Thứ Hai, 19 tháng 11, 2018

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC BẢN CHẤT CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA DO ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO


KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC BẢN CHẤT CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA DO ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO

Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam ngày nay do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng. Bản chất của chế độ đó là quyền làm chủ của nhân dân gắn liền với bảo vệ độc lập dân tộc do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo theo con đường của Chủ nghĩa Mác-Lênin.
Tư tưởng đó xuyên suốt các giai đoạn cách mạng Việt Nam từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (năm 1930), qua các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược cho đến ngày nay-sự nghiệp xây dựng đất nước, hội nhập quốc tế. Thế nhưng, vì những mục tiêu xấu độc, trên internet, mạng xã hội (MXH) có kẻ cho rằng “Nhà nước Việt Nam theo mô hình Xô viết”, chế độ “độc tài toàn trị'', ''lệ thuộc vào nước ngoài''... Vậy lịch sử và thực tiễn chế độ xã hội XHCN ở Việt Nam đã vận động và phát triển như thế nào?
 Cương lĩnh đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi thảo-Chính cương vắn tắt của Đảng (năm 1930)-xác định mục tiêu trước mắt của Đảng Cộng sản Việt Nam là: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Về xã hội: “Dân chúng được tự do tổ chức; nam, nữ bình quyền”… Về chính trị: “Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến; làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập”…
Sau thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám, trong Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945, tư tưởng gắn chế độ dân chủ với nền độc lập dân tộc được Chủ tịch Hồ Chí Minh nâng cao từ những giá trị tư tưởng lớn trong Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ (năm 1776) và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp (năm 1789). Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”… “Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”.
Vào năm 1966, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam đang ở giai đoạn quyết liệt, kế thừa, phát triển tư tưởng gắn liền chế độ dân chủ với độc lập dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát một chân lý thời đại: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”!
Sau khi đất nước được hoàn toàn giải phóng, Bắc-Nam sum họp một nhà (năm 1975), mục tiêu của Đảng Cộng sản Việt Nam là “Dân giàu, nước mạnh”. Tuy nhiên, nhận thức về chế độ dân chủ có lúc cũng phạm những sai lầm. Thời kỳ từ khi đất nước được hoàn toàn giải phóng đến trước Đại hội VI (1975-1985), Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương xây dựng xã hội theo mô hình cũ của CNXH. Về chính trị, đó là xây dựng “Nhà nước chuyên chính vô sản”; về kinh tế đó là xây dựng “nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung” với hai thành phần duy nhất là kinh tế tập thể và kinh tế nhà nước. Do đó, nhiều quyền về chính trị, kinh tế của người dân không được tôn trọng, bảo đảm.
Từ Đại hội VI (năm 1986) đến Đại hội XI (năm 2011) và Đại hội XII (năm 2016), Đảng Cộng sản Việt Nam đã chuyển sang đường lối đổi mới. Mục tiêu của Đảng Cộng sản Việt Nam là xây dựng chế độ XHCN gắn với độc lập dân tộc. “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011)” được Đại hội XI của Đảng thông qua, xác định mục tiêu tổng quát của Đảng Cộng sản Việt Nam và dân tộc Việt Nam là xây dựng xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện;… có Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.
Thể chế hóa Cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 2011, Hiến pháp năm 2013 quy định cụ thể hơn các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Có thể khẳng định Hiến pháp năm 2013 và hệ thống pháp luật của Việt Nam không chỉ tương thích với pháp luật quốc tế mà còn tiên tiến hơn nhiều quốc gia, trong đó có việc ký kết các công ước quốc tế về quyền con người. Thực tế, có quốc gia phát triển cao nhưng chưa phê chuẩn “Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa”, hoặc có quốc gia không gia nhập “Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị”. Trong khi đó, Việt Nam đã gia nhập cả hai công ước nói trên.
Không phải ngẫu nhiên Điều 4, Hiến pháp 2013 quy định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo xã hội và Nhà nước. Lịch sử hơn 80 năm, từ khi ra đời đến nay (1930-2018), Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng chính trị duy nhất lãnh đạo cuộc đấu tranh giành và bảo vệ độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam; đồng thời, cũng là tổ chức chính trị dẫn dắt dân tộc Việt Nam sớm đi vào trào lưu văn minh của nhân loại.
Đại hội XII của Đảng xác định đường lối đối ngoại, quan hệ quốc tế của Việt Nam là “Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia-dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển... Trên cơ sở vừa hợp tác, vừa đấu tranh, nhằm phục vụ mục tiêu giữ vững hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước”(1).
