Thứ Bảy, 8 tháng 6, 2019

ĐẤU TRANH LOẠI BỎ BIỂU HIỆN “LỢI DỤNG, LẠM DỤNG CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN” - GIẢI PHÁP LÀM TRONG SẠCH ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN



Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) chỉ rõ: “lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn” là một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống rất nghiêm trọng của một bộ phận cán bộ, đảng viên có chức, có quyền trong hệ thống chính trị. Chính vì vậy, đấu tranh loại bỏ nó là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung và làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay.
Hiện nay, trong bộ máy công quyền ở nước ta, đa phần cán bộ, đảng viên có phẩm chất đạo đức tốt, luôn nỗ lực phấn đấu vươn lên hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, bên cạnh đó, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên có những biểu hiện lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ diễn ra trên nhiều lĩnh vực, với những thủ đoạn rất tinh vi. Có người lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý làm trái nhằm chiếm đoạt tài sản (cá nhân, tổ chức, nhà nước), làm sai lệch kết quả hoặc thông tin nào đó,… để trục lợi cá nhân. Có người lại thao túng công tác cán bộ, lạm dụng quyền lực để cất nhắc, bổ nhiệm đề bạt người thân, người nhà, “cánh hẩu” vào các vị trí, chức vụ được cho là nhạy cảm, “dễ sinh lời”, v.v. Việc lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi của cán bộ, đảng viên do nhiều nguyên nhân. Một trong những nguyên nhân cơ bản nhất là do cơ chế kiểm soát quyền lực, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát của các tổ chức của Đảng, các cơ quan của Nhà nước từ Trung ương đến địa phương cũng như các tổ chức chính trị xã hội các cấp chưa thật sự đồng bộ, hiệu quả; còn có những kẽ hở để một số cán bộ, đảng viên lợi dụng, lạm dụng, cố ý làm trái.
Trên thực tế, việc thực hiện quyết tâm phòng, chống tham nhũng và thực thi Luật Phòng chống tham nhũng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta từ sau Đại hội XII đến nay đã đạt được kết quả bước đầu rất quan trọng. Đã có hơn 1.300 cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật, trong đó có cả cán bộ cấp cao thuộc diện Trung ương quản lý liên quan đến các biểu hiện lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn cố ý làm trái Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, chuyên quyền, độc đoán trong công tác cán bộ,... dẫn đến gây hậu quả nghiêm trọng, gây thất thoát tiền, tài sản của nhà nước, nhân dân; làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, gây bức xúc trong xã hội. Đặc biệt, lợi dụng biểu hiện đó, các thế lực thù địch, cơ hội, phản động xuyên tạc, quy kết, thổi phồng, thực hiện ý đồ xấu. Bởi vậy, đấu tranh loại bỏ những biểu hiện lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn là một trong những vấn đề cấp bách, giải pháp rất quan trọng nhằm làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh hiện nay.
Để thực hiện mục tiêu đó, chúng ta cần tập trung làm tốt một số vấn đề chủ yếu sau:
Một là, nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong đấu tranh phòng, chống hành vi lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi. Các cấp, các ngành, địa phương đẩy mạnh tuyên truyền, làm cho mọi người thấy rõ việc đấu tranh xóa bỏ hành vi lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ là tất yếu khách quan, giải pháp quan trọng trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và xử lý nghiêm khắc những cán bộ, đảng viên sai phạm không làm “chậm lại” sự phát triển, mà ngược lại, càng làm trong sạch, tạo sức mạnh thật sự của bộ máy và đội ngũ cán bộ, củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân. Để đạt hiệu quả cao, các tổ chức đảng, nhất là chi bộ phải làm tốt công tác giáo dục, quán triệt cho mọi cán bộ, đảng viên, nhất là những người có chức vụ trong hệ thống chính trị về tinh thần, ý thức phục vụ, chức trách, nhiệm vụ, thẩm quyền theo quy định; nâng cao tinh thần phê bình và tự phê bình; phân tích chất lượng cán bộ, đảng viên hằng năm phải lấy Luật Công chức, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhất là về đạo đức nghề nghiệp, đạo đức công vụ, đảm bảo quá trình thực thi công vụ của công chức Nhà nước phải “suốt đời làm công bộc của nhân dân, không màng đến vòng danh lợi” làm căn cứ đánh giá. Cùng với đó, các cơ quan, đơn vị cần cụ thể hóa để thực hiện tốt Quy định 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”. Trong đó, mỗi cán bộ, đảng viên nêu gương “phải nghiêm khắc với bản thân và kiên quyết chống lợi dụng chức vụ, quyền hạn”; nguwoif có chức vụ càng cao thì sự gương mẫu, tinh thần “dĩ công vị thượng” càng phải được khẳng định; tuyệt đối “không để người thân lợi dụng chức vụ, quyền hạn, uy tín của mình để vụ lợi”.
Hai là, tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực thi nhiệm vụ, chức trách, quyền hạn của cán bộ, đảng viên. Đây là giải pháp có ý nghĩa rất quan trọng, nhằm kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những biểu hiện, hành vi vi phạm quy chế, quy định pháp luật,… của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước của bộ máy công quyền. Vì thế, phải tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát; duy trì nghiêm kỷ luật, kỷ cương, đạo đức công vụ, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu, kiên quyết ngăn chặn tình trạng quan liêu, buông lỏng quản lý, xa rời thực tiễn, cơ sở. Đồng thời, tiếp tục kiện toàn, phát huy hơn nữa vai trò của các cơ quan phòng, chống tham nhũng, giúp việc các cấp ủy từ Trung ương đến cơ sở; xây dựng các cơ quan nội chính, kiểm tra, thanh tra, điều tra, kiểm sát, xét xử phải vững mạnh, thực sự là những “thanh bảo kiếm” sắc bén, có bản lĩnh bảo vệ cái đúng, chỉ rõ cái sai, can ngăn những việc làm chưa đúng. Cùng với đó, phải phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, kịp thời phát hiện những biểu hiện sai trái, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi cá nhân và gia đình; có quy định chặt chẽ để ngăn ngừa hiệu quả những sự tác động vào hoạt động của các cơ quan này; tránh tình trạng làm cho qua, hình thức, chiếu lệ, nể nang, thậm chí biểu hiện bao che, chống lưng, sân sau, lợi ích nhóm.
Ba là, tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong toàn hệ thống chính trị. Các cơ quan, đơn vị cần nhanh chóng hoàn thiện quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; các quy định về kiểm soát quyền lực, trách nhiệm người đứng đầu khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm giải trình, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch; quy định về việc ngăn chặn những người có chức, có quyền lợi dụng cương vị công tác để trục lợi; quy định về cho thôi, miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý; quy định về điều chuyển, thay thế cán bộ khi có dư luận hoặc có biểu hiện tiêu cực, lợi dụng chức, quyền, tham nhũng, uy tín thấp. Song song với đó, cần thực hiện tốt cơ chế kiểm soát, giám sát và phản biện từ trên xuống, từ dưới lên, từ bên ngoài (của nhân dân, các tổ chức xã hội,…) và từ trong nội bộ cơ quan, tổ chức, làm cho cán bộ, đảng viên “không thể” và “không dám” lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn hoặc cố ý làm trái trong khi thi hành công vụ. Trong đó, việc phát huy tai mắt nhân dân, vai trò của báo chí là một giải pháp rất quan trọng. Thực tế thời gian qua cho thấy, nhiều vụ án tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn được phát giác từ quần chúng nhân dân và báo chí, dư luận xã hội.
Bốn là, kịp thời xử lý đối với cán bộ, đảng viên có những biểu hiện, hành vi lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ. Đây là việc làm hết sức quan trọng, có tác dụng trực tiếp cảnh báo, phòng ngừa, răn đe đối với các tổ chức đảng và đảng viên, cán bộ, công chức vi phạm kỷ luật; thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật và kỷ luật của Đảng. Các cơ quan, đơn vị phải quán triệt và thực hiện đúng phương châm chỉ đạo của Đảng xử lý những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, vi phạm kỷ luật nói chung, hành vi lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn nói riêng một cách nghiêm minh, chính xác, khách quan, đúng người, đúng tội; không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng; tạo môi trường làm việc văn hóa, thân thiện, đoàn kết , … để cán bộ, đảng viên được tôi luyện và trưởng thành.
Đấu tranh loại bỏ những biểu hiện lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn ra khỏi suy nghĩ, hành vi của cán bộ, đảng viên là việc làm mang tính cấp bách và là một trong những giải pháp rất cơ bản làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, góp phần xây dựng xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội có đủ phẩm chất, trình độ, năng lực, uy tín, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.
Đại tá, PGS, TS. NGUYỄN SỸ HỌA, Học viện Lục quân

“LÒ LỬA” NAM Á TRƯỚC NGUY CƠ BÙNG PHÁT



Ngày 14-02-2019, vụ tấn công của nhóm khủng bố Jaish-e-Mohammad (có trụ sở tại Pa-ki-xtan) vào khu vực Ca-sơ-mia do Ấn Độ kiểm soát đã châm ngòi cho một loạt hành động trả đũa quân sự lẫn nhau giữa hai quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân. Dư luận quốc tế lo ngại rằng, căng thẳng trên nếu không được giải quyết kịp thời có thể làm bùng nổ “lò lửa” Nam Á vốn đã âm ỉ từ lâu.
