Thứ Tư, 10 tháng 5, 2017

ĐẰNG SAU SỰ TUYỆT ĐỐI HÓA TƯ TƯỞNG
HỒ CHÍ MINH VÀ PHỦ NHẬN CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
                                                                  Lê Huy
Trong lịch sử tồn tại, phát triển của mình, chủ nghĩa Mác - Lênin đã có không ít kẻ thù chống phá từ nhiều phía. Có ý kiến cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin đã “bỏ rơi” con người. Đây là một sự xuyên tạc cố ý, bởi lẽ, con người vừa là xuất phát điểm, vừa là động lực, lại vừa là mục đích của chủ nghĩa Mác - Lênin. Một trong những điểm khác căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin với các trào lưu tư tưởng khác là ở chỗ, chủ nghĩa Mác - Lênin không có mục đích nào ngoài sự giải phóng triệt để con người, tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện, làm chủ đất nước, xã hội và làm chủ bản thân mình.
Cũng có một số quan điểm cho rằng, chính sự sụp đổ của CNXH ở Liên xô và Đông Âu đã chứng tỏ chủ nghĩa Mác - Lênin không còn phù hợp. Sai lầm của quan niệm này là đã đồng nhất sự sụp đổ của mô hình CNXH giáo điều, khép kín với chủ nghĩa Mác - Lênin. Thực tiễn đổi mới, mở cửa, cải cách với những thành tựu kinh tế, chính trị, xã hội ở các nước XHCN như Trung Quốc, Việt Nam, Cuba đã bác bỏ trên thực tế quan niệm sai lầm này.
Đặc biệt vừa qua, có quan điểm cho rằng, thời đại đã đổi thay nên chủ nghĩa Mác - Lênin trở nên không còn phù hợp nữa, đã lỗi thời, lạc hậu với thời cuộc. Vì thế, ở Việt Nam chỉ cần tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ, không cần chủ nghĩa Mác - Lênin.v.v. Đây thực sự không có gì mới cả, bởi lẽ, trong nhiều năm qua, đã có một số người Việt Nam thiếu thiện chí, mang nặng tư tưởng hằn học, nhân danh “tự do ngôn luận”…ra sức chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Lúc thì họ phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh, hoặc theo họ nếu có thì tư tưởng Hồ Chí Minh chẳng qua chỉ là sự hội tụ giữa chủ nghĩa Mác - Lênin và học thuyết của Khổng Tử mà thôi… Đó là những con người mà chúng ta đều không lạ gì họ như: Vũ Thư Hiên, Bùi Ngọc Tấn, Bùi Tín, Dương Thu Hương, Nguyễn Minh Cần, Minh Võ… Có điều, hiện nay để tiếp tục lừa mỵ được nhiều hơn những người Việt Nam thiếu hiểu biết, thiếu bản lĩnh, thiếu thiện chí…cả tin đi theo họ và tán dương ủng hộ chiêu bài của họ mà thôi. Thực chất của những luận điệu đó của họ đều nhằm hướng đích là phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng để đi tới phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay.
Chúng ta còn nhớ, cách đây hơn mười năm, ông Minh Võ cũng đã nêu lên rằng “chủ nghĩa cộng sản của Karl Marx là sai lầm, dối trá, tàn ác, phản nhân đạo, phản dân tộc. Đó là sự khẳng định thiếu thiện chí, bởi lẽ cũng như Trần Mạnh Hảo, ông Minh Võ đã không hiểu gì về Marx mà lại nhận xét Marx như vậy. Trong khi đó, thế giới ngày nay đánh giá cao những đóng góp vĩ đại của Marx. Vị trí của Marx trong số những tư tưởng gia vĩ đại của thế giới như thế nào? Ngày 13-7-2005, theo kết quả thăm dò ý kiến thính giả của đài BBC Radio, trong số 20 tư tưởng gia được biết đến, kính trọng và có ảnh hưởng nhiều nhất, thì Marx được tôn vinh là một triết gia vĩ đại nhất của mọi thời đại!
Chúng ta biết rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin là một học thuyết chính trị do C.Mác và Ph.Ăngghen sáng lập, sau này được Lênin bảo vệ và phát triển trong điều kiện mới. Bản thân Lênin cũng đã đánh giá: “Học thuyết của Mác là một học thuyết vạn năng vì nó là một học thuyết chính xác. Nó là học thuyết hoàn bị và chặt chẽ, nó cung cấp cho người ta một thế giới quan hoàn chỉnh, không thỏa hiệp với bất cứ một sự mê tín nào, một thế lực phản động nào, một hành vi nào bảo vệ sự áp bức của tư sản”[1].
Hồ Chí Minh ra đi tìm con đường cứu nước để giải phóng dân tộc, khi tiếp cận được “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lênin, Người đã tìm thấy ở đó con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam. Hồ Chí Minh khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”[2]. Sau sày, Người tiếp tục đi sâu nghiên cứu chủ nghĩa Mác. Trả lời cuộc Họp báo tại Biệt thự Roayan Mông xô (Pháp - 12/7/1946), Người nêu rõ: “Tất cả mọi người đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa. Riêng tôi, tôi đã nghiên cứu chủ nghĩa Các Mác”[3]. Người khẳng định: “Chúng tôi là những kẻ chiến thắng hiện tại cũng như trong tương lai, vì con đường đi của chúng tôi được học thuyết vĩ đại của chủ nghĩa Mác - Lênin soi sáng”[4].
Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác - Lênin là cách mạng và khoa học nhất. Bởi bì theo Người, chủ nghĩa Mác - Lênin đã kế thừa và phát triển tất cả những gì tốt đẹp nhất mà loài người đã sáng tạo ra ở thế kỷ XIX; chủ nghĩa Mác - Lênin đã phát hiện ra những quy luật khách quan phát triển của cả tự nhiên và xã hội; là thế giới quan, hệ tư tưởng chính trị của giai cấp công nhân, đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân trong nhiệm vụ xây dựng lại xã hội một cách cách mạng; chủ nghĩa Mác - Lênin luôn gắn với thực tiễn vận động, phát triển; chủ nghĩa Mác - Lênin không phải là một lý luận tư biện, mà là một lý luận khoa học gắn liền với phong trào cách mạng hiện thực; là sự tổng kết và phản ánh về mặt lý luận, thực tiễn của phong trào ấy với cả những bước thăng, trầm, cao trào và thoái trào; chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết về sự giải phóng con người một cách toàn diện và triệt để nhất.
