Thứ Hai, 7 tháng 10, 2019

PHẢI CHĂNG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG KHÔNG THỂ “KẾT DUYÊN” ĐƯỢC VỚI ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA?



                                                                                         
                                                                 Khánh Anh
Có quan điểm cho rằng: “ Làm gì có cái gọi là kinh tế thị trường định hướng XHCN”, “kinh tế thị trường là gắn với chủ nghĩa tư bản”, “là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản”, đưa thêm đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa” vào là một sự gán ghép khiên cưỡng, tiến tới bài xích, phủ nhận vấn đề này. Để chứng minh cho luận điệu này, “họ” đã đưa ra quan điểm: “kinh tế thị trường và CNXH là hai ý tưởng hoàn toàn mâu thuẫn nhau; kinh tế tư nhân lẫn kinh tế nhà nước gọi chung là kinh tế quốc dân không có kinh tế nào là chủ đạo cả…”.
 Xin thưa với “họ” rằng: kinh tế thị trường và CNXH hoàn toàn không mâu thuẫn nhau. Kinh tế thị trường không phải là cái riêng có của chủ nghĩa tư bản, mà là thành tựu chung của nhân loại, nó được tồn tại và phát triển qua các phương thức sản xuất khác nhau. Dưới chủ nghĩa tư bản, kinh tế thị trường thì lợi nhuận được coi là mục tiêu và động lực của sự phát triển. Vì vậy, CNTB lợi dụng tối đa ưu thế của kinh tế thị trường để bóc lột sức lao động của giai cấp công nhân phục vụ cho mục đích của giai cấp tư sản, chiếm đoạt lợi nhuận càng nhiều càng tốt. Vai trò thống soái của chủ nghĩa tư bản trong cơn lốc tìm kiếm thị trường và toàn cầu hóa kinh tế đã đe dọa lợi ích đến tất cả các quốc gia dân tộc trên thế giới. Tự cho mình quyền tự do chiếm đoạt, tự do xâm lược, tự do bóc lột, tự do khủng bố, tự do phân biệt chủng tộc…Bất chấp tất cả miễn sao chiếm đoạt được nhiều lợi nhuận. Đối với chúng ta, kinh tế thị trường được coi là phương tiện, cách thức để xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH gắn chặt với việc không ngừng nâng cao đời sống toàn diện của nhân dân, tuyệt nhiên không phải là mục đích giành lấy lợi nhuận tối đa bằng mọi giá như CNTB đã làm. Vậy thì kinh tế thị trường và CNXH làm gì có mâu thuẫn.
Quan điểm của “họ” cho rằng: “kinh tế tư nhân lẫn kinh tế nhà nước gọi chung là kinh tế quốc dân không có kinh tế nào là chủ đạo cả”. Thực chất của quan điểm này chính là tìm mọi cách để phủ nhận vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước, tuyệt đối hóa kinh tế tư nhân, xóa bỏ định hướng XHCN, tiến tới xóa bỏ CNXH ở nước ta. Xung quanh vấn đề này xin trả lời với “họ” rằng: nếu không có kinh tế Nhà nước đủ mạnh thì lấy gì để hỗ trợ cho các thành phần kinh tế khác vươn lên đứng vững trong cạnh tranh với các đối tác nước ngoài để xây dựng một nền kinh tế phát triển thống nhất trong đa dạng, hội nhập toàn cầu hiện nay ở nước ta. Những người có quan điểm trên cũng nên nhớ rằng: ngay cả các nước tư bản chủ nghĩa, kinh tế Nhà nước luôn đóng vai trò là “bà đỡ”, “người cứu tử” đối với các doanh nghiệp khi họ rơi vào tình trạng khó khăn, có nguy cơ sụp đổ, làm chao đảo nền kinh tế quốc dân như: (Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc…). Trong những năm gần đây, đã không dưới hai lần Nhà nước của các quốc gia này phải dùng sức mạnh kinh tế của mình để cứu lấy hàng trăm công ty trên các lĩnh vực kinh tế quan trọng của họ lâm vào cảnh phá sản, đổ vỡ trước “cơn bão tài chính” và các vụ thăng trầm của thị trường chứng khoán thế giới những năm qua. Đối với Việt Nam, trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nhà nước luôn luôn khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế cùng phát triển, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng. Xin hỏi “Họ”: hãy đánh giá một cách vô tư xem đã có mấy doanh nghiệp tư nhân trong nước hay nước ngoài đầu tư vào phát triển các ngành kinh tế thuộc kết cấu hạ tầng quan trọng như các nhà máy thủy điện ở vùng sâu, vùng xa. Khi hàng loạt “cơn sốt ác tính” của thị trường bất động sản, xi măng, sắt thép… đồng loạt bùng phát, tưởng như không vượt qua, có nguy cơ tàn phá kinh tế đất nước, trước nguy cơ đó đã có mấy ông kinh tế tư nhân ra tay cứu trợ, nếu không phải là kinh tế Nhà nước gánh vác thành công trọng trách đầy cam go đó. Trong việc giải quyết những vấn đề xã hội ở tầm vĩ mô, có ông kinh tế tư nhân nào sẵn sàng vô tư nhảy vào làm những việc cứu hộ, cứu nạn, khắc phục sự tàn phá khốc liệt của thiên tai không? Trên thực tế, việc đó chỉ có thể được giải quyết tốt khi kinh tế Nhà nước chủ động ra tay giải quyết. Vậy thì tại sao “vai trò chủ đạo lại không thuộc về kinh tế Nhà nước”
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay của đất nước, kinh tế Nhà nước xứng đáng là chỗ dựa cho Nhà nước của dân, do dân, vì dân trong điều tiết, phát triển nền kinh tế, ngày càng chủ động trong lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế, vì lợi ích của toàn dân, bảo đảm sự hài hòa, thống nhất giữa phát triển kinh tế với giải quyết những vấn đề xã hội, thực hiện dân chủ, công bằng xã hội (đây là một tiêu chí then chốt của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN) mà chúng ta đã và đang thực hiện. Kể từ khi Việt Nam bước vào thực hiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, làm thay đổi khá rõ tình hình đất nước. Kinh tế ra khỏi tình trạng khủng hoảng, hoạt động ngày càng năng động và có hiệu quả. Của cải xã hội ngày càng nhiều, hàng hóa ngày càng phong phú. Đời sống nhân dân từng bước được cải thiện. Đất nước không những giữ vững được sự ổn định trước những chấn động kinh tế lớn trên thế giới mà còn có bước phát triển đi lên. Kinh tế tăng trưởng khá, chính trị – xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được tăng cường, văn hóa, xã hội được phát triển. Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên. Vị thế uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Điều này minh chứng rõ ràng, KTTT không chỉ thích ứng với định hướng XHCN mà nó còn kết duyên “ngọt ngào”  với định hướng XHCN. Thế mà tại sao “họ” lại cho rằng: “Kinh tế thị trường không thể kết duyên được với định hướng chủ nghĩa xã hội”. Thật là sự hồ đồ hết chỗ nói.
Để thay cho lời kết tác giả xin mượn lời của bài báo đăng trên Mạng tin châu Âu (Europe Presse Image) ngày 26-9-2019 như sau: Diện mạo đất nước Việt Nam thay đổi gần như hoàn toàn, kinh tế tăng trưởng mạnh; công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển, nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa được đẩy nhanh; mức sống của người dân được nâng lên rõ rệt, đưa Việt Nam ra khỏi nhóm các nước kém phát triển, trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình…