Trong giai đoạn 1989-1991, Việt Nam luôn phải đối diện với nhiều nguy cơ, thách thức, việc xác định “đối tác”, “đối tượng” của cách mạng là vấn đề chính trị mới và nhạy cảm. Hội nghị Trung ương 8, khóa IX của Đảng đề ra “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”. Trên tinh thần thêm bạn, bớt thù, phân hóa, cô lập các thế lực thù địch, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định “đối tác” và “đối tượng” của cách mạng Việt Nam có nguyên tắc và linh hoạt: “Những ai chủ trương tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta. Bất kể thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh…”, trong đối tác có thể có đối tượng và ngược lại. Như vậy, thay vì quan điểm chính trị trong thời kỳ chiến tranh lạnh-lấy ý thức hệ làm tiêu chí “bạn”, “thù”, thì nay Đảng Cộng sản Việt Nam lấy lợi ích quốc gia, dân tộc làm tiêu chí bạn-thù. Đồng thời, lấy nguyên tắc tôn trọng chế độ chính trị, hai bên cùng có lợi làm tiêu chí để hợp tác với các quốc gia không phân biệt chế độ chính trị, ý thức hệ.
Ngày nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đặt trong bối cảnh chính trị quốc tế, khu vực và sự ra đời của internet, MXH, nguy cơ những cuộc chiến tranh xâm lược bằng vũ trang cổ điển dường như giảm đi, thì nguy cơ mất chế độ xã hội từ những chiến lược “mềm”-chiến lược “diễn biến hòa bình” với thủ đoạn lợi dụng internet, MXH có xu hướng tăng lên. Ứng phó với cuộc chiến này, vũ khí của chúng ta không chỉ bằng công tác tư tưởng, chính trị, mà còn bằng pháp luật và các chế tài theo luật định.
Các thế lực thù địch trong và ngoài nước gần đây đã tăng cường hoạt động nhằm từng bước chuyển hóa chế độ xã hội ở Việt Nam sang con đường tư bản chủ nghĩa. Những vụ án liên quan đến tội “lợi dụng quyền tự do ngôn luận…” gần đây là một ví dụ. Chẳng hạn, Tòa án Nhân dân (TAND) tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm bị cáo Lê Đình Lượng về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” (ngày 16-8-2018). Trước đó, vụ Trần Thị Nga (Hà Nam), Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (Đà Nẵng) cùng tội danh và cùng thủ đoạn sử dụng internet, MXH để tung tin xuyên tạc chế độ xã hội và Nhà nước Việt Nam. Gần đây nhất, ngày 19-9-2018, TAND tỉnh Hòa Bình xét xử bị cáo Đào Quang Thực về tội danh “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Những bản án nghiêm khắc cho các đối tượng chống phá chế độ nói trên để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, bảo vệ cuộc sống bình yên cho nhân dân là cần thiết.
Chế độ dân chủ nhân dân, nay là dân chủ XHCN do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng. Bản chất của chế độ là bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân gắn liền với bảo vệ độc lập dân tộc. Chế độ đó đã trải qua nhiều thời kỳ lịch sử và phát triển cùng với nền văn minh nhân loại. Toàn thể dân tộc Việt Nam không cho phép bất cứ ai, với bất cứ lý do gì để xuyên tạc, bôi nhọ chế độ xã hội mà cả dân tộc đã đổ không biết biết bao nhiêu mồ hôi, xương máu để giành và bảo vệ chế độ đó.
BẮC HÀ
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, NXB Chính trị Quốc gia, 2016, tr.153.

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC, BÔI ĐEN HÌNH ẢNH ĐẤT NƯỚC TRONG ĐỔI MỚI, HỘI NHẬP QUỐC TẾ


KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC, BÔI ĐEN HÌNH ẢNH ĐẤT NƯỚC
TRONG ĐỔI MỚI, HỘI NHẬP QUỐC TẾ

Hơn 30 năm qua kể từ khi Đảng và Nhà nước Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới (từ năm 1986 đến nay), nhìn tổng thể, công cuộc đổi mới của đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam đất nước đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, xã hội-nhất là sau cuộc khủng hoảng, sụp đổ của Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) Đông Âu (1985-1991). Từ tình trạng một quốc gia kém phát triển, lương thực không đủ… đến nay Việt Nam trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình; sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên: Chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao.
Thế nhưng lợi dụng internet, mạng xã hội (MXH) và những mặt tiêu cực trong xã hội chưa được khắc phục, một số kẻ đã tán phát luận điệu, xuyên tạc bản chất của xã hội XHCN, bôi đen hình ảnh của đất nước Việt Nam. Về tình hình trong nước, họ cường điệu những khó khăn trên lĩnh vực kinh tế, rằng “nền kinh tế Việt Nam đang đứng bên bờ vực thẳm”. Về cuộc đấu tranh chống tham nhũng họ viết: Đó chỉ là “cuộc đấu đá giữa nhóm tham nhũng mới với nhóm tham nhũng cũ”. Về chế độ xã hội họ viết: Ở Việt Nam “các quyền của người, nhất là quyền tự do ngôn luận, quyền “tự do internet, MXH” bị xâm phạm bởi Luật An ninh mạng…".
