Thứ Sáu, 28 tháng 1, 2022

Vạch trần bản chất của “Năng lượng gốc Trống Đồng Việt Nam”



“Năng lượng gốc Trống Đồng Việt Nam” (còn gọi là “Năng lượng gốc” - NG, NLG Trống Đồng Việt Nam toàn cầu) do Lê Văn Phúc (sinh 15/8/1956, ở huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai; Việt kiều Mỹ, sinh sống ở Turnberry Dr, Dublin, California, sáng lập tại Mỹ năm 2016.

Khoảng năm 2009, Lê Văn Phúc bắt đầu tiếp cận, tìm hiểu và học “Năng lượng gốc”. Đến năm 2016, Lê Văn Phúc thành lập tổ chức phi lợi nhuận NLG-Energy source – “Năng lượng gốc” ở Mỹ. Để phát triển lực lượng, sau khi thành lập, từ năm 2016 đến tháng 4/2021, Lê Văn Phúc liên tục về Việt Nam, thông qua số học viên “Năng lượng gốc” để liên hệ, kết nối với một số đơn vị, tổ chức tuyên truyền, giới thiệu, tổ chức các lớp học “Năng lượng gốc”.

Để tuyên truyền, mở rộng các lớp, Lê Văn Phúc đã tìm cách liên kết với các trung tâm; thành lập các công ty để tạo bình phong thực hiện các hoạt động lôi kéo, tuyên truyền người tham gia vào các lớp học.

Ngày 1/6/2020, đối tượng liên kết với Trung tâm Tư vấn ứng dụng tiềm năng con người TP. Hồ Chí Minh thuộc Viện Nghiên cứu và Ứng dụng tiềm năng con người rồi được bổ nhiệm Lê Văn Phúc làm Chủ nhiệm bộ môn “Năng lượng gốc” thuộc Trung tâm. Chỉ sau một thời gian ngắn “hợp tác” ngày 5/9/2020,  trung tâm này đã giải thể bộ môn. Điều này đồng nghĩa với việc Lê Văn Phúc không còn tham gia với trung tâm nữa. Để tiếp tục khuyếch trương thanh thế vào tháng 12/2020, đối tượng tiếp tục liên kết với Viện Nghiên cứu Phát triển Y dược cổ truyền Việt Nam quyết định thành lập Trung tâm Nghiên cứu phát triển các phương pháp chữa bệnh chuyên biệt để nghiên cứu và thực hiện các đề tài khoa học về phương pháp năng lượng gốc của Viện. Trung tâm đã tổ chức dạy lớp 4 tại TP. Hà Nội và ra mắt Ban Giảng huấn “Năng lượng gốc” tại Việt Nam. Nhưng đến tháng 5/2021 thì đã dừng việc nghiên cứu Bộ môn này.

Tiếp đó, khi các thông tin của “Năng lượng gốc Trống Đồng Việt Nam” bị một số trường hợp đã tham gia phản bác về hiệu quả, tính tiêu cực, mê tín, trục lợi, “Năng lượng gốc Trống Đồng Việt Nam” đã bị nhiều đơn vị, tổ chức liên quan xử lý. Điển hình như Nhà xuất bản Thế giới đã tạm dừng phát hành và cam kết không cấp phép lại cuốn sách “Tế bào gốc vị y sĩ đại tài của chính bạn”; Hội đồng quản lý Viện Nghiên cứu và Ứng dụng tiềm năng con người kỷ luật “Khiển trách” lãnh đạo của một viện, một số đơn vị chức năng… trong triển khai Bộ môn Năng lượng gốc thì đối tượng quay về Mỹ và tiếp tục thực hiện các hoạt động tuyên truyền bằng phương thức mới với thủ đoạn tinh vi hơn….

Đến tháng 4/2021, Lê Văn Phúc đã về Mỹ. Sau khi Lê Văn Phúc về nước, số đối tượng cầm đầu, chủ chốt của “Năng lượng mới” tại Việt Nam đã lập nhóm hỗ trợ cứu chữa COVID-19; thu thập, tập hợp thông tin về các kết quả thực hành Năng lượng gốc; in, phổ biến tài liệu Năng lượng gốc. Các đối tượng đã phát hành sách “Tế bào gốc vị y sĩ đại tài của chính bạn”; in, lưu hành nội bộ Tài liệu lớp 4...); kết hợp việc kinh doanh; sử dụng điện thoại và các ứng dụng internet... để lập các Website, Fanpage, nhóm Zalo, Telegram, kênh Youtube... liên quan “Năng lượng gốc”, tổ chức các lớp học online, thiết lập, duy trì chương trình “Hợp nhất tình thương, kiên tạo hạnh phúc”, livestream hàng ngày lúc 9h và 21h... Lê Văn Phúc thường dạy, giải đáp về “Năng lượng gốc”; các đối tượng tham gia đưa ra những thông tin chưa được kiểm chứng khoa học về những hiệu quả tích cực của “Năng lượng gốc”. Với cách thức như trên, các đối tượng đã khuếch trương, quảng bá “Năng lượng gốc” có những tác dụng thần kỳ, chữa được 7 nhóm bệnh, có thể đẩy lùi được dịch COVID-19, giúp tăng chiều cao, làm trẻ, đẹp, cải thiện đời sống tinh thần, nâng cao hạnh phúc gia đình, chất lượng và năng suất trong nông - lâm - ngư nghiệp....Từ đó, thuyết phục, lôi kéo mọi người tin, theo dõi và học Năng lượng gốc.