Lịch sử quan hệ thù địch giữa hai nước
Xét một cách toàn diện, những mâu thuẫn dai dẳng, có lúc căng thẳng đến đỉnh điểm xảy ra giao tranh giữa Ấn Độ và Pa-ki-xtan có nguồn gốc sâu xa từ trong lịch sử. Dưới thời thuộc địa Anh, tiểu lục địa Ấn Độ được chia làm hơn 500 vương quốc do các ông hoàng bản địa lãnh đạo về hình thức, còn quyền lực thật do người Anh nắm giữ. Tháng 8-1947, Anh quyết định trao trả độc lập cho vùng Nam Á theo Kế hoạch Mun-bát-ten (Mountbatten), chia khu vực này thành 02 quốc gia độc lập là Ấn Độ (với người Hin-đu chiếm đa số) và Pa-ki-xtan (với đa số là người Hồi giáo).
Sau quyết định chia tách, 90 triệu người dân của các tiểu quốc đứng trước sự lựa chọn gia nhập một trong hai quốc gia mới. Trong quá trình di chuyển về lãnh thổ quốc gia lựa chọn, các tôn giáo đã tàn sát lẫn nhau, làm hàng trăm nghìn người dân bị giết hại, đẩy mâu thuẫn hận thù tôn giáo, sắc tộc giữa hai nước lên cao. Không lâu sau đó, tháng 10-1947, cuộc tranh chấp khu vực Ca-sơ-mia bằng quân sự lần đầu tiên xảy ra giữa Ấn Độ và Pa-ki-xtan. Do cuộc chiến kéo dài không có hồi kết, ngày 01-01-1949, một thỏa thuận ngừng bắn do Liên hợp quốc làm trung gian được ký với quyết định dành 65% lãnh thổ Ca-sơ-mia cho Ấn Độ kiểm soát và phần còn lại thuộc về Pa-ki-xtan. Đường ranh giới ngừng bắn (LOC) được thiết lập và từ đó đến nay vẫn được coi như biên giới giữa Ấn Độ và Pa-ki-xtan tại Ca-sơ-mia.
Tuy nhiên, vấn đề nằm ở chỗ, đa số người Hồi giáo ở khu vực Ca-sơ-mia thuộc phần kiểm soát của Ấn Độ không muốn nằm dưới quyền cai trị của người Hin-đu, cùng với việc nhiều tín đồ Hồi giáo ở đây bị phân biệt đối xử khi di cư tới những khu vực khác của Ấn Độ, khiến mâu thuẫn tôn giáo, sắc tộc ngày càng lên đỉnh điểm. Với lý do đòi lại công bằng cho những người Hồi giáo anh em ở bên kia biên giới, nhiều nhóm vũ trang được thành lập tại phần lãnh thổ Pa-ki-xtan để thực hiện những cuộc tấn công nhằm vào người Hin-đu, nhưng kết quả không những không đạt được, mà còn làm cho mối quan hệ giữa hai tôn giáo, hai quốc gia ngày càng trở nên căng thẳng hơn. Không dừng ở đó, năm 1965, Ca-sơ-mia tiếp tục là khu vực tranh chấp lần thứ hai giữa Pa-ki-xtan và Ấn Độ, trực tiếp là giữa hai tôn giáo nhưng kết cục cũng không cải thiện được tình hình. Và rồi, cuộc xung đột lần thứ ba tiếp tục diễn ra vào năm 1971, khi Ấn Độ trợ giúp phong trào ly khai đòi độc lập ở Đông Pa-ki-xtan với kết quả là nước Băng-la-đét được thành lập. Và mâu thuẫn giữa hai nước ngày càng gia tăng.
Trước tình hình đó, để khẳng định sức mạnh quân sự răn đe đối thủ, cả hai nước bước vào cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân và trong cuộc xung đột nghiêm trọng gần đây nhất (tháng 5-1999), tại vùng Ca-gin, hai nước đã đe dọa và có ý định sử dụng vũ khí hạt nhân. Nguyên nhân là do biệt kích Pa-ki-xtan đã xâm nhập vào vùng lãnh thổ Ca-sơ-mia thuộc quyền kiểm soát của Ấn Độ, nhằm tái chiếm một thung lũng mà Pa-ki-xtan cho rằng là của mình. Về mặt địa lý, Ca-gin là vùng đất nằm sát đường ranh giới giữa Ấn Độ và Pa-ki-xtan do Liên hợp quốc lập ra tại khu vực Ca-sơ-mia. Khu vực này được bao quanh bởi những dãy núi cao có giá trị lớn về mặt quân sự, nhất là việc triển khai các phương án cơ động lực lượng yểm trợ, tiếp tế quân lương qua tuyến đường nối với Ska-du - một thị trấn của Pa-ki-xtan, cách Ca-gin khoảng 170km về phía Tây Bắc. Nếu chiếm được Ca-gin, Pa-ki-xtan sẽ kiểm soát toàn bộ khu vực Ca-sơ-mia. Ban đầu, I-xla-ma-bát phủ nhận trách nhiệm về cuộc tấn công và cho rằng đó là kế hoạch của một nhóm phiến quân độc lập. Tuy nhiên, các cuộc điều tra do Liên hợp quốc tiến hành đều khẳng định: quân đội Chính phủ Pa-ki-xtan là lực lượng thực hiện kế hoạch chiếm đóng Ca-gin. Thậm chí, Mỹ còn chỉ rõ rằng, hầu hết 700 quân xâm nhập qua đường ranh giới Ca-sơ-mia là thuộc Quân đoàn 10 của Pa-ki-xtan. Với quyết tâm không thể để mất khu vực địa hình có giá trị chiến lược này, ngày 06-6-1999, Ấn Độ dồn tổng lực tấn công quân sự với chiến dịch mang tên Vi-jay. Sau hơn một tháng giao tranh dữ dội, con số thương vong của cả hai phía đã lên tới gần 2 nghìn người; cuộc tranh chấp Ca-gin đã đẩy hai nước tới sát bờ vực chiến tranh hạt nhân, nguy hiểm hơn cả thời điểm năm 1962, khi Liên Xô và Mỹ đe dọa sử dụng tên lửa hạt nhân xung quanh việc giải quyết vấn đề Cu-ba. Đứng trước tình hình này, nhiều quốc gia trên thế giới không thể ngồi im. Cuối tháng 6-1999, Tổng thống Mỹ Bin Clin-tơn và các cố vấn an ninh quốc gia đã có cuộc họp khẩn cấp để kịp thời tháo ngòi nổ chiến tranh. Với những dữ liệu điều tra có được về việc Pa-ki-xtan đang chuẩn bị triển khai lực lượng hạt nhân, trong thư gửi Thủ tướng Na-oa Sa-ríp, Tổng thống Bin Clin-tơn đặt điều kiện tiên quyết là I-xla-ma-bát phải rút quân, nếu không Oa-sinh-tơn sẽ giữ lại 100 triệu USD mà nước này vay của Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Sau nhiều cuộc trao đổi gay gắt, cuối cùng Mỹ cũng đã tạo được sức ép với nhà lãnh đạo Pa-ki-xtan trong chuyến thăm Oa-sinh-tơn vào đầu tháng 7-1999. Ngày 11-7-1999, Pa-ki-xtan buộc phải rút quân khỏi Ca-gin, kết thúc một trong những cuộc chiến được coi là đẫm máu nhất giữa hai nước láng giềng sở hữu vũ khí hạt nhân tại Nam Á.
Có thể nói, Ca-sơ-mia là tâm điểm tranh chấp giữa hai nước và trên thực tế, sau trận chiến Ca-gin năm 1999, Ấn Độ và Pa-ki-xtan đã có những nỗ lực đàm phán nhằm xây dựng một mối quan hệ hữu hảo hơn. Điều đó được thể hiện rõ nét vào năm 2015, sau khi giành thắng lợi trong cuộc bầu cử, Thủ tướng Ấn Độ Na-ren-đra Mô-đi đã mời người đồng cấp Pa-ki-xtan Na-oa Sa-ríp tham dự lễ nhậm chức của mình. Tiếp theo đó, Niu Đê-li đã khởi động một tiến trình hòa giải với quốc gia láng giềng. Tuy nhiên, kế hoạch của hai bên chưa kịp triển khai thì ngày 02-01-2016, căn cứ không quân Pa-than-kot của Ấn Độ lại bị nhóm khủng bố Jaish-e-Mohammad tấn công. Hy vọng hòa bình vừa nhen lên đã lại vụt tắt.