Tuy nhiên, nhìn từ thực tiễn có thể thấy, từ khi được hoàn toàn giải phóng đến nay, Việt Nam đã trải qua những thời kỳ đầy khó khăn, do cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Trong thời kỳ trước đổi mới (1975-1985), dân tộc Việt Nam đã phải đấu tranh với cuộc bao vây cấm vận nghiệt ngã của Mỹ (từ năm 1975 đến năm 1994). Trong thời kỳ này, Mỹ đã cản trở các tổ chức tài chính quốc tế và các nước cho Việt Nam vay tín dụng… Đến năm 1994, Mỹ mới tuyên bố bãi bỏ hoàn toàn cấm vận Việt Nam và bình thường hóa quan hệ với Việt Nam vào tháng 7-1995. Cũng trong thời kỳ 1975-1985, những sai lầm của mô hình xây dựng xã hội theo mô hình chủ nghĩa xã hội (CNXH) kiểu cũ khiến nền kinh tế đất nước trì trệ, đời sống của nhân dân gặp rất nhiều khó khăn. Là một quốc gia nông nghiệp, đất đai phì nhiêu, người dân cần cù, sáng tạo thế nhưng ở nhiều nơi đã xuất hiện tình trạng thiếu đói. Còn nhớ thời kỳ này, trong khi vết thương chiến tranh chưa được hàn gắn, thì dân tộc Việt Nam lại phải tiến hành hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.
Bước sang thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến nay), mở đầu là Đại hội VI (năm 1986), dựa trên đổi mới tư duy lý luận-chính trị và kinh tế, Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện đường lối chính sách xây dựng xã hội theo mô hình mới của CNXH. Về chính trị, đó là xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Trong mô hình này, các quyền bình đẳng về dân sự và chính trị được bảo đảm (về phương diện pháp lý). Về kinh tế đó là nền kinh tế thị trường, nhiều thành phần, cạnh tranh bình đẳng… theo định hướng XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Về đối ngoại, Việt Nam thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, với phương châm đa dạng hóa, đa phương hóa; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Như vậy có thể nói, trong mô hình mới của CNXH các quyền bình đẳng về chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội và văn hóa đã được bảo đảm.
Nét đặc sắc trong xây dựng xã hội theo mô hình mới của CHXH, đó là các quyền con người, quyền công dân được bảo đảm bằng pháp luật cũng như trên thực tế. Hiến pháp năm 2013 dành một chương (Chương II) quy định về đầy đủ về “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”. Những quy định về quyền con người tại chương này hoàn toàn tương thích với các công ước quốc tế về quyền con người, trong đó có những quyền được xem là “nhạy cảm” cũng đã được đưa vào văn kiện này. Thể chế hóa Hiến pháp năm 2013 và nội luật hóa các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã gia nhập, ký kết, Quốc hội Việt Nam vừa qua đã sửa và xây dựng nhiều đạo luật mới. Đó là Luật Báo chí (năm 2016), Luật Tiếp cận thông tin (năm 2013), Luật An ninh mạng (năm 2018)... Các quy định của những bộ luật trên đều nhằm bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự công cộng và quyền con người. Việt Nam hòa mạng internet toàn cầu khá sớm so với nhiều quốc gia trong khu vực-từ ngày 1-12-1997. Theo tổ chức nghiên cứu về MXH quốc tế-Next Web, hiện nay Việt Nam nằm trong “Top 10 quốc gia có nhiều người dùng Facebook nhất thế giới” với 64 triệu người, chiếm 3% tổng số tài khoản Facebook toàn cầu.
Trên lĩnh vực kinh tế, hình ảnh đất nước, cuộc sống của nhân dân đã được nâng cao đáng kể. Triển khai Chương trình 135 về phát triển kinh tế-xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc ít người, miền núi, vùng sâu, vùng xa… cho đến nay các xã, cụm dân cư đã có đủ cơ sở xã hội thiết yếu, như: Điện, đường giao thông, trường học, trạm y tế. Tỷ lệ hộ đói, nghèo giảm nhanh, luôn đạt và vượt mục tiêu đề ra qua các giai đoạn, hoàn thành và vượt mức mục tiêu Thiên niên kỷ về giảm nghèo trước 10 năm… Giai đoạn 1992-1998, tỷ lệ đói nghèo ở Việt Nam bình quân mỗi năm giảm 2-3%. Đến hết năm 2010, tỷ lệ hộ nghèo của Việt Nam là 9,45%, vượt mục tiêu đề ra là 10%. Chính phủ Việt Nam đã xây dựng Định hướng giảm nghèo giai đoạn 2011-2020 với mục tiêu giảm số hộ nghèo còn 4-5% vào năm 2020. Theo đánh giá của Liên hợp quốc, Việt Nam đã giảm được một nửa tỷ lệ đói nghèo trong hơn một thập kỷ và là một trong những quốc gia đạt tốc độ giảm đói nghèo nhanh nhất thế giới.