PHÊ PHÁN LUẬN ĐIỆU PHỦ NHẬN SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỐI VỚI LỰC LƯỢNG VŨ TRANG




Khánh Anh
"Phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang; đòi "phi chính trị hóa" quân đội và công an; xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; chia rẽ quân đội với công an; chia rẽ nhân dân với quân đội và công an" là một trong 9 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được nêu trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đây cũng chính là âm mưu thâm độc trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, vì vậy, chúng ta cần phê phán, đấu tranh, bác bỏ.
Các thế lực thù địch luôn công kích, phủ nhận nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân; đề nghị “bỏ quy định lực lượng vũ trang phải tuyệt đối trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam” (Điều 65, Chương IV) Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013. Đi cùng với phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang; đòi “phi chính trị hóa” quân đội và công an, các thế lực thù địch còn xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; chia rẽ quân đội với công an; chia rẽ nhân dân với quân đội và công an.
Đây là sự chống phá cực kỳ nguy hiểm và trên thực tế, các thế lực thù địch đã và đang đẩy mạnh xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác quốc phòng, an ninh, về xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Chúng ra sức xuyên tạc, bôi nhọ bản chất, truyền thống của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân; làm giảm lòng tin của nhân dân đối với quân đội và công an; xuyên tạc các sự kiện lịch sử có ý nghĩa chính trị trọng đại của đất nước có lực lượng quân đội và công an tham gia, nhằm làm mất uy tín, vị thế, vai trò của hai lực lượng này trước nhân dân. Thâm độc hơn, chúng còn thực hiện các thủ đoạn tạo mối nghi ngờ, hiềm khích, gây ly gián Quân đội nhân dân với Công an nhân dân, lực lượng vũ trang và với các cơ quan Đảng, Nhà nước... 
Sự chống phá của các thế lực thù địch là vậy, nhưng một số cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân do thiếu hiểu biết, thiếu rèn luyện, học tập chủ trương, chính sách của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, đã bị dao động, bi quan, dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” như Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã chỉ ra. Đáng lưu ý, thông qua internet, các trang mạng xã hội, blog cá nhân... biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ngày càng rõ nét và bị các thế lực thù địch lợi dụng để thúc đẩy chiến lược “Diễn biến hòa bình” nhằm chống phá sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
Có thể khẳng định, biểu hiện này trong một số cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân là rất nguy hiểm và cần phải kiên quyết loại trừ. Bởi thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chỉ rõ, bài học thành công của Đảng trong việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng lực lượng vũ trang kiểu mới của giai cấp vô sản chính là xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, cốt lõi là giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng; chăm lo xây dựng bản chất giai cấp công nhân gắn với xây dựng tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. 
Chỉ dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất, với đường lối vũ trang cách mạng đúng đắn, sáng tạo của Đảng, lực lượng vũ trang mới tôi luyện được bản lĩnh chính trị vững vàng, nâng cao sức mạnh chiến đấu tổng hợp, thực sự là chỗ dựa tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong thực hiện các chủ trương, đường lối, chiến lược, sách lược bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Và trên thực tế, trong hơn 70 năm qua, lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam luôn vượt qua những khó khăn trở ngại, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Đó là sự thật hiển nhiên không thể xuyên tạc, bóp méo.
Chúng ta cần phải đẩy mạnh đấu tranh phản bác lại những luận điệu chống phá của các thế lực thù địch, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đặc biệt là biểu hiện: “Phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang; đòi “phi chính trị hóa” quân đội và công an; xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; chia rẽ quân đội với công an; chia rẽ nhân dân với quân đội và công an”. Muốn làm được điều đó, cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp sau:
Một là, cần cung cấp thông tin chính thống về lĩnh vực quốc phòng - an ninh đến cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân một cách kịp thời, chính xác, khách quan, trung thực. Bởi quốc phòng - an ninh là lĩnh vực đặc thù, có liên quan trực tiếp đến sự an nguy của quốc gia, dân tộc. 
Tuy nhiên, trong thời đại bùng nổ thông tin, một sự kiện xảy ra chỉ trong thời gian rất ngắn đã lan khắp toàn cầu. Vì vậy, càng chủ động giữ vững trận địa thông tin, cung cấp thông tin chính thống, kịp thời và minh bạch, càng ngăn chặn được các luồng thông tin thất thiệt, thổi phồng, bóp méo, xuyên tạc sự việc hoặc suy diễn tiêu cực, gây hoang mang, lo lắng, bán tín bán nghi trong xã hội là hết sức cần thiết. 
Hơn nữa, khi cán bộ, đảng viên và nhân dân được cung cấp thông tin chính thống nhanh chóng và chính xác, các thế lực thù địch sẽ ít có cơ hội thực hiện âm mưu “Diễn biến hòa bình”, đồng thời ngăn chặn hiệu quả những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Hai là, luôn giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân và Công an nhân dân trong mọi điều kiện, hoàn cảnh. Đây vừa là nguyên tắc, vừa là quy luật cơ bản trong xây dựng quân đội và công an kiểu mới, của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng chỉ rõ: “... phải tiếp tục giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc”, làm cho quân đội và công an thật sự đoàn kết, gắn bó, là lực lượng xung kích đi đầu trong ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Ba là, tăng cường đấu tranh phòng chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch hòng làm cho Quân đội nhân dân Việt Nam, Công an nhân dân Việt Nam “tự diễn biến” theo khuynh hướng “phi chính trị hóa”. Theo đó, phải tăng cường xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân vững mạnh về chính trị, củng cố và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc; củng cố và tăng cường sức mạnh đoàn kết quân dân, góp phần giữ gìn và phát huy hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, người “Công an cách mạng”.
Bốn là, thường xuyên đổi mới công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ quân đội và công an, tạo chuyển biến tích cực trong đời sống văn hóa tinh thần, khắc phục các biểu hiện tiêu cực trong đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ. Cùng với đó phải tích cực giáo dục cho mọi cán bộ, chiến sĩ có ý thức và hành động đấu tranh kiên quyết, không khoan nhượng với mọi biểu hiện dao động, giảm sút ý chí, niềm tin; mơ hồ, mất cảnh giác; cá nhân chủ nghĩa; suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; không tạo kẽ hở cho các thế lực thù địch lợi dụng chống phá nội bộ. 
Đồng thời, lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức cho các nhà khoa học, bằng cơ sở lý luận, thực tiễn sắc bén, có tính thuyết phục cao, tham mưu, đề xuất những biện pháp, cách thức đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội.




