất nước theo pháp luật, đồng thời coi trọng xây dựng nền tảng đạo đức xã hội. Bãi bỏ những thủ tục hành chính gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp.
Đề cao đạo đức công vụ, trách nhiệm xã hội, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong chỉ đạo và thực thi công vụ của cán bộ, công chức. Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, có trình độ, năng lực chuyên môn phù hợp, ngang tầm yêu cầu của giai đoạn mới. Kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, hách dịch, cửa quyền; thực hành tiết kiệm trong các cơ quan nhà nước và trong đội ngũ cán bộ, công chức.
Thứ ba, tiếp tục củng cố, tăng cường tổ chức, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.
Mặt trận Tổ quốc đóng vai trò nòng cốt trong tập hợp, vận động nhân dân, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát và phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng bảo vệ Tổ quốc.
Đẩy mạnh dân chủ hóa xã hội để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, vai trò chủ động, sáng tạo của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. Tổ chức thực hiện tốt Quyết định số 217-QĐ/TW về giám sát và phản biện xã hội và Quyết định số 218-QĐ/TW về tham gia góp ý xây dựng Đảng, chính quyền của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội.
Thứ tư, tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hóa, thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Để phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, cần “tiếp tục thể chế hóa và cụ thể hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc; hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách phát huy vai trò của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề lớn của đất nước; bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”(2).
Khắc phục những hạn chế, bảo đảm tác dụng, hiệu quả thực chất hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; tạo sự đồng thuận trong toàn xã hội. Để tăng cường sự đoàn kết nhất trí trong Đảng, cần hoàn thiện cơ chế, quy chế và tổ chức thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả việc tự phê bình, phê bình, chất vấn trong các kỳ họp của Ban Chấp hành Trung ương, cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy các cấp. Xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả cơ chế phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng.
Tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa mối quan hệ “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ, nhất là nội dung Nhân dân làm chủ và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Để Nhà nước thực sự là của dân, do dân, vì dân, đoàn kết được toàn dân, cần đẩy mạnh việc hoàn thiện pháp luật gắn với tổ chức thi hành pháp luật nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Bảo đảm pháp luật vừa là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội, vừa là công cụ để nhân dân làm chủ, kiểm tra, giám sát quyền lực nhà nước. Quản lý đất nước theo pháp luật, đồng thời coi trọng xây dựng nền tảng đạo đức xã hội.
Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Quốc hội thực hiện tốt chức năng lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao, nhất là đối với việc quản lý, sử dụng các nguồn lực của đất nước Hoàn thiện thể chế hành chính dân chủ - pháp quyền, quy định trách nhiệm và cơ chế giải trình của các cơ quan nhà nước; giảm mạnh, bãi bỏ những thủ tục hành chính gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp.
Đề cao đạo đức công vụ, trách nhiệm xã hội, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong chỉ đạo và thực thi công vụ của cán bộ, công chức; đẩy nhanh việc áp dụng mô hình chính phủ điện tử. 
______________________
(1), (2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H, 2016, tr.160, 159.