“Năng lượng gốc” không có cơ sở khoa học, chưa được khoa học kiểm chứng, kết luận nhưng lại khẳng định về khả năng giải quyết được bệnh tật, nghèo đói và xung đột, chiến tranh, hướng tới cân bằng năm châu, hòa bình thế giới ... Việc tuyên truyền các nội dung của “Năng lượng gốc” tiềm ẩn các vấn đề phức tạp về an ninh trật tự (ANTT). Một số người vì tin theo mà tâm lý, sức khoẻ và cuộc sống gia đình bị ảnh hưởng. Một số trường hợp đã ngộ nhận, sùng bái, thần thánh hóa Năng lượng gốc; đồng thời Lê Văn Phúc có thể giúp con người thoát khỏi mọi vấn đề trong cuộc sống, giúp Việt Nam giàu mạnh, phát triển vượt bậc...

Không dừng lại ở đó, Năng lượng gốc còn có dấu hiệu trục lợi như kêu gọi các học viên đóng góp kinh phí để hoạt động từ thiện xã hội; đóng góp Quỹ cộng đồng “Năng lượng gốc”, nộp học phí… Để thu hút đông người tham gia, Năng lượng gốc còn sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi để tuyên truyền, lôi kéo người tham gia, dẫn dắt người tham gia từ mục đích ban đầu là tò mò; học để chữa bệnh, nâng cao sức khỏe ...đã hướng dẫn học viên đến các đề tâm linh, tín ngưỡng... Để che đậy bản chất, “Năng lượng gốc” lọc và chặn các phản hồi tiêu cực về tổ chức khỏi các trang Fanpage.... Các đối tượng đồng thời lợi dụng ảnh hưởng của những người có vị trí trong xã hội để tuyên truyền các nội dung chưa được kiểm chức khoa học như nếu thực hành “Năng lượng gốc” không có hiệu quả là do người đó không có niềm tin, không thực hành 5 yếu tố tình thương...; càng truyền “Năng lượng gốc” càng giúp cho nhiều người khỏe mạnh thì tần số năng lượng của bản thân càng được phát huy; muốn học lớp cao hơn thì bắt buộc phải thực hành; truyền “Năng lượng gốc” hỗ trợ chữa lành cho nhiều người...).

Mặc dù luôn rao giảng những yếu tố nhân văn, tình thương nhưng khi học xong các lớp cơ bản và được tuyển chọn vào phòng, học kín, Hội, nhóm “Năng lượng gốc Trống Đồng” Việt Nam còn gọi là Năng lượng gốc- NLG, NLG Trống Đồng Việt Nam toàn cầu do Lê Văn Phúc sáng lập vẫn lồng ghép, truyền bá vào người học những tư tưởng phản động như phải thay đổi những ngôi sao trên quốc kỳ Việt Nam để đất nước được hưng thịnh…

Với các nội dung phân tích như trên cho thấy, “Năng lượng gốc Trống Đồng Việt Nam” chứa đựng các nội dung không có cơ sở khoa học. Vì vậy, mỗi công dân cần phải cảnh giác trước các luận điệu tuyên truyền của Năng lượng gốc; không tin, nghe theo các nội dung tuyên truyền.  

Chữa bệnh bằng “năng lượng ngoài không gian”: Ảo tưởng hay trò lừa đảo?

Chữa ung thư, tai biến, cao huyết áp hay thậm chí là phòng tránh được đại dịch COVID-19 khiến cả thế giới lao đao chỉ bằng cách học online để… lấy năng lượng từ ngoài vũ trụ(!) Đó là phương pháp được một nhóm có tên “Năng lượng gốc trống đồng” tuyên truyền mạnh mẽ để lôi kéo, dụ dỗ hàng chục ngàn người tham gia. Tuy nhiên theo các chuyên gia, đây chỉ là một chiêu trò mang tính chất lừa đảo.

Theo quảng cáo được đăng tải trên website của nhóm “năng lượng gốc trống đồng”, năng lượng gốc được nhắc đến trong bộ môn này là nguồn năng lượng đến từ nền văn minh ngoài không gian, năng lượng tâm linh… Nó kì diệu đến mức có thể hỗ trợ chữa lành một số bệnh đang khiến y học thế giới đau đầu như ung thư, tiểu đường hay các bệnh thường gặp như xương cốt, tai biến, trầm cảm hay thậm chí là bệnh vô sinh. Ngoài hỗ trợ chữa lành, năng lượng gốc còn được quảng cáo sẽ hỗ trợ cho việc sinh em bé khỏe mạnh, trồng trọt, chăn nuôi hay hỗ trợ tư duy sáng tạo trong học tập và làm việc.

Đáng nói, ngôn ngữ sử dụng trong phần giới thiệu còn nhiều lần nhắc đến từ đấng tạo hóa để nâng cao sự ảo diệu của loại năng lượng thần bí này để mê hoặc người đọc. Từ đó nâng tầm khả năng của người đứng đầu nhóm năng lượng gốc trống đồng, có khả năng truyền năng lượng gốc cho người khác chỉ thông qua lớp học online. Người được tôn xưng như một giáo chủ này còn được các thành viên trong nhóm gọi là “chú Phúc”. Vậy “chú Phúc” là ai? Theo như tìm hiểu, đây là một Việt kiều Mỹ có tên Lê Văn Phúc, người này đã từng trở về Việt Nam với mục đích chiêu mộ thêm nhiều thành viên gia nhập nhóm để mở rộng quy mô, tuyên truyền cho cái gọi là năng lượng gốc.

Sau khi tìm cách liên hệ với một lãnh đạo của Trung tâm tư vấn ứng dụng tiềm năng con người TP Hồ Chí Minh để xin cấp phép, ông Phúc được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm bộ môn "năng lượng gốc" của trung tâm, dù không hề thông qua đơn vị chủ quản là Viện Nghiên cứu ứng dụng tiềm năng con người. Quyết định sai trái này đã bị thu hồi ngay sau đó và lãnh đạo trung tâm cũng bị kỷ luật. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc hoạt động của nhóm “năng lượng gốc trống đồng” tại Việt Nam là trái phép.