THÀNH QUẢ CỦA CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI DO ĐẢNG TA LÃNH ĐẠO LÀ KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN



Khánh Anh
Ra sức xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận những thành quả của công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo; thổi phồng khuyết điểm của Đảng và Nhà nước ta là một trong những âm mưu thủ đoạn mà các thế lực thù địch đang tiến hành. Vì vậy, phòng, chống, ngăn ngừa những biểu hiện đó là hết sức cấp thiết hiện nay, nếu không sẽ ảnh hưởng tới uy tín và vai trò lãnh đạo của Đảng.
Sự cố tình xuyên tạc, phủ nhận của các thế lực thù địch

Qua 33 năm đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Từ một nước nghèo, trải qua hơn 30 năm chiến tranh, bị cấm vận, cho đến nay, Việt Nam đã trở thành nước có mức thu nhập trung bình, trở thành đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, bình đẳng với nhiều nước lớn, trong đó có Nga, Trung Quốc (đối tác chiến lược toàn diện) và Hoa Kỳ (đối tác toàn diện)... Đó là cố gắng to lớn, rất đáng tự hào của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, được nhân dân và cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá rất cao. Tuy nhiên, hiện nay kinh tế của đất nước còn tụt hậu, cuộc sống của đồng bào ta ở nhiều vùng và nhiều đối tượng còn thật sự khó khăn; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, thiếu trách nhiệm, cửa quyền, hách dịch với nhân dân, gây tổn thương, bất bình trong nhân dân... Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức rất sâu sắc vấn đề này và quyết tâm đấu tranh, sửa chữa, khắc phục.

Tuy nhiên, để bôi nhọ và hạ thấp thành quả công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các thế lực thù địch không những đã cố tình đổi trắng, thay đen, xuyên tạc, bóp méo bản chất, tính chất và thành tựu to lớn của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, kháng chiến chống xâm lược của nhân dân ta, mà còn xuyên tạc, phủ nhận thành tựu của sự nghiệp đổi mới đất nước ta. “Họ” công kích, xuyên tạc thành tựu của đổi mới đất nước là do Đảng, Nhà nước Việt Nam “tự vẽ lên”, “tự mình khen mình”, chứ thực chất, theo “họ” là không có thật. Chúng còn nói xằng rằng, những thành tựu đổi mới nếu có là chỉ “chui vào túi của những kẻ độc tài”, bọn tham nhũng, tham quan; còn Việt Nam vẫn trong cảnh nghèo nàn, tụt hậu, đời sống của nhân dân còn rất nhiều khó khăn, thiếu thốn, người dân nghèo thì không được thụ hưởng...
Mặt khác, “họ” còn “tìm kiếm” và cố tình đưa ra những thông tin hằn học, nhai lại những luận điệu cũ rích nhằm hạ bệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và phủ nhận công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh; vu cáo, bôi nhọ một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, hạ uy tín nhiều đồng chí lãnh đạo cấp cao, gây mất niềm tin trong nhân dân, làm cho dân xa Đảng, mất đoàn kết nội bộ, kích động tâm lý xã hội.
Không dừng lại ở đó, “họ” còn triệt để lợi dụng, khoét sâu những hạn chế, khuyết điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong thực hiện chủ trương, chính sách và thực thi pháp luật, nhất là lợi dụng việc Đảng đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham ô, tham nhũng và sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên để xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; công kích Đảng, xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Đặc biệt, chúng cho “ra lò” những cuốn sách, tờ báo, tờ rơi, những “tâm thư”, “giác thư”, “thư ngỏ”, “tuyên cáo”, công khai nói rõ điều đó, công khai đòi đánh đổ, kêu gọi giải tán Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, xóa Điều 4 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam...
Cùng với sự chống phá của các thế lực thù địch, trong xã hội đã xuất hiện thêm nhiều luận điệu nhằm hạ thấp, phủ nhận thành quả cách mạng và sự nghiệp đổi mới đất nước của nhân dân ta; “cố tình” tạo dư luận để thổi phồng khuyết điểm của Đảng và Nhà nước ta của những kẻ suy thoái, biến chất. Dùng chiêu “mớm lời”, “rắc thính”, kích động để không chỉ gây hận thù dân tộc mà còn gây tâm lý hoang mang, nghi ngờ trong một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái, dàn “đồng ca” của “họ” đã và đang làm cho những biểu hiện đó được “khuyếch trương” mạnh mẽ hơn bằng các thủ đoạn đặt câu hỏi như: nếu không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, thì nước ta sẽ đi theo con đường nào? Và rồi, họ tự trả lời bằng cách “khuyên nhủ” chúng ta phải đi theo con đường của chủ nghĩa tư bản để được tự do,.v.v.. 
Ngoài ra, để phủ nhận những thành tựu về nhân quyền mà Việt Nam đạt được trong các năm qua, tổ chức khủng bố “Việt Tân”, “Ủy ban bảo vệ quyền làm người Việt Nam”, “Cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản tại Hà Lan”, “liên hội người Việt tị nạn tại Đức” với sự hà hơi, tiếp sức, phụ họa của BBC, VOA, RFA, RFI… đã khai thác, dựa trên các loại thông tin giả, cố tình bóp méo sự thật, đổi trắng thay đen, tảng lờ những thành tựu của sự nghiệp đổi mới nói chung, về nhân quyền mà Việt Nam đạt được nói riêng; đã đánh tráo khái niệm, để bảo vệ một số người vi phạm pháp luật, bị tòa án xét xử… nhằm kích động dư luận, gây hoài nghi, dao động, làm giảm lòng tin của nhân dân với Đảng, với chế độ.
Một bộ phận phai nhạt lý tưởng cách mạng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” đã “phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái”; “nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Chúng bôi nhọ, hạ thấp và phủ nhận không chỉ thành quả của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ mà còn cố tình phủ nhận thành quả của công cuộc đổi mới hơn 30 năm qua. Chúng rêu rao và đổ lỗi cho sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, đòi thay đổi con đường mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn, từ đó, đòi thay đổi thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa, phủ nhận và từ bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng; tìm mọi cách cản trở công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước... 
Một số giải pháp phòng, chống và ngăn ngừa
Phòng, chống và ngăn ngừa những biểu hiện hạ thấp, phủ nhận thành quả đấu tranh cách mạng và thành tựu công cuộc đổi mới, thổi phồng khuyết điểm của Đảng và Nhà nước ta thực sự là yêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa quan trọng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, để xây dựng và chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng vững mạnh, chắc chắn, xứng đáng với vai trò tiền phong. Để chủ động phòng, chống vấn đề này hiệu quả, phải thực hiện tổng hợp và đồng bộ nhiều giải pháp, cụ thể cần tập trung thực hiện tốt một số vấn đề cốt yếu sau:
Thứ nhất, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống,v.v..; đồng thời, cảnh giác, nhận diện và đánh giá đúng thực chất và tác hại của những biểu hiện hạ thấp, phủ nhận thành quả cách mạng, thổi phồng khuyết điểm của Đảng và Nhà nước để kiên định lý tưởng cộng sản, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã lựa chọn. Trên cơ sở thấm nhuần lời dạy của V.I.Lênin: “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự bảo vệ”, mỗi cấp ủy, cán bộ, đảng viên phải biết tự bảo vệ mình thông qua quá trình tự giác học tập và tu dưỡng để nâng cao trình độ lý luận chính trị, năng lực trí tuệ, tình cảm và lập trường cách mạng, bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng,v.v.. trước những diễn biến phức tạp khó lường và tác động mạnh mẽ của tình hình, trước sự chống phá của các thế lực thù địch cũng như tác động của những biểu hiện xấu, độc để nâng cao sức đề kháng, khả năng tự miễn dịch trước các quan điểm sai trái, thù địch về tư tưởng, lý luận.
Thứ hai, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng; tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” gắn với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” để “nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ, tính chiến đấu của toàn Đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp; không dao động trong bất cứ tình huống nào. Giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng, vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên”[1].
Thứ ba, nâng cao năng lực hoạch định đường lối, chính sách phù hợp với quy luật khách quan và đặc điểm của Việt Nam, tạo bước đột phá để phát triển, để xây dựng đất nước ta “kinh tế phải vững, quốc phòng phải mạnh, thực lực phải cường, lòng dân phải yên, chính trị - xã hội ổn định, cả dân tộc là một khối đoàn kết thống nhất”. Trong quá trình đó, phải “xây dựng và thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, quan tâm thích đáng đến các tầng lớp, bộ phận yếu thế trong xã hội, đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, khắc phục xu hướng gia tăng phân hóa giàu - nghèo, bảo đảm sự ổn định và phát triển xã hội bền vững”[2], tăng cường sự đồng thuận xã hội.
Thứ tư, tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế; đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, khẳng định những thành tựu to lớn của cách mạng Việt Nam, nhất là những thành tựu của nhân dân ta 33 năm đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, để những thông tin hạ thấp, bôi nhọ “cố tình xuyên tạc, phủ nhận” ấy chỉ là những “bàn tay không che nổi mặt trời” - không thể phủ nhận được sự thật đang hiện hữu sinh động hằng ngày trên đất nước Việt Nam./.