Về cuộc đấu tranh chống tham nhũng, có thể nói chưa nhiệm kỳ nào Đảng Cộng sản Việt Nam triển khai một chiến lược bài bản, quy mô như hiện nay. Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam trong cuộc đấu tranh này là “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ” và “phải làm đến cùng”; là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị.
Trong quan hệ quốc tế, vị thế quốc tế của Việt Nam được nâng cao vượt bậc. Cho đến nay Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với 13 quốc gia; Việt Nam cũng đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Ấn Độ, Nga, Trung Quốc. Với Hoa Kỳ, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác toàn diện. Trong thời kỳ đổi mới Việt Nam tham gia vào nhiều cơ quan quan trọng của tổ chức quốc tế rộng lớn: (1) Là Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an nhiệm kỳ 2008-2009; (2) thành viên Hội đồng Kinh tế-xã hội nhiệm kỳ 2016-2018; (3) Việt Nam được bầu vào Hội đồng Nhân quyền (nhiệm kỳ 2014-2016)… Ngày 25-5-2018 vừa qua, trong cuộc họp của Nhóm châu Á-Thái Bình Dương tại Liên hợp quốc, các nước trong khu vực đã nhất trí thông qua đề cử Việt Nam là ứng cử viên duy nhất của nhóm vào vị trí Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an (nhiệm kỳ 2020-2021-tại cuộc bầu cử sẽ được tổ chức vào tháng 6-2019).
Là thành viên có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế, Việt Nam đã và đang tham gia vào lực lượng Gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. "Từ năm 2014, Việt Nam đã cử các sĩ quan tham gia các phái bộ gìn giữ hòa bình ở Cộng hòa Trung Phi và ở Nam Sudan. Mới đây, ngày 25-6-2018, Cục Hỗ trợ thực địa Liên hợp quốc đã công bố kết quả thanh sát địa điểm huấn luyện gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc tại các nước thuộc ASEAN, theo đó Việt Nam cùng với 3 nước là Campuchia, Indonesia, Thái Lan được chọn làm địa điểm huấn luyện gìn giữ hòa bình quốc tế luân phiên. Việt Nam cũng đang nỗ lực để triển khai Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 1 tại Nam Sudan”[1].
Đi theo con đường của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, dân tộc Việt Nam không chỉ đã giành được quyền con người mà còn có những đóng góp to lớn trên lĩnh vực này từ tư tưởng lý luận cho đến thực tiễn. Công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế là một thời kỳ phát triển vượt bậc của Việt Nam về các phương diện, trong đó có quyền con người. Các quyền con người đều có những bước bảo đảm cao hơn, vị thế của dân tộc, đất nước được nâng cao hơn; được cộng đồng quốc tế trân trọng ghi nhận.
TIẾN BẮC

[1] - “Việt Nam chủ động phát huy vai trò tích cực tại Kỳ họp cấp cao Đại hội đồng LHQ” Báo Tin tức, TTXVN - 24-9-2018.
http://www.qdnd.vn/chong-dien-bien-hoa-binh/thanh-tuu-nhan-quyen-viet-nam/khong-the-xuyen-tac-boi-den-hinh-anh-dat-nuoc-trong-doi-moi-hoi-nhap-quoc-te-554854

CHÚ TRỌNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC


CHÚ TRỌNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC

Nhà giáo là nhân tố quyết định thành công của quá trình đổi mới giáo dục. Vì vậy, trong mọi thời kỳ, việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên luôn được ngành giáo dục xác định là nhiệm vụ trọng tâm. Thời điểm hiện nay, khi chương trình giáo dục phổ thông mới sắp được triển khai thì việc chuẩn bị tốt mọi mặt đội ngũ nhà giáo (ĐNNG) càng đóng vai trò tiên quyết.
Coi trọng chất lượng đội ngũ nhà giáo
Tính đến tháng 8-2018, cả nước có 1.161.143 giáo viên mầm non, phổ thông (công lập 1.089.837, ngoài công lập 71.306). Về cơ bản, ĐNNG và cán bộ quản lý giáo dục (QLGD) ở tất cả cấp học đã đạt chuẩn và trên chuẩn trình độ đào tạo. Đây là tiền đề để Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đề xuất nâng chuẩn trình độ đào tạo cho giáo viên trong Luật Giáo dục (sửa đổi). Hầu hết cán bộ quản lý, giáo viên có lòng yêu nghề, có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp tốt, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, có ý chí vươn lên, tích cực học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Năng lực sư phạm của phần lớn nhà giáo được nâng lên, đáp ứng được yêu cầu đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục.
Bộ GD&ĐT đã trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2025. Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để quản lý và phát triển đội ngũ cán bộ QLGD, giáo viên, nhân viên theo Luật Viên chức, góp phần phát triển và tạo động lực cho ĐNNG và cán bộ QLGD. 