Trao đổi với phóng viên Chuyên đề ANTG, Tiến sỹ Vũ Thế Khanh, Tổng Giám đốc Liên hiệp Khoa học công nghệ tin học ứng dụng cho biết: "Sau khi bị thu hồi quyết định, Lê Văn Phúc đã tìm đến chỗ chúng tôi. Ông này cử một số người đến trình bày nhà tôi có bao nhiêu người khỏi bệnh này, bệnh kia đề nghị cơ quan khoa học ủng hộ phương pháp này. Tuy nhiên qua nói chuyện thì tôi cũng hiểu được ông này hiểu biết đến đâu và phát hiện ra ông này có dấu hiệu lừa đảo”.

Cũng theo ông Khanh, hiện nay tại Việt Nam có rất nhiều phương pháp tập dưỡng sinh tăng cường sức khỏe mà không cần dùng đến thuốc, được cơ quan chức năng Việt Nam cấp phép như yoga, năng lượng sinh học theo pháp môn của GS.TS Nguyễn Đình Phư, Năng lượng cảm xạ theo pháp môn của bác sĩ Dư Quang Châu.... Tất cả các phương pháp này đều hoạt động trên nguyên lý khoa học và đã được chứng minh hiệu quả. Tuy nhiên một số người lại nhẹ dạ cả tin, tò mò và bị kích thích bởi những thuật ngữ ma mị, hoang đường và phản khoa học để tuyên truyền cho hành vi mê tín dị đoan.

Sau khi thất bại trong việc tìm một pháp nhân hợp pháp để ẩn giấu “năng lực” phản khoa học của mình, Lê Văn Phúc đã trở về Mỹ và chiêu mộ thêm nhiều cấp dưới tại Việt Nam để mở các khóa học năng lượng gốc online. 

Đến thời điểm hiện tại, theo như con số tự công bố của nhóm này, đã có hàng chục nghìn người theo học các lớp từ 1 đến 4 và các khóa nâng cao. Tuy nhiên, con số người u mê tin theo lý lẽ của nhóm này có thể lớn hơn nhiều. Bởi riêng nhóm Facebook được mở để mời chào người tham gia đã lên tới con số gần 200 ngàn người.

Để tham gia lớp học, người học cần đăng ký từ trước để xếp lớp và cùng đăng nhập vào phòng chat để nhận năng lượng nền văn minh ngoài vũ trụ, thông qua việc nhìn vào trán của “chú Phúc”.

Trong một đoạn video, ông Lê Văn Phúc còn khẳng định: “Nếu chúng ta có nhiều người học, mỗi gia đình có 1 người học tới lớp 3 sẽ giúp được cho những người trong gia đình mình. Nếu trường hợp COVID-19 tấn công thì sẽ giảm ngay, chúng ta sẽ chặn ngay. Chú sẽ xin nền văn minh không gian hỗ trợ cho chú kỹ thuật để chúng ta cùng thực hiện dự án này”

Mặc những lời nói mang tính chất mê tín dị đoan, hoàn toàn phản khoa học, nhưng cho đến nay vẫn có nhiều người tin tưởng rằng chỉ cần nhìn chằm chằm vào trán của một người đang sinh sống tại Mỹ qua màn hình máy tính là có thể chữa bách bệnh. Lý giải cho sự u mê này, một số người cho rằng, “chú Phúc” dạy hoàn toàn miễn phí nên rất tin tưởng. Tuy nhiên qua tìm hiểu từ một số người đã học và từ bỏ, nhóm của Lê Văn Phúc tổ chức các lớp 1,2 hoàn toàn miễn phí. Nhưng trong các buổi học, các đối tượng tham gia đều hướng người học đến các lớp cao hơn như lớp 3, 4.

Với những lớp cấp cao, thông qua các nhóm trên ứng dụng Telegram, các đối tượng “cò mồi”, “chân rết” sẽ tung hứng nhau để kêu gọi người tham gia đóng tiền học phí, đóng tiền hỗ trợ nhóm, đóng tiền mua sách tự học. Với mỗi người chỉ vài ngăm ngàn đồng nhưng nhân lên với hàng chục ngàn người, nó đã trở thành một số tiền khổng lồ.

Để tăng thêm sự tin tưởng cho các học viên, nhóm này còn tìm nhiều người tự nhận mình là các giáo sư, tiến sĩ ở nước ngoài hay đặc biệt hơn là một bác sĩ đang công tác tại một bệnh viện lớn để đưa ra những câu chuyện phản khoa học, tung hô cho cái gọi là năng lượng gốc từ nền văn minh ngoài không gian.

Còn trên trang chủ của nhóm, một loạt các video được cho là của những người từng học tập chia sẻ về hiệu quả của lớp học này được đăng tải. Mặc dù các video này không có nguồn gốc rõ ràng, dễ dàn dựng nhưng lại khiến nhiều người tin tưởng một cách mù quáng, bất chấp sự khuyên ngăn của gia đình.

Do sự phát triển rầm rộ và khiến nhiều người u mê, một nhóm tẩy chay và “bóc phốt” năng lượng gốc trống đồng với hơn 10 ngàn người tham gia đã được lập trên Facebook. Trong đó chủ yếu là người nhà của các học viên từng tham gia lớp học. Một số người cho biết, người thân của họ đã quyên góp tiền cho hội nhóm này dù hoàn cảnh không khá giả cho lắm. Ngoài ra còn một số người từng tham gia lớp học và gặp các ảnh hưởng xấu đến cơ thể, thần kinh nên cũng tham gia tẩy chay để cho mọi người nhìn rõ sự thật về năng lượng gốc trống đồng và Lê Văn Phúc.