Nguy cơ thổi bùng lò lửa Nam Á
Vụ tấn công khủng bố ngày 14-02-2019 nhằm vào Ấn Độ thêm một lần nữa thổi bùng những mâu thuẫn giữa hai quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân và có thể biến Nam Á thành một “lò lửa” khó kiểm soát. Cáo buộc I-xla-ma-bát đứng đằng sau vụ đánh bom, Niu Đê-li đã thực hiện hàng loạt hành động đáp trả, như: xóa bỏ ưu đãi tối huệ quốc đối với Pa-ki-xtan, đẩy nhanh tiến độ xây dựng các đập ở thượng nguồn sông Ấn làm giảm nguồn nước chảy vào Pa-ki-xtan, đưa chiến đấu cơ không kích các cơ sở của Jaish-e-Mohammad trên đất Pa-ki-xtan. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, một quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân thực hiện không kích vào một quốc gia khác cũng sở hữu vũ khí hạt nhân. Đáp lại, Pa-ki-xtan lập tức bắn hạ 02 máy bay Ấn Độ, điều động thêm 05 đơn vị tên lửa đất đối không LY-80 (HQ-16) và ra-đa cảnh giới đường không IBIS-150 cùng nhiều máy bay không người lái tới sát đường biên giới nhằm răn đe đối thủ.
Xét về tương quan sức mạnh quân sự, Pa-ki-xtan hiện duy trì lực lượng quân đội đông đảo với 560.000 binh sĩ, nhưng vẫn kém hơn nhiều so với con số 1,2 triệu quân của Ấn Độ. Trong trường hợp khẩn cấp, Niu Đê-li vẫn còn lực lượng dự bị và tổng động viên đông đảo gấp nhiều lần I-xla-ma-bát. Ấn Độ hiện có khoảng 3.500 xe tăng, trong đó có các xe tăng hiện đại nhất của Nga là T-90; trong khi đó, Pa-ki-xtan chỉ sở hữu khoảng 2.500 xe, chủ yếu do Trung Quốc sản xuất. Về không quân, Pa-ki-xtan hiện có 425 máy bay chiến đấu các loại do Pháp, Mỹ, Trung Quốc sản xuất; Ấn Độ sở hữu 800 máy bay nhưng đa số có từ thời Liên Xô, như: MIG-21 và MIG-27, sức mạnh chủ lực của không quân Ấn Độ nằm ở 200 chiếc Su-30 với đầy đủ trang thiết bị, vũ khí tối tân. Về hải quân, Ấn Độ sở hữu nhiều tàu chiến cỡ lớn hơn Pa-ki-xtan. Điểm đáng lưu ý là, dù yếu thế hơn nhiều so với Ấn Độ về sức mạnh quân sự, nhưng Pa-ki-xtan vẫn nắm trong tay “vũ khí tối thượng” có sức mạnh tương xứng, đó chính là vũ khí hạt nhân. Theo thống kê, Pa-ki-xtan sở hữu khoảng từ 140 - 150 đầu đạn hạt nhân, hơn một chút so với Ấn Độ (khoảng 130 - 140). Theo nhận định của các nhà phân tích, ngưỡng giới hạn cho một cuộc chiến tranh hạt nhân bùng nổ giữa hai quốc gia này hiện đang ở mức “báo động đỏ”. Học thuyết hạt nhân của Pa-ki-xtan chỉ thị rõ mục tiêu tấn công hạt nhân duy nhất là Ấn Độ. Nguy hiểm hơn, Pa-ki-xtan cũng có quan điểm sẵn sàng sử dụng vũ khí hạt nhân trước, nhằm đáp trả một cuộc tấn công bằng vũ khí thông thường trên quy mô lớn của Ấn Độ. Về phần mình, Ấn Độ đã phát triển học thuyết “khởi phát nhanh” để sẵn sàng trả đũa ngay sau một cuộc tấn công bất thường của Pa-ki-xtan, với việc huy động nửa triệu binh sĩ trong 72 giờ và tấn công bằng xe bọc thép, nhanh chóng chiếm các mục tiêu giới hạn dưới ngưỡng hạt nhân của I-xla-ma-bát.
Hiện tại, nhiều cường quốc, nhất là Mỹ, Trung Quốc và Nga đang nỗ lực ngăn chặn việc bùng nổ một cuộc chiến tranh toàn diện ở Nam Á. Những tín hiệu phát đi gần đây của Ấn Độ và Pa-ki-xtan cho thấy, cấp độ thù địch đã vượt xa các đụng độ ở biên giới. Hay nói cách khác, nguy cơ xảy ra một cuộc xung đột quân sự Ấn Độ - Pa-ki-xtan trên quy mô lớn là rất cao. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, một cuộc chiến tranh hạt nhân giữa Ấn Độ và Pa-ki-xtan không chỉ giết chết hàng triệu người ở Nam Á, mà còn gieo rắc thảm họa lên ngành nông nghiệp toàn cầu bởi một lượng rất lớn khói, tro bụi bay vào bầu khí quyển và có thể dẫn tới cái chết của khoảng 2 tỷ người trên toàn thế giới.
Theo các nhà phân tích quốc tế, cả Ấn Độ và Pa-ki-xtan đều đang ở trên “con dốc trơn” và nếu họ không ngừng ngay các cuộc không kích cũng như nã pháo vào nhau, rất có thể hai nước láng giềng trang bị vũ khí hạt nhân này sẽ không còn đường lui. Hiện nay, cánh cửa để hạ nhiệt căng thẳng dù hẹp nhưng cơ hội cho một thỏa hiệp vẫn còn, nếu mỗi bên chịu dẹp bớt những toan tính, lợi ích riêng để cùng ngồi lại vì sự ổn định chung. Bởi, tiếp tục quân sự hóa cuộc xung đột chỉ làm suy yếu khả năng đạt được một giải pháp thông qua đàm phán. Nếu ban lãnh đạo mỗi nước không thể hiện ý chí chính trị mạnh mẽ, tranh chấp và bạo lực sẽ tiếp tục khiến vòng xoáy xung đột gia tăng lên những cấp độ mới.
Dư luận kỳ vọng, thời gian tới, với sự giúp đỡ của các cường quốc và tổ chức quốc tế, hai nước sẽ giải quyết cuộc xung đột thông qua các biện pháp ngoại giao và đối thoại vì mục đích hòa bình, ổn định không của chỉ riêng hai nước, mà cả của khu vực và thế giới.

CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” CỦA MỸ NHÌN TỪ CUỘC KHỦNG HOẢNG Ở VÊ-NÊ-DU-Ê-LA



Sau khi thực hiện thành công chiến lược “Diễn biến hòa bình” làm tan rã chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, Mỹ tiếp tục sử dụng chiến lược này để loại bỏ chính thể ở những quốc gia không chấp nhận vai trò lãnh đạo của Oa-sinh-tơn. Trong đó, Vê-nê-du-ê-la đã và đang trở thành tâm điểm chống phá.
Vị thế của Vê-nê-du-ê-la trong chiến lược toàn cầu của Mỹ
Vê-nê-du-ê-la là quốc gia có vị trí hết sức quan trọng trong chiến lược toàn cầu của Mỹ trên nhiều phương diện. Đặc biệt, trong cuộc cạnh tranh chiến lược toàn diện với Trung Quốc và Nga hiện nay, Vê-nê-du-ê-la càng trở nên quan trọng đối với Mỹ cả về kinh tế, chính trị và quân sự.
Về kinh tế, Mỹ theo đuổi toan tính kiểm soát nguồn dầu mỏ khổng lồ của Vê-nê-du-ê-la1, hòng đánh bật ảnh hưởng của Trung Quốc và Nga ra khỏi quốc gia này, hướng tới kiểm soát toàn bộ nguồn tài nguyên dầu mỏ của thế giới. Theo các chuyên gia, đây là một trong những nội dung quan trọng nhất, có ý nghĩa then chốt trong chiến lược toàn cầu của Mỹ, nhằm tiếp tục duy trì vị thế cho đồng đô la được bảo đảm bằng tổng giá trị tài nguyên dầu mỏ của thế giới và cũng là một trong những trụ cột của nền kinh tế Mỹ.
Về chính trị, Mỹ không chấp nhận tư tưởng cách mạng Bô-li-va hay “chủ nghĩa xã hội thế kỷ 21” do cố Tổng thống Hu-gô Cha-vét khởi xướng và người tiếp nối tư tưởng này là Tổng thống đương nhiệm Ni-cô-lát Ma-đu-rô. Chính vì vậy, kể từ năm 1999, khi ông Hu-gô Cha-vét lên cầm quyền ở Vê-nê-du-ê-la, Oa-sinh-tơn đã đẩy mạnh thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, nhằm loại bỏ chính thể ở Ca-ra-cát, dựng lên một chính thể khác nhằm bảo vệ lợi ích của Mỹ tại quốc gia này, nhưng chưa thành công. Hiện nay, Tổng thống Mỹ Đô-nan Trăm - người từng tuyên bố không chấp nhận chủ nghĩa xã hội, đang ráo riết đẩy nhanh quá trình thay đổi thể chế chính trị ở Vê-nê-du-ê-la.