ĐNNG và cán bộ QLGD đã tăng mạnh về số lượng, chất lượng và ngày càng đồng bộ về cơ cấu trong 5 năm qua, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục của đất nước. Sự bất hợp lý trong cơ cấu ĐNNG theo cấp, bậc học, theo chuyên môn, ngành nghề và vùng miền ở những năm đầu thực hiện nghị quyết đã dần được khắc phục.
Công tác bồi dưỡng nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên theo các yêu cầu của chuẩn nghề nghiệp được các địa phương quan tâm triển khai thông qua các hình thức khác nhau. Một số địa phương thực hiện nhiều giải pháp liên kết với các cơ sở uy tín ở nước ngoài trong công tác bồi dưỡng đội ngũ; tổ chức các hoạt động sinh hoạt chuyên môn, bồi dưỡng giáo viên thông qua nghiên cứu bài học. Công tác bồi dưỡng thường xuyên cho đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên mầm non, phổ thông được chú trọng, nhiều sở GD&ĐT đã tích cực chủ động phối hợp tốt với các cơ sở đào tạo giáo viên trong công tác xây dựng kế hoạch và bồi dưỡng đội ngũ; công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên ở nước ngoài tiếp tục được quan tâm đầu tư thông qua các đề án đào tạo bằng ngân sách Nhà nước, học bổng hiệp định và các chương trình học bổng khác, trong đó, hầu hết số tiến sĩ này là giảng viên các trường đại học, cao đẳng, đóng góp quan trọng trong nâng cao chất lượng giảng viên của Việt Nam.
Bộ cũng đã trình Thủ tướng Chính phủ đề án nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục đại học và các trường cao đẳng sư phạm đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT giai đoạn 2018-2030; đã ban hành văn bản quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên và chuẩn hiệu trưởng theo định hướng cập nhật, đáp ứng yêu cầu của GD&ĐT trong giai đoạn mới; xây dựng khung năng lực giáo viên phổ thông các môn học đặc thù; xây dựng chuẩn nghề nghiệp giảng viên sư phạm; xây dựng tiêu chuẩn và quy trình lựa chọn giảng viên sư phạm chủ chốt, giáo viên và cán bộ quản lý trường phổ thông cốt cán; xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý với trường sư phạm và trường phổ thông trong bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ QLGD; nghiên cứu những vấn đề cần thiết để đề xuất sửa đổi các nội dung về nhà giáo trong quá trình sửa đổi Luật Giáo dục và Luật Giáo dục đại học; rà soát, sửa đổi, bổ sung chương trình bồi dưỡng thường xuyên giáo viên, cán bộ QLGD các cấp học mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông theo chuẩn.
Bộ GD&ĐT thường xuyên rà soát mạng lưới, quy mô và phương thức đào tạo của các cơ sở đào tạo giáo viên; triển khai chương trình phát triển các trường sư phạm để nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục phổ thông; khảo sát nhu cầu sử dụng giáo viên của các địa phương làm căn cứ xác định chỉ tiêu các ngành đào tạo giáo viên, nâng cao chất lượng đầu vào đối với ngành sư phạm. Các trường sư phạm đổi mới chương trình đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông và xây dựng mới 50 chương trình đào tạo. Các trường, khoa sư phạm là đơn vị chủ đạo trong công tác đào tạo và bồi dưỡng giáo viên và cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cho các ngành nghề khác.
Tiếp tục bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ nhà giáo đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
Triển khai nhiệm vụ và giải pháp về phát triển ĐNNG đáp ứng yêu cầu đổi mới GD&ĐT được đặt ra trong Nghị quyết số 29 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT, trước mắt và lâu dài, Bộ GD&ĐT sẽ tập trung vào một số nhiệm vụ cụ thể.
Xây dựng, hoàn thiện chính sách, chế độ đối với ĐNNG và cán bộ QLDG. Xây dựng, ban hành chuẩn nghề nghiệp theo tinh thần tiếp cận năng lực; phê duyệt đề án nâng cao năng lực giảng viên. Đồng thời xây dựng quy hoạch tổng thể và tiêu chuẩn trường sư phạm hiện đại, năng động, tự chủ; kiểm định, xếp hạng và sắp xếp lại mạng lưới các trường sư phạm. Đổi mới hoạt động đào tạo giáo viên dựa theo chuẩn đầu ra cho sinh viên sư phạm gắn với chuẩn nghề nghiệp.
Triển khai Dự án “Chương trình phát triển các trường sư phạm để nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục phổ thông” đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Ban hành các chương trình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý trường phổ thông thống nhất trong cả nước. Xây dựng hệ thống tập huấn, bồi dưỡng giáo viên qua mạng; tổ chức tập huấn, bồi dưỡng giáo viên kết hợp hai hình thức trực tiếp và qua mạng.