Mất tiền, mất thời gian, mất sức khỏe, đó là những gì mà nhiều người đã nhận được khi tham gia học tập với nhóm năng lượng gốc. Nhưng nguy cơ tiềm ẩn đó là sự mất đi niềm tin với các phương pháp điều trị y tế được khoa học công nhận. Trước mắt đó là việc người dân không đến điều trị tại các cơ sở y tế khi mắc COVID-19 nếu nghe theo Lê Văn Phúc. Điều đó gây khó khăn cho công tác chống dịch của chính quyền và cộng đồng, gây mất an toàn về an ninh trật tự. Chưa kể với việc xây dựng hình ảnh Lê Văn Phúc như một thánh nhân với những kiến thức, lý lẽ phản khoa học, liệu đối tượng này có một âm mưu sâu xa nào khi cố tình tuyên truyền những thứ sai trái như vậy.

Chị Nguyễn Thị Hương (Hà Nội) từng nhiều lần bị một người bạn cũng theo trường phái chữa bệnh bằng năng lượng này lôi kéo. Người này tâng bốc dụ dỗ rằng, chỉ cần theo học từ lớp ban đầu đến lớp nâng cao bằng vài khoá học là có thể dùng năng lượng gốc chữa được mọi loại bệnh, nhất là những bệnh hiểm nghèo. Nhưng thực tế, người nhà của người này lại đang mắc bệnh hiểm nghèo, không có khả năng chữa được. “Điều này đủ thấy cái chiêu trò chữa bệnh bằng năng lượng gốc mang tính chất lừa đảo, chẳng khác gì đa cấp. Người nọ lôi kéo người kia, tham gia một khoá học nâng cao cũng mất 300-600 nghìn đồng. Nhưng một buổi livestream có hàng chục nghìn tham gia thì số tiền thu về là rất lớn”, chị Hương cho biết.

Còn anh Đặng Văn Hảo (Cầu Giấy - Hà Nội) đã từng một mực phản đối bố mẹ anh theo trường phái chữa bệnh này. Anh bảo, hàng ngày anh chị đi làm từ sáng đến tối muộn mới về nhà nên không biết ông bà theo lớp học chữa bệnh này từ khi nào. Trong một lần ngồi ăn cơm, thấy bố mẹ cứ mải xem livestreams của một người tự xưng là có thể chữa mọi loại bệnh anh mới thắc mắc hỏi chuyện thì ông bà mới nói thật là được một người hàng xóm rủ theo lớp học này. Rồi ông bà khen cách chữa bệnh này hữu hiệu, chỉ cần nhìn vào trán người thầy là mọi bệnh tật tan biến. Can ngăn phân tích thế nào ông bà cũng không nghe.

Rõ ràng ông bà vốn có bệnh nền, người bị huyết áp cao, người bị tiểu đường ngày nào cũng phải dùng thuốc đều, thế nhưng khi theo lớp học này được hơn 3 tháng, anh Hảo vẫn thấy ông bà dùng thuốc như thường. Hôm nào quên không dùng là huyết áp lại tăng. Mẹ anh sau ba tháng kiểm tra lại tiểu đường thì chỉ số vẫn cao như mọi lần. Anh phải phân tích hết nước hết cái rằng nếu chữa được bệnh tại sao ông bà vẫn phải thuốc, vẫn không hết bệnh huyết áp, tiểu đường, lúc ấy ông bà mới nghe ra và từ bỏ lớp học đó, nhưng số tiền theo học mà ông bà giấu con cái cũng phải vài triệu đồng.

Để sớm giải quyết vấn đề này, nhiều tỉnh thành như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hà Tĩnh… đang phối hợp với các cơ quan chức năng của Bộ Công an để điều tra làm rõ và xử lý hội nhóm "năng lượng gốc".

Nói về vấn đề này, TS.LS Đặng Văn Cường (Trưởng văn phòng phòng luật sư Chính Pháp, Đoàn luật sư thành phố Hà Nội) cho rằng, các phương pháp chữa bệnh dạng “độc đáo”, “khó hiểu” đang hoạt động mạnh mẽ với tần suất khá dày đặc trên nhiều nền tảng mạng xã hội và thu hút rất nhiều “học viên” khiến chúng ta phải đặt ra dấu hỏi lớn về tính xác thực của các phương pháp này.

Những phương pháp chữa bệnh này thường được quảng cáo với những từ ngữ hoa mỹ, cam kết chữa khỏi bệnh nan y nhưng đây là những phương pháp không chính thống, chưa qua một quy trình đánh giá, kiểm định, công nhận của bất kỳ cơ quan chuyên môn nào kể cả trong nước lẫn quốc tế. Trong đó còn có nhiều phương pháp chữa bệnh mang tính chất tâm linh, mê tín dị đoan. Kèm với việc quảng cáo phương pháp chữa bệnh thì những tổ chức, cá nhân này còn quảng cáo bán các loại thuốc chữa bệnh không rõ nguồn gốc, xuất xứ hoặc bán sách chữa bệnh...

Dưới góc độ pháp luật Việt Nam, chưa có các khái niệm về phương pháp chữa bệnh này. Chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh chỉ được cơ quan có thẩm quyền cấp cho người đủ điều kiện hành nghề khám bệnh, chữa bệnh.

Trường hợp người chưa được cấp chứng chỉ hành nghề và sử dụng những phương pháp chữa bệnh lạ chưa được kiểm định, chưa được công nhận thì có dấu hiệu vi phạm pháp luật về quảng cáo và khám bệnh, chữa bệnh.