ĐỪNG LỢI DỤNG DÂN CHỦ ĐỂ TUYÊN TRUYỀN XUYÊN TẠC



Gần đây, trên mạng xã hội cũng như ở các buổi sinh hoạt của một số hội, nhóm, có những người đã lợi dụng quyền dân chủ, nhân quyền để tiến hành những hoạt động tuyên truyền xuyên tạc chống phá đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta.
Đó là những việc làm sai trái cần phải lên án mạnh mẽ, bởi chính những người này đang muốn gây chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Họ là ai? Tuyên truyền xuyên tạc, chống phá chế độ nhằm mục đích gì? Những câu hỏi đó cần phải làm rõ để nhân dân nhìn nhận thấu đáo, tự nâng cao cảnh giác, đồng thời có biện pháp ngăn chặn kịp thời, không để cho họ tự tung, tự tác.
Trước hết, cần nhận diện rõ các đối tượng đang ra sức lợi dụng dân chủ, nhân quyền để chống phá chế độ của chúng ta và nói xấu các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội. Họ là một số người đang sống ở nước ngoài và cả ở trong nước. Hiện nay, nước ta có hơn 4,5 triệu kiều bào đang sinh sống ở nước ngoài. Đại bộ phận những người Việt định cư ở nước ngoài tuân thủ luật pháp nước sở tại, chịu khó học tập, làm việc, có tinh thần xây dựng quê hương; trong đó không ít Việt kiều thành đạt đã trở về đóng góp, đầu tư tiền của, trí tuệ, tích cực góp phần xây dựng quê hương, đất nước. Thế nhưng cũng vẫn còn một bộ phận không cam tâm với những thất bại khi làm tay sai cho các đội quân thực dân, đế quốc, họ vẫn nuôi tham vọng quay trở lại nắm quyền lực và thực hiện các mưu đồ xấu. Để thực hiện âm mưu của mình, họ đã móc nối, cấu kết với các thế lực thù địch, ra sức thực hiện “diễn biến hòa bình”, hòng gây bạo loạn, lật đổ chế độ. Đặc điểm chung của những người này là ra sức tuyên truyền cổ xúy cho dân chủ, nhân quyền theo mô hình phương Tây, nhưng bản thân họ lại chuyên đấu đá, xâu xé quyền lực, phát ngôn thiếu thiện chí. Điển hình như cái gọi là tổ chức "Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời", do một cựu thiếu úy ngụy cầm đầu. Đây là một tổ chức chuyên xúi giục, tuyên truyền xuyên tạc và chỉ đạo thực hiện các hoạt động khủng bố. Ngay cả cái gọi là "đảng Việt Tân" cũng luôn tuyên truyền là sử dụng các biện pháp hòa bình để thực hiện dân chủ, nhân quyền và thay đổi chế độ, nhưng thực chất đó lại là một tổ chức khủng bố quốc tế.
Đáng chú ý hơn, lợi dụng xu hướng hội nhập quốc tế, trong những năm gần đây, các "nhà dân chủ" ở nước ngoài đã ra sức móc nối, kích động những phần tử bất mãn với chế độ ở trong nước, lôi bè kết cánh để chống phá đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Kịch bản của họ là đòi đa nguyên, đa đảng, kích động biểu tình, gây bạo loạn tiến tới lật đổ chế độ, theo kiểu “mùa xuân Ả-rập”, hoặc “cách mạng màu” như đã từng xảy ra ở các nước Đông Âu trước đây. Đáng tiếc là một số người ở trong nước đã bị chúng lừa phỉnh và mua chuộc tham gia các hành động biểu tình, gây bạo loạn, phá hoại sự bình yêu của đất nước.
Gần đây, trong nước lại xuất hiện một số “công thần cộng sản”, trong số đó có những người đã vào sinh ra tử, cùng nhân dân đánh đuổi thực dân, đế quốc, được Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận, tuyên dương công trạng, được giao trọng trách trong bộ máy Nhà nước. Nhưng bản thân họ dường như không thỏa mãn với những gì đã có, lớn tiếng tuyên truyền, xuyên tạc chống phá đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Nhân cơ hội này, các thế lực thù địch đã ngấm ngầm và công khai ủng hộ cả vật chất và tinh thần cho các phần tử này. Vì thế, nếu chúng ta không kiên quyết đấu tranh thì chắc chắn sẽ có kẻ "đục nước béo cò" làm những việc mờ ám.
Hai là, họ muốn gì khi lợi dụng vấn đề dân chủ để ra sức chống phá đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước? Đối với lực lượng phản động từ hải ngoại thì mọi người đều thấy rõ, âm mưu, thủ đoạn của chúng là thực hiện “diễn biến hòa bình”, tiến tới thay đổi chế độ để chúng có cơ hội nắm quyền thống trị. Còn đối với những người “công thần cộng sản” thì họ muốn gì? Có lẽ họ đang thấy cái bóng của mình quá to trên bức tường nhờ ánh hào quang của quá khứ? Là con dân nước Việt cần phải nhận thức sâu sắc rằng, trong bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã trịnh trọng tuyên bố: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Người đã phân tích, chỉ rõ, ngọn nguồn và bản chất của lời tuyên ngôn đó cho toàn dân dễ nhớ, dễ hiểu. Hơn 70 năm qua, dù trong hoàn cảnh khó khăn của hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược, hay trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng và Nhà nước ta luôn hướng tới xây dựng một nền dân chủ thật sự cho mọi người dân. Đảng Cộng sản Việt Nam không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân. Chính vì vậy, nhân dân ta một lòng một dạ đi theo con đường cách mạng mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn.
Hiện nay, mục tiêu được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang nỗ lực phấn đấu thực hiện là xây dựng một nước Việt Nam: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Muốn đạt được mục tiêu chiến lược này, phải trải qua một quá trình phấn đấu kiên trì, gian khổ và lâu dài. Và trên con đường đó, chúng ta khó tránh khỏi những khó khăn, vấp váp. Người xưa thường dạy “nhân vô thập toàn”, chính nhân quân tử ai cũng thấu hiểu điều đó. Đối với một con người còn như thế, thử hỏi cả một quốc gia, trong điều kiện đang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, thì khó có thể "mười phân vẹn mười". Chỉ những người ích kỷ, hẹp hòi mới bới móc, chì chiết những khiếm khuyết khó tránh khỏi trong tiến trình phát triển, rồi từ đó quy kết, bôi nhọ, nói xấu Đảng, nói xấu chế độ.
Tóm lại, lợi dụng dân chủ để chống phá đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước hòng trục lợi là một hành động rất đáng bị lên án. Mỗi cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân hãy tỉnh táo, kiên quyết loại bỏ tư tưởng xấu độc đó ra khỏi đời sống xã hội. Dân tộc ta có truyền thống yêu nước nồng nàn và giàu lòng nhân ái, vị tha, chỉ “đánh kẻ chạy đi, không đánh người chạy lại”, những người lợi dụng dân chủ để chống phá cuộc sống yên bình của nhân dân thì cần sớm thức tỉnh khi còn chưa muộn.