Chủ nghĩa Mác - Lênin mà hạt nhân của nó là phép biện chứng duy vật, có những cơ sở khoa học mới để tiếp tục khẳng định và phát triển. Về mặt xã hội, sự tồn tại và khả năng tự điều chỉnh, phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện đại không nói lên sự lạc hậu, lỗi thời của chủ nghĩa Mác - Lênin. Thời đại ngày nay vẫn còn giai cấp, áp bức giai cấp và đấu tranh giai cấp, còn bất công, bất bình đẳng xã hội. Mà bước vào những thập niên đầu của thế kỷ XXI, bất công, bất bình đẳng có xu hướng trầm trọng hơn. Chủ nghĩa tư bản hiện đại không có khả năng giải quyết các vấn đề toàn cầu bức xúc, mặc dù điều kiện kỹ thuật để giải quyết các vấn đề ấy ngày càng tốt hơn. Chủ nghĩa tư bản dù là “hiện đại” cũng khó có thể thoả mãn những ước nguyện của con người về lẽ công bằng, về hạnh phúc và niềm vui.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), đã nêu rõ: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại…Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”[5].
Rõ ràng, chủ nghĩa Mác - Lênin là nguồn gốc lý luận quan trọng, quyết định sự hình thành, phát triển và bản chất cách mạng, khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ nghĩa Mác - Lênin trang bị cho Hồ Chí Minh thế giới quan, phương pháp luận biện chứng và khoa học nhằm chỉ đạo hoạt động nhận thức và thực tiễn của Người. Như Hồ Chí Minh đã đánh giá: “Theo chủ nghĩa Mác thì chẳng những cần hiểu biết quy luật thế giới để giải thích thế giới, mà còn phải dùng sự hiểu biết ấy để cải tạo thế giới”[6].
Chủ nghĩa Mác - Lênin là nhân tố quyết định bản chất giai cấp công nhân của tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh thuộc hệ tư tưởng Mác - Lênin, hệ tư tưởng của giai cấp vô sản. Theo Người: “Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”[7].
Chủ nghĩa Mác - Lênin là nhân tố có ảnh hưởng lớn nhất đến nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh. Toàn bộ nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh đều là sự nhận thức và vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin. Tất cả những nguyên lý, quy luật, phạm trù của tư tưởng Hồ Chí Minh có phần cốt lõi từ chủ nghĩa Mác - Lênin.
Nhờ có phương pháp luận chủ nghĩa Mác - Lênin đã giúp Hồ Chí Minh tìm ra được quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, vạch ra được bản chất của mọi hiện tượng, quá trình chuyển biến của cách mạng Việt Nam. Bản chất giai cấp công nhân của chủ nghĩa Mác - Lênin quyết định bản chất giai cấp công nhân của tư tưởng Hồ Chí Minh. Và bản chất đó được thể hiện xuyên suốt trong mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Giá trị và sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin có ảnh hưởng đến giá trị và sức sống của tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ nghĩa Mác - Lênin là lý luận mãi mãi xanh tươi mà mạch nguồn chủ của nó là phép biện chứng duy vật. Theo đó, dựa vào đó tư tưởng Hồ Chí Minh trường tồn cùng dân tộc và thời đại. Thế giới có đổi thay, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn sống mãi.
Chủ nghĩa Mác - Lênin về bản chất là một hệ thống mở, không ngừng phát triển cũng là đòi hỏi đáp ứng yêu cầu nội tại, thiết thực của chính chủ nghĩa Mác - Lênin; mặt khác, chỉ có phát triển, thông qua phát triển và bằng phát triển thì chủ nghĩa Mác - Lênin mới thể hiện được sức sống của mình đối với thời đại. Tuy nhiên, bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin phải trên những nguyên tắc cơ bản: Một là, tiếp tục làm sáng tỏ, làm giàu thêm và khẳng định bản chất cách mạng, khoa học vốn có của chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện mới. Hai là, bổ sung, phát triển phải trên lập trường chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam. Những luận điểm nào trước đây đúng, bây giờ vẫn đúng; những luận điểm nào trước đây đúng nhưng vì ta nhận thức sai, bây giờ phải nhận thức lại cho đúng; những luận điểm nào trước đây đúng nhưng bây giờ do thực tiễn đổi thay nên không còn phù hợp; những điểm cần bổ sung vào lý luận Mác - Lênin do thực tiễn mới, do sự phát triển của khoa học, công nghệ yêu cầu.
Tóm lại, cho đến nay chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là học thuyết khoa học và cách mạng duy nhất đáp ứng nhiệm vụ lịch sử nhằm giải phóng triệt để con người, mà chưa có học thuyết nào có thể thay thế được. Cũng vì thế, nếu phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin và đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh là hoàn toàn sai lầm, phản khoa học và thiếu thiện chí. Âm mưu của họ là tách tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi chủ nghĩa Mác - Lênin; làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh mất cơ sở khoa học; từ đó phủ nhận tính cách mạng và khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh, để rồi phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay./.