[1] ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn qốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.199.
[2] ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn qốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.135.


CẢNH GIÁC VỚI MƯU ĐỒ “GÁC TRANH CHẤP, CÙNG KHAI THÁC” Ở BIỂN ĐÔNG



                                                                                            
          Mới đây Philippines chấp nhận thỏa thuận tỉ lệ 60 -40 với Trung Quốc trong khai thác dầu khí ở vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) đã làm gia tăng mức độ nguy hiểm cho hòa bình trong khu vực. Biết rằng đó chỉ là quan điểm, cách thức giải quyết vấn đề “ gác tranh chấp, cùng khai thác” theo cách riêng của Philippines.
Công ước Luật Biển của Liên hợp quốc (UNCLOS) không có khái niệm, quy định về “khai thác chung” mà chỉ đề cập hợp tác bình đẳng trong hợp tác kinh tế của các quốc gia trên biển. Giữa các nước hợp tác khai thác chỉ thực hiện trong phạm vi lãnh thổ thuộc một quốc gia nào đó, tỉ lệ ăn chia thỏa thuận với nhau theo hợp đồng kinh tế, không phụ thuộc vấn đề chính trị hay tranh chấp. Chẳng hạn như Việt Nam đang hợp tác liên doanh thăm dò, khai thác dầu khí với các nước trong vùng biển của mình là như vậy. Có 2 trường hợp được gọi là khai thác chung: Một là, Khi có một nguồn tài nguyên vắt ngang qua biên giới biển của các quốc gia liên quan; Hai là, Khi nguồn tài nguyên nằm trong vùng chồng lấn mà giữa các nước chưa thể phân định rõ ràng hay đang tranh chấp (điều 74,83 Công ước unclos 1982). Lưu ý là khai thác chung chỉ thực hiện khi có một trong hai điều kiện đã nêu trên, không phải nằm trong phạm vi lãnh thổ EEZ của bất cứ quốc gia nào.
Cùng với âm mưu thực hiện đường 9 đoạn, Trung Quốc đã đưa ra phương thức “gác tranh chấp, cùng khai thác” từ tháng 10/1982 khi Đặng Tiểu Bình đưa ra tại Tokyo (Nhật Bản). Nội dung trong đó có 4 điểm chính: 1. Chủ quyền lãnh thổ là thuộc Trung quốc(vì nằm trong vùng 9 đoạn); 2. Điều kiện chưa thể giải quyết vấn đề lãnh thổ thì thảo luận về chủ quyền được tạm gác lại; 3. Lãnh thổ bị tranh chấp cùng nhau khai thác; 4. Tạo sự hiểu biết để giải quyết vấn đề lãnh thổ. Mặc dù vậy Trung Quốc vẫn tuyên bố đường 9 đoạn, “lãnh thổ không thể chối cãi” với quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa và các vùng khác . Trong khi đó các vùng đưa ra khai thác chung đều nằm trong vùng biển (EEZ) thuộc chủ quyền các nước, nổi lên nhất là Việt Nam, Philipin, Malaixia. Đặt ra như vậy Trung Quốc đạt được 2 mục tiêu: Biến vùng biển các nước thành vùng biển tranh chấp nhằm từng bước thực hiện đường 9 đoạn và biến tài nguyên riêng của các nước khác làm tài nguyên chung. Chỉ cần một trong các nước chấp nhận phương thức này là Trung Quốc đã đạt thành công bước đầu, các nước khác sẽ phải noi theo để được yên ổn. Trong khi đó UNCLOS quy định rõ tài nguyên trong vùng EEZ của các nước là tài sản riêng không thể chia sẻ cho bất cứ ai.
Nhìn lại vụ việc đã xảy ra ở vùng biển đá san hô Luconia mà Malaysia tuyên bố chủ quyền để thấy rõ hơn điều đó. Malaysia cấp phép thăm dò khai thác cho một công ty nước ngoài từ 2013 thì Trung Quốc gia tăng các hoạt động gây hấn, tạo bất ổn cho hoạt động bình thường ở đây. Tàu hải cảnh Trung Quốc tuần tra áp sát, ngăn cản hoạt động vận tải tiếp tế của tàu vận tải nước này, có những động thái gây nguy hiểm. Các hoạt động của Trung Quốc hiện nay tại bãi biển Tư chính không phải là ngoại lệ. Năm 2017,2018 Trung Quốc cũng đã thực hiện quấy rối ở vùng này đã làm cho một công ty thăm dò của Tây Ban Nha phải ngừng hợp tác với Việt Nam. Theo đà đó họ tiếp tục sử dụng con bài gây hấn, đe dọa với liên doanh của Việt Nam, Nga, Nhật Bản như đã thấy trong suốt gần 3 tháng qua. Nhưng xu thế bây giờ đã thay đổi, chúng ta tiếp tục gia hạn thời gian thăm dò và hạ đặt giàn khoan khổng lồ Sao vàng – Đại Nguyệt trong khi Trung Quốc đang tiếp tục các hoạt động ngăn cản. Bộ ngoại giao đã nhiều lần lên tiếng phản đối, kể cả đưa ra hội nghị Bộ trưởng ngoại giao ASEAN và các nước. Các hoạt động của lực lượng chấp pháp trên biển đang kiên quyết thực thi nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền trên vùng biển đặc quyền kinh tế . Đó là lý do tại sao Trung Quốc tức tối gây sự và vấn đề này chưa có dấu hiệu thuyên giảm.
Trung Quốc chưa bao giờ có ý định từ bỏ đường 9 đoạn, biến vùng biển EEZ của các nước thành “vùng xám trên biển”(tranh chấp), thực chất là biến vùng biển các nước thành vùng tranh chấp để thực hiện ý đồ lâu dài độc chiếm Biển Đông. Đó cũng là lý do cho đến nay đã 17 năm đàm phán nhưng Trung Quốc tiếp tục trì hoãn ký kết COC với các nước ASEAN. Từ tạo bất ổn đến “gác tranh chấp, cùng khai thác” là từng bước tạo điều kiện cho những yêu sách có lợi cho Trung Quốc với các nước ASEAN. Philippines thỏa thuận với Trung Quốc trong chia lợi nhuận thăm dò khai thác tỉ lệ 60-40 dù nghiêng về Philippines không thể gọi là lợi thế, ảnh hưởng không nhỏ đến tiến trình đàm phán COC và cho hòa bình ổn định trong khu vực. Đó là việc riêng của Philippines chúng ta không thể can thiệp, nhưng sẽ gây bất lợi chung trong xử sự chủ quyền của các nước trên biển trong đó có Việt Nam. Vấn đề giải quyết sẽ còn phức tạp, lâu dài buộc nhà nước ta phải kiên định và kiên trì đường hướng theo nguyên tắc quan hệ quốc tế và Công ước UNCLOS 1982.
  An Nhiên    


