Thứ Năm, 9 tháng 2, 2023

50 năm Hiệp định Pa-ri: Nhìn lại quá trình đàm phán lịch sử

Cuộc đàm phán kéo dài 4 năm 8 tháng 14 ngày, là cuộc thương lượng ngoại giao gắn liền với chiến trường, vô cùng cam go, dài nhất trong lịch sử ngoại giao Việt Nam.

 Ngày 13-5-1968, cuộc đàm phán giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Chính phủ Mỹ đã chính thức bắt đầu tại Pa-ri (Pháp).

Cuộc đàm phán kéo dài 4 năm 8 tháng 14 ngày, là cuộc thương lượng ngoại giao gắn liền với chiến trường, vô cùng cam go, dài nhất trong lịch sử ngoại giao Việt Nam.
Cuộc đàm phán kết thúc bằng Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết ngày 27-1-1973, kết thúc thắng lợi cuộc đấu tranh ngoại giao dài nhất, khó khăn nhất trong lịch sử ngoại giao Việt Nam thế kỷ XX.

Đảng mãi là ánh sáng soi đường

 Trên thế giới không có một chính đảng nào được nhân dân tự nhận là Đảng ta, trừ Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất cầm quyền và lãnh đạo Nhà nước, các tổ chức chính trị và toàn xã hội. Bởi lẽ, mục đích duy nhất và cao cả của Đảng là giành độc lập cho dân tộc và hạnh phúc cho Nhân dân. 

Đảng ta ra đời ngày 3-2-1930 đã chấm dứt sự bế tắc, khủng hoảng kéo dài về đường lối cứu nước của cách mạng Việt Nam. Nhân dân ta phải sống cuộc đời lầm than, cơ cực, bị bóc lột tận xương tủy dưới chế độ thực dân, phong kiến. Dân tộc và nhân dân ta đang cần “Ngọn đuốc” soi đường, chỉ lối và dẫn dắt, để nhân dân vùng lên xóa bỏ ách thống trị của thực dân, phong kiến, giành lại cơm no, áo ấm. Chính lúc này Bác Hồ, Đảng đã đưa ánh sáng của Chủ nghĩa Mác - Lênin về với dân tộc Việt nam, kết hợp với phong trào yêu nước và phong trào công nhân lao động để thành lập nên Đảng Cộng sản Việt Nam. “Màu cờ đỏ của Đảng chói lọi như mặt trời mới mọc, xé tan cái màn đêm đen tối, soi đường dẫn lối cho nhân dân ta vững bước tiến lên con đường thắng lợi trong cuộc cách mạng phản đế, phản phong”. Những đảng viên Đảng Cộng sản đã hy sinh cả bản thân và gia đình để giành lấy độc lập, tự do cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân. Nhà thơ Tố Hữu đã viết trong bài Trăng trối: “Đời cách mạng từ khi tôi đã hiểu/ Dấn thân vô là phải chịu tù đầy/ Là gươm kề tận cổ, súng kề tai/ Là thân sống chỉ coi còn một nửa”.

Đảng ra đời là kết quả từ sự cần thiết tất yếu khách quan của xã hội Việt Nam cuối những năm 20 đầu những năm 30 của thế kỷ XX. Chỉ sau 15 năm ra đời, Đảng đã lãnh đạo phong trào đấu tranh của nhân dân, phát triển rộng khắp trên cả ba miền: Bắc, Trung, Nam. Đặc biệt thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 “long trời, lở đất”, làm nên kỳ tích trong lịch sử của dân tộc ta. Đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, đưa dân tộc Việt Nam sang một kỷ nguyên mới - độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đưa “Nhân dân ta từ thân phận nô lệ, trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội”. Minh chứng là, ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước công - nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Song Thực dân Pháp quyết tâm xâm lược nước ta một lần nữa. Đảng đã tiếp tục lãnh đạo nhân dân trường kỳ kháng chiến, vượt qua khó khăn “Ngàn cân treo sợi tóc “ để giành chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Nhà thư Tố Hữu đã viết: “Chín năm làm một Điện Biên/Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng”. Đây là chiến thắng chói lọi nhất của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp xâm lược (1945-1954 ); đập tan dã tâm xâm lược của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, buộc chúng phải ký hiệp định Giơ-ne-vơ, kết thúc chiến tranh tại Đông Dương, mở ra thời kỳ mới cho cách mạng ba nước Việt Nam, Lào và Căm-pu-chia . Đó là thắng lợi vĩ đại không chỉ của nhân dân ta mà còn là thắng lợi chung của ba nước Đông Dương và các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Mỗi người dân Việt Nam, sâu thẳm trong trái tim mình đều biết ơn Đảng, Bác Hồ đã thay đổi cuộc đời họ từ người dân nô lệ trở thành người chủ đất nước, mang lại cho họ cơm no, áo ấm.