Ngoài ra hiện nay vẫn chưa có cơ sở cho rằng việc chữa bệnh bằng tâm linh thật sự đem lại hiệu quả. Tuy nhiên, do mê tín, lạc hậu, cổ hủ mà nhiều người sẵn sàng đặt niềm tin vào các phương pháp tâm linh để chữa bệnh. Theo quy định của pháp luật. Nếu người nào dùng bói toán, đồng bóng hoặc các hình thức mê tín, dị đoan khác đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì có thể bị xử lý về tội hành nghề mê tín dị đoan quy định tại Điều 320 BLHS.

Nguồn: Báo CAND

Phát huy tư tưởng gắn kết dựng nước với giữ nước

Xuất phát từ đặc điểm của đất nước, con người Việt Nam, dân tộc ta bao giờ cũng xác định nguồn gốc sức mạnh giữ nước trước hết là các giá trị văn hóa giữ nước của dân tộc. Có thể hiểu văn hóa giữ nước Việt Nam là những giá trị tinh thần truyền thống được phát huy, phát triển sáng tạo trong công cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, giành và giữ độc lập của quốc gia - dân tộc.

Trong giá trị văn hóa giữ nước đó, nổi lên những giá trị đặc trưng là: Tinh thần yêu nước, ý chí tự lập, tự cường; ý thức cộng đồng, cố kết dân tộc; tư tưởng gắn kết dựng nước với giữ nước; nghệ thuật đánh giặc đặc sắc và tính nhân văn cao cả.

Cách đây hàng nghìn năm, tổ tiên ta đã vượt qua những thử thách khắc nghiệt của thiên nhiên để chinh phục vùng núi rừng, trung du, đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ ngày nay, phát triển cuộc sống, từng bước dựng nên nước Văn Lang - hình thức nhà nước sơ khai của người Lạc Việt.

Quá trình lịch sử của dân tộc ta là quá trình lao động sáng tạo, biết tận dụng những thuận lợi, chế ngự, thích nghi, chung sống với những thách thức của thiên nhiên để sống còn và phát triển; mặt khác, lại biết phòng, chống các thế lực xâm lược, khẳng định sự tồn tại độc lập, sánh vai cùng các dân tộc khác.

Sinh ra và phát triển trong hoàn cảnh thường xuyên phải lao động và chiến đấu chống thiên tai, địch họa như vậy nên mọi hoạt động vật chất và tinh thần của dân tộc ta luôn phải tuân theo quy luật “Dựng nước đi đôi với giữ nước”.

Dựng nước vừa là mục đích lâu dài, vừa là nguồn sức mạnh căn bản để giữ nước. Giữ nước trước hết là để tồn tại, đồng thời tạo điều kiện để dựng nước thành công. Dựng nước và giữ nước là hai mặt hoạt động đồng thời, gắn bó chặt chẽ với nhau trong suốt quá trình lịch sử của dân tộc ta.

Mục đích cao nhất của dân tộc ta từ xưa đến nay là đất nước được “quốc thái dân an”. Thời xưa, tổ tiên ta quan niệm “quốc thái dân an” là dân no đủ, sống yên bình, không lo đói rét; phép nước nghiêm, không lo quan lại sách nhiễu, trộm cướp quấy phá; quân binh mạnh, không lo cương vực bị đụng chạm; cuộc sống thanh bình, đàn hát hoan hỷ, lễ cưới chu tất; trên dưới thuận hòa, trong nhà ấm cúng, tích cốc phòng cơ,… như thế thì cơ nghiệp nước nhà truyền lâu mãi mãi (Bài khải của quan Ngự sử Nguyễn Duy Thì trình chúa Trịnh Tùng cuỗi thế kỷ XVI).

Lúc đất nước yên bình, hiển nhiên là phải tập trung vào nhiệm vụ dựng nước, chăm lo làm giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng, bảo tồn được văn hóa dân tộc.

Dù khi đất nước không có chiến tranh nhưng các thế lực ngoại xâm luôn nhòm ngó, chống phá, nếu có thời cơ là lập tức gây chiến tranh xâm lược. Vì thế dân tộc ta phải thường xuyên “giữ nước từ lúc nước chưa nguy”, chăm lo quốc phòng, an ninh, giữ vững chủ quyền, bờ cõi, răn đe, ngăn chặn các hành vi xâm hại chủ quyền lãnh thổ của đất nước.

Nếu chúng cố tình gây chiến tranh xâm lược thì ta không lâm vào cảnh “bất ngờ”, “trở tay không kịp”, mà chủ động đánh thắng. Tổ tiên ta đã tổng kết: “Việc binh là việc của trăm năm để dùng trong một ngày” chính là với ý nghĩa như vậy.

Từ thời Lý trở đi, khi nước ta bước vào thời kỳ xây dựng căn bản và bảo vệ quốc gia độc lập, tự chủ, các triều đình phong kiến đã sớm có ý thức chăm lo phòng thủ quốc gia từ lúc đất nước còn yên bình. Từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV, nước Đại Việt dù còn nhỏ bé nhưng đã là một quốc gia độc lập, vững mạnh trong khu vực.

Mối quan hệ giữa dựng nước và giữ nước luôn được tổ tiên ta nhận thức sâu sắc và xử lý linh hoạt, sáng suốt trong hoạt động thực tiễn.

Vua Lý Nhân Tông trước khi qua đời, còn dặn lại: “Nên sửa sang giáo mác, để phòng việc không ngờ, chớ làm sai mệnh, trẫm dù nhắm mắt cũng không di hận” (Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê: Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, Nxb, Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2003, tr. 455).