Chủ Nhật, 6 tháng 10, 2019

CHỦ ĐỘNG CHẤN CHỈNH, NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG


Chiều 6-10, đoàn kiểm tra Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng (PCTN) do đồng chí Trương Hòa Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó thủ tướng Thường trực Chính phủ, Phó trưởng ban chỉ đạo Trung ương về PCTN làm trưởng đoàn đã làm việc với Thành ủy TP Hồ Chí Minh để kiểm tra, giám sát, đôn đốc, chỉ đạo công tác PCTN năm 2019.

Phát biểu tại buổi làm việc, đồng chí Trương Hòa Bình nhấn mạnh: Thời gian qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung quyết liệt của Đảng, Nhà nước, công tác PCTN tiếp tục được duy trì, đẩy mạnh, tập trung ở nhiều lĩnh vực. Bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn một số tồn tại, hạn chế, như: Cơ chế, chính sách về quản lý kinh tế-xã hội trên một số lĩnh vực còn thiếu, sơ hở, chồng chéo, dễ nảy sinh tham nhũng, nhất là các lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên; đấu thầu và đầu tư, mua sắm, quản lý, sử dụng tài sản công; quản lý vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp… Tình trạng "tham nhũng vặt" đã và đang được chỉ đạo giải quyết quyết liệt song chưa có chuyển biến mạnh. 
Riêng đối với TP Hồ Chí Minh, đồng chí Trương Hòa Bình cho rằng, thời gian qua thành phố đã triển khai được nhiều việc. Nhiều quy định của Đảng, Nhà nước về công tác PCTN, triển khai thực hiện các kết luận thanh tra, kiểm toán xử lý các vụ việc, vụ án đạt được những kết quả quan trọng, góp phần ngăn ngừa tham nhũng trên nhiều lĩnh vực, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế-văn hóa-xã hội của thành phố.       
Chia sẻ những vấn đề TP Hồ Chí Minh đang gặp phải, Phó thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình cho rằng, tình trạng tham nhũng trên địa bàn vẫn còn tiềm ẩn phức tạp. Đồng chí Trương Hòa Bình mong muốn tiếp tục cùng với lãnh đạo thành phố đánh giá tình hình, kết quả thực hiện công tác PCTN thời gian qua; từ đó phát huy ưu điểm, phát hiện hạn chế, khó khăn, vướng mắc, làm rõ nguyên nhân để có biện pháp chủ động chấn chỉnh cũng như kiến nghị với Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN và Chính phủ để nâng cao hiệu quả công tác PCTN của TP Hồ Chí Minh nói riêng và cả nước nói chung.

CẦN NHÌN NHẬN CÔNG TÂM VỀ SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI GIÁO DỤC