Chỉ đạo địa phương quán triệt tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6, khóa XII trong việc tuyển dụng, sử dụng giáo viên; xác định số giáo viên thừa, thiếu từng cấp học, môn học; thực hiện tốt việc đánh giá, xếp loại giáo viên và thực hiện tinh giản biên chế đối với giáo viên, cán bộ quản lý theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức.
Xây dựng và thực hiện các chính sách tạo động lực cho giáo viên và giáo sinh: Xây dựng các quy định gắn kết hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học của giảng viên sư phạm; điều chỉnh, bổ sung các quy chế thực hành nghiệp vụ sư phạm, quy chế thực tập sư phạm của sinh viên sư phạm; nghiên cứu chính sách hỗ trợ sinh viên sư phạm trong thời gian học và sau khi ra trường; nghiên cứu, rà soát và đề xuất chế độ, chính sách tuyển dụng, sử dụng, lương, phụ cấp và thu nhập của giáo viên,...
Phát triển và nâng cao chất lượng ĐNNG là nhiệm vụ xuyên suốt, bởi giáo viên là nhân tố quyết định thành công của quá trình đổi mới giáo dục. Thực tiễn cho thấy, nếu được quan tâm, tạo điều kiện tốt về thu nhập, đời sống, được trân trọng những cống hiến nghề nghiệp, chất lượng giáo viên, hiệu quả giáo dục sẽ được tăng lên. Trách nhiệm của ngành giáo dục là cùng toàn xã hội tạo ra điều kiện, môi trường tốt nhất cho giáo viên được phát triển và cống hiến.
TS NGUYỄN HỮU ĐỘ, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
http://www.qdnd.vn/van-hoa-giao-duc/giao-duc/chu-trong-nang-cao-chat-luong-doi-ngu-giao-vien-dap-ung-yeu-cau-doi-moi-giao-duc-554925

CẦN TRÁNH NHỮNG NHẬN THỨC SAI LỆCH TỪ VIỆC KỶ LUẬT ÔNG CHU HẢO


CẦN TRÁNH NHỮNG NHẬN THỨC SAI LỆCH TỪ VIỆC KỶ LUẬT ÔNG CHU HẢO
Những ngày qua, không gian mạng lan truyền những luồng tư tưởng khác nhau về việc UBKT Trung ương kết luận và thi hành kỷ luật ông Chu Hảo vì đã vi phạm rất nghiêm trọng nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng, vi phạm tư cách, tiêu chuẩn đảng viên và quy định những điều đảng viên không được làm; có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Những bình luận đa chiều được các tài khoản facebook tán phát trên mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động đã lợi dụng việc này để xuyên tạc, đả phá chế độ. Do đó, cần nhận diện vấn đề một cách khách quan trên những điểm căn bản sau:
Thứ nhất, việc thi hành kỷ luật Đảng, kịp thời đưa ra khỏi Đảng những người không đủ tiêu chuẩn là yêu cầu khách quan.
Trong 8 nguyên tắc xây dựng Đảng, có nguyên tắc: Đảng kết nạp những người ưu tú của giai cấp công nhân, nhân dân lao động vào Đảng, kịp thời đưa những người không đủ tiêu chuẩn đảng viên ra khỏi Đảng.
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, Đảng Cộng sản Việt Nam thẳng thắn nhìn vào sự thật khách quan, đánh giá đúng và kiên quyết khắc phục những yếu kém, hạn chế, khuyết điểm để làm tròn “sứ mệnh”. 
Luôn đòi hỏi duy trì, thực hiện nghiêm kỷ luật Đảng, kịp thời đưa ra khỏi Đảng những người không đủ tiêu chuẩn đảng viên là việc làm tất yếu.
Thứ hai, việc kỷ luật ông Chu Hảo và nhận diện “hiệu ứng Chu Hảo”.
Trước hết, quyết định kỷ luật đảng viên Chu Hảo căn cứ vào Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, căn cứ vào kết luận của cơ quan chức năng về sai phạm của ông Chu Hảo. Từ năm 2005, ông Chu Hảo nghỉ hưu (không còn là Thứ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ) và chuyển sang công tác ở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. 
Với cương vị là Tổng Biên tập, Giám đốc Nhà xuất bản Tri thức, ông đã lựa chọn, biên tập, xuất bản nhiều cuốn sách có nội dung sai phạm, trái quan điểm, chủ trương đường lối của Đảng. 
Đặc biệt, từ năm 2009 đến năm 2018, ông Chu Hảo tiếp tục xuất bản những cuốn sách có nội dung vi phạm, trong đó có 2 cuốn nội dung vi phạm về chính trị, tư tưởng bị cấm phát hành; 17 cuốn sách sai phạm ở mức độ ít nghiêm trọng và 5 cuốn không được phép tái bản. 
Bên cạnh đó, việc nói, viết và làm theo Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, Nghị quyết, chỉ thị của Đảng và pháp luật của Nhà nước, đồng chí Chu Hảo có biểu hiện vi phạm nghiêm trọng. 