[1] V.I.Lênin: Toàn tập, tập 23, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, tr.49,50.
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.289.
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.315.
[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.313.
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ  IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.83,84.
[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.127.
[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.563.

Thứ Ba, 2 tháng 5, 2017

CHIÊU TRÒ MỚI, DÃ TÂM CŨ
                                                                  Lê Huy
Từ nhiều thập kỷ qua, đã có những thế lực thiếu thiện chí, thiếu khách quan, mang nặng tư tưởng hằn học, rắp tâm bôi nhọ để mưu toan “hạ bệ thần tượng” Hồ Chí Minh, phủ nhận công lao, sự nghiệp, cuộc đời, xuyên tạc tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Hiện nay, trên các trang mạng xã hội, facebook, twitter, một chiến dịch “hạ bệ thần tượng” Hồ Chí Minh lại được các thế lực thù địch ráo riết đẩy mạnh. Thực chất đây là một chiêu trò mới nhưng vẫn dã tâm cũ nhằm ráo riết chống phá cách mạng Việt Nam của chúng.
Các thế lực thù địch ra sức tiến công vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh với những thủ đoạn hết sức tinh vi và xảo quyệt, vừa trắng trợn vừa công khai cho rằng: “Chủ nghĩa xã hội mà C.Mác nêu ra chỉ là một lý tưởng, một chủ nghĩa xã hội “không tưởng”; không bao giờ thực hiện được”[1]. Chúng cho rằng “Hồ Chí Minh du nhập chủ nghĩa Mác - Lênin với thuyết đấu tranh giai cấp gây ra cảnh “nồi da nấu thịt” suốt mấy chục năm”[2]. Chúng xuyên tạc, cố tình đổi trắng thay đen, xuyên tạc lịch sử, cam tâm đổ lỗi cho Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã gây ra chiến tranh tàn phá quê hương, gây ra mấy chục năm binh đao, khói lửa đau thương. Chúng nói xằng bậy rằng “Hồ Chí Minh chỉ là người tiếp thu mù quáng chủ nghĩa Mác - Lênin, chứ không hề có tư tưởng cao siêu”[3]; từ đó kết hợp với xuyên tạc đạo đức, tấm gương đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh.
Chúng ta đều biết, trong chiến dịch “hạ bệ thần tượng” Hồ Chí Minh, các thế lực thù địch sử dụng ngón đòn hết sức thâm độc, xảo quyệt. Chúng biết rằng, tiến công trực tiếp vào Hồ Chí Minh, cũng như tư tưởng, đạo đức,tấm gương đạo đức của Người là khó thực hiện được ngay và có hiệu quả, bởi hình ảnh cao đẹp của lãnh tụ Hồ Chí Minh đã ăn sâu vào trái tim và khối óc của mọi người dân Việt Nam. Vì thế, chúng đi con đường vòng, cho rằng bây giờ chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, không còn phù hợp với đất nước Việt Nam, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là đáng giá, phù hợp nhất đối với dân tộc chúng ta; do đó chúng ta chỉ cần dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ, nếu cần thì nâng tầm lên thành “chủ nghĩa Hồ Chí Minh” để thay thế chủ nghĩa Mác - Lênin.v.v.
Sự thật lịch sử là khách quan, không ai có thể phủ nhận hoặc bóp méo được. Chỉ cần không có thái độ thiên kiến, hằn học và có thái độ khoa học, lập trường xem xét khách quan là có thể nhận thức được giá trị to lớn của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân đã đoàn kết một lòng với ý chí “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, đã kiên quyết đứng lên chiến đấu, chấp nhận gian khổ, hy sinh để bảo vệ quyền được sống trong tự do và độc lập. Từ một nước không có tên trên bản đồ thế giới, chìm trong nộ lệ, lầm than, dân tộc ta đã đứng vào hàng ngũ tiên phong của các dân tộc trên thế giới trong cuộc đấu tranh chủ nghĩa thực dân cũ và mới ở thế kỳ XX, trở thành lương tri của thời đại. Tinh thần anh dũng hy sinh của nhân dân Việt Nam là tấm gương đối với nhân dân các dân tộc bị áp bức trên thế giới noi theo. Cũng chính sự thật đó đã hoàn toàn bác bỏ những luận điệu muốn bóp méo, xuyên tạc, phủ định thành quả cách mạng Việt Nam do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo.
Với chiêu thức mới, “đề cao” tư tưởng Hồ Chí Minh và đòi thay thế chủ nghĩa Mác - Lênin, thực chất không phải là đánh giá đúng tư tưởng Hồ Chí Minh, không phải là sự ca ngợi, tôn vinh Hồ Chí Minh. Đây thực sự là một luận điệu mới, ngón đòn rất nguy hiểm của các thế lực thù địch trong mục tiêu phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác - Lênin, “hạ bệ thần tượng” Hồ Chí Minh. Bởi lẽ, cắt ròi, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin thực chất là xuyên tạc, bóp méo tư tưởng Hồ Chí Minh, là hành động nhằm cô lập và làm suy yếu tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng là để phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, chứ chẳng phải là sự ca ngợi, tôn vinh nào cả.
Các thế lực thù địch cũng nhận thức được rằng, nếu không xuyên tạc, xóa bỏ được nền tảng tư tưởng  và kim chỉ nam ấy của Đảng ta, thì chúng cũng không thực hiện được thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt nam, không thể xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam được. Nhưng với bản lĩnh của một Đảng Mác-Lênin chân chính, một dân tộc được tôi luyện và thấu hiểu giá trị của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, càng giúp cho chúng ta luôn cảnh tỉnh trước chiêu trò mới của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta hiện nay./.