MỘT LỜI KÊU CỨU THẢM THƯƠNG CỦA BỌN PHẢN ĐỘNG VỀ BẢN ÁN KẾT TỘI CHÚNG – ĐIỀU 117, BỘ LUẬT HÌNH SỰ (BLHS)



                                                        Thắng Đại
          Thời gian qua, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã phát tán nhiều loại ấn phẩm, tài liệu nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Trong đó, họ đã lập hàng nghìn trang web, blog, hàng trăm tờ báo, tạp chí, nhà xuất bản, hơn 60 đài phát thanh có chương trình tiếng Việt, tổ chức nhiều cuộc hội thảo, tọa đàm hoặc qua tiếp xúc, làm việc trực tiếp với các cá nhân, cơ quan trong và ngoài nước… để xuyên tạc chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nền tảng tư tưởng của Đảng; phủ nhận thành tựu trong xây dựng, ban hành và thực hiện chính sách, pháp luật, lôi kéo các tầng lớp nhân dân vào các hoạt động biểu tình, gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; qua đó hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xuyên tạc đường lối lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
          Trên trang blog Đài Á Châu Tự Do (RFA), ngày 01/12/2019 đối tượng Nguyễn Ngọc Giả phát tán bài “Điểu 117 của Bộ luật hình sự-một tội danh không hậu quả”, nhằm xuyên tạc nội dung của điều luật; kêu gọi các cơ quan chức năng xóa bỏ điều luật.
          Nhận thấy rằng, việc sửa tên điều luật từ “Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” thành “Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm  nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”; Nội dung điều luật được sửa theo hướng quy định cụ thể hơn và mở rộng hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm này là tuyên truyền, làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hóa phẩm có nội dung chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam, theo Điều 117 BLHS năm 2015, hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm này làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm có nội dung chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam. Việc sửa đổi, bổ sung nêu trên để đảm bảo tính rõ ràng, minh bạch của điều luật và quy định đầy đủ loại hành vi phạm tội xảy ra trên thực tế, đáp ứng yêu cầu phòng, chống tội phạm.
          Điều 117 của BLHS năm 2015 là phù hợp với nguyện vọng của nhân dân trong việc hoàn thiện, xây dựng, phát triển hệ thống pháp luật XHCN ở nước ta hiện nay, bảo đảm Nhà nước quản lý xã hội có kỷ luật, kỷ cương, ngăn chặn, đấu tranh, xử lý nghiêm các hành vi chống phá Đảng, Nhà nước ta. Và lẽ dĩ nhiên các tổ chức, cá nhân phản động trong và ngoài nước trong đó có Nguyễn Ngọc Giả không hề mong muốn có Điều 117 của BLHS, vì Điều 117 chính là bản án kết tội họ - những tội phạm trong âm mưu, thủ đoạn, hành vi tuyên truyền, làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hóa phẩm có nội dung chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam.
          Vì vậy, việc các tổ chức, cá nhân phản động đưa ra bài viết xuyên tạc càng cho thấy sự kêu cứu thảm thương với chính tội lỗi của mình đối với Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam.
                            