Đại diện lãnh đạo Ban Tuyên giáo Trung ương đã mời ông Chu Hảo đến làm việc, trao đổi, phân tích, làm rõ và yêu cầu chấm dứt vi phạm nhưng ông vẫn tiếp tục vi phạm, tiếp tục sáng lập, tham gia các hội, nhóm, diễn đàn, câu lạc bộ và các tổ chức khác và có các hoạt động để truyền bá, tư tưởng quan điểm sai trái của mình.
Ông Chu Hảo mắc phải những sai phạm có hệ thống, kéo dài, thể hiện tư cách đạo đức cách mạng của người đảng viên xuống cấp, không giữ được lập trường tư tưởng chính trị, rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. 
Theo UBKT Trung ương, vi phạm của ông Chu Hảo là rất nghiêm trọng, diễn ra trong thời gian dài, ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức Đảng, tác động xấu tới tư tưởng xã hội. Do đó, căn cứ quy định của Đảng về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm, UBKT Trung ương quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng đối với ông Chu Hảo.
Description: https://creatives.sascdn.com/diff/2060/a384128/banner_640x90.jpg

Đảng có trường tồn, giữ được niềm tin của nhân dân khi và chỉ khi Đảng trong sạch, vững mạnh, đủ năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu. Đảng Cộng sản Việt Nam phải tuân thủ và thực hiện đúng những nguyên lý cơ bản về xây dựng Đảng; trong đó, quy luật đào thải đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam phải thực hiện nghiêm kỷ luật Đảng, kịp thời xử lý những đảng viên vi phạm kỷ luật.
Từ việc kỷ luật ông Chu Hảo, những ngày qua, trên không gian mạng có nhiều ý kiến bình luận trái chiều, các thế lực thù địch, phản động tán phát nhiều bài viết có nội dung chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam. Hiện tượng này được gọi là “hiệu ứng Chu Hảo”.
Từ “hiệu ứng Chu Hảo” cho thấy: (1) Một số ý kiến bày tỏ quan điểm trái chiều, kiến nghị UBKT Trung ương xem xét lại quyết định kỷ luật ông Chu Hảo và những đảng viên tuyên bố “bỏ Đảng” để ủng hộ Chu Hảo thì đây là những trường hợp suy thoái về tư tưởng chính trị, không giữ được phẩm chất cách mạng của người đảng viên, đang từng bước từ bỏ lập trường đúng đắn, rơi vào ngả nghiêng, dao động, biến chất. 
Những con người này đều không xứng đáng là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. (2) Những thông tin của các thế lực thù địch, phản động tán phát trên không gian mạng có liên quan đến ông Chu Hảo đều nhằm mục đích chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam, xuyên tạc, bóp méo sự thật, kích động gây mất đoàn kết nội bộ Đảng.
Thứ ba, sự thật về chuyện hai đảng viên là quân nhân tuyên bố “bỏ Đảng” để ủng hộ Chu Hảo.
Từ sự kiện này, trên mạng xã hội facebook đã xuất hiện thông tin về việc tuyên bố “bỏ Đảng” của hai đảng viên là quân nhân gồm: Nguyễn Hữu Hiếu và Trần Nam. Cụ thể về hai trường hợp này như sau:
Nguyễn Hữu Hiếu, sinh năm 1990, quê ở Thiệu Tân, Thiệu Hóa, Thanh Hóa; trú quán: Nghĩa Thành, Châu Đức, Bà Rịa - Vùng Tàu; vào Đảng ngày 30-10-2011. Trước khi bị kỷ luật và bị loại ra khỏi quân đội là Trung úy, Trung đội trưởng, Trung đoàn 152 Quân khu 9. 
Quá trình công tác, Hiếu hoàn thành nhiệm vụ thấp, năm 2016 là đảng viên không hoàn thành nhiệm vụ, có biểu hiện dao động tư tưởng, không yên tâm công tác, tham gia một số hội nhóm trên mạng có tư tưởng trái với đường lối, quan điểm của Đảng; tham gia chia sẻ, tán phát các tài liệu có nội dung chống phá Đảng, nhà nước. Đơn vị quản lý đã nhiều lần gặp gỡ, giáo dục, động viên, nhưng Hiếu không có sự thay đổi.
Ngày 16-8-2017, Nguyễn Hữu Hiếu đã bị kỷ luật cảnh cáo về Đảng và chính quyền. Quyết định kỷ luật của Đảng ủy Trung đoàn 152 nêu rõ: “Đồng chí Hiếu có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đã đăng bài phát tán trên mạng xã hội trái với quan điểm của Đảng, nhà nước, quân đội. Mặc dù đã được các cấp giáo dục, kiểm điểm nhưng đồng chí Hiếu không có ý thức chấp hành, vẫn tiếp tục sai phạm, đăng tải, chia sẻ với động cơ bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng, nhà nước. Hành vi vi phạm của đồng chí Hiếu là rất nghiêm trọng, trái với đường lối, chủ trương của Đảng, nhà nước, gây ảnh hưởng đến phẩm chất truyền thống, hình ảnh bộ đội Cụ Hồ của đơn vị”. 