[1] Ban Tuyên giáo Trung ương, Phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tr.48.
[2] Ban Tuyên giáo Trung ương, Phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tr.51.
[3] Ban Tuyên giáo Trung ương, Phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tr.51.
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH HOÀN TOÀN KHÔNG PHẢI LÀ
 “CHỦ NGHĨA DÂN TỘC HẸP HÒI”
Phạm Văn
Hiện nay, trên các trang mạng có những quan điểm phản động, chúng đưa ra những luận điệu chống phá Đảng, Nhà nước, bôi nhọ lãnh tụ, hạ thấp uy tín của lãnh tụ cũng như làm giảm niềm tin của nhân dân. Một trong những quan điểm đó của chúng có quan điểm đã cho rằng: Tư tưởng Hồ Chí Minh là “chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi”. Trước hết, với nhận thức của người cán bộ, đảng viên, người công dân của Việt Nam chúng ta khẳng định rằng quan điểm trên là hoàn toàn sai và chưa có được nhận thức đầy đủ về tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là một tư tưởng phản động, phủ nhận những giá trị tốt đẹp của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, chúng ta khẳng định những giá trị tốt đẹp, cao cả của Tư tưởng Hồ Chí Minh đối với dân tộc Việt Nam và nhân loại yêu chuộng hòa bình trên thế giới như sau:
  Một là, Tư tưởng Hồ Chí Minh nằm trong hệ tư tưởng Mác - Lênin về giai cấp vô sản và sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản toàn thế giới. Tư tưởng đó  không chỉ có giá trị riêng với dân tộc Việt Nam. Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin như một sự tự nhiên, xuất phát từ tình yêu quê hương, đất nước và mong muốn cho đất nước mình được độc lập, đồng bào mình được tự do, ấm no, hạnh phúc và ban đầu chỉ là sự kính yêu ngưỡng mộ Lênin, nhưng sau này Hồ Chí Minh đã coi đó là kim chỉ nam của sự nghiệp giải phóng dân tộc. Khi Hồ Chí Minh bắt gặp luận cương chính trị của Lênin, Người đã nói: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ đây là cái cần cho chúng ta, đây là con đường giải phóng cho chúng ta”. Trong bài “con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Mác - Lênin” Hồ Chí Minh khẳng định: Lúc đầu chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác - Lênnin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”. Như vậy, nói tư tưởng Hồ Chí Minh là “tư tưởng dân tộc” là chỉ thấy giai đoạn đầu chứ không biết đến quá trình phát triển của tư tưởng ấy. Hơn nữa, Hồ Chí Minh có nói tới giải phóng các dân tộc, người lao động toàn thế giới chứ không riêng gì dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam.
Hai là, nội dung chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Trong đó, giải phóng dân tộc là giai đoạn đầu, là tiền đề để dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội và cao hơn nữa là chủ nghĩa cộng sản. Như vậy tư tưởng đó của Người đã mang ý nghĩa giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Chính thành công của cách mạng Việt Nam đã là khởi đầu và là động lực cho các cuộc cách mạng ở các dân tộc khác bị áp bức nổ ra và giành thắng lợi cũng như lựa chọn đi theo con đường chủ nghĩa xã hội.
  Ba là, Hồ Chí Minh được công nhận là nhà cách mạng lớn của toàn nhân loại chứ không riêng của nhân dân Việt Nam. Bởi lẽ, Người đã tham gia thành lập Đảng cộng sản Pháp (12/1920), là thành viên quan trọng của Quốc tế cộng sản và rất được tín nhiệm. Chính sự tín nhiệm của mọi người khẳng định chắc chắn rằng Hồ Chí Minh không phải giữ trong mình tư tưởng dân tộc.
  Như vậy, Một lần nữa chúng ta khẳng định rằng tư tưởng trên là sai trái, cũng giống như những luận điệu xuyên tạc, chống phá nhằm phá hoại giá trị cao đẹp của tư tưởng Hồ Chí Minh, Chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam, và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phá hoại con đường và quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Và Chúng ta cần phải nhìn nhận, đấu tranh đập tan những quan điểm, luận điệu phản động đó. Bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ Nhân dân và bảo vệ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam./.




XÚC PHẠM HỒ CHÍ MINH LÀ MANG TỘI PHẢN QUỐC


Trong tình hình thế giới phức tạp hiện nay, trên các trang mạng xã hội các thế lực thù địch đang tìm mọi cách phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong đó, chúng tìm mọi cách bài bác, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội.
Thay vì chống phá chủ nghĩa xã hội một cách trực diện, các thế lực thù địch và bọn cơ hội lại thông qua việc phủ nhận công lao và đóng góp to lớn của lãnh tụ Hồ Chí Minh đối với dân tộc Việt Nam và nhân loại tiến bộ bằng luận điệu không chỉ là vu khống, xuyên tạc, mà là sự xúc phạm trắng trợn đối với lãnh tụ Hồ Chí Minh. Chúng cho rằng, “Hồ Chí Minh lựa chọn cho mình con đường cộng sản và mang nó về áp đặt cho nền chính trị Việt nam trong thế kỷ XX để tiến hành một cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và đã giành được độc lập cho Việt Nam”. Và rằng “nguyên nhân của mọi nguyên nhân khiến cho đất nước tụt hậu như hiện nay là do hệ tư tưởng cộng sản với Chủ nghĩa Marx-Lênin làm nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, điều mà đến nay chỉ còn tồn tại trên danh nghĩa và duy nhất ở Việt nam”; theo đó, công lao của lãnh tụ Hồ Chí Minh “nếu có, thì chỉ là công lao đối với cộng sản chứ không phải công lao đối với dân tộc Việt Nam”.
Như chúng ta đã biết, tư tưởng Hồ Chí Minh là ngọn cờ dẫn dắt sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta, trong đó tư tưởng của Người về chủ nghĩa xã hội là một bộ phận cấu thành quan trọng. Nhất quán với các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh quan niệm, chủ nghĩa xã hội là một học thuyết khoa học và cách mạng của giai cấp vô sản nhằm xóa bỏ ách thống trị của tư bản chủ nghĩa, thực hiện lý tưởng giải phóng giai cấp và giải phóng toàn thể xã hội loài người.
Cái mới và sáng tạo của Hồ Chí Minh khi nói về bản chất của Chủ nghĩa xã hội là ở chỗ, Người phát hiện thấy lý tưởng xã hội chủ nghĩa đã chung đúc tất cả lý tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng xã hội. Người nhìn nhận chủ nghĩa xã hội là chế độ xã hội đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa cá nhân và xã hội. Hồ Chí Minh làm phong phú thêm hướng tiếp cận chủ nghĩa xã hội.
Mục đích của chủ nghĩa xã hội, theo Hồ Chí minh là không ngừng nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động. Bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân là một trong những vấn đề quan trọng mà người đặc biệt quan tâm. Theo Hồ Chí minh, dân chủ là của quý nhất của nhân dân, chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là người chủ, bao nhiêu lợi ích điều vì dân, bao nhiêu quyền hạn điều của dân, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân; dân chủ là chìa khóa của mọi tiến bộ và phát triển. Quan niệm này đã đặt nền tảng và giữ vai trò chỉ đạo trong hoạt động của Đảng và Nhà nước ta.
Hồ Chí Minh đã có những đóng góp to lớn, thúc đẩy quá trình phát triển của nhân loại. Không chỉ tìm ra con đường giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc Việt Nam khỏi ách nô lệ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới, lãnh tụ Hồ Chí Minh còn gắn cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới. Là người khởi xướng cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc, giành độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam và các dân tộc thuộc địa khác, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã tích cực đấu tranh để mọi người cùng bình đẳng trong hưởng thụ quyền được sống, quyền được tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Người đã quy tụ và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, từng bước giải quyết thành công vấn đề giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc; không ngừng vun đắp cho khối đại đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế. Hồ Chí Minh đã vinh dự được Đại hội đồng UNESCO vinh danh là Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất. Đó là đánh giá khách quan, sự ghi nhận và vinh danh xứng đáng của thế giới đối với Người.
Mặt khác, Đảng Cộng sản Việt Nam là chính Đảng cách mạng do lãnh tụ Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Vì thế, các thế lực thù địch tìm cách phủ nhận công lao và đóng góp của Người đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng nhân loại, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nền tảng tư tưởng của Đảng, của dân tộc. Sâu xa của sự nham hiểm và xảo quyệt mà các các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị muốn hướng tới chính là phủ nhận chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Những thành tựu quan trọng mà nhân dân ta đã đạt được trong thời gian qua, nhất là thành tựu của 30 năm đổi mới, có thể khẳng định, chưa bao giờ thế và lực của cách mạng nước ta lớn mạnh như hiện nay; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được chăm lo chu đáo; uy tín, vị thế Việt Nam trên trường quốc tế rất cao; Việt Nam đã và đang là bạn, đối tác tin cậy và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Đó là sự thật không chỉ người Việt Nam yêu nước thừa nhận, mà thế giới ngợi ca và đánh giá cao. Vì thế, bất cứ ai, nếu là người Việt nam mà xúc phạm đến lãnh tụ Hồ Chí Minh là có tội với tổ tiên và mắc tội phản quốc.
Việt Bắc