Vua Trần Thái Tông - vị vua mở đầu triều Trần, một triều đại thịnh trị, giữ vững biên cương phía Bắc, mở mang bờ cõi phương Nam, lập chiến công hiển hách chống Nguyên Mông - đã nói về đạo trị nước: “Lấy nhân đức để trị dân, lấy hiền tài để dựng nước, lấy khoan nhượng để thu phục lòng người, lấy trí dũng để bảo vệ đất nước”.

Thực tiễn lịch sử giữ nước của dân tộc ta cho thấy khi nào đất nước ta vững   mạnh thì dù kẻ thù ngoại xâm lớn mạnh đến đâu, chúng ta vẫn giành thắng lợi; trái lại, khi nào đất nước lâm vào cảnh kinh tế suy sụp, trên dưới chia lìa, dân tình oán thán thì khi bị xâm lăng, dù cuộc kháng chiến của ta có chính nghĩa, vẫn có thể bại vong.

Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn - một vị tướng chỉ huy quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ nhất và Tổng tư lệnh cuộc kháng chiến lần thứ hai và thứ ba đã tổng kết: “Vừa rồi, vì vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước nhà góp sức nên thắng được giặc và điều then chốt nhất là “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy” (Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê: Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2,  Nxb, Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2003, tr. 118). Trần Quốc Tuấn đã chỉ ra giá trị cốt lõi của văn hóa giữ nước của dân tộc ta là “cố kết nhân tâm”.

Đến thế kỷ XV, ngay sau thắng lợi cuộc kháng chiến chống Minh, Lê Thái  Tổ lệnh chỉ cho quần thần: “Đại thần văn võ trăm quan, các ngươi hãy chăm việc nông tang, chỉnh đốn quân ngũ, sửa sang chiến khí, thuyền bè” (Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, Sđd, tr. 469).

Chính sách “Ngụ binh ư nông” (gửi binh lính ở nhà nông) là một chính sách đặc sắc của các triều Lý, Trần, Lê sơ, quân chủ lực triều đình không nhiều, chủ yếu là quân địa phương tập trung theo từng phiên, nuôi quân đỡ tốn kém, bảo đảm sức lao động cho nông nghiệp, mà khi có chiến tranh, huy động được tối đa trai tráng cầm súng đánh giặc, đúng là “động binh tĩnh dân”, “bách tính giai binh”, “tận dân vi binh”.

Đây là cách tổ chức quân đội thời bình rất phù hợp với một nước nhỏ, dân số ít, phải chống với kẻ thù ngoại xâm lớn mạnh. Cách tổ chức quân đội này đã phát huy tác dụng lớn để đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược.

Trong thời đại mới, truyền thống dựng nước gắn liền với giữ nước của dân tộc được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam kế thừa, phát huy và phát triển lên tầm cao.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người am tường lịch sử dân tộc Việt Nam cũng như lịch sử nhiều dân tộc trên thế giới và rất coi trọng vai trò của truyền thống lịch sử. Trong tư tưởng cách mạng Hồ Chí Minh, mục tiêu, nhiệm vụ dựng nước và giữ nước luôn gắn bó với nhau, độc lập dân tộc gắn liền với tự do, hạnh phúc của nhân dân.

Từ sau Cách mạng Tháng Tám, nhân dân ta giành được chính quyền, đường lối cách mạng của Đảng bao giờ cũng gắn chặt hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng lãnh đạo thực hiện đường lối “kháng chiến kiến quốc”. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Kháng chiến phải đi đôi với kiến quốc. Kháng chiến có thắng lợi thì kiến quốc mới thành công. Kiến quốc có chắc thành công kháng chiến mới mau thắng lợi” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 114).

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, ta thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng, bảo vệ miền Bắc XHCN và đấu tranh giải phóng miền Nam. Chính nhờ sự lãnh đạo tài trí của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng sự chiến đấu hy sinh của toàn dân tộc, chúng ta đã thực hiện thành công hai nhiệm vụ dựng nước và giữ nước, quét sạch quân xâm lược, non sông thu về một mối, cả nước bước sang thời kỳ mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Ngày nay, Việt Nam đang thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hoàn toàn có khả năng để xây dựng đất nước hùng cường và bảo vệ vững chắc chủ quyền độc lập, thống nhất quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng đã xác định mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường sức mạnh quốc phòng - an ninh: “Tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt.

Sự ổn định và phát triển bền vững mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội là nền tảng vững chắc của quốc phòng - an ninh. Phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với tăng cường sức mạnh quốc phòng - an ninh. Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng - an ninh, quốc phòng - an ninh với kinh tế trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội và trên từng địa bàn.

Trong Diễn văn tại Lễ kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2020), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã tổng kết bài học lịch sử về dựng nước đi đôi với giữ nước: “Lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc ta đã chứng minh rằng, yêu nước và giữ nước, kiên quyết chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập, chủ quyền và thống nhất đất nước là truyền thống cực kỳ quý báu của dân ta” và khẳng định “đó là những truyền thống vẻ vang mà hôm nay chúng ta có trách nhiệm phải ra sức giữ gìn và phát huy”.

Chỉ có như thế, dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn dân và toàn quân ta mới vượt qua những khó khăn, thử thách, vững bước trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Nguồn: Báo CAND

Vạch trần thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc tôn giáo để hình thành “Nhà nước Mông”

Để thực hiện âm mưu chia rẽ đoàn kết dân tộc, các thế lực thù địch, phản động không ngừng gieo rắc niềm tin tín ngưỡng đối với đồng bào các dân tộc thiểu số. Nhiều người Mông tại các tỉnh miền núi phía Bắc bị xúi giục, ép buộc, lừa mị tin theo cái gọi là đạo “Giê Sùa” với những luận điệu viển vông…

Trên thực tế, bản chất của các đối tượng này lập ra là nhằm lừa phỉnh, dụ dỗ, lôi kéo, tập hợp lực lượng phục vụ mưu đồ ly khai, tự trị, hình thành “Nhà nước” riêng, tách ra khỏi cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Vậy tổ chức “Giê Sùa là gì”?