Về quân sự, Mỹ đặc biệt lo ngại trước hoạt động của Nga không chỉ đầu tư vào ngành khai thác dầu mỏ, mà còn là nhà cung cấp vũ khí chính cho Vê-nê-du-ê-la. Hiện tại, Vê-nê-du-ê-la là quốc gia nhập khẩu vũ khí lớn nhất của Nga ở Mỹ La-tinh. Mát-xcơ-va cũng đang nghiên cứu khả năng sử dụng một căn cứ quân sự ở Vê-nê-du-ê-la trên cơ sở thỏa thuận đã ký kết giữa hai bên; đồng thời, sử dụng các hải cảng, sân bay của Vê-nê-du-ê-la để bảo dưỡng kỹ thuật và tiếp nhiên liệu cho lực lượng không quân và hải quân hoạt động ở Đại Tây Dương và Thái Bình Dương. Đây có thể là biện pháp của Nga nhằm đáp trả sự tăng cường hiện diện quân sự của Mỹ và NATO tại những quốc gia Đông Âu sát biên giới Nga. Về phía Mỹ, nước này phản đối việc hợp tác quân sự giữa Nga và Vê-nê-du-ê-la; đồng thời, tính đến phương án sau khi hai nước rút khỏi Hiệp ước Các lực lượng hạt nhân tầm trung (INF), Mát-xcơ-va có thể bố trí những loại tên lửa này trên lãnh thổ Vê-nê-du-ê-la để đáp trả quyết định của Mỹ biến châu Âu thành căn cứ tên lửa khổng lồ sát biên giới Nga.
Chiến lược “Diễn biến hòa bình” của Mỹ ở Vê-nê-du-ê-la
Hoa Kỳ đang dựa vào Học thuyết Môn-rô2 được Quốc hội nước này thông qua năm 1823, để tự cho mình quyền được can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia ở Mỹ La-tinh - nơi Oa-sinh-tơn coi là “sân sau” của họ. Trên thực tế, Mỹ đang tìm mọi biện pháp ngăn chặn, kiềm chế sự ảnh hưởng ngày càng tăng của Nga và Trung Quốc ở khu vực Mỹ La-tinh, nhất là khi chiến lược “Vành đai và Con đường” của Trung Quốc đang động chạm tới “sân sau” của họ; trong đó, Mỹ hết sức chú trọng ngăn cản việc thực thi dự án xây dựng Kênh đào thế kỷ đi qua Ni-ca-ra-goa để thay thế Kênh đào Pa-na-ma do họ đang kiểm soát. Đồng thời, đẩy mạnh thực hiện đột phá xóa bỏ thể chế chính trị ở Vê-nê-du-ê-la cũng như ở Cu-ba, Ni-ca-ra-goa, Bô-li-vi-a và các nước khác ở khu vực Mỹ La-tinh đang ủng hộ dự án chiến lược “Vành đai và Con đường” của Trung Quốc, đi ngược quỹ đạo của Oa-sinh-tơn.
Để thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” loại bỏ chính thể ở Vê-nê-du-ê-la, Mỹ đã và đang áp dụng nhiều biện pháp khác nhau.
Một là, tạo cớ để can thiệp. Thông qua bộ máy truyền thông khổng lồ và nhận được sự hưởng ứng của truyền thông nhiều nước đồng minh, Mỹ không ngừng lên án chính thể của Tổng thống Hu-gô Cha-vét trước đây và Tổng thống Ni-cô-lát Ma-đu-rô hiện nay là chế độ “độc tài”, “tham nhũng” và “vi phạm nhân quyền”. Đồng thời, tiến hành cuộc chiến tranh thông tin - tâm lý trên quy mô quốc tế, dựa vào những khó khăn và khủng hoảng kinh tế do tác động của nhiều yếu tố: chủ quan và khách quan, bên trong và bên ngoài,… để kích động người dân Vê-nê-du-ê-la xuống đường biểu tình đòi thay đổi lãnh đạo đất nước, với cáo buộc “yếu kém và bất lực trong quản lý kinh tế”. Biện pháp này đã từng được Mỹ sử dụng khá hiệu quả ở nhiều quốc gia, như: Nam Tư (dẫn tới cuộc chiến tranh Cô-xô-vô năm 1999), Tuy-ni-di, Ai Cập, Li-bi và Xy-ri (trong các biến động chính trị mang tên “Mùa Xuân A-rập”) và U-crai-na.
Hai là, hậu thuẫn lực lượng đối lập. Một trong những khiếm khuyết rất nghiêm trọng trong hệ thống chính trị của Vê-nê-du-ê-la là chấp nhận sự tồn tại của chế độ đa đảng chính trị. Ở Vê-nê-du-ê-la hiện nay, ngoài Ðảng Xã hội chủ nghĩa thống nhất - đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động đang nắm quyền lãnh đạo đất nước, còn có nhiều đảng phái chính trị khác không chỉ được phép tồn tại mà còn có quyền tham gia ứng cử, đề cử vào quốc hội và bầu cử tổng thống. Trong đó, đáng chú ý là các đảng đối lập, như: Công lý trước tiên, Ý nguyện nhân dân, Hành động dân chủ, v.v. Trong cuộc bầu cử Quốc hội Vê-nê-du-ê-la ngày 06-12-2015, các đảng đối lập đã giành chiến thắng và thống nhất với nhau sẽ luân phiên trao ghế Chủ tịch Quốc hội Vê-nê-du-ê-la cho lãnh đạo các đảng này. Ngày 05-01-2019, thành viên của Đảng Ý nguyện nhân dân là Hoan Gu-ai-đô - nhân vật thân Mỹ và đã từng được Cục Tình báo Trung ương Mỹ tuyển mộ, được trao quyền Chủ tịch Quốc hội Vê-nê-du-ê-la. Đây chính là cơ hội để Mỹ hành động. Theo kịch bản được Oa-sinh-tơn soạn thảo, ngày 23-01-2019, Hoan Gu-ai-đô tuyên bố là “Tổng thống lâm thời của Vê-nê-du-ê-la”. Ngay lập tức, Mỹ và nhiều nước đồng minh tuyên bố công nhận Hoan Gu-ai-đô là “Tổng thống hợp hiến duy nhất của Vê-nê-du-ê-la” và không công nhận Ni-cô-lát Ma-đu-rô là tổng thống, mặc dù ông được người dân Vê-nê-du-ê-la bầu lên, thông qua cơ chế dân chủ bỏ phiếu trực tiếp toàn dân và vừa tuyên thệ nhậm chức trước đó vài ngày.
Ba là, thực hiện các biện pháp cấm vận, trừng phạt kinh tế và cô lập ngoại giao. Lấy lý do “Vê-nê-du-ê-la gây nên mối đe dọa đặc biệt đối với an ninh quốc gia và chính sách đối ngoại của Mỹ”, Oa-sinh-tơn đã áp đặt các biện pháp cấm vận, trừng phạt kinh tế đối với Ca-ra-cát. Từ năm 2013 đến 2017, các lệnh cấm vận tài chính của Mỹ ước tính gây thiệt hại cho Vê-nê-du-ê-la khoảng 350 tỷ USD. Đặc biệt, ngày 28-01-2019, Mỹ đã tung ra “đòn trừng phạt hạng nặng” để chống lại chính quyền Tổng thống Ni-cô-lát Ma-đu-rô. Mỹ đã phong tỏa tất cả tài sản của Tập đoàn Dầu khí quốc doanh Vê-nê-du-ê-la (PDVSA) và mọi khoản tiền mà Mỹ mua dầu của Vê-nê-du-ê-la sẽ chuyển vào một tài khoản được đóng băng (bao gồm tiền mua dầu trong năm 2019 khoảng 11 tỷ USD và 7 tỷ USD tài sản của công ty này ở Mỹ), nhằm cắt nguồn thu ngoại tệ từ dầu mỏ, đẩy chính quyền Tổng thống Ni-cô-lát Ma-đu-rô vào tình trạng khó khăn trong giải quyết cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trong nước. Không những vậy, Mỹ còn kêu gọi các nước đồng minh không thừa nhận chính quyền hiện tại và tiến hành các biện pháp cô lập ngoại giao đối với Vê-nê-du-ê-la.