Một số yêu cầu trong đấu tranh phòng, chống
“phi chính trị hóa” quân đội hiện nay
                                                                             Thiên Thanh
 “Phi chính trị hóa” quân đội là một thủ đoạn mà các lực lượng phản động quốc tế và các thế lực thù địch đã và đang tiến hành để chống phá quân đội ta. Thực chất của thủ đoạn này là nhằm tách QĐND Việt Nam ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đối lập quân đội với Đảng Cộng sản, với nhân dân; là tìm cách buông lỏng, đi đến hạ thấp và phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với quân đội; làm cho quân đội cách mạng dần dần biến chất về chính trị, lôi kéo quân đội xa rời hệ tư tưởng chính trị cách mạng, tạo ra cái “khoảng trống ý thức hệ” nhằm vô hiệu hóa quân đội và dần dần hướng quân đội phục vụ cho mục đích chính trị của các thế lực chống chủ nghĩa xã hội.
          Để thực hiện mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội, các thế lực thù địch tiến công bằng nhiều biện pháp, thủ đoạn hết sức tinh vi và nham hiểm. Chúng dùng mọi nỗ lực để làm cho cán bộ, chiến sĩ quân đội thờ ơ với chính trị, không quan tâm đến chính trị, tạo ra “khoảng trống ý thức hệ”, pha loãng, làm nhạt dần mục tiêu, lý tưởng cách mạng, làm cho hệ tư tưởng tư sản ngày càng thâm nhập sâu hơn vào đời sống chính trị - tinh thần của cán bộ, chiến sĩ trong quân đội ta, tạo ra sự mơ hồ, mất cảnh giác, mất phương hướng về chính trị để cuối cùng đi tới làm cho quân đội biến chất chính trị.
          Về thủ đoạn, biện pháp các thế lực đế quốc có thể tiến công trực diện hoặc không trực diện mà đi đường vòng, bắt đầu tiến công vào lối sống, truyền bá lối sống cơ hội, thực dụng, tôn thờ đồng tiền, chạy theo những thị hiếu thấp hèn, lối sống buông thả, thờ ơ, lãnh đạm trước các vấn đề chính trị - xã hội. Tính chất nguy hiểm của mũi tấn công này là làm cho một bộ phận cán bộ, chiến sĩ thiếu bản lĩnh, thiếu tích cực tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống cách mạng… dần dần bị sa đọa về đạo đức, lối sống, đề cao, tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân ích kỷ, không chăm lo rèn luyện đạo đức cách mạng, dần dần phai nhạt mục tiêu lý tưởng chiến đấu, cổ xúy cho chính trị, đạo đức, lối sống tư sản.
          Trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin như hiện nay, các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin hiện đại, nhất là qua các trang mạng xã hội trên internet để tăng cường chống phá quân đội ta. Chúng triệt để khai thác những hạn chế, yếu kém về công tác tư tưởng, tổ chức và chính sách của ta; lợi dụng những “điểm nóng”, những bức xúc xã hội trong một bộ phận quần chúng; lợi dụng những người có quan điểm sai trái, những phần tử thoái hóa, biến chất… để tiến công vào trận địa tư tưởng, văn hóa, đạo đức, lối sống, làm suy yếu khả năng phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội.
          Hiện nay, trước sự tác động của tình hình thế giới, khu vực và trong nước, trước yêu cầu mới của nhiệm vụ cách mạng, của quân đội. Để đấu tranh có hiệu quả đối với âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch, cần quan tâm làm tốt một số vấn đề sau đây:
          Trước hết, cần tăng cường giáo dục để cán bộ, chiến sĩ nhận thức rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch trong thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, nhất là vạch trần tính chất phản khoa học của luận điểm “quân đội đứng ngoài chính trị”, thực chất quan điểm “phi chính trị hóa” quân đội. Đồng thời phải nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, chủ động phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội.
Thứ hai, chăm lo xây dựng quân đội về mọi mặt, coi trọng xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị. Xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị là cách tốt nhất để gia tăng “sức đề kháng” của cán bộ, chiến sĩ quân đội trước những âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội. Một quân đội vững mạnh về chính trị, tuyệt đối trung thành với tổ quốc, với Đảng, Nhà nước, với nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, sắn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc dân tộc và xã hội chủ nghĩa thì không dễ gì có thể làm cho nó “phi chính trị hóa”, không thể làm cho nó chuyển sang một chế độ chính trị khác - chính trị tư sản được.