Giai đoạn 1954-1975, đất nước ta tạm chia cắt thành hai miền. Đảng ta tiếp tục lãnh đạo nhân dân xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng, tháng 9-1960, xác định: “Đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống ấm no hạnh phúc ở miền Bắc, củng cố miền Bắc thành cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thực hiện hòa bình, thống nhất nước nhà”. Sự thật miền Bắc đã trở thành hậu phương lớn, vững chắc, chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam, với khẩu hiệu “Mỗi người làm việc bằng hai”, “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”, “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”… Miền Nam là tiền tuyến lớn, là Thành đồng của Tổ quốc, nhân dân tiếp tục chiến đấu anh dũng, chịu đựng gian khổ, hy sinh, song vẫn một lòng, một dạ, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Bác Hồ. Với tinh thần: Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ. Nhiều tấm gương anh hùng đã làm rung động triệu con tim không chỉ trong nước mà còn trên thế giới như: Anh hùng Võ Thị Sáu, Nguyễn Văn Trỗi, Trần Thị Lý… Nhân dân miền Nam luôn hướng về trái tim miền Bắc, nơi có Đảng và Bác Hồ kính yêu, mong muốn cháy bỏng được đón Bác vào thăm sau ngày thống nhất. Đảng và Bác Hồ luôn tin tưởng và dõi theo những chiến công của đồng bào miền Nam. Bài thơ chúc Tết năm Kỷ Dậu 1969 cũng là bài thơ chúc Tết cuối cùng Bác dành cho đồng bào: “Năm qua thắng lợi vẻ vang/ Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to/ Vì độc lập, vì tự do/ Đánh cho Mỹ cút đánh cho ngụy nhào/ Tiến lên chiến sỹ đồng bào/ Bắc Nam xum họp xuân nào vui hơn”. Đây vừa là tiếng gọi thiêng liêng của non sông, mệnh lệnh của trái tim, vừa là nhiệm vụ chiến lược của cách mạng. Bác luôn dành tình cảm đặc biệt cho đồng bào miền Nam. Bác nói “Miền Nam yêu quý luôn ở trong trái tim tôi”. Bác luôn mơ ngày thống nhất đất nước để vào thăm đồng bào miền Nam ruột thịt. “Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà…”.

Khi Bác ra đi ngày 2-9-1969, nhân dân cả nước, từ già đến trẻ, từ miền ngược đến miền xuôi đều tuôn trào nước mắt, nhớ thương Bác không nguôi. “Người tuôn nước mắt, trời tuôn mưa”. Đặc biệt, đồng bào miền Nam, đã bất chấp sự truy lùng, tra tấn của kẻ thù, nhân dân khắp nơi không chỉ tổ chức lễ tang Bác mà nhiều địa phương, nhiều gia đình còn lập bàn thờ, xây đền thờ để tưởng nhớ Người. Đồng bào dân tộc Pa Cô, Vân Kiều tại Quảng Bình còn xin được lấy họ Hồ của Bác (Hồ Chí Minh) cho cả dân tộc mình. Nghĩa cử này nói lên lòng tôn kính và biết ơn vô hạn của nhân dân cả nước đối với Đảng với Bác Hồ Kính yêu. Tại sao vậy? Bởi Đảng Cộng sản Việt Nam, một đảng mác-xít chân chính, lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Đảng luôn đấu tranh vì độc lập dân tộc và hạnh phúc của Nhân dân. Nhân dân, dân tộc Việt Nam tin tưởng, tự nguyện đi theo Đảng và trao quyền lãnh đạo cho Đảng. Chính điều này đã phản bác lại những luận điệu xuyên tạc của các thế lực phản động, thù địch trong và ngoài nước, cho Đảng ta là độc quyền lãnh đạo, không chịu chia sẻ quyền lãnh đạo cho các đảng phái khác, không vì Nhân dân.  

Đại thắng mùa Xuân với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử ngày 30-4-1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc thống nhất, non song thu về một mối. Đây là mốc son chói lọi, đưa nước ta bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và CNXH. Vị thế dân tộc ta được nâng cao trên trường quốc tế lại một lần nữa chứng minh rằng, chỉ có sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam thì dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam mới giành được thắng lợi vĩ đại, là một nước nhỏ đã đánh thắng hai thực dân và đế quốc lớn là Pháp và Mỹ, mở ra giai đoạn cả nước xây dựng một nước Việt Nam XHCN. “XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ, có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại…; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; …Có Nhà nước pháp quyền XHCN, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo”. Một Việt Nam hội nhập, muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới trên cơ sở tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, độc lập dân tộc, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau và cùng có lợi. “Nhìn tổng thể, qua 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN”. Nền kinh tế Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc, theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế và sẽ trở thành một nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045. Với những thành tựu to lớn đó, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng nói: Chúng ta có cơ sở để khẳng định rằng, đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay. Đất nước ta thực sự đã sánh vai với các cường quốc năm châu, như Bác Hồ từng mong muốn. Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 190 quốc gia trên toàn thế giới, trong đó có quan hệ ổn định lâu dài, đối tác chiến lược và chiến lược toàn diện với 30 quốc gia. Tham gia nhiều các tổ chức khu vực và quốc tế: Liên hiệp quốc, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO); Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF); Đại hội đồng Liên Nghị viện Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (AIPA)…

Cùng với phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, Đảng ta luôn coi trọng công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Xây dựng Đảng là đạo đức, là văn minh, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, Chính phủ liêm chính, hành động. Bác Hồ từng nói: “Cán bộ là gốc của mọi công việc… Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Đảng cũng luôn xác định cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Từ đó Đảng ra luôn quan tâm công tác xây dựng Đảng và xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng. Các kỳ đại hội Đảng toàn quốc đều dành một thời lượng nhất định nói về công tác xây dựng Đảng và công tác cán bộ. Các nhiệm kỳ, nhất là mấy nhiệm kỳ gần đây, Đảng ta đều ban hành các nghị quyết về công tác cán bộ, như: Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba BCH Trung ương Đảng (khóa VIII) về Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh; Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy BCH Trung ương (khóa XII) về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; ba Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII, XIII) về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị... Tại Đại hội XIII của Đảng, trong Báo cáo chính trị, Đảng ta đã đề ra mục tiêu tổng quát là: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN”.

Bên cạnh việc xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín. Đảng và Nhà nước luôn kiên quyết xử lý những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tham nhũng, lãng phí... Đảng đã thành lập Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực từ Trung ương đến cấp tỉnh. Quốc hội ban hành Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Với phương châm phát hiện sớm, xử lý nghiêm minh, kịp thời, với bất kỳ ai, ở bất cứ cương vị nào, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Từ đó nhiều cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ cao cấp đã bị xử lý kỷ luật hoặc truy tố trước pháp luật. Điều đó càng củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên những thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước luôn xuyên tạc những thành tựu của Đảng và Nhà nước ta, bôi nhọ, vu cáo chủ trương phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta. Họ rêu rao đây là sự đấu đá, thanh trừng nội bộ. Song sự thật, chân lý luôn được chứng minh và tỏa sáng trong thực tiễn cuộc sống. Đó là đông đảo nhân dân tin tưởng, hoan nghênh, ủng hộ và cùng tham gia phát hiện, tố giác; đó là các nước trên thế giới tin tưởng, công nhận và tôn trọng. Chính vì thế Đảng Cộng sản Việt Nam mãi mãi là ánh sáng soi đường cho cách mạng Việt Nam; là niềm tin, là chỗ dựa vững chắc, là niềm tự hào của dân tộc ta, Nhân dân ta.