Có nguồn gốc ngoại sinh từ một người có quốc tịch Mỹ sáng lập và đưa vào Việt Nam; dựa vào Kinh thánh của Tin lành, lấy cơ sở để phát triển tổ chức “Giê Sùa”. Người sáng lập “Giê Sùa” là David Her tên thật là Hờ Chá Sùng, người Mông, gốc huyện Phon Xa Vẳn Xiêng Khoảng, Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào. Hiện đang sinh sống tại Bang California, có quốc tịch Mỹ sáng lập ra.

 “Hội thánh Giê Sùa” không có giáo lý rõ ràng mà dựa vào một số câu trong Kinh thánh để tuyên truyền, cho rằng Tên Chúa Giê Su phải gọi là “Giê Sùa” và giải thích Giê Su là tên nhà cầm quyền La Mã cố tình viết sai để lừa mọi người. Tổ chức này đả kích, không thừa nhận các tôn giáo khác, cho rằng chỉ có “Giê Sùa” mới là tôn giáo có thật, chính thống, tôn giáo của tất cả người Mông. Hội thánh “Giê Sùa” không thừa nhận A-đam và E-Va trong Kinh thánh, thay vào đó là nhân vật chàng Ong và cô Ía theo truyền thuyết người Mông; không tổ chức lễ Giáng sinh, Phục sinh và coi đây là trò bịp bợm, vì lợi ích của nhà cầm quyền La Mã; không bắt buộc dâng hiến 10% thu nhập; kiêng ăn hịt lọn và một số loại cá không có vảy, cua, ốc…

 “Giê Sùa” chưa có giáo lý, giáo luật, hiến chương; tài liệu, kinh sách sử dụng là một số điều trong Kinh thánh (Tân ước và Cựu ước) và một số tài liệu do David Her tự soạn thảo, tán phát trên mạng Internet. 

Thường sinh hoạt vào thứ 7 hàng tuần, sinh hoạt với nội dung, hình thức gần giống với điểm nhóm Tin lành (hát thánh ca, chia sẻ lời Chúa, cầu nguyện). Tuy nhiên, một số nội dung giảng dạy trong kinh thánh khác với điểm nhóm Tin lành, tin vào việc Chúa tái lâm, không thừa nhận tên Chúa là Giê Su mà gọi là Giê Sùa. Bác bỏ ngày lễ trọng trong năm như lễ Noel, Lễ Phục sinh  

David Her đã thông qua mạng Internet để tán phát các video clip có nội dung tuyên truyền đạo “Giê Sùa” trên Wedsite WAVw… Trong thời gian hoạt động tại một số địa phương Tây Bắc, “Giê Sùa” đã có những hoạt động gây mất tình hình an ninh trật tự (ANTT) nơi nó du nhập vào. Các đối tượng lợi dụng, xuyên tạc một số câu trong Kinh thánh để tuvên truyền, lôi kéo người khác tin theo như “Không thừa nhận tên Chúa Giê Su như các tổ chức Tin lành khác như Giê Sùa và giải thích rõ ràng là do nhà cầm quyền La Mã cố tình viết sai để lừa gạt và đả kích mọi người. Trong một số bài tuyên truyền, đối tượng David Her còn cho rằng, Chúa trời Giê Hô Va đã chia đất cho người Mông nhưng do người Mông không đoàn kết không biết bảo vệ nhau nên đất đai bị các dân tộc khác xâm chiếm, cho nên người Mông mới không có lãnh thổ, đất nước riêng, suốt đời phải đi làm thuê cho dân tộc khác.

David Her nhận mình là người đưa tin của “Chúa Giê Sùa”; “Chúa Giê Sùa” tái lâm để bảo vệ người Mông, kêu gọi người Mông đi theo “Chúa Giê Sùa”, đồng thời kích động người Mông ở các nước vê Lào chiến đấu xây dựng “Nhà nước Mông”. Các nhóm tà đạo “Giê Sùa” trên địa bàn đã hình thành tổ chức, phân công vai trò, vị trí đối tượng trong nhóm và đang ráo riết tuyên truyên, lôi kéo người khác tin theo. Tuy nhiên, giữa các điểm nhóm bị ảnh hưởng chưa có sự liên kết, thống nhất với nhau hoạt động. Một số đối tượng lợi dụng giáo lý danh nghĩa của các hệ phái để che giấu việc tin theo tà đạo “Giê Sùa”.

“Giê Sùa” xuất hiện khoảng tầm 5 năm trở lai đây ở các địa phương vùng núi phía Bắc như: Điện Biên, Lai Châu, Thanh Hóa, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái. Chỉ xuất hiện trong một thời gian ngắn nhưng mức độ ảnh hưởng của “Giê Sùa” khá nhanh, mức độ ảnh hưởng rộng đến đồng bào dân tộc Mông; lôi kéo người dân tin theo nhằm mục đích xây dựng nhà nước riêng, kêu gọi người Mông đi theo “Chúa Giê Sùa”, đồng thời kích động người Mông ờ các nước về Lào chiến đấu để xây dựng “Nhà nước Mông” tại tỉnh Xiêng Khoảng. Theo con số thống kê các địa phương gửi báo cáo, hiện “Giê Sùa” hoạt động tại các tỉnh: Điện Biên, Lai Châu, Thanh Hóa, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái. Mức độ lan nhanh ảnh hưởng đến vùng đồng bào dân tộc thiểu số như đồng bào dân tộc Mông. Hiện nay, theo con số thống kê được của các địa phương có khoảng 1.297 người tin theo.