Bốn là, kết hợp biểu tình, bạo loạn lật đổ chính quyền từ bên trong với răn đe quân sự từ bên ngoài. Đây là phương thức mà Mỹ đã tiến hành để lật đổ chính thể nhiều nước trên thế giới. Năm 2012, lấy cảm hứng từ chiến dịch can thiệp quân sự vào Li-bi để tiêu diệt nhà lãnh đạo Ca-đa-phi, Mỹ đã áp dụng kịch bản này để loại bỏ Tổng thống Hu-gô Cha-vét. Theo đó, từ bên ngoài, Mỹ đã tổ chức một số tàu ngầm đột nhập vào vùng biển của Vê-nê-du-ê-la, vừa làm nhiệm vụ trinh sát thăm dò, vừa khiêu khích hải quân nước này để tạo cớ can thiệp quân sự. Bên trong Vê-nê-du-ê-la, Mỹ kích động các lực lượng đối lập nổi loạn, buộc chính phủ Vê-nê-du-ê-la đáp trả. Tiếp đó, bộ máy truyền thông tung tin cáo buộc Tổng thống Hu-gô Cha-vét “đàn áp người dân”, tạo tiền đề thành lập chính phủ lâm thời và kêu gọi Mỹ can thiệp. Đặc biệt, trong cuộc đảo chính do các lực lượng đối lập mà đứng đầu là Hoan Gu-ai-đô tiến hành vào ngày 30-4-2019 vừa qua, Mỹ sử dụng một nhóm lực lượng đối lập có vũ trang cùng một số phần tử đào ngũ từ quân đội nước này làm nòng cốt để tạo nên hình ảnh một lực lượng hậu thuẫn hùng hậu, kích động người dân xuống đường biểu tình nhằm loại bỏ Tổng thống Ni-cô-lát Ma-đu-rô. Để thực hiện kịch bản này, thủ lĩnh các lực lượng đối lập Hoan Gu-ai-đô dựng sẵn băng ghi hình mô tả hình ảnh của ông nhận được “sự ủng hộ của Quân đội Vê-nê-du-ê-la” đã sẵn sàng lật đổ Tổng thống Ni-cô-lát Ma-đu-rô. Bên cạnh đó, Mỹ và phe đối lập tìm mọi cách lôi kéo, mua chuộc các lãnh đạo thân tín chủ chốt của Tổng thống Ni-cô-lát Ma-đu-rô và Quân đội Vê-nê-du-ê-la để tiến hành đảo chính quân sự. Đồng thời, bộ máy truyền thông tung tin “Ni-cô-lát Ma-đu-rô đã bỏ chạy sang Cu-ba trên một chuyến bay đặc biệt”; tìm mọi cách để chia rẽ, kích động để tiếp tục các cuộc biểu tình, bạo loạn có thể dẫn đến một cuộc nội chiến. Từ đó, “Tổng thống lâm thời” Hoan Gu-ai-đô sẽ kêu gọi Mỹ can thiệp quân sự.
Đến thời điểm này, các biện pháp chiến lược “Diễn biến hòa bình” của Mỹ ở Vê-nê-du-ê-la cơ bản đã thất bại. Tuy nhiên, Mỹ vẫn chưa từ bỏ toan tính lật đổ chính quyền của Tổng thống Ni-cô-lát Ma-đu-rô và thay bằng một chính thể chịu sự kiểm soát của Oa-sinh-tơn. Do đó, các chuyên gia dự báo trong thời gian tới, tình hình Vê-nê-du-ê-la sẽ diễn biến phức tạp, gay gắt hơn. Nếu chính quyền của Tổng thống Ni-cô-lát Ma-đu-rô không có những giải pháp hữu hiệu để giải quyết cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội; ngăn chặn âm mưu cấu kết giữa lực lượng bên trong với các thế lực thù địch bên ngoài; tìm tiếng nói chung với phe đối lập,… thì nguy cơ bùng phát nội chiến tại nước này là rất cao. Khi đó, Mỹ có thể trực tiếp hoặc thông qua một cuộc chiến tranh ủy nhiệm để can thiệp quân sự vào Vê-nê-du-ê-la. Điều đó có thể kéo theo cả Nga và Trung Quốc can dự để bảo vệ lợi ích của họ tại Vê-nê-du-ê-la, biến nước này thành một Li-bi, I-rắc hoặc Xy-ri thứ hai và khu vực Mỹ La - tinh có nguy cơ trở thành một “lò lửa Trung Đông” mới.
Đại tá LÊ THẾ MẪU - Đại tá NGUYỄN ĐỨC XIỂN
______________
1 - Chiếm tới gần 25% trữ lượng dầu mỏ của các nước thành viên OPEC, lớn hơn trữ lượng của A-rập Xê-út (21,9%), I-ran (12,8%), I-rắc (12,1%) và Cô-oét (8,4%).
2 - Theo Học thuyết này, bất kỳ nỗ lực nào của các nước bên ngoài can thiệp vào các nước thuộc Bắc Mỹ và Nam Mỹ đều bị Hoa Kỳ xác định là “hành động xâm lược”, buộc Oa-sinh-tơn phải can thiệp để ngăn chặn.


TỪ “CÁCH MẠNG CÂY”, “CÁCH MẠNG CÁ” ĐẾN “CÁCH MẠNG MÀU”


TỪ “CÁCH MẠNG CÂY”, “CÁCH MẠNG CÁ” ĐẾN “CÁCH MẠNG MÀU”
QĐND - Hãy bảo vệ màu xanh đất Việt, hãy chung tay bảo vệ môi trường (BVMT), hãy bảo vệ động vật hoang dã, đấu tranh vì thành phố văn minh, hãy loại bỏ các dự án “ăn cả vào tương lai”…
Những năm gần đây, có rất nhiều phong trào kêu gọi người dân bằng những mỹ từ đẹp đẽ. Từ đó, nhiều người dân bị cuốn theo, tham gia tụ tập, ghi chữ ký, tâm thư, tuần hành những tưởng đòi quyền lợi cho mình. Nhiều sự việc phải qua một thời gian dài mới lộ ra, đó chỉ là những chiêu trò mà các thế lực thù địch triệt để lợi dụng để xuyên tạc, kích động, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam thông qua các tổ chức xã hội dân sự một cách rất tinh vi.
Từ “cách mạng cây”, “cách mạng voọc”
Chuyến thăm, làm việc tại Na Uy của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc gần đây mang lại nhiều kết quả tốt đẹp, trong đó có việc ký kết hợp tác kinh tế. Trong bối cảnh giá điện tăng khiến người dân lo lắng thì thông tin sắp tới Tập đoàn Scatec Solar của Na Uy sẽ đầu tư 500 triệu USD vào điện mặt trời tại Việt Nam; đồng thời xây dựng phòng thí nghiệm giúp Việt Nam nghiên cứu, chuyển giao và tiến đến xuất khẩu công nghệ năng lượng tái tạo được dư luận rất hoan nghênh.
Vậy mà một số trang mạng vẫn cố tình bóp méo, xuyên tạc rằng, các dự án điện mặt trời sẽ tàn phá cảnh quan, môi trường ven biển như ở Bình Định, một dự án điện mặt trời lớn đã phải hủy bỏ vì lý do gây ô nhiễm môi trường. Song theo các chuyên gia, điện mặt trời hoàn toàn không gây ô nhiễm. Cơ quan chức năng ở Bình Định cho biết, từng có âm mưu thủ đoạn bịa đặt thông tin để kích động người dân phản đối, tạo điểm nóng ở địa phương.
Vài năm gần đây, trên không gian mạng liên tục xuất hiện nhiều trang web, trang mạng xã hội với danh nghĩa BVMT, bảo vệ động vật hoang dã, vì hệ sinh thái và phát triển bền vững… nhưng luôn gắn với việc phản đối một vài dự án kinh tế-xã hội (KT-XH) nào đó ở các địa phương. Cứ ở đâu có các dự án du lịch, du lịch sinh thái gắn với danh lam thắng cảnh thì ở đó lại xuất hiện một số trang mạng “chuyên đề” phản đối. Từ chuyện làm cáp treo ở chùa Hương, ở Fansipan đến chuyện bảo vệ Sơn Trà, Tam Đảo hay hang Sơn Đoòng… Họ đưa ra những lời "có cánh" kêu gọi người dân chung tay, tham gia ký các văn bản được gọi là "kiến nghị" gửi lên Chính phủ, thậm chí gửi ra các tổ chức quốc tế. Không ít người nhẹ dạ cả tin làm theo mà không biết rằng, đứng sau các hoạt động ấy núp dưới danh nghĩa "tổ chức xã hội dân sự", các "nhà dân chủ" trở thành những chuyên gia kích động chống phá đất nước.
Như ở Đà Nẵng, Vĩnh Phúc gần đây xuất hiện các trang facebook và blog kêu gọi người dân BVMT sinh thái, phản đối một số dự án KT-XH. Các trang này hoạt động như những tờ báo điện tử với nhiều bài viết của một số cây bút chuyên nghiệp, những hot facebooker nhưng nhiều hơn cả vẫn là các “nhà dân chủ”, những người tự xưng là nhân sĩ, trí thức có tiếng nói đối lập với chính quyền. Đặc biệt, các trang này xuất hiện công khai tư cách của nhóm Green Trees-một nhóm tự xưng là tổ chức xã hội dân sự có hơn 10.000 thành viên, do các đối tượng chuyên chống phá Đảng, Nhà nước, như: Phạm Đoan Trang, Nguyễn Anh Tuấn, Trịnh Hữu Long giật dây. Những đối tượng này từng đứng sau kích động tụ tập, biểu tình phản đối dự án thay thế cây xanh ở Hà Nội, sau đó kích động biểu tình nhân sự cố môi trường biển miền Trung. Đối tượng Phạm Đoan Trang đã công khai gọi là “cách mạng cá”. Gần đây, từ khi đối tượng Nguyễn Anh Tuấn được đào tạo ở nước ngoài về nước định cư tại Đà Nẵng, chúng áp dụng nhiều chiêu trò kích động, lợi dụng vấn đề môi trường sinh thái để lôi kéo người dân giống như đã làm ở Hà Nội. Chúng không giấu giếm ý đồ sau “cách mạng cây”, “cách mạng cá” sẽ có thể là “cách mạng voọc” ở Đà Nẵng khi thổi phồng vấn đề môi trường sinh thái. Ở địa phương này, dưới sự kích động của chúng, từng xảy ra các phong trào ký đơn tập thể, tụ tập vì môi trường...