LÊ XUÂN LỊCH

Nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Địa phương I, Ban Tổ chức Trung ương

3. Một số giải pháp nâng cao chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh cho thanh niên Việt Nam hiện nay

Đại hội XIII của Đảng xác định:  “Động lực và nguồn lực phát triển quan trọng của đất nước là khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” [11, tr.34]. Vì vậy, nâng cao chất lượng giáo dục, làm rõ hơn nữa những nội dung của chủ nghĩa yêu nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh là nhiệm vụ rất cần thiết, mang tính chiến lược lâu dài trong giai đoạn hiện nay để nâng cao sức đề kháng cho thế hệ thanh niên trước âm mưu “diễn biến hoà bình”, giúp các em có khả năng chủ động đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch nhằm chống phá Đảng và Nhà nước ta. Trong giai đoạn hiện nay, để nâng cao chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh cho thanh niên cần tập trung vào những giải pháp sau:

Một là, nâng cao chất lượng công tác giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa yêu nước cho thanh niên. Các chủ thể giáo dục như nhà trường, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phải chú trọng nội dung, phương pháp phù hợp với thanh niên. Giáo dục không chỉ cần bám sát nội dung cốt lõi của chủ nghĩa yêu nước mà cần phải được liên hệ, phản ánh với đặc điểm của thời đại. Cần giáo dục sinh động, hấp dẫn và dễ tiếp thu như thông qua: hình ảnh, phim truyện, đàm thoại, diễn đàn khoa học… tạo điều kiện để các đoàn viên, thanh niên được trao đổi nhằm nâng cao nhận thức cả về lý luận và thực tiễn. Phương pháp giáo dục chủ nghĩa yêu nước phải xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn, lý luận gắn với thực tiễn; kết hợp hiệu quả giữa giáo dục tại nhà trường với giáo dục trong gia đình và các tổ chức chính trị - xã hội.

Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị, Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24-3-2015 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ giai đoạn 2015-2030 thông qua 3 phong trào lớn đó là: “Thanh niên tình nguyện”, “Tuổi trẻ sáng tạo” và “Tuổi trẻ xung kích bảo vệ Tổ quốc”. Những nội dung chủ nghĩa yêu nước cần phải được cụ thể, tổ chức sáng tạo, phù hợp với lứa tuổi, đơn vị, cơ quan, địa phương nhằm phát huy hiệu quả.

Hai là, nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh. Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh là đội dự bị tin cậy của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đoàn phải là cánh tay đắc lực của Đảng trong việc tổ chức, giáo dục thế hệ thanh niên và nhi đồng thành những chiến sĩ tuyệt đối trung thành với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”. Vì vậy, phải xây dựng tổ chức đoàn vững mạnh, có uy tín, trở thành nơi “bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau”.

Trước hết, đội ngũ cán bộ lãnh đạo của Đảng phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức và lối sống lành mạnh, luôn là tấm gương sáng cho đoàn viên noi theo. Đoàn viên thanh niên không ngừng tự giác học tập, rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn, phát huy các giá trị truyền thống dân tộc trong xây dựng lối sống. Mặt khác, tổ chức đoàn tiếp tục tăng cường, giáo dục tinh thần yêu nước, những truyền thống quý báu của dân tộc, tổ chức vận động đoàn viên thanh niên không ngừng học tập, rèn luyện ý chí, cống hiến sức mình trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Các tổ chức cơ sở đoàn cần thường xuyên quan tâm đến tâm tư, nguyện vọng của đoàn viên chi đoàn mình. Chủ động dự báo, nắm chắc và dự báo diễn biến tư tưởng, tâm trạng của đoàn viên thanh niên để định hướng, giáo dục và kịp thời giải quyết các vấn đề mới nảy sinh. Đặc biệt, cần kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa yêu nước với đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước. Thi đua chính là điều kiện, tiền đề quan trọng để biến lòng yêu nước từ “học tập” trở thành “làm theo” trong từng hành động cụ thể.

Ba là, truyền cảm hứng cho thanh niên thông qua gương “người tốt, việc tốt” để giáo dục và tự giáo dục. Thanh niên luôn ngưỡng mộ những người tài giỏi nên cần phát huy các gương điển hình tiên tiến để lôi cuốn, cổ vũ và thuyết phục thanh niên. Thấm nhuần lời dạy của Hồ Chí Minh: một tấm gương tốt, một tấm gương sống còn quý hơn hàng trăm bài diễn văn. Vì vậy, tăng cường tuyên truyền, biểu dương các tấm gương điển hình tiên tiến, bao gồm tiên tiến về: tư tưởng, đạo đức lối sống, tác phong và tiên tiến về mô hình, cách làm để tạo hiệu ứng lan toả, khích lệ tinh thần thi đua học tập và phấn đấu của mỗi người. Khi được truyền cảm hứng sẽ tạo nên sức mạnh nội lực bên trong, cổ vũ và thúc đẩy thế hệ thanh niên Việt Nam nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão, sáng tạo với những quyết tâm lớn để kế tiếp những thế hệ trước hoàn thành giấc mơ xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, sánh vai cùng các nước trên thế giới.