ÂM MƯU NGUY HIỂM CỦA ĐÁM DÂN CHỦ



Thắng Đại
Thời gian qua, cuộc biểu tình chống chính phủ ở Hồng Kông diễn ra hết sức phức tạp và có chiều hướng gia tăng. Lợi dụng vào tình hình chính trị bất ổn ở đặc khu này, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động đã có những suy diễn, xuyên tạc tình hình dân chủ ở Việt Nam, kích động, cổ suý, tập hợp lực lượng, gia tăng chống phá hòng gây mất ổn định chính trị, an ninh, trật tự an toàn xã hội trong nước.
Trên trang blog Chân Trời Mới Media, ngày 23/11/2019 đối tượng lấy tên là Canhco tán phát bài “Tại sao tuổi trẻ Việt Nam im lặng?”, nội dung phủ nhận những đóng góp tích cực của giới trẻ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; xuyên tạc đường lối, chính sách giáo dục, đào tạo của Đảng và Nhà nước ta; kích động giới trẻ “noi gương” sinh viên Hồng Kông xuống đường biểu tình phản đối Đảng, Nhà nước.
Về vấn đề dân chủ, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân; cán bộ, công chức phải hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân... Có cơ chế cụ thể để nhân dân thực hiện trên thực tế quyền làm chủ trực tiếp. Phát huy dân chủ, đề cao trách nhiệm công dân, kỷ luật, kỷ cương xã hội; phê phán và nghiêm trị những hành vi vi phạm quyền làm chủ của nhân dân... Cụ thể hóa tư tưởng tiến bộ này cũng như những giá trị phổ quát về dân chủ, nhân quyền trên thế giới, vấn đề dân chủ, quyền con người được thể chế hóa, nội địa hóa trong hệ thống pháp luật hiện hành và thực hiện trong thực tiễn đời sống xã hội Việt Nam. Ngay trong văn bản có giá trị pháp lý cao nhất là Hiến pháp quy định: “Ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (Điều 14 – Hiến pháp 2013).
Thủ đoạn trên của chúng là làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước tập trung vào thanh niên Việt Nam; nhằm kích động, lôi kéo, tập hợp lực lượng, tổ chức biểu tình trái pháp luật gây mất ổn định chính trị, an ninh, trật tự an toàn xã hội, chống phá cách mạng Việt Nam, thúc đẩy “xã hội dân sự”, dân chủ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập theo kiểu phương Tây, tiến tới lật đổ Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là thủ đoạn nguy hiểm cần nhận diện, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu diễn biến hòa bình, góp phần đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường hòa bình, ổn định, phát triển của đất nước. Do vậy, chúng ta những người Việt Nam yêu nước chân chính, nhất là thanh niên đất Việt cần phải lên án, đấu tranh, bài trừ nó.



Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...