Đến lợi dụng vấn đề dân sinh, đất đai
Cách đây ít lâu, việc chính quyền TP Hồ Chí Minh giải phóng mặt bằng khu đất thuộc vườn rau Lộc Hưng (quận Tân Bình) để xây dựng trường học, công trình phúc lợi, đã xuất hiện tình trạng các cá nhân vi phạm cản trở, chống đối người thi hành công vụ, căng băng rôn, biểu ngữ gây mất trật tự. Ngay lập tức, các thế lực thù địch, phản động đã lợi dụng sự việc hòng biến vụ giải phóng mặt bằng này thành điểm nóng về “tranh chấp đất đai”, khoét sâu mâu thuẫn giữa người dân với chính quyền, biến Lộc Hưng thành điểm nóng kiểu Đồng Tâm, Tiên Lãng. Các báo đài hải ngoại, như: RFA, VOA… tung nhiều bài viết, hình ảnh xuyên tạc “chính quyền cướp đất của dân”, “công an đánh dân”, “dân oan ca thán, chính quyền bất chấp”… Các tài khoản facebook có tên Lê Công Định, Lê Nguyễn Hương Trà, Trịnh Sơn, Nguyễn Tín, Bạch Cúc… đăng tải nhiều bài viết quy chụp chính quyền địa phương “đàn áp giáo hội”, “đập phá nhà dân”... Chúng rêu rao, sắp có “ngòi nổ Tiên Lãng giữa Sài Gòn”, kêu gọi người dân xuống đường hướng dẫn dùng hung khí chống đối… Nhưng nhờ sự cảnh giác của người dân và sự vào cuộc kiên quyết của chính quyền, âm mưu đó đã bị thất bại.
Ở Hà Nội, gần đây, nhân sự việc các hộ dân thôn Bắc Lãm (phường Phú Lương, quận Hà Đông) tự ý thi công, san đường trên đất giao thông nội đồng nằm trong quy hoạch dự án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và gây sức ép với chính quyền một cách phi lý, nhiều đối tượng xấu đã kích động, lái vấn đề để khoét sâu mâu thuẫn, làm nóng tình hình. Chúng gây sức ép, kêu gọi và không cho các gia đình cho trẻ đến trường, ép buộc các em tham gia những hoạt động gây rối, mất an ninh trật tự tại địa phương, cản trở việc dạy và học của học sinh và giáo viên.
Lừa phỉnh, lôi kéo giới trẻ
Voice-một tổ chức được cho là ngoại vi của tổ chức khủng bố Việt Tân ở nước ngoài nhiều năm qua đã tìm mọi cách kích động, lôi kéo, mở các lớp đào tạo hàng trăm thanh niên thành những “nhà hoạt động dân chủ” rồi đưa về Việt Nam hoạt động chống phá bằng hình thức kích động, biến các sự việc KT-XH thành những vấn đề chính trị gây bức xúc dư luận. Trong đó, Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng hiện nay là các địa phương xuất hiện nhiều hiện tượng phức tạp từ một số đối tượng do Voice đào tạo trở về hoạt động.
Những “học viên” do chúng đào tạo sau khi trở về đều không còn là những công dân lương thiện đóng góp công sức, trí tuệ để dựng xây đất nước mà bị huyễn hoặc trở thành những “nhà dân chủ”, “nhà hoạt động xã hội”, biết “tổ chức các chiến dịch xã hội”, “gây quỹ”, “viết dự án”, mà bản chất là hướng tới mạo danh vì dân chủ, nhân quyền, vì môi trường sống… để chống phá đất nước. Mấy năm gần đây, Nguyễn Anh Tuấn-đối tượng được chúng đưa đi đào tạo ở nước ngoài trở về Việt Nam, được coi là hạt giống cho nhiều hoạt động chống phá. Sinh sống tại Đà Nẵng nhưng đối tượng này thường xuyên có mặt hoặc tán phát thông tin kích động các sự việc ở Hà Tĩnh, Bình Thuận, Hà Nội, Vĩnh Phúc, TP Hồ Chí Minh... Với thủ đoạn là bám sát vào phản ứng hay bức xúc từ xã hội để chúng “thổi” lên thành một phong trào chính trị chống lại chính quyền nhằm nuôi dưỡng “ý thức phản kháng” của người dân, tuyển lựa và mở rộng lực lượng xã hội tham gia. Từ các chiêu trò này, sâu xa hơn chúng âm mưu tập dượt, đi tới đấu tranh bất bạo động rồi xa hơn là bạo loạn, lật đổ theo mô hình "cách mạng màu", "mùa xuân Ả-rập"…
Cảnh giác với âm mưu “cách mạng màu”
Đối tượng Phạm Đoan Trang trong một tài liệu phản động để tập huấn cho các “nhà lãnh đạo trẻ” của chúng mà cơ quan chức năng thu được đã công khai nêu những cách thức hoạt động trên dựa theo mô hình cách mạng sắc màu để lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa. Cái gọi là tổ chức Green Trees do đối tượng này từng cầm đầu đã áp dụng những “chiến lược đấu tranh bất bạo động” trong cuốn “Từ độc tài đến dân chủ” của Gene Sharp. Theo đó, chúng mượn những hoạt động dân sự ôn hòa và hợp pháp, như: BVMT, thiện nguyện hay biểu diễn nhạc... để lôi kéo đám đông. Mỗi lần chính quyền xử lý các hoạt động như vậy, chúng sẽ khiến dân chúng và quốc tế có thiện cảm với phong trào đối lập, vì nghĩ rằng các nhà đối lập vô tội và bị xử oan. Còn nếu chính quyền không xử lý thì các nhóm đối lập sẽ có đủ thời gian để xây dựng lực lượng và uy tín thông qua những hoạt động dân sự tưởng chừng vô hại đó. Khi đã có lực lượng, mối quan hệ và lôi kéo được cảm tình của đám đông, các nhóm đối lập sẽ phát động cách mạng đường phố để lật đổ chính quyền. Chiến lược này đã được sử dụng lặp đi lặp lại trong cuộc "cách mạng màu", "mùa xuân Ả-rập" như đã diễn ra ở một số quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới.
Chúng luôn núp dưới cái bóng vì tương lai, vì sự phát triển của dân tộc nhưng thực tế những hoạt động đó chỉ nhằm mục tiêu phá hoại, chọc gậy, ném đất đá vào bánh xe phát triển của đất nước. Đôi khi, một hạt cát có thể làm hỏng một cỗ máy, một trào lưu núp bóng dân sinh có thể tạo ra những đám cháy nguy hiểm, đe dọa an ninh chính trị của đất nước.
Vì thế, đã đến lúc các cơ quan chức năng phải vào cuộc, xử lý nghiêm minh, ngăn chặn không để hình thành cái gọi là “cách mạng cây”, “cách mạng cá”, “cách mạng voọc”. Phải sớm xử lý các trang mạng xã hội chuyên kích động, tập hợp lực lượng và tổ chức các cuộc tụ tập, biểu tình như đã xảy ra ở Hà Nội, Hà Tĩnh, Bình Thuận… Bài học từ các vụ tụ tập, biểu tình phản đối thay thế cây xanh ở Hà Nội cho thấy, có nguyên cớ ban đầu từ một số trang facebook kêu gọi, kích động người dân. Vì thế, cần sớm tìm ra những đối tượng cầm đầu, điều hành những fanpage, phối hợp với các cơ quan quản lý mạng xã hội để xử lý. Vừa qua, Bộ Thông tin và Truyền thông đã làm tốt công tác quản lý, phối hợp với Facebook bóc gỡ nhiều trang mạng có nội dung chống phá Đảng, Nhà nước.
Đối với chính quyền các địa phương, phải nâng cao hiệu quả, hiệu lực lãnh đạo, quản lý; khắc phục triệt để những hạn chế, bất cập, khuyết điểm trong quản lý KT-XH, giải quyết thỏa đáng những vướng mắc, mâu thuẫn ở cơ sở, không để kẽ hở cho các thế lực thù địch lợi dụng, bóp méo, chống phá.
Đối với người dân, cần nêu cao tinh thần cảnh giác trước những lời kêu gọi đấu tranh vì môi trường, vì dân sinh, dân chủ. Đấu tranh vì quyền lợi chính đáng là cần thiết nhưng trước hết phải đúng pháp luật và phải dựa vào pháp luật, dựa vào các cơ quan bảo vệ pháp luật, không nên chủ quan, thiếu suy nghĩ để vô hình trung tiếp tay cho các thế lực phản động phá hoại môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.