Bốn là, xây dựng hệ giá trị văn hoá chuẩn mực để giáo dục dục cho thanh niên. Để phát huy được tinh thần yêu nước của thế hệ thanh niên theo chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh, chúng ta cần phải xây dựng một môi trường xã hội với các giá trị văn hoá chuẩn mực đạo đức. Đặc biệt, sự bùng nổ của in-tơ-nét khiến cho văn hoá phương Tây ảnh hưởng đến lối sống cùng với âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch khiến cho một bộ phận thanh niên mơ hồ, hoài nghi và phai nhạt lý tưởng cách mạng. Do vậy, sớm xác định giá trị quốc gia và chuẩn mực giá trị con người Việt Nam hiện đại, tạo cơ sở xây dựng, triển khai, thực hiện các chính sách, giải pháp phục vụ cho sự phát triển con người, khắc phục sự xuống cấp về đạo đức, lối sống trong thế hệ trẻ hiện nay. Trên cơ sở đó, xây dựng môi trường xã hội văn hoá, gắn với việc xây dựng gia đình văn hoá, xã hội văn hoá, đồng thời tăng cường giáo dục ý thức phòng ngừa và ngăn chặn kịp thời những âm mưu tấn công của các thế lực phi văn hoá, phản văn hoá, những suy đồi trong đạo đức, lối sống. Để làm được điều đó, Đảng và Nhà nước cần có những chính sách phù hợp trong xây dựng chính sách phát triển kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, sự phát triển kinh tế là tiền đề cho sự phát triển văn hoá, đạo đức. Phát huy sức mạnh của văn hoá, đặc biệt là những giá trị chân - thiện - mỹ, những giá trị phổ biến và phổ quát của văn hoá mà thanh niên cần phải được tiếp thu để trở thành những công dân có đức đức, có văn hoá. Phải có những hình thức, cơ chế, đặc biệt phát huy vai trò của các phương tiện truyền thông để tuyên truyền, giáo dục, tạo điều kiện cho thanh niên có thể tiếp cận và thấm nhuần các giá trị văn hoá dân tộc, chuyển biến những giá trị văn hoá tốt đẹp vào trong các hoạt động cuộc sống. Có như vậy, mới xây dựng được thế hệ thanh niên mang trong mình tinh thần yêu nước sâu sắc để từ đó kế tiếp và phát huy những truyền thống vẻ vang của dân tộc; để dù hội nhập quốc tế, Việt Nam vẫn giữ gìn được bản sắc dân tộc, kiên định, vững vàng trước mọi thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 3, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 5, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 10, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

Hồ Chí Minh (2011): Toàn tập, tập 8, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

Hồ Chí Minh (2013), Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

Văn kiện Hội nghị lần thứ 4 BCH T.Ư Đảng, tháng 2-1993.

Đảng Cộng sản Việt Nam (2021): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 1.

Đảng Cộng sản Việt Nam (2021): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 1.

Đảng Cộng sản Việt Nam (2021): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 1. 


2. Thế hệ thanh niên là lực lượng to lớn trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước

Cho đến nay, chủ nghĩa yêu nước vẫn là giá trị cốt lõi của dân tộc Việt Nam. Đó là một trong những động lực quan trọng nhất góp phần gắn kết cộng đồng, giữ vững độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và thúc đẩy đất nước phát triền. Đặc biệt, trong bối cảnh mới, càng đòi hỏi phải phát huy “tinh thần yêu nước” cao độ của mỗi người, đặc biệt là thế hệ thanh niên.  

Ở bất cứ thời đại nào, thanh niên luôn lực lượng tiên phong trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Sức trẻ cùng với lòng nhiệt huyết của mình, thanh niên Việt Nam không ngại khó khăn, gian khổ, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Nhận thức về vai trò của thanh niên, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, thanh niên là lực lượng quyết định sự phát triển của cách mạng, của dân tộc, “nhà nước thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên”. Để hoàn thành trọng trách lịch sử đó, đội ngũ thanh niên cần phải có ý chí vươn lên, đồng thời Đảng phải có trách nhiệm chăm lo, bồi dưỡng, giáo dục thanh niên thành lớp người “vừa hồng, vừa chuyên”.

Đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú trọng giáo dục tinh thần yêu nước cho thế hệ thanh niên. Người khẳng định: “cốt nhất của nhà trường là dạy học cho học trò biết yêu nước, thương nòi. Phải dạy cho họ có ý chí tự lập, tự cường, quyết không chịu thua kém ai, quyết không chịu làm nô lệ” [2, tr.102]. Cách tốt nhất để bồi dưỡng lòng yêu nước cho thanh niên là giáo dục truyền thống dân tộc và truyền thống cách mạng. Từ đó bồi đắp, củng cố cho thế hệ trẻ hiểu được giá trị lịch sử, giá trị của cuộc sống hoà bình, tự do, độc lập, xây dựng cho mình hoài bão, khát vọng, ý chí, quyết tâm vượt lên khó khăn, thử thách; có tinh thần đoàn kết, chia sẻ, tương thân, tương ái, sẵn sàng cống hiến và hy sinh vì lợi ích của quốc gia, dân tộc.

Hiện nay, trước sự biến động phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, có nhiều vấn đề tác động ảnh hưởng đến lòng yêu nước của thanh niên như: tác động của nền kinh tế thị trường, lối sống thực dụng, in-tơ-nét, mạng xã hội… Đặc biệt, sự chống phá của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta vẫn diễn ra quyết liệt với thủ đoạn ngày càng tinh vi và xảo quyệt hơn. Là đối tượng nhạy cảm, dễ bị kích động, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để lôi kéo, lợi dụng giới trẻ, gây “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong bộ phận thanh niên, làm phai nhạt lý tưởng cách mạng, suy thoái đạo đức, lối sống trong thế hệ tương lai của đất nước. Vấn đề này nếu không được kịp thời giải quyết triệt để sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng với tương lai, tiền đồ của đất nước. Nghị quyết Trung ương 4 (khoá VII) đã nhấn mạnh: “Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước bước vào thế kỷ XXI có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước theo con đường xã hội chủ nghĩa hay không phần lớn tùy thuộc vào lực lượng thanh niên” [8, tr.82].