          Thứ ba, phát huy vai trò quân đội trên mặt trận đấu tranh “phi vũ trang”, chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đấu tranh trên mặt trận tư tưởng lý luận phòng, chống “phi chính trị hóa” quân đội. Trong đó cần quan tâm đến các vấn đề như: công tác lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn, định hướng hoạt động phòng, chống “phi chính trị hóa” quân đội; xác định, lựa chọn nội dung, xác định hình thức, phương pháp phòng, chống “phi chính trị hóa” quân đội phù hợp, có hiệu quả; tổ chức xây dựng, bồi dưỡng lực lượng tham gia phòng, chống “phi chính trị hóa” quân đội, nhất là tổ chức lực lượng nòng cốt; tăng cường đảm bảo thông tin, tài liệu, cơ sở vật chất, kinh phí cho hoạt động phòng, chống “phi chính trị hóa” quân đội./.

Thứ Sáu, 28 tháng 4, 2017

PHÒNG, CHỐNG CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY
                                                             Trần Trí Nam
Thời gian qua, bên cạnh những kết quả tốt đẹp về thực hiện chính sách tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam, ở một số nơi vẫn còn nảy sinh một số vụ việc va chạm giữa chính quyền với tổ chức tôn giáo mà nguyên nhân có khi thuộc về khuyết điểm của cấp chính quyền địa phương, có khi thuộc về một số cá nhân của tổ chức tôn giáo. Về phía chính quyền ở một số nơi, còn không ít cán bộ, đảng viên có nhận thức chưa đúng, có thái độ mặc cảm, định kiến với tổ chức tôn giáo và chức sắc tôn giáo, nên trong giao tiếp và xử lý công việc, có biểu hiện thiếu thân thiện, công bằng và khách quan. Vụ việc xảy ra tại Nhà thờ Thái Hà, Nhà Chung ở Hà Nội là tranh chấp về đất đai liên quan tới cơ sở cũ của tổ chức tôn giáo. Vụ việc này xuất phát từ khuyết điểm của các cấp chính quyền không thực hiện đúng chỉ thị của Thủ tướng, cụ thể là Khoản a Điều 3 của Chỉ thị 1940/2008 về đất đai trong “trường hợp cơ sở tôn giáo có nhu cầu chính đáng sử dụng nhà, đất đó vào mục đích tôn giáo thì tùy từng trường hợp cụ thể, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thể xem xét giao nhà, đất với diện tích phù hợp; hoặc tạo điều kiện cho tổ chức tôn giáo xây dựng cơ sở mới theo quy định của pháp luật”.
Ngoài ra, hiện tượng các cá nhân hoặc nhóm cá nhân lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để có các hành vi trục lợi, lừa bịp, buôn thần bán thánh, mê tín dị đoan ngày càng gia tăng và tạo ra những hệ lụy, dẫn đến làm mất uy tín của tôn giáo, gây khó xử cho chính quyền. Hiện tượng muốn Nhà nước “ưu tiên, ưu đãi”, hoặc lạm dụng sự thân thiện của chính quyền để khuếch trương tôn giáo, gây hiểu lầm trong xã hội về thái độ của Nhà nước đối xử không công bằng giữa các tôn giáo, ưu đãi tôn giáo này, khó khăn với tôn giáo kia đang ngày càng phức tạp. Đáng chú ý, một số phần tử cơ hội chính trị, lấy danh nghĩa linh mục giáo sứ, trụ trì cơ sở thờ tự như Nguyễn Văn Lý, Thích Quảng Độ, Đặng Hữu Nam… lợi dụng phương tiện truyền thông và quan hệ với bên ngoài chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân bằng cách tán phát thông tin, tài liệu vu cáo, xuyên tạc, thổi phồng một số khuyết điểm nhỏ của chính quyền thành hành động đàn áp giáo dân, gây căng thẳng không đáng có giữa chính quyền và tôn giáo. Hành động của họ đi ngược lại hoàn toàn với chính sách nhất quán về tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam, cũng như phương hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc.
Có thể khẳng định rằng, từ khi nước ta giành được độc lập đến nay đã hơn 70 năm qua, Đảng, Nhà nước ta luôn đặc biệt quan tâm và coi trọng vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo nhằm đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân, thực hiện đoàn kết chặt chẽ lương - giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nhất quán với chính sách tín ngưỡng, tôn giáo ở trong các văn kiện của Đảng, Điều 24, Hiến pháp 2013 hiến định: “1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.
2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”[1].
Cụ thể hóa Điều 24 Hiến pháp 2013 và trước sự phát triển của tình hình trong đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, ngày 18/11/2016, Quốc hội đã thông qua và ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 02/2016/QH14 gồm 09 chương, 68 điều, quy định chi tiết các vấn đề về tín ngưỡng, tôn giáo. Đáng chú ý, ngoài các vấn đề được kế thừa, phát triển so với các văn bản pháp luật trước đó, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo dành hẳn Chương VIII quy định về quản lý nhà nước và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo.
Như vậy, chính sách, pháp luật ở Việt Nam khẳng định nhất quán quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân cũng như cam kết bảo đảm các quyền đó gắn với lợi ích quốc gia, dân tộc. Những chính sách đó của Đảng, Nhà nước Việt Nam được ban hành những năm gần đây, đã định hướng và tạo hành lang pháp lý cũng như chỉ dẫn cần thiết cho các cấp ủy đảng, chính quyền trong đối xử với các tổ chức tôn giáo, các chức sắc và tín đồ tôn giáo ở các địa phương trong toàn quốc. Đồng thời, đó cũng là hành lang pháp lý để các tổ chức tôn giáo, chức sắc, chức việc và tín đồ tôn giáo hoạt động.
Theo khẳng định của đồng chí Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân khi tiếp Đức Hồng y Reinhard Marx, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Đức (Báo điện tử Chính phủ, ngày 11-1-2016): Trước năm 2000, Nhà nước ta công nhận và cấp phép cho 3 tổ chức tôn giáo, tới nay đã  công nhận và cấp phép hoạt động cho 40 tổ chức thuộc 14 tôn giáo. Còn về số lượng người theo các tôn giáo cũng đang tăng lên. Theo số liệu Tổng điều tra dân số năm 2009, cả nước có 15.651.467 người theo tôn giáo. Trong đó Phật giáo có 6,8 triệu, Công giáo 5,7 triệu, Tin lành 734.168 người. Đến năm 2011, theo số liệu của Ban Tôn giáo Chính phủ, cả nước có 25,4 triệu người là tín đồ các tôn giáo, trong đó Phật giáo là 10 triệu, Công giáo 6,1 triệu, Tin lành là 1,5 triệu[2]. Như vậy, số lượng tín đồ các tôn giáo sau hơn 10 năm đã tăng tới 10 triệu người, trong đó Tin lành tăng gấp 2 lần. Hàng chục nghìn cơ sở thờ tự (nhà thờ, chùa chiền, thánh thất...) được xây dựng mới, được tu sửa, nâng cấp. Các trường đào tạo chức sắc được mở ra ở nhiều nơi với nhiều cấp học, số lượng người theo học ngày càng đông, số lượng chức sắc tăng lên. Riêng Công giáo có 7 đại chủng viện, 26 tổng giám mục, 5 nghìn linh mục, 3 người là đại biểu Quốc hội khóa XIII, 38 người tham gia Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, hơn 300 người tham gia Hội đồng nhân dân cấp huyện, quận[3].
Bên cạnh sự phát triển về số lượng, quy mô tín ngưỡng, tôn giáo thì sách, báo, ấn phẩm văn học tôn giáo được xuất bản với số lượng lớn; các ngày lễ của các tôn giáo được tổ chức long trọng, nhiều sự kiện tôn giáo có tầm quốc gia và quốc tế được tổ chức (thí dụ Đại lễ Vesak của Phật giáo); quan hệ giữa nhà nước Việt Nam và các giáo hội trong và ngoài nước ngày càng thân thiện, hiểu biết lẫn nhau. Mối quan hệ giữa các tổ chức tôn giáo trong nước và ngoài nước rộng mở.
Những kết quả của chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo hơn 70 năm qua ở Việt Nam là không thể phủ nhận. Do đó, tất cả những biểu hiện lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đều trái với tinh thần tự do tín ngưỡng, tôn giáo và hành lang pháp lý về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Song để phòng, chống các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, hơn lúc nào hết, chúng ta cần hướng dẫn các chức sắc tôn giáo hoạt động tôn giáo theo đúng chính sách, luật pháp của Đảng, Nhà nước. Phải tiếp tục đẩy mạnh công tác giáo dục, bồi dưỡng tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc, làm cho các chức sắc tôn giáo, giáo dân thể hiện rõ vai trò và trách nhiệm trong các giáo hội ở một nước văn minh, tiến bộ. Đồng thời, chúng ta cần giáo dục, giác ngộ cho họ nâng cao tinh thần cảnh giác, kịp thời chống âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” gắn với thực hiện phương châm “Tốt đời - đẹp đạo”, “Nước vinh - đạo sáng”./.