Những tổ chức không đủ tư cách để cáo buộc Việt Nam “vi phạm nhân quyền”


Cứ mỗi dịp cuối năm, một số tổ chức lấy danh “nhân quyền” như Tổ chức Theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch-HRW) có trụ sở tại New York (Hoa Kỳ) lại phát đi thông cáo kêu gọi Chính phủ Hoa Kỳ “cần sử dụng vòng đối thoại nhân quyền để thúc ép Việt Nam trả tự do cho những “tiếng nói bất đồng” đang bị giam giữ và có những cải thiện về nhân quyền”.

Hay gần đây, tổ chức nhân quyền Safeguard Defenders công bố xuất bản một cuốn sách bằng tiếng Việt với mục đích hướng dẫn áp dụng Luật Magnitsky của Hoa Kỳ để “trừng phạt vi phạm nhân quyền ở Việt Nam”. Ngoài ra, một số tổ chức mang danh nhân quyền khác cũng thực hiện các hoạt động vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền, đàn áp những nhà “bất đồng chính kiến” hay giam giữ “tù nhân lương tâm”, “tù nhân chính trị”...

Những “thư ngỏ”, “thông cáo” của các tổ chức này thực chất là việc lợi dụng chiêu bài nhân quyền để thúc đẩy các quốc gia, tổ chức quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ, hướng lái theo ý đồ của họ; là công cụ nhằm can thiệp, gây khó khăn cho Việt Nam trong hội nhập quốc tế, tham gia vào các hoạt động quốc tế, khu vực. Trong khi đó, chính những tổ chức quốc tế nhân danh bảo vệ nhân quyền nói trên lại vi phạm các quy định của quốc tế về nhân quyền.

Cụ thể, hoạt động của một số tổ chức về nhân quyền trên vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc quốc tế không can thiệp các vấn đề thuộc thẩm quyền của quốc gia khác theo Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945 và Nghị quyết 2625 năm 1970 của Đại hội đồng Liên hợp quốc về Tuyên bố những nguyên tắc của luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc.   

Theo đó: “Không quốc gia nào hay nhóm quốc gia nào có quyền can thiệp, trực tiếp hay gián tiếp, vì bất kỳ lý do gì vào công việc đối nội và đối ngoại của bất kỳ quốc gia nào khác. Can thiệp vũ trang và tất cả các hình thức can thiệp hay đe dọa chống lại tư cách của quốc gia hay chống lại các đặc trưng chính trị, kinh tế và văn hóa của quốc gia đó - đều là vi phạm luật pháp quốc tế”.

Dù lấy danh nghĩa bảo vệ nhân quyền nhưng hành vi của các tổ chức trên lại không tuân theo nguyên tắc điều chỉnh của pháp luật nhân quyền quốc tế đối với chủ quyền quốc gia và trách nhiệm quốc gia. Chẳng hạn, theo Điều 1 của Công ước quốc tế năm 1966 về các quyền dân sự, chính trị thì: “Mọi dân tộc đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá”; “Các quốc gia thành viên Công ước này, kể cả các quốc gia có trách nhiệm quản lý các lãnh thổ uỷ trị và các lãnh thổ quản thác, phải thúc đẩy việc thực hiện quyền tự quyết dân tộc và phải tôn trọng quyền đó phù hợp với các quy định của Hiến chương Liên hợp quốc”. Theo Tuyên bố về các nguyên tắc của luật quốc tế, điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc ban hành kèm theo Nghị quyết 2625 năm 1970, nêu rõ: Tôn trọng chủ quyền quốc gia về lựa chọn chế độ chính trị, kinh tế, xã hội và chính sách đối ngoại; sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của mỗi quốc gia; bình đẳng chủ quyền của các quốc gia và quyền tự quyết của các dân tộc; không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác; giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình; các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau...

Bất chấp những quy định của luật pháp quốc tế, những tổ chức mang danh nhân quyền nói trên vẫn lấy cớ can thiệp, cáo buộc bằng cách làm sai lệch bản chất các vụ việc diễn ra trên thực tế để quy chụp, bôi lem tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Với việc vi phạm các quy định luật pháp quốc tế về nhân quyền, hoạt động có mục đích, động cơ xấu, chống phá, can thiệp vào nội bộ nước khác bằng thủ đoạn bóp méo, xuyên tạc sự thật về nhân quyền, rõ ràng những tổ chức này không có tư cách để nói về nhân quyền, đánh giá và cáo buộc về nhân quyền.

Tại phiên họp cấp cao khóa 16 Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc ở Geneva, khi Việt Nam lần đầu chính thức tuyên bố ứng cử làm thành viên nhiệm kỳ 2014 - 2016 của tổ chức này, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh khẳng định: “Nhà nước Việt Nam quyết tâm thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và Nhà nước pháp quyền, các quyền con người ở Việt Nam ngày càng được tăng cường”; “phấn đấu cùng cộng đồng quốc tế thúc đẩy việc hưởng thụ và bảo vệ nhân quyền cho nhân dân các nước”. Bằng hành động cụ thể trong thúc đẩy nhân quyền, Việt Nam đã nhận được sự tín nhiệm, ủng hộ của các quốc gia trên thế giới. Ngày 12/11/2013, Ðại hội đồng Liên hợp quốc khóa 68 đã bầu Việt Nam làm thành viên mới của Hội đồng Nhân quyền, với 184 nước ủng hộ trong số 193 nước tham gia bỏ phiếu. Việt Nam còn tích cực hợp tác với nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế để phát huy các giá trị nhân quyền tốt đẹp, phù