Khát vọng, mong muốn của nhân dân và xã hội vào sự chuyển biến tiến bộ của sự nghiệp giáo dục là rất chính đáng. Dù còn những việc đã và đang có trong ngành giáo dục khiến chúng ta chưa hài lòng, nhưng trước khi cầm bút, gõ phím bàn về giáo dục, mỗi người, trước hết là cán bộ, đảng viên rất cần sự bình tĩnh, khách quan trong xem xét, nhận định về các sự kiện, vấn đề giáo dục một cách chính xác, trung thực,toàn diện, công tâm, vì thông tin về giáo dục có ảnh hưởng mật thiết đến việc giữ gìn an ninh tư tưởng-văn hóa của quốc gia.
Thông tin phiến diện, sai lệch về giáo dục cũng là biểu hiện suy thoái
Ít có lĩnh vực nào được xã hội, người dân quan tâm như lĩnh vực giáo dục. Cũng ít có hoạt động nào mà lại liên quan mật thiết đến mọi người, mọi nhà như hoạt động giáo dục. Nói đến giáo dục là nói đến triển vọng và trăn trở của một đời người, tương lai và nỗi lo của cả gia đình, tiền đồ và thử thách của toàn dân tộc.
Triển vọng, tương lai, tiền đồ lớn hay nhỏ; trăn trở, nỗi lo, thử thách nhiều hay ít của nền giáo dục phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có một yếu tố tuy vô hình nhưng lại có tác động đến sự ổn định, phát triển của giáo dục, đó chính là niềm tin của xã hội đối với sự nghiệp giáo dục.
Vậy, đâu là yếu tố then chốt để giáo dục tạo dựng, thu hút, lan tỏa niềm tin trong xã hội? Chắc chắn đó chính là những chuyển biến đồng bộ, những kết quả tiến bộ, những thành tích rõ nét trong lĩnh vực giáo dục từ bậc mầm non đến đại học; từ công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành đến các hoạt động dạy, học, kiểm tra, thi, đánh giá kết quả, kiểm định chất lượng giáo dục và đào tạo. Một thành quả đáng ghi nhận là trong hai năm học gần đây (2017-2018 và 2018-2019), 100% thí sinh Việt Nam dự thi Olympic quốc tế các môn Vật lý, Toán học, Hóa học, Sinh học, Tin học đều đoạt huy chương. Năm học 2018-2019, Việt Nam lần đầu tiên có hai đại học (Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh) được vào top 1.000 đại học hàng đầu thế giới và 7 đại học được vào danh sách các đại học hàng đầu châu Á. Cả nước hiện có gần 550 chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài giữa 85 cơ sở giáo dục đại học Việt Nam và 258 cơ sở giáo dục nước ngoài thuộc 34 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Con số định lượng bao giờ cũng dễ nhìn nhận, nhưng giá trị định tính thì không dễ “cân đong đo đếm”, nên có ý kiến cho rằng, giáo dục Việt Nam vẫn lạc hậu, chưa theo kịp với xu thế phát triển của giáo dục thế giới. Do chỉ nhìn thấy một số hiện tượng tiêu cực xảy ra trong thời gian qua, như: Lạm thu, bạo lực học đường, gian lận thi cử… trong giáo dục, nên có ý kiến nhận định ngành giáo dục liên tiếp bị rơi vào trạng thái “khủng hoảng truyền thông” khiến cho giáo dục Việt Nam vẫn ở tình cảnh loay hoay tìm lối thoát (!).
Tiếc thay, cách nhìn nhận, đánh giá vấn đề như vậy chưa công bằng, thấu đáo. Chưa công bằng ở chỗ là chỉ nhìn một số hiện tượng tiêu cực, bất cập trong hoạt động giáo dục rồi phủ nhận những nỗ lực đổi mới của ngành giáo dục. Chưa thấu đáo ở chỗ là mới nhìn bề mặt mà chưa đánh giá đúng bản chất, chiều sâu vấn đề giáo dục ở nhiều khía cạnh, nhiều góc độ, nhiều phương diện.
Vốn là lĩnh vực rộng lớn, phức tạp, nhạy cảm, trong quá trình triển khai thực hiện đổi mới giáo dục đã xuất hiện nhiều ý kiến phong phú, đa chiều, thậm chí có cả những tranh luận, phản biện đến mức “nảy lửa”. Điều đáng nói ở đây là cái tâm, cái tầm của người tham gia ý kiến, phản biện. Nếu người có tâm đức trong sáng, bản lĩnh vững vàng, giàu tri thức và am hiểu về lĩnh vực, chuyên ngành tham gia tranh luận, góp ý trên tinh thần thiện chí, xây dựng vì lợi ích chung, thì chắc chắn đó là những “lời nói gói vàng”.
Còn những ai chạy theo bề nổi của dư luận, thích nổi tiếng trong đám đông bằng những phát ngôn trái chiều, chưa tìm hiểu cặn kẽ, thấu đáo vấn đề phản biện rồi vội vàng đưa ra ý kiến, phát biểu theo cảm tính chủ quan, thì dễ làm dư luận hiểu sai lệch bản chất vấn đề, gây nhiễu thông tin và không có lợi cho việc củng cố, tăng cường sự đồng thuận xã hội đối với sự nghiệp đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục. Việc “thông tin phiến diện, một chiều, thổi phồng khuyết điểm” về tình hình đất nước, trong đó có lĩnh vực giáo dục, cũng là một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII đã chỉ ra.
Truyền thông đúng mực, khách quan về giáo dục là góp phần giữ vững an ninh tư tưởng - văn hóa
Thực tế cho thấy, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội khi tiến hành đổi mới đều không bao giờ trơn tru, bằng phẳng. Giáo dục không những không nằm ngoài quy luật chung đó, mà còn chịu sự đánh giá, giám sát nghiêm ngặt, khắt khe hơn của dư luận xã hội và mọi người, mọi nhà. Điều này dễ hiểu, bởi bất cứ sự đổi mới nào của giáo dục cũng ảnh hưởng đến hàng triệu học sinh, hàng triệu gia đình, hàng triệu phụ huynh. Vì vậy, nếu đổi mới mà không thận trọng, không có lộ trình thích hợp, bước đi cụ thể, giải pháp khả thi, sát thực tế, thì đổi mới giáo dục dễ tạo ra những cú vấp, thậm chí cú sốc cho xã hội.
Trong khi sự kỳ vọng, mong đợi của toàn xã hội vào sự chuyển biến toàn diện của ngành giáo dục rất lớn, thì việc đầu tư nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) cho “nhiệm vụ quốc sách hàng đầu” lại chưa tương xứng, ngang tầm. Trong khi mọi người, mọi nhà, mọi bậc phụ huynh luôn khát khao giáo dục phải sớm làm thay đổi tương lai cho bản thân, con em, gia đình họ, thì tính chất, đặc điểm, yêu cầu của đổi mới giáo dục lại không được phép nóng vội, chủ quan, đốt cháy giai đoạn. Vì thực tiễn chỉ ra rằng, nếu nhiều nghiên cứu, thí nghiệm, thử nghiệm khoa học khác có thể làm tắt, thì riêng đối với khoa học giáo dục phải làm rất công phu, thận trọng và đòi hỏi phải có thời gian, sự kiên trì, bởi nó liên quan đến nhiều thế hệ và sự thịnh suy, hưng vong của cả quốc gia dân tộc.
Ngành giáo dục đang đối mặt với không ít khó khăn, thách thức vì những bất cập từ cơ chế, chính sách chưa được tháo gỡ căn cơ và cả những vấn đề tồn tại từ lâu mà không dễ bề giải quyết trong một sớm một chiều. Để giải quyết những vấn đề này đòi hỏi phải có sự sẻ chia, chung tay góp sức của toàn xã hội. Vì không có lĩnh vực nào mà lại đòi hỏi sự liên kết chặt chẽ giữa các thành viên trong xã hội như lĩnh vực giáo dục. Ở đâu có con người, có tổ chức, có hoạt động là ở đó có giáo dục. Mặt khác, bản chất của giáo dục là một quá trình liên tục từ năm này qua năm khác, từ thế hệ này qua thế khác. “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây/ Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” (Hồ Chí Minh). Trồng cây ít thì đôi ba năm, dài hơn thì dăm bảy năm, mươi năm là có thể ra hoa kết trái và cho thu hoạch. Nhưng “trồng người” phải kéo dài cả trăm năm, nghĩa là không ngưng nghỉ, không ngắt quãng, mà phải thường xuyên, bền bỉ trao truyền, bồi đắp những tri thức, giá trị mới mà nhân loại đã, đang tạo ra qua từng ngày, từng tháng thì mới có thể đào tạo được một thế hệ con người làm chủ được đất nước, xã hội và xu hướng phát triển của nhân loại.
Phải khẳng định rằng, khát vọng, mong muốn của nhân dân và xã hội vào sự chuyển biến tiến bộ của sự nghiệp giáo dục là rất chính đáng. Điều đáng nói ở đây là, mọi mong muốn, khát vọng phải dựa trên cơ sở hiện thực khách quan của nền giáo dục nói riêng, của điều kiện kinh tế-xã hội đất nước nói chung mới có thể nhìn nhận, đánh giá những vấn đề của giáo dục một cách đạt lý, thấu tình. Dù chưa hẳn hài lòng với những gì ngành giáo dục đã và đang có, nhưng trước khi cầm bút, gõ phím bàn về giáo dục, mỗi chúng ta, trước hết là cán bộ, đảng viên rất cần một “cái đầu lạnh” trong việc xem xét, nhận định về các sự kiện, vấn đề giáo dục một cách trung thực, công tâm, khách quan, vì thông tin về giáo dục có ảnh hưởng mật thiết đến việc giữ gìn an ninh tư tưởng-văn hóa của quốc gia.
Xã hội đặt niềm tin tưởng lớn lao vào ngành giáo dục không chỉ muốn gửi gắm những giá trị tốt đẹp cho tương lai dân tộc, mà còn như muốn thúc giục, nhắc nhở những người làm công tác giáo dục càng phải nỗ lực làm tốt hơn nữa trọng trách cao cả, phận sự lớn lao của mình trước đất nước, nhân dân. Nhưng niềm tin nào cũng rất cần đặt đúng lúc, đúng chỗ, đúng mực, chứ không nên có niềm tin thái quá, vì khi tin gì thái quá dễ làm người trong cuộc thiếu tỉnh táo, thấu đáo khi nhận định, đánh giá những vấn đề, sự kiện giáo dục, nhất là những vấn đề nóng được dư luận xã hội quan tâm.
Khi nhìn nhận, thông tin khách quan, truyền thông đúng mực về giáo dục là chúng ta góp phần động viên, khích lệ hơn 1,2 triệu giáo viên và hơn 22 triệu học sinh giữ vững niềm tin, nhân lên khí thế tích cực trong phong trào thi đua “Dạy tốt, học tốt”, góp phần thực hiện tốt sự nghiệp đổi mới giáo dục để phấn đấu xây dựng nước Việt Nam “sánh vai với các cường quốc năm châu” như Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu hằng mong muốn.

CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG THÔNG TIN XUYÊN TẠC, BỊA ĐẶT LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG TÁC NHÂN SỰ ĐẠI HỘI ĐẢNG



Trước mỗi kỳ đại hội đảng các cấp, nhất là Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, các cơ quan chức năng lại nhận được những đơn thư nặc danh, mạo danh; trên các trang mạng xã hội (MXH) lại lan truyền những thông tin sai trái, bóp méo, xuyên tạc, kích động chia rẽ nội bộ, bôi nhọ những cán bộ liên quan đến công tác nhân sự đại hội.
Đáng tiếc rằng, tham gia vào "đám mây mù" ấy có một số người là cán bộ, đảng viên. Những biểu hiện đó cũng đã được Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII cảnh báo và chỉ rõ, đó là tình trạng “lợi dụng và sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, MXH để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ nội bộ, nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân”.
Những hành vi thấp hèn không thể chấp nhận
Đại hội đảng các cấp là sự kiện chính trị có ý nghĩa quan trọng với cán bộ, đảng viên và quân dân cả nước. Mặc dù chúng ta đang trong quá trình chuẩn bị và hơn một năm nữa Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII  (Đại hội XIII) của Đảng mới diễn ra, nhưng từ nhiều tháng qua, bên cạnh những thông tin tích cực góp phần định hướng dư luận, một thực tế đang diễn ra là nắm bắt được nhu cầu thông tin của người dân về công tác chuẩn bị đại hội, nhất là chuẩn bị nhân sự, một số phần tử thoái hóa biến chất, cơ hội chính trị tung lên các trang MXH đủ các loại thông tin bịa đặt, bôi nhọ, suy diễn, đồn đoán, nhận định vô căn cứ về công tác cán bộ, nhằm gây nhiễu loạn thông tin, chia rẽ nội bộ và phá hoại sự thành công của đại hội đảng các cấp. Đặc biệt, họ lợi dụng quyền tự do ngôn luận để gửi đơn thư nặc danh, mạo danh; triệt để sử dụng internet tán phát thông tin xuyên tạc, nói xấu Đảng, Nhà nước và cá nhân các đồng chí lãnh đạo. Điển hình là trường hợp ông Lê Hữu Thuận, Phó bí thư chi bộ, Trưởng khoa Lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thuộc Trường Chính trị Trần Phú (Hà Tĩnh) đưa những thông tin sai sự thật về sức khỏe cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước lên Facebook... Hành vi của ông Thuận gây ra những tác động xấu trong dư luận, nhất là khi những thông tin ấy được những người thiếu nhãn quan chính trị chia sẻ, bình luận... Đây chỉ là một ví dụ minh chứng cho biểu hiện suy thoái, "tự diễn biến, "tự chuyển hóa"...
Những thông tin xuyên tạc, bịa đặt, nói xấu cán bộ, đảng viên do những phần tử thoái hóa, biến chất, cơ hội trong nội bộ ta tung ra thường biểu hiện ở một số kiểu dạng, như: Xuyên tạc, nói sai sự thật về tình hình sức khỏe cán bộ; moi móc, thêu dệt bí mật đời tư; bình phẩm, phán xét về trình độ, năng lực; xuyên tạc nhân phẩm, đạo đức lối sống... Họ không là thầy thuốc, nhưng lại dựa vào những thông tin cóp nhặt trên mạng về sức khỏe cán bộ. Chẳng hề chứng kiến sự kiện, vậy mà bịa đặt, dựng lên những câu chuyện gắn với hoạt động đối nội, đối ngoại của lãnh đạo Đảng, Nhà nước tán phát trên mạng... khiến dư luận hiểu sai về trình độ, khả năng ứng xử của cán bộ, hiểu sai về đường lối đối nội, đối ngoại của lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta.
Từ những vụ việc đã xử lý, hoặc đang trong quá trình xử lý, họ đưa ra bình luận ác ý, rồi suy diễn, bịa đặt rằng các đối tượng đã “bôi trơn” nên lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các cơ quan bảo vệ pháp luật không dám làm mạnh tay. Vấn đề càng trở nên nguy hiểm khi những thông tin ấy bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng khai thác để tuyên truyền chống phá Đảng và Nhà nước ta. Chẳng hạn từ những thông tin trong nội bộ về kết quả cuộc đấu tranh chống tham nhũng do Đảng ta tiến hành, một số trang mạng ở nước ngoài đã xuyên tạc, bóp méo, vu khống, suy diễn, cho rằng đó là cuộc “thanh toán phe phái”, “trả thù cá nhân” giữa người này với người kia, nhóm này với nhóm khác vì "lợi ích nhóm"... nhằm gieo rắc những hoài nghi trong cán bộ, đảng viên và nhân dân... Bên cạnh đó, ngay trong nội bộ ta cũng có những cán bộ, đảng viên phát ngôn thiếu ý thức xây dựng, suy diễn chủ quan về các mối quan hệ, cho rằng người này ủng hộ người kia, người này cùng ê kíp người kia, rồi tự họ phân chia phe phái. Từ những sự việc mà báo chí đã đưa tin, có người đã xuyên tạc, suy diễn rằng người này đang "dắt tay" người kia vào vị trí này, vị trí nọ. Họ bình phẩm, phát xét rồi nhận định "sắp xếp" người này nghỉ thì người kia lên thay và cuộc chiến chống tham nhũng sẽ đi về đâu, cán cân quyền lực sẽ nghiêng về phe nào? Để hướng lái nội dung đại hội, nhất là công tác nhân sự, khi nghe những thông tin trái chiều trong quần chúng, một số cán bộ, đảng viên chẳng những không định hướng mà còn hùa theo, đưa ra những thông tin bình phẩm về trình độ, năng lực của người này, người kia rồi đặt lên bàn cân so sánh. Khi cần hạ bệ người nào, họ tập trung khoét sâu những hạn chế, khuyết điểm ở những ngành, những lĩnh vực mà cán bộ đó phụ trách, rồi quy kết trách nhiệm theo kiểu “bới lông tìm vết”, "có ít xít ra nhiều", thậm chí là trắng trợn dựng chuyện, bịa đặt, đổi trắng thay đen, bóp méo, làm thay đổi bản chất của các vụ việc liên quan đến một số cán bộ, nhất là những đồng chí nằm trong quy hoạch nhân sự đại hội đảng các cấp... Thực chất của những việc làm trên vẫn là những trò cũ rích đã xuất hiện trong các kỳ đại hội trước đây.