[1] Tuyên ngôn độc lập năm 1945 và các Hiến pháp Việt Nam (1946, 1959, 1980, 1992, 2013), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015, tr.203-204.
[2] Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân tiếp Đức Hồng y Reinhard Marx, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Đức, Báo điện tử Chính phủ, ngày 11-1-2016.
[3] TS Phạm Huy Thông: “Tình hình tôn giáo và những yêu cầu đặt ra với công tác tôn giáo vận”, http://btgcp.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/38/0/240/0/2263/Tinh_hinh_ton_giao_va_nhung_yeu_cau_dat_ra_voi_cong_tac_ton_giao.

Thứ Năm, 27 tháng 4, 2017

SỰ CỐ TÌNH XUYÊN TẠC, BÓP MÉO CHIẾN THẮNG

30 THÁNG 4 NĂM 1975

Thời gian gần đây, trên các trang mạng xã hội có nhiều bài viết của những kẻ được cho là “dân chuyên đi nghiên cứu lịch sử” đã đăng tải nội dung bài viết ca ngợi chiến thắng vĩ đại của dân tộc Việt Nam 30 tháng 4 năm 1975. Nếu tâm tư của họ như vậy thì hoàn toàn tốt, đằng này, tâm địa của họ lại không phải vậy. Đằng sau những lời sẽ mà họ tung hô đó là những luận điệu xuyên tạc, cố tình làm sai lịch sử, họ đưa những nghiên cứu không có căn cứ ra để hòng bóp méo lịch sử, gây ra sự hoài nghi trong lòng người dân Việt Nam.