Ngày 15-9-2017, Nguyễn Hữu Hiếu viết đơn xin phục viên và được tổ chức giải quyết cho ra quân đúng thủ tục quy định.
Trần Nam, sinh năm 1960, quê quán: Trung Nguyên, Yên Lạc, Vĩnh Phúc; trú tại phường Lộc Tiến, TP. Bảo Lộc, Lâm Đồng; vào Đảng năm 1999. Tháng 10-1997, Trần Nam là Giám đốc Xí nghiệp sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng, Công ty Lâm Viên (Học viện Lục quân); từ năm 2001-2008, là Phó Giám đốc Công ty Lâm Viên. 
Từ năm 2011-2015, là trợ lý Ban Tham mưu kế hoạch, Phòng Hậu cần (Học viện Lục quân). Từ tháng 6-2015 Nam nghỉ chờ hưu với cấp bậc Trung tá quân nhân chuyên nghiệp, đến tháng 6-2016, Nam nghỉ hưu. 
Thời gian gần đây, Trần Nam đăng tải và chia sẻ trên trang facebook cá nhân nhiều nội dung từ những trang phản động, có thông tin xấu độc, xuyên tạc, nói xấu Chủ tịch Hồ Chí Minh, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, nói xấu Đảng, nhà nước.
Như vậy, cả hai trường hợp Nguyễn Hữu Hiếu và Trần Nam đã không còn công tác trong QĐND Việt Nam nữa. Thời điểm hai trường hợp này tán phát thông tin có nội dung “bỏ Đảng” đã không còn là đảng viên trong Đảng bộ Quân đội. 
Do đó, những thông tin trên mạng xã hội facebook về hai trường hợp trên là không đúng sự thật. Việc tán phát thông tin đó chỉ là chiêu trò chống phá của các thế lực thù địch, phản động nhằm thực hiện âm mưu phi chính trị hóa lực lượng vũ trang; tung tin sai lệch, kích động tư tưởng “bỏ Đảng”.
Từ “hiệu ứng Chu Hảo”, các đơn vị cơ sở trong lực lượng vũ trang cần làm tốt một số nội dung sau: (1) Thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, định hướng nhận diện “hiệu ứng Chu Hảo”, phân biệt đúng, sai, thực hiện thắng lợi công tác đấu tranh tư tưởng, lý luận trên không gian mạng trong giai đoạn hiện nay. 
(2) Làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, thực hiện khoa học, hiệu quả việc quản lý các mối quan hệ xã hội của cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm những trường hợp có biểu hiện vi phạm các quy định của Đảng, pháp luật Nhà nước, kỷ luật của lực lượng vũ trang. 
(3) Các tổ chức cơ sở Đảng duy trì, thực hiện nghiêm chế độ quy định, nhất là công tác kiểm tra, giám sát; kịp thời giáo dục, kỷ luật những đảng viên vi phạm những điều đảng viên không được làm. (4) Làm tốt công tác phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương trong việc nắm bắt thông tin những đảng viên là cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang đã nghỉ hưu, ra quân và những đảng viên thuộc đơn vị tham gia sinh hoạt hai chiều tại chi bộ, Đảng bộ địa phương.
Thực tiễn lịch sử đã chứng minh: “Tất cả những đảng cách mạng đã bị tiêu vong cho đến nay, đều bị tiêu vong vì tự cao tự đại, vì không biết nhìn rõ cái gì tạo nên sức mạnh của mình và vì sợ sệt không dám nói lên những nhược điểm của mình”. (V.I. Lênin: Toàn tập, Sđd, t. 45, tr. 141). 
Vì vậy, một đảng “công khai thừa nhận sai lầm, tìm ra nguyên nhân sai lầm, phân tích hoàn cảnh đã đẻ ra sai lầm, nghiên cứu cẩn thận những biện pháp để sửa chữa sai lầm ấy, đó là dấu hiệu chứng tỏ một đảng nghiêm túc, đó là đảng làm tròn những nghĩa vụ của mình” (V.I. Lênin: Toàn tập, Sđd, t. 41, tr. 51). 
Do đó, đòi hỏi tất yếu khách quan trong mọi giai đoạn cách mạng là thực hiện thắng lợi công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; những vi phạm của cán bộ, đảng viên, tổ chức Đảng cần phải xử lý nghiêm túc, kịp thời, đưa ra khỏi Đảng những con người không còn đủ tư cách của người đảng viên để Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh. 
Trong vấn đề này luôn đòi hỏi sự nhận thức đúng đắn “không có vùng cấm”, “không ai đứng trên, đứng ngoài pháp luật”, “tất cả đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng”.
Theo Công an Nhân dân

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...