Qua các thời kỳ lịch sử cách mạng, thế hệ thanh niên Việt Nam luôn là lực lượng quả cảm, tiên phong trong các phong trào cách mạng, không ngại gian khổ, hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc. Trong giai đoạn hiện nay, tiếp nối truyền thống quý giá của cha ông để lại, thanh niên Việt Nam không ngừng ra sức phấn đấu lao động, học tập, rèn luyện về mọi mặt, có ý chí vươn lên trong cuộc sống. Họ có nhận thức và thái độ chính trị đúng đắn, kiên quyết đấu tranh những biểu hiện sai trái trong đạo đức và lối sống, có sức đề kháng và còn là lực lượng to lớn trong việc làm thất bại mọi âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch nhằm gây tổn hại đến sự phát triển của đất nước. Phần lớn thanh niên, ngay từ khi còn trong ghế nhà trường đã luôn có ý thức chính trị - xã hội tốt, tích cực tham gia các phong trào, hoạt động đoàn thể để được cống hiến và trưởng thành. Số lượng đoàn viên ưu tú được kết nạp vào Đảng ngày càng tăng. Minh chứng cho tinh thần yêu nước vẫn luôn là ngọn đèn sáng soi rọi cho mọi suy nghĩ và hành động của thanh niên, hình thành nên một thế hệ thanh niên nhiệt tình, dám làm, dám chịu trách nhiệm và luôn muốn được cống hiến, phụng sự vì một nước Việt Nam hùng mạnh và văn hiến.  

Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng còn một bộ phận thanh niên sống thiếu lý tưởng, suy thoái về đạo đức, lối sống, lãng quên truyền thống cách mạng của Đảng và dân tộc, bàng quan trước tình hình của đất nước. Một số thanh niên còn mơ hồ về chính trị, chưa xác định được trách nhiệm của thanh niên nói chung và bản thân nói riêng, ngại tham gia các hoạt động đoàn thể và các hoạt động xã hội. Một bộ phận thanh niên đi học ở nước ngoài, tiếp cận các tư tưởng phương Tây nhưng không có bản lĩnh chính trị vững vàng nên bị phai nhạt lý tưởng xã hội chủ nghĩa, có những thái độ chỉ trích phê phán chủ quan, phiến diện, thậm chí có thái độ đối lập. Đánh giá về thực trạng thanh niên hiện nay, Nghị quyết số 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X nhận định: “Một bộ phận thanh niên sống thiếu lý tưởng, giảm sút niềm tin, ít quan tâm đến tình hình đất nước, thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sống thực dụng, xa rời truyền thống văn hoá dân tộc”.

Vì vậy, bồi dưỡng chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh cho thế hệ trẻ Việt Nam là việc làm rất quan trọng và cần thiết. Giáo dục chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh cho thế hệ trẻ không chỉ là duy trì những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đó còn là tăng thêm sức mạnh nội sinh, phát huy tiềm lực con người cho quá trình phát triển đất nước.

1. Chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh - hệ tư tưởng mang tính thời đại.

Dân tộc Việt Nam trong hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước đã vun bồi tình cảm, tư tưởng yêu nước, ý chí kiên cường, bất khuất trong đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc và cuộc sống của nhân dân. Chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam mang đậm những nét đặc sắc riêng của mình. Đó là tình yêu quê hương, yêu đất nước; yêu nước gắn với thương dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc; yêu nước gắn với khát vọng về tự do, khát vọng hoà bình. Tất cả những giá trị đó luôn thống nhất, không tách rời nhau.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” [5, tr.38]. Chủ nghĩa yêu nước chính là cội nguồn sức mạnh đưa dân tộc Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách để đi đến những thắng lợi lừng lẫy năm châu, là giá trị thiêng liêng của toàn dân tộc Việt Nam, trở thành đặc trưng tiêu biểu cho tính cách của con người Việt Nam hùng cường, bất khuất. Thấm nhuần chủ nghĩa yêu nước truyền thống của dân tộc, chứng kiến cuộc sống khổ cực của nhân dân, sự áp bức, bóc lột dã man của bọn thực dân, phong kiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm có ý thức tìm con đường cứu nước giành độc lập cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân.

Trên tinh thần yêu nước của các sĩ phu, văn thân yêu nước, tư tưởng yêu nước của Hồ Chí Minh đã có sự kế thừa và phát triển mang tính thời đại, gắn liền với mục tiêu triệt để giải phóng dân tộc. Nhận định về những thất bại của các phong trào đấu tranh từ phong trào Cần Vương đến các phong trào yêu nước theo xu hướng tư sản mà tiêu biểu là phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, cải cách Dân Chủ… Người hiểu rõ không thể đi theo con đường cách mạng như các vị tiền bối. Theo Người, nước độc lập phải đi đôi với dân được hưởng quyền tự do, ấm no, hạnh phúc.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, chủ nghĩa yêu nước đã chi phối mọi suy nghĩ, hành động của Người. Người đau đáu trong mình “chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” [4, tr.161]. Mọi kế sách đều là vô nghĩa nếu không đem lại tự do cho đồng bào, độc lập cho Tổ quốc. Vì mục đích lý tưởng này đã thôi thúc người thanh niên Nguyễn Tất Thành quyết chí ra đi tìm đường cứu nước, chịu bao gian khổ, đồng thời là cơ sở tư tưởng dẫn Người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, và sau này được Người khẳng định: “Lúc đầu, chính chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải là chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba” [3, tr.128].