THÁI HƯNG

VIỆT NAM SẴN SÀNG ĐÓNG GÓP TÍCH CỰC CHO NỖ LỰC CHUNG CỦA QUỐC TẾ VÌ HÒA BÌNH, AN NINH, PHÁT TRIỂN VÀ TIẾN BỘ



Nhân dịp Việt Nam được bầu làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc có bài viết “Đối tác vì Hòa bình bền vững: Việt Nam sẵn sàng đóng góp tích cực cho nỗ lực chung của quốc tế vì hòa bình, an ninh, phát triển và tiến bộ”. Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết:
 “Đối tác vì Hòa bình bền vững: Việt Nam sẵn sàng đóng góp tích cực cho nỗ lực chung của quốc tế vì hòa bình, an ninh, phát triển và tiến bộ”
Ngày 7-6-2019, trong khuôn khổ Khóa 73 Đại hội đồng Liên hợp quốc, Việt Nam đã được đông đảo các quốc gia thành viên tín nhiệm cao bầu làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an nhiệm kỳ 2020-2021. Việc Việt Nam lần thứ hai trong vòng hơn 10 năm được bầu làm thành viên cơ quan có vai trò hàng đầu của Liên hợp quốc trong việc duy trì hòa bình, an ninh quốc tế không chỉ là sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với vị thế của Việt Nam đổi mới, hội nhập, mà còn là sự tin tưởng, kỳ vọng vào những đóng góp trách nhiệm của Việt Nam đối với hòa bình, an ninh khu vực và quốc tế trong những năm tới.
Trong lần đầu tiên tham gia vào công việc của Hội đồng Bảo an nhiệm kỳ 2008-2009, Việt Nam đã nỗ lực rất cao và được các thành viên Liên hợp quốc hợp tác, ủng hộ và đã đảm nhiệm thành công nhiệm vụ của mình, góp phần đề cao tuân thủ các nguyên tắc của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc, giảm căng thẳng và thúc đẩy hợp tác, hỗ trợ giải quyết các vấn đề hòa bình, an ninh tại nhiều khu vực trên thế giới, đồng thời có những sáng kiến cụ thể, thực chất về nội dung cũng như giúp cải tiến phương thức hoạt động của Hội đồng Bảo an.
Với chính sách đối ngoại hòa bình, hòa hiếu, độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, sẵn sàng đóng góp có trách nhiệm và tích cực thúc đẩy hòa bình, an ninh, phát triển và tiến bộ trên thế giới, Việt Nam đã tham gia tích cực vào nhiều tổ chức, diễn đàn đa phương quan trọng, như Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Cộng đồng Pháp ngữ, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM)…; chủ trì thành công nhiều sự kiện quốc tế quan trọng, mà gần đây là Năm APEC 2017 và Hội nghị Hợp tác WEF-ASEAN 2018, qua đó khẳng định khả năng chủ động tham gia dẫn dắt, định hình các cơ chế quốc tế và khu vực. Việt Nam cũng đã tích cực tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, lần đầu tiên triển khai thành công Bệnh viện dã chiến cấp 2 đến Phái bộ Gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại Nam Sudan (tháng 10-2018) và mới đây hoàn thành tốt vai trò nước chủ nhà của Hội nghị thượng đỉnh Triều-Mỹ lần thứ hai (tháng 2-2019), từng bước phát huy vai trò “trung gian, hòa giải” trong giải quyết các vấn đề hòa bình, an ninh khu vực và quốc tế.
Sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện và hội nhập sâu rộng, thế và lực của đất nước đã được nâng lên. Kinh tế luôn duy trì tốc độ tăng trưởng cao, GDP tăng bình quân 6,67%/năm, năm 2018 tăng 7,08%, tiềm lực và quy mô nền kinh tế ngày càng tăng, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, nâng cao. Việt Nam nằm trong số ít quốc gia đã hoàn thành trước thời hạn nhiều mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên hợp quốc MDG 2015, nhất là về giảm nghèo. Quan hệ đối ngoại được mở rộng và ngày càng đi vào chiều sâu, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược/đối tác toàn diện với 28 nước, trong đó có tất cả các nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an. Những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội to lớn và đường lối đối ngoại rộng mở: Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy trong cộng đồng quốc tế, không chỉ giúp nâng cao hình ảnh và vị thế của đất nước trên trường quốc tế, mà còn giúp Việt Nam tiếp tục đóng góp chủ động và tích cực hơn vào đời sống chính trị khu vực và thế giới.
Bước vào thập kỷ thứ ba của thế kỷ XXI, với những tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ và cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 đang lan tỏa trên toàn cầu, mặc dù hòa bình, hợp tác và phát triển là xu thế chủ đạo, là khát vọng thiết tha của mọi quốc gia, dân tộc, nhưng thế giới vẫn tiếp tục phải đối mặt với nhiều thách thức về hòa bình và an ninh. Chiến tranh, xung đột, khủng bố, nghèo đói và chậm phát triển vẫn là những mối đe dọa thường trực ở nhiều khu vực. Sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc, dân túy, cạnh tranh địa chính trị giữa các nước lớn, việc theo đuổi sức mạnh cường quyền, đi ngược luật pháp quốc tế đang tác động tiêu cực đến môi trường an ninh và phát triển của các quốc gia. Các vấn đề toàn cầu như khủng bố, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh… đã vượt quá năng lực giải quyết của bất cứ một quốc gia riêng lẻ nào, dù đó là siêu cường, đòi hỏi sự nỗ lực và hợp tác của tất cả các quốc gia.
Trong bối cảnh đó, hợp tác đa phương, với Liên hợp quốc đóng vai trò trung tâm, đang đứng trước cả những thách thức và cơ hội. Liên hợp quốc và trực tiếp là Hội đồng Bảo an, với chức năng ngăn ngừa chiến tranh, xung đột, kiến tạo và gìn giữ hòa bình, từ thực tiễn của gần 75 năm tồn tại và phát triển, cần và phải là trung tâm hợp tác, huy động được tất cả các quốc gia, nhất là các quốc gia vừa và nhỏ, tham gia, đóng góp nguồn lực, chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn của mình trong việc tìm kiếm giải pháp lâu dài, bền vững cho các thách thức toàn cầu hiện nay.
Từng trải qua những năm dài chiến tranh và hy sinh tất cả cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giành độc lập, thống nhất đất nước, tạo dựng môi trường hòa bình cho phát triển, người dân Việt Nam hiểu rõ hơn ai hết giá trị của hòa bình. Việt Nam có kinh nghiệm, có khả năng và đã chuẩn bị sẵn sàng cho việc tham gia thúc đẩy giải quyết các vấn đề hòa bình, an ninh quốc tế trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc.
Thật vinh dự và tự hào khi Việt Nam chúng ta được cộng đồng quốc tế tín nhiệm với mức rất cao để trở thành Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khẳng định sự đúng đắn của đường lối đối ngoại do Đại hội Đảng lần thứ XII đề ra và tinh thần Chỉ thị 25/CT-TW ngày 08-8-2018 của Ban Bí thư về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030, theo đó Việt Nam “chủ động tham gia và phát huy vai trò tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là ASEAN và Liên hợp quốc”, góp phần duy trì, củng cố môi trường hòa bình, ổn định phục vụ phát triển đất nước, đồng thời thể hiện tốt vai trò thành viên có trách nhiệm, tham gia đóng góp vào xây dựng một trật tự thế giới hòa bình, công bằng, dân chủ và tiến bộ. Đây cũng là cơ hội để chúng ta khẳng định vị thế đất nước và nâng cao uy tín quốc gia trên trường quốc tế, tự tin tiếp bước đẩy mạnh hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng và hiệu quả trong hệ thống quản trị toàn cầu, làm sâu sắc thêm quan hệ song phương với các nước, các đối tác trên thế giới, thể hiện hình ảnh đất nước và con người Việt Nam thân thiện, năng động và yêu chuộng hòa bình, thể hiện niềm tin của người dân Việt Nam vào một thế giới đối thoại đa chiều, tôn trọng luật pháp quốc tế, hòa bình, hợp tác bình đẳng, cùng phát triển.
Ngay trong năm đầu tiên của nhiệm kỳ Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an, Việt Nam đồng thời sẽ đảm nhiệm vị trí Chủ tịch ASEAN năm 2020. Đây là trọng trách rất lớn, là “trách nhiệm kép”, cũng là cơ hội thuận lợi giúp Việt Nam thúc đẩy việc tăng cường hợp tác giữa Liên hợp quốc với các tổ chức khu vực, tiểu khu vực, bao gồm ASEAN, qua đó đóng góp hiệu quả vào việc đề cao vai trò của chủ nghĩa đa phương đối với hòa bình và an ninh của khu vực và quốc tế.
Với thế và lực mới của đất nước, sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Lãnh đạo Đảng và Nhà nước, niềm tin và sự ủng hộ của nhân dân, chúng ta sẽ hợp tác cùng nhau thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước và vận dụng, phát huy sáng tạo, linh hoạt tư tưởng phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh về hòa bình và hợp tác quốc tế, “giữ gìn hòa bình thế giới tức là giữ gìn lợi ích của nước ta”[1]. Tôi tin tưởng rằng với kinh nghiệm trong nhiệm kỳ 2008-2009, Việt Nam đã chuẩn bị sẵn sàng và sẽ nỗ lực hết sức mình để đảm nhiệm thành công trọng trách Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021, thực sự trở thành “Đối tác vì Hòa bình bền vững”, và mong nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ, hợp tác của các nước thành viên Hội đồng Bảo an, các thành viên Liên hợp quốc để cùng đóng góp tích cực cho nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế vì một hành tinh xanh, và màu cờ xanh của Liên hợp quốc sẽ mãi là màu xanh của hòa bình, của phát triển bền vững và là màu xanh của niềm tin và hy vọng vào tương lai tươi sáng.
-----------------------
[1]Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 7, trang 228.