Sai trái cả về pháp lý và đạo lý. Xét về góc độ pháp lý, rõ ràng việc sử dụng các phương tiện truyền thông để đăng phát những thông tin xuyên tạc, bịa đặt, bôi nhọ nhằm xâm hại lợi ích của tổ chức, cá nhân là hành vi vi phạm pháp luật. Cán bộ, đảng viên nào sử dụng các phương tiện thông tin, dùng đơn thư nặc danh, mạo danh để tố cáo sai sự thật, nói xấu, hạ thấp uy tín của người khác, là vi phạm các quy định của Đảng. Pháp luật Việt Nam bảo đảm quyền tự do ngôn luận của công dân, nhưng phải trong khuôn khổ pháp luật và đạo đức xã hội. Việc lợi dụng tự do ngôn luận, tự do trên mạng để xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, nói xấu, hạ thấp uy tín tổ chức và cá nhân, cần phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Nhìn từ góc độ đạo đức, những biểu hiện xuyên tạc, bịa đặt, nói xấu, hạ thấp uy tín cán bộ thông qua MXH, thông qua đơn thư nặc danh, mạo danh là việc làm mờ ám, vụng trộm, lén lút, không trong sáng, không nhân văn giữa con người với con người; giữa người dân, cấp dưới với lãnh đạo, chính quyền cấp trên. Nếu động cơ trong sáng, thực sự vì sự tiến bộ của người khác, với tinh thần xây dựng vì sự vững mạnh của tập thể, vì sự ổn định, phát triển của đất nước thì không thiếu hình thức, biện pháp phê bình, góp ý dân chủ, công khai, minh bạch. Nếu họ thực sự công tâm, vì mục đích xây dựng thì không có chuyện trong suốt quá trình công tác của cán bộ, đảng viên họ không phê bình góp ý và phải chờ đến thời điểm chuẩn bị đại hội mới tung ra.
Việc tung tin xuyên tạc, bịa đặt, viết đơn thư nặc danh, mạo danh nói xấu cán bộ là hành động thấp hèn và gây ra những hậu quả xấu cho cá nhân, tổ chức. Rõ nhất là sự nghi kỵ, chia rẽ đoàn kết trong nội bộ, ảnh hưởng đến sức lãnh đạo của tổ chức đảng và nhiệt huyết cách mạng của cán bộ, đảng viên. Mục đích của những chiêu trò ấy mới nghe tưởng chỉ nhằm vào từng cá nhân đơn lẻ, nhưng xét cho cùng vẫn là nhằm đánh vào vai trò lãnh đạo của Đảng, hạ thấp uy tín lãnh tụ, uy tín cán bộ, đảng viên để chống phá Đảng, chống phá chế độ, chống phá dân tộc ta. Dù thể hiện dưới hình thức nào thì những hành động ấy cũng không che giấu nổi tâm địa xấu xa của những phần tử cơ hội chính trị, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" và càng không thể đánh lừa được dư luận; bởi lẽ đại đa số cán bộ, đảng viên và nhân dân luôn cảnh giác, bình tĩnh, tỉnh táo, sáng suốt trong việc chọn lọc và tiếp nhận thông tin.
Nêu cao cảnh giác, tăng cường đấu tranh phòng, chống thông tin xuyên tạc, bịa đặt
Sự quan tâm theo dõi của người dân đến công tác cán bộ của Đảng, những thông tin về công tác chuẩn bị, nhất là công tác chuẩn bị nhân sự cho đại hội đảng các cấp, đặc biệt là Đại hội XIII của Đảng là điều dễ hiểu và đáng mừng. Bởi lẽ có lo lắng, quan tâm đến tương lai, vận mệnh của dân tộc, đường hướng phát triển của đất nước thì nhân dân mới có nhu cầu thông tin về công tác chuẩn bị đại hội đảng. Để chuẩn bị chu đáo, toàn diện cho đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội XIII của Đảng, ngày 15-8-2019, Ban Bí thư đã ban hành Kết luận số 55-KL/TW. Sau khi khẳng định rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XIII của Đảng, Ban Bí thư yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác chuẩn bị, tiến hành đại hội đảng bộ các cấp theo những nội dung rất cụ thể. Về công tác chuẩn bị nhân sự, Ban Bí thư nhấn mạnh: Chủ động phòng ngừa, cảnh giác, ngăn chặn, đấu tranh, không để tác động, chi phối bởi những thông tin giả, thông tin không chính thức, xấu độc, có dụng ý bịa đặt, xuyên tạc, gán ghép trên internet, MXH liên quan đến công tác chuẩn bị nhân sự.
Để thực hiện tốt chỉ đạo của Ban Bí thư, có nhiều việc cần làm, nhưng trước hết mỗi đảng viên và quần chúng phải hết sức cảnh giác, tỉnh táo trước những thông tin sai trái như đã nêu, kịp thời phát hiện và tẩy chay, không tiếp tay cho kẻ xấu lan truyền thông tin xấu độc, nhất là trên không gian mạng. Muốn làm được điều đó, ngoài việc học tập tìm hiểu, rèn luyện của mỗi người, các cấp ủy đảng cần chú trọng đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục, bồi dưỡng nâng cao bản lĩnh chính trị, trang bị phương pháp xem xét, tiếp cận thông tin một cách đúng đắn, khoa học cho cán bộ, đảng viên và quần chúng. Chỉ có bản lĩnh vững vàng, nhận thức đầy đủ, hiểu biết thấu đáo, dân trí nâng cao thì đảng viên và người dân mới có thể đủ sức đề kháng để tự phòng vệ trước các luồng thông tin tiếp nhận.
Cùng với đó, cần tăng cường thông tin chính thống, đặc biệt là những thông tin liên quan đến công tác tổ chức cán bộ, công tác nhân sự chuẩn bị cho đại hội đảng để đáp ứng nhu cầu thông tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Cơ quan lãnh đạo của Đảng phải công minh, tỉnh táo để tiếp nhận, xử lý thông tin trái chiều một cách thấu đáo, đúng pháp luật và Điều lệ của Đảng. Khi thông tin chính thống được dân chủ, công khai, minh bạch, thông thoáng, nhân dân sẽ tin hơn và kẻ xấu muốn lợi dụng để xuyên tạc, bôi nhọ, nói xấu cũng khó mà thực hiện.
Mặt khác, mỗi chúng ta phải có trách nhiệm kịp thời lên tiếng, đấu tranh, đẩy lùi thông tin xuyên tạc, bịa đặt; kiên quyết không để kẻ xấu coi thường kỷ cương phép nước, cố tình bôi nhọ uy tín, thanh danh cán bộ, đảng viên, nói xấu Đảng, Nhà nước và cá nhân các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước nhằm gây hoang mang dư luận, gây nghi kỵ lẫn nhau, chia rẽ đoàn kết nội bộ, ảnh hưởng không tốt đến công tác chuẩn bị nhân sự của đại hội đảng các cấp, nhất là Đại hội XIII của Đảng.   

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...