Hồ Chí Minh có ý thức rất rõ ràng về vị trí, vai trò, sức mạnh của tinh thần yêu nước. Khẳng định về sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước.Theo Người, “Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân phải gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, vì chỉ có tiến lên chủ nghĩa xã hội thì dân mình mới được ấm no, Tổ quốc mới được giàu mạnh”. Yêu nước gắn liền với thương dân, nghĩa nước gắn chặt với tình thân, tình thân là cái gốc của chủ nghĩa yêu nước. Vì vậy, khi đọc được bản Sơ thảo Luận cương của Lê-nin về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, Người đã đọc đi, đọc lại nhiều lần và qua lăng kính chủ nghĩa yêu nước chân chính, Người đã sung sướng, reo lên vui mừng khi tìm ra được con đường giải phóng dân tộc đúng đắn. Hồ Chí Minh đã từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc duy nhất đúng đắn, đó là “con đường cách mạng vô sản”. Đây chính là con đường mà Hồ Chí Minh và dân tộc Việt Nam đang tìm kiếm. Người khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ [7, tr.53]. Từ đó, Người đã tin theo Lê-nin, tin theo Quốc tế cộng sản, trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên khi bỏ phiếu tán thành Quốc tế thứ III của Lênin tại Đại hội Tour tháng 12-1920. Đây là mốc lịch sử quan trọng trong hành trình tìm đường cứu nước của Người, đánh dấu bước chuyển biến quyết định, nhảy vọt, thay đổi về chất trong nhận thức, tư tưởng và lập trường chính trị của Hồ Chí Minh.

Chủ nghĩa yêu nước là động lực lớn của đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh thấu hiểu hơn ai hết truyền thống quý báo đó của dân tộc. Người khẳng định: “Đối với các dân tộc thuộc địa ở phương Đông, “Chủ nghĩa dân tộc là động lực to lớn của đất nước”, “người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên cái động lực vĩ đại và duy nhất trong đời sống của họ”. “Chủ nghĩa dân tộc ở đây là tinh thần yêu nước và tinh thần dân tộc. Từ niềm tin “người Việt Nam ai cũng có lòng yêu nước, ghét giặc”, Người đã khơi dậy truyền thống yêu nước đó, phát huy được sức mạnh của nhân dân cùng với Đảng đứng lên làm cách mạng giành lại độc lập tự do cho dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Sức mạnh nội sinh to lớn từ chủ nghĩa yêu nước chính là cơ sở để xây dựng, củng cố khối đoàn kết dân tộc. Bởi trừ những thành phần phản động, tay sai cho đế quốc, thì dù là địa chủ hay nông dân, thương gia… đều là người nô lệ. Xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất để đại đoàn kết dân tộc là sự sáng tạo của Hồ Chí Minh. Phương châm đoàn kết các giai cấp, tầng lớp khác nhau của Hồ Chí Minh là “cầu đồng tồn dị”. Minh chứng lịch sử đã cho thấy, đại đoàn kết dân tộc đã tạo sức mạnh vô địch giúp cho cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Không chỉ vậy, chủ nghĩa yêu nước của Hồ Chí Minh còn mang tinh thần quốc tế khi Người gắn kết hợp hài hòa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế, đoàn kết với nhân dân các nước vì mục tiêu giải phóng nhân dân khỏi áp bức, bóc lột, đoàn kết với nhân loại tiến bộ, vì hòa bình, công lý và tiến bộ xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế liên hệ khăng khít với nhau” [6, tr.272]. Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ, mỗi dân tộc đều phải tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ và đồng thời tham gia vào nghĩa vụ quốc tế cao cả của mình. Hai cuộc cách mạng này phải tiến hành đồng thời, tác động hỗ trợ lẫn nhau. Người kêu gọi tất cả những người yêu nước phải đoàn kết lại, “vì có đoàn kết mới có lực lượng, có lực lượng mới giành được Độc lập, Tự do” [1, tr.553]. Sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để tạo thành sức mạnh tổng hợp to lớn đưa cách mạng Việt Nam đi đến cứu nước hoàn toàn.

Như vậy, Hồ Chí Minh đã kế thừa có chọn lọc những giá trị tốt đẹp trong truyền thống dân tộc Việt Nam, tinh hoa văn hoá nhân loại và đặc biệt là dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa yêu nước đã được đưa lên một tầm cao mới. Từ một người yêu nước tiến bộ trở thành người cộng sản, một lãnh tụ của phong trào giải phóng dân tộc. Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam do Người sáng lập và rèn luyện đã phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, khơi dậy và phát huy tinh thần yêu nước của mỗi người dân Việt Nam. Người đã lãnh đạo thành công cuộc cách mạng dân tộc - dân chủ - nhân dân ở Việt Nam, đưa dân tộc Việt Nam tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cùng với đó, chủ nghĩa yêu nước trong tư tưởng Hồ Chí Minh luôn thống nhất với chủ nghĩa quốc tế vô sản, giữ vững lợi ích của dân tộc mình và luôn tôn trọng lợi ích của các dân tộc khác.

Sau hơn 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, với sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” [9, tr.103, 104]. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố, tăng cường, tạo thành sức mạnh tổng hợp để đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách. Độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững. Vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Đánh giá về những thành tựu đạt được, Đại hội XIII xác định: “Đây là niềm tự hào, là động lực; nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức; tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ, phát triển nhanh và bền vững đất nước” [10, tr.104].

Bồi dưỡng phong cách làm việc dân chủ cho đội ngũ cán bộ hiện nay

Trong những năm qua, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, trong đó có phong cách làm việc dân chủ đã đạt nhiều kết quả, góp phần chuyển biến mạnh mẽ, tích cực trong nhận thức, hành động của đội ngũ cán bộ. Song, trước yêu cầu của tình hình mới, đòi hỏi phải xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược nâng cao hơn nữa về chất lượng, vững kiến thức chuyên môn, có năng lực quản lý, điều hành, phong cách làm việc dân chủ, khoa học... Có như vậy mới phát huy được trí tuệ của tập thể, đưa ra được những quyết định sáng suốt, hiệu quả, phù hợp, vượt qua khó khăn, thử thách, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị.

Tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII), triển khai kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị (khóa XIII) “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, ngày 12-6-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng đã nhấn mạnh: “Phong cách Hồ Chí Minh là lối sống, tác phong khiêm tốn, giản dị, cầu thị, gần dân, trọng dân, tin dân, học dân, làm việc gì cũng phải vì lợi ích của nhân dân; là đầy tớ của dân chứ không phải “làm quan nhân dân”, không được lên mặt “làm quan cách mạng”(10). Có thể thấy, yêu cầu xây dựng, bồi dưỡng phong cách làm việc cho cán bộ, trong đó có phong cách dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh là việc làm hết sức cần thiết.

Để công tác này thực hiện có hiệu quả, trước hết, cần thực hiện nghiêm các quy chế, quy định của Đảng, Nhà nước về cán bộ và công tác cán bộ như: Quy định số 89-QĐ/TW ngày 4-8-2017 của Bộ Chính trị khóa XII về “Khung tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp”; Quy định số 90-QĐ/TW ngày 4-8-2017 về “Tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý”; Quy định số 105-QĐ/TW ngày 19-12-2017 về “Phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử”; Quy định số 50-QĐ/TW, ngày 27-12-2021 về công tác quy hoạch cán bộ; Quy định số 80-QĐ/TW, ngày 18-8-2022 về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử; Quy định số 65-QĐ/TW, ngày 28-4-2022 về luân chuyển cán bộ; Quy định số 41-QĐ/TW, ngày 3-11-2021 về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ… Việc thực hiện nghiêm các quy định trong công tác cán bộ là cách thức để thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong mỗi tổ chức đảng. Đồng thời để cán bộ phải tự ý thức rèn luyện phong cách làm việc dân chủ.

Bên cạnh đó, cần phát huy dân chủ, bảo đảm tính chặt chẽ, công khai, minh bạch trong công tác cán bộ. Công tác cán bộ được thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch sẽ tạo điều kiện cho cán bộ có môi trường rèn luyện, phấn đấu, phát triển toàn diện. Tiếp tục đổi mới công tác tác đánh giá cán bộ, bởi đây là khâu mở đầu, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng liên quan đến các khâu khác của công tác cán bộ. Đánh giá không đúng về cán bộ dẫn tới bố trí, sử dụng, bổ nhiệm cán bộ không đúng,  có thể gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng; triệt tiêu nhân tố tích cực, thúc đẩy chủ nghĩa cơ hội, tiêu cực, suy thoái đội ngũ cán bộ, đảng viên. Cán bộ được đánh giá khách quan, công tâm, được lựa chọn và bố trí đúng sẽ góp phần hạn chế tham nhũng, tiêu cực… Để đánh giá đúng cán bộ, cần đánh giá đa chiều, thông qua năng lực, phẩm chất và uy tín; dựa vào kết quả, hiệu quả thực hiện từng công việc cụ thể. Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý, cần phải căn cứ vào kết quả, hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị. Đồng thời, phải căn cứ vào kết quả đổi mới, sáng tạo; tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, nói đi đôi với làm; khả năng thích ứng nhanh với tình hình thực tiễn, quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành. Đánh giá để bổ nhiệm và bầu cử phải trực tiếp khảo sát, gặp gỡ trao đổi với các tổ chức, cá nhân có liên quan và tham khảo ý kiến phản ánh, đóng góp của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Bản thân cán bộ tự đánh giá, tập thể đánh giá, cấp trên đánh giá, cấp dưới đánh giá, huy động các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia đánh giá cán bộ.

Cần có cơ chế, chính sách thu hút, lựa chọn, bồi dưỡng, sử dụng người có đức, có tài. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương gắn với các chế độ, chính sách như tiền lương, thu nhập, cải thiện cuộc sống, môi trường, điều kiện làm việc… cho cán bộ. Việc đổi mới, thực hiện tốt cơ chế, chính sách trên cơ sở kiểm soát tốt quyền lực, vừa đảm bảo chất lượng cán bộ, vừa phát huy dân chủ, phòng, chống được tiêu cực…

Thực hiện tốt vai trò, trách nhiệm, trong đó có trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp cũng là cách để rèn luyện tác phong dân chủ. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI, XII) của Đảng đều nêu rõ vấn đề về vai trò, trách nhiệm, thẩm quyền người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19-12-2016, của Bộ Chính trị “Về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”; Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương” cũng đã khẳng định quan điểm đó. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu rõ, trong nhiệm kỳ qua, “việc đổi mới phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo Đảng từ Trung ương tới cơ sở có bước tiến bộ. Coi trọng việc phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức đảng, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội”(11).

Cán bộ phải sâu sát cơ sở, nắm vững thực tiễn, kịp thời giúp cơ sở giải quyết các khó khăn và vấn đề nảy sinh trong thực tiễn. Đây vừa là trách nhiệm, vừa là tác phong công tác cần phải có của mỗi cán bộ. Đặc biệt với cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu, để có phong cách lãnh đạo sâu sát, cần phải dành thời gian đi cơ sở, trực tiếp trao đổi, đối thoại với người dân, doanh nghiệp, các cơ quan, tổ chức…, từ đó tránh được bệnh quan liêu, hạn chế tình trạng ra các quyết định, chủ trương thiếu tính thực tiễn, duy ý chí. Mặt khác, cần xem phong cách sâu sát cơ sở, thực tiễn là một tiêu chí, một yêu cầu cần thiết trong quy hoạch, đề bạt cán bộ giữ vị trí người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp.

Cùng với làm tốt các khâu trong công tác cán bộ, cần “có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, bị xử lý kỷ luật, không còn uy tín đối với nhân dân”. Như vậy đội ngũ cán bộ sẽ ngày càng trong sạch, vững mạnh, không ngừng nâng cao về chất lượng, góp phần thực hiện thắng lợi các nghị quyết của Đảng.

---

(1), (6) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG, H.2011, tập 8, tr.287, 149.

(2) Sách đã dẫn (Sđd), tập 13, tr.448.