TTXVN


Thứ Ba, 28 tháng 5, 2019

ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI, XIN HÃY THẬN TRỌNG KHI TRÍCH DẪN HÌNH ẢNH, LỜI NÓI CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH



Đại biểu Bùi Văn Xuyền cho rằng, ông có cảm giác như các đại biểu phát biểu coi ngành sản xuất rượu, bia như một tội đồ và như thế ông thấy không công bằng vì ngành sản xuất rượu, bia hàng năm tạo ra công ăn việc làm cho hàng trăm nghìn lao động, hàng chục nghìn tỷ đồng cho ngân sách, đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Ông Xuyền đã trích dẫn:…" Bác Hồ năm 1960 khi thăm nhà máy bia Trúc Bạch, Bác đã khuyến khích ngành sản xuất…
Đại biểu Bùi Văn Xuyền cho rằng, ông có cảm giác như các đại biểu phát biểu coi ngành sản xuất rượu, bia như một tội đồ và như thế ông thấy không công bằng vì ngành sản xuất rượu, bia hàng năm tạo ra công ăn việc làm cho hàng trăm nghìn lao động, hàng chục nghìn tỷ đồng cho ngân sách, đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Ông Xuyền đã trích dẫn:…" Bác Hồ năm 1960 khi thăm nhà máy bia Trúc Bạch, Bác đã khuyến khích ngành sản xuất…
Trên thực tế, những năm 60 của thế kỷ trước, Việt Nam không có nhà máy bia Trúc Bạch. Trúc Bạch chỉ là nhãn hiệu bia đầu tiên của Nhà máy Bia – Nước ngọt mà người dân vẫn quen gọi là Nhà máy Bia Hà Nội, trên đường Hoàng Hoa Thám (nay thuộc công ty cổ phần Bia, Rượu và Nước giải khát Hà Nội - Habeco). Trang web của công ty Habeco, phần giới thiệu về lịch sử không thấy nhắc chuyến thăm nào của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nhà máy này.
Theo các trang web của Công ty cổ phần Cồn, Rượu Hà Nội (Halico) và Trang  tin Điện tử của Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh có đến thăm cán bộ, công nhân viên ngành sản xuất bia rượu, nhưng là đến Nhà máy rượu Hà Nội (nay thuộc công ty cổ phần Cồn, Rượu Hà Nội - Halico), trên đường Lò Đúc, vào năm 1959 và năm 1961.
Nhà máy này được khôi phục vào năm 1955, từ một nhà máy sản xuất rượu từ thời Pháp thuộc. Cần nhấn mạnh rằng, lúc đó, nhiệm vụ chủ yếu của nó không phải là sản xuất rượu mà mảng quan trọng hơn là sản xuất cồn phục vụ y tế, quốc phòng và dân sinh.
Năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh khi về thăm nhà máy, Người không chỉ động viên cán bộ, công nhân nhà máy tích cực sản xuất mà còn động viên tích cực nghiên cứu, áp dụng kỹ thuật mới, đặc biệt là tìm nguyên liệu thay thế để tiết kiệm gạo cho dân đủ ăn, giảm độc tố để bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng.
Trên cơ sở chỉ đạo này của Bác, năm 1960-1961, nhà máy thực hiện "cuộc cách mạng kỹ thuật" với sự hỗ trợ của các chuyên gia đầu ngành sinh học người Đức, Trung Quốc; thay thế việc sản xuất rượu từ phương pháp Amyloza sang phương pháp Mycomalt để tăng hiệu suất thu hồi sản phẩm và đa dạng nguồn nguyên liệu.
Tết Tân Sửu, năm 1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thăm, chúc Tết công nhân, chiến sỹ ở nhiều đơn vị, trong đó có nhà máy Rượu Hà Nội, Nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo, Nhà máy văn phòng phẩm Hồng Hà và một đơn vị công an vũ trang…
Có thể thấy, các cuộc Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm ngành rượu, bia không thể hiện "tư tưởng" gì của Người về rượu bia. Ý nghĩa lớn nhất là động viên sản xuất (nhiệm vụ chủ yếu lúc đó là sản xuất cồn cho y tế, quốc phòng và dân sinh), tiết kiệm lương thực và an toàn thực phẩm cho người dân.
Vào giai đoạn những năm 1960, đất nước vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa kháng chiến chống Mỹ, thống nhất đất nước, mỗi gia đình, một năm, may ra được mua một, hai chai rượu dùng vào dịp Tết, bia thì phân phối từng ca, vấn đề tác hại của rượu bia đến sức khỏe con người, trên thực tế, gần như không đặt ra. Tuy nhiên, Bác Hồ đã ý thức rõ tác hại đó, yêu cầu nghiên cứu tìm nguyên liệu thay thế để tiết kiệm gạo cho dân đủ ăn, giảm độc tố để bảo vệ sức khỏe nhân dân.
Như vậy, ý nghĩa các chuyến thăm đó không mâu thuẫn, thậm chí là tương đồng với nhiều nội dung quy định của dự thảo Luật Phòng, chống tác hại rượu bia hiện nay.
Chính vì vậy, nếu đại biểu Bùi văn Xuyến "cảm giác" các ý kiến các đại biểu khác coi ngành rượu bia như " tội đồ" thì việc viện dẫn các chuyến thăm của Chủ tịch Hồ Chí Minh tới một nhà máy trong ngành rượu bia những năm 1960 cũng không thể thanh minh được gì. Thời điểm đó, nhà máy rượu Hà Nội khác hiện nay rất nhiều, cả về mặt hàng cung ứng và năng lực cung ứng.
Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc, một người chuyên nghiên cứu lịch sử, lại trích dẫn thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh để chứng minh rằng, cách tiếp cận của các đại biểu khác về phòng chống tác hại rượu bia đã sai. Ông nói: "Ai cũng nhớ nằm lòng câu thơ của Bác Hồ "Trong tù không rượu, cũng không hoa", để nói con người bị tước đoạt tự do là không được ngắm hoa, không được uống rượu. Trong di cảo của Bác Hồ có rất nhiều bài thơ rất hay về rượu, "khi nghe tin thắng trận lâng lâng như được uống mấy chén rượu", nó là văn hóa của cả nhân loại rồi, tại sao ta đưa nó lên đoạn đầu đài như thế này…"
Về hiện tượng, khi Bác Hồ bị tù đày, không có rượu, không có hoa thì đúng. Nhưng Bác Hồ không viết thơ để đánh đồng tự do với việc có rượu, hoa.
Xưa nay, các nhà thơ vẫn lấy cảm hứng từ cái đẹp và sự thăng hoa cảm xúc. Hoa là hình ảnh tượng trưng cho cái đẹp. Và rượu là hình ảnh tượng trưng cho sự thăng hoa cảm xúc.  "Bầu rượu – túi thơ" là như thế.
Bác Hồ của chúng ta, trong bài thơ này, tự nhận mình là nhà thơ. Nhưng khác với các thi sĩ bình thường, Người không phụ thuộc vào rượu, vào hoa.  Tự do của "trăng treo ngoài cửa sổ" mới là cảm hứng của nhà thơ, nhà Cách mạng Hồ Chí Minh. Không song sắt nào ngăn cản được nguồn cảm hứng đó. Và "Người ngắm trăng treo ngoài cửa sổ - Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ" chính là sự tương tác của tâm hồn nhà thơ, nhà Cách mạng với nguồn cảm hứng. Đó thực sự là hình ảnh hiện hữu của một tư tưởng tự tại và tự do trong một cơ thể tù đầy.
Như vậy, việc viện dẫn thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh để đặt vấn đề "uống rượu là văn hóa của cả nhân loại" và "tại sao ta đưa nó lên đoạn đầu đài như thế này" là không phù hợp.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ thiên tài, một nhà tư tưởng lớn của dân tộc Việt Nam. Việc viện dẫn và suy diễn không phù hợp  hình ảnh, lời nói của Người dễ làm người dân hiểu không đúng về Tư tưởng Hồ Chí Minh. Đặc biệt, khi người trích dẫn lại là những nhân vật có tầm ảnh hưởng tới rộng rãi dân chúng như đại biểu quốc hội, nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử.
Trở lại với phát biểu của các đại biểu  Bùi Văn Xuyền và Dương Trung Quốc, có thể hiểu rằng, ý của các đại biểu là cần thận trọng trong việc xây dựng luật Phòng chống tác hại rượu bia, làm sao vừa phòng chống được tác hại của rượu bia, ngăn chặn sự lạm dụng rượu bia, vừa không đẩy ngành sản xuất rượu bia đến chỗ phá sản; đồng thời hướng người dân tới việc sử dụng rượu, bia một cách có văn hóa. Đó là những ý kiến đóng góp mang tính xây dựng. Tuy nhiên, cách trích dẫn và biểu đạt đã ít nhiều khiến nhân dân hiểu không đúng về tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Và cách rút tít của một số báo cho thấy sự hiểu lầm đó trong dư luận.
Vì vậy, kính thưa các đại biểu Quốc hội, xin hãy thận trọng khi trích dẫn hình ảnh, lời nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Bài viết: 
Quốc Thắng
Thiết kế: 
Duy Nguyễn

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...