Trong thế kỷ XX, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam – Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, dân tộc Việt Nam đã viết nên những trang sử hào hùng trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước. Trong những trang lịch sử rực rỡ đó có thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Đúng như Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV đã viết: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”. 
Lịch sử không thể thay đổi. Người ta chỉ có thể thay đổi cách nhìn nhận về lịch sử tùy theo quan điểm và lợi ích chính trị của mình mà thôi. Vì những lý do khác nhau, trong thời gian qua, không ít kẻ đã cố tình xuyên tạc, bóp méo lịch sử dân tộc Việt Nam, trong đó có ngày Chiến thắng 30-4-1975. Có kẻ nói rằng, cuộc kháng chiến chống Mỹ là “nồi da, nấu thịt”, là “Cuộc chiến tranh của Hà Nội”, “Ngày 30-4-1975 không phải là ngày giải phóng miền Nam vì quân đội Mỹ đã rút”… Thậm chí gần đây có kẻ còn nói: “Người Mỹ không thua vì tổng số thương vong, người Mỹ bị thiệt hại ít hơn hẳn đối phương”; hay: “Cuộc chiến tranh này với mục tiêu ngăn chặn làn sóng Cộng sản ở Đông Nam Á nên không thể nói là chính phủ Mỹ thất bại”(!).
Lịch sử dân tộc Việt Nam từng ghi nhận nhiều chiến công hiển hách, đã từng đánh bại nhiều đội quân xâm lược hùng mạnh bậc nhất thế giới, nhưng chưa bao giờ dân tộc Việt Nam lại phải đương đầu với một lực lượng xâm lược ở một trình độ phát triển cao hơn mình về nhiều phương diện đến thế. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ đương nhiên không phải là một thắng lợi dễ dàng mà đây còn là cuộc đối đầu về ý chí, bản lĩnh và trí tuệ của hai bộ máy lãnh đạo chiến tranh. Để đi đến thắng lợi 30-4-1975, quân và dân Việt Nam đã đánh bại 3 chiến lược chiến tranh của Mỹ và với 5 đời tổng thống Mỹ.
Vì vậy, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam đã được bè bạn quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Trong điện chúc mừng thắng lợi của nhân dân Việt Nam, ngày 30-4-1975, các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước Trung Quốc viết: “Thắng lợi của nhân dân Việt Nam một lần nữa chứng minh hùng hồn rằng, nhân dân một nước, dù là nhân dân một nước nhỏ, miễn là dám vùng dậy đấu tranh, dám cầm vũ khí, lấy chiến tranh chính nghĩa chống lại chiến tranh phi nghĩa, thì nhất định có thể đánh bại bất cứ kẻ thù nào… nhằm bảo vệ độc lập tự do của Tổ quốc, giải phóng dân tộc”. Trong điện mừng của các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước Cu-ba, có đoạn viết: “Trong hơn 20 năm qua, toàn thể nhân dân Việt Nam ở miền Bắc cũng như ở miền Nam, với chủ nghĩa anh hùng tuyệt vời đã chiến đấu chống lại những hình thức xâm lược đế quốc tàn bạo nhất… Thắng lợi của nhân dân Việt Nam đã mở ra một giai đoạn mới cho nhân dân Việt Nam”.
Còn từ phía bên kia, trong cuốn hồi ký với tiêu đề “Nhìn lại quá khứ- Tấm thảm kịch và những bài học về Việt Nam”, Robert S.McNamara, từng là Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ thời kỳ chiến tranh Việt Nam, không chỉ thừa nhận thất bại của Mỹ, coi đó là “một thảm kịch”, mà còn thừa nhận đây là cuộc chiến tranh do Hoa Kỳ gây ra do những sai lầm về chính trị của nhiều đời tổng thống! Trong những sai lầm đó có những sai lầm về: “Đánh giá sai những chủ đích địa chính trị của các đối thủ, đã phóng đại những mối nguy hại của họ đối với nước Mỹ”; rồi: “Chúng ta đánh giá thấp sức mạnh tinh thần dân tộc của họ”; và: “Cách nhìn nhận của chúng ta về bạn và thù phản ánh sự dốt nát sâu sắc của chúng ta về lịch sử, văn hóa và chính trị của nhân dân Việt Nam”.
Ý nghĩa và tầm vóc vĩ đại của Chiến thắng 30-4-1975 đã được lịch sử kiểm chứng sáng tỏ, rõ ràng như vậy. Nhưng thời gian gần đây, vẫn có những kẻ hoặc là thiển cận về chính trị, hoặc vì “đầu óc nô lệ” đã không thể hoặc không muốn thừa nhận thắng lợi vĩ đại đó của dân tộc Việt Nam. Thế nên, họ cố tình lập luận một cách phi lý rằng: Những cuộc xuống đường của nhân dân Mỹ và sự nhân nhượng của Chính phủ Mỹ đâu phải là “thắng lợi của Việt Nam”(!), hay như: Thất bại của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” (sau khi Mỹ rút dần quân đội ở chiến trường) đâu phải là trách nhiệm của quân đội Hoa Kỳ(!).
Trên thực tế, những kẻ xuyên tạc cuộc chiến tranh chống xâm lược của dân tộc ta không biết một điều căn bản rằng, cách nhìn nhận một cuộc chiến tranh trước hết phải bắt đầu xem xét tính chất của cuộc chiến tranh đó, tức bên nào là chính nghĩa, bên nào là phi nghĩa. Trong cuộc chiến tranh này không chỉ là cuộc chiến tranh giữa hai quốc gia mà còn là cuộc đấu tranh giữa hai phía: Chính nghĩa và phi nghĩa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị, cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam đã làm rõ ý nghĩa, giá trị của chính nghĩa trong việc huy động sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại như thế nào. Bởi vậy, không phải là không có lý khi nhiều nhà nghiên cứu chiến tranh Việt Nam đã thừa nhận rằng, lực lượng hiếu chiến, chống cộng Mỹ “đã thua Việt Nam ngay trên đất nước mình”. Còn ông Nguyễn Cao Kỳ, cựu Thủ tướng chính quyền Sài Gòn sau 30 năm chiến tranh kết thúc, năm 2004, lần đầu tiên trở về quê hương đã nhìn nhận về chính quyền cũ như sau: “Quân đội miền Nam không có ai đáng giá cả, kể từ ông Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống kiêm Tổng tư lệnh trở xuống. Trong số những vị cùng vai với tôi, cứ mười ông thì đến mười một ông tham sống sợ chết!”.
Tôn trọng tính chân thực của lịch sử, không chỉ vì bảo vệ các giá trị của dân tộc mà còn để bảo đảm sự công bằng đối với các thế hệ đi trước. Đồng thời còn giúp cho các thế hệ sau nắm bắt được những bài học quý báu của thế hệ cha anh. Tôn trọng lịch sử không chỉ là vấn đề chính trị mà còn là vấn đề đạo đức. Vì vậy chúng ta không cho phép bất cứ ai xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược vì đó là sự xúc phạm đến danh dự, phẩm giá chính nghĩa của cả một dân tộc anh hùng, xúc phạm đến anh linh của hàng triệu đồng bào, chiến sĩ đã hy sinh anh dũng vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.
                                                                                                   Q.C.504


Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...