(3) Sđd, tập 12, tr.376.

(4), (5), (8), (9) Sđd, tập 5, tr.309, 280, 284, 330-331.

(7) Sđd, tập 15, tr.526.

(10) Nguyễn Phú Trọng: “Ra sức học tập, nỗ lực phấn đấu và rèn luyện, không ngừng làm theo tư tưởng đạo đức và phong cách Chủ tịch Hồ Chí Minh” Tạp chí Cộng sản, số 968, tháng 6-2021, tr.5.

(11) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, NXB CTQG ST, H.2021, tập I, tr.77.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng dân chủ, coi thực hành dân chủ là chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn. Người khẳng định, bản chất của dân chủ tức là dân là chủ và dân làm chủ. Trong Đảng, Người căn dặn: “Để làm cho Đảng mạnh, thì phải mở rộng dân chủ”(1); “Để lãnh đạo tốt, các cấp ủy phải thật đoàn kết, thật dân chủ, phải thực hành chế độ “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” và phê bình và tự phê bình để không ngừng tiến bộ”(2). Đối với Nhà nước, Người cho rằng: “Nhà nước ta phát huy dân chủ đến cao độ, đó là do tính chất Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân. Có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên được tất cả lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên”(3).

Người luôn coi trọng cán bộ, khẳng định “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”(4), “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”(5). Phong cách, tác phong công tác của cán bộ rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến chất lượng, hiệu quả công việc. Bởi vậy Người luôn căn dặn cán bộ “Tác phong phải dân chủ, dựa vào lực lượng quần chúng, học hỏi sáng kiến của quần chúng để lãnh đạo quần chúng”(6). Muốn có tác phong dân chủ, “cán bộ phải đi sát sản xuất, đi sát quần chúng và phải dân chủ với dân”(7). Như vậy, vừa là phát huy dân chủ nhân dân, vừa rèn luyện tác phong dân chủ của người cán bộ.

Trong cách thức, phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thể hiện phong cách làm việc giản dị, gần gũi nhưng sâu sắc, quyết đoán, hòa mình vào quần chúng nhân dân, coi nhân dân là cội nguồn của mọi thắng lợi. Người coi dân chủ là “chìa khóa vạn năng” để khơi dậy tính sáng tạo của nhân dân, huy động và sử dụng nguồn lực nhân dân vào các lĩnh vực, ngành, nghề hoạt động khác nhau, bảo đảm thắng lợi cho sự nghiệp cách mạng ở mọi lúc, mọi nơi. Người đã nhấn mạnh: “Dân chủ, sáng kiến, hăng hái, ba điều đó rất quan hệ với nhau. Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến. Những sáng kiến đó được khen ngợi, thì những người đó càng thêm hăng hái, và người khác cũng học theo. Và trong khi tăng thêm sáng kiến và hăng hái làm việc, thì những khuyết điểm lặt vặt, cũng tự sửa chữa được nhiều”(8).

Bởi vậy, Người nhắc nhở cán bộ, trong phong cách làm việc, phong cách công tác, phong cách lãnh đạo của cán bộ phải chống bệnh hẹp hòi, nghĩa là phải tuyệt đối vì lợi ích của Đảng, của Nhân dân. Người chỉ rõ: nguyên nhân của bệnh có nhiều, nhưng chủ yếu là do ham danh vọng và địa vị, nên khi ở cương vị phụ trách thì lôi người này, kéo người khác, ưa ai thì kéo vào, không ưa thì đẩy ra. Hậu quả của bệnh hẹp hòi là gây chia rẽ, mất đoàn kết giữa cán bộ cấp trên phái đến và cán bộ địa phương, cán bộ cũ và cán bộ mới, giữa bộ phận và toàn cục, cán bộ cơ quan này và cán bộ cơ quan khác, địa phương này và địa phương khác…

Phong cách làm việc dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh, là phải “nói đi đôi với làm”. Người yêu cầu cán bộ phải thống nhất giữa nói và làm, tư tưởng phải chuyển hóa thành hành động cụ thể, hoàn thành nhiệm vụ, thực hiện lý tưởng cao cả của Đảng và dân tộc. Người từng căn dặn “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Tức là để dân tin, dân quý, dân ủng hộ, người đảng viên phải làm trước, đi trước, dù có gian khổ, hy sinh cũng không kêu ca, phàn nàn. Nói đi đôi với làm còn là cách để cấp trên gương mẫu với cấp dưới, là để cầm tay, chỉ việc giữa người có kinh nghiệm với người mới, người chưa có kinh nghiệm. Ở bất kỳ đâu, làm bất cứ việc gì, ở cương vị nào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều tôn trọng, lắng nghe ý kiến của mọi người, phát huy trí tuệ của tập thể, đề cao những kinh nghiệm, sáng kiến, cách làm hay, sáng tạo đem lại hiệu quả cao trong công việc. Người chỉ rõ: “Gom góp mọi ý kiến rời rạc, lẻ tẻ của quần chúng, rồi phân tích nó, nghiên cứu nó, sắp đặt nó thành những ý kiến có hệ thống… Cứ như thế mãi thì lần sau chắc đúng mực hơn, hoạt bát hơn, đầy đủ hơn lần trước. Đó là cách lãnh đạo cực kỳ tốt”(9).

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người cán bộ phải có ý thức tập thể cao, tạo được bầu không khí dân chủ, cởi mở trong làm việc, cũng như trong cuộc sống; từ đó, tạo động lực, niềm tin cho mỗi người có thể tham mưu, hiến kế, đề xuất những cách thức, biện pháp nâng cao năng suất lao động, xây dựng đơn vị, địa phương vững mạnh về mọi mặt. Đồng thời, đề cao phong cách làm việc dân chủ nhưng không đồng nghĩa với dân chủ quá trớn, mạnh ai người nấy làm, mà phải tuân theo nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”; làm bất kỳ việc gì phải đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết; phải nêu cao tính tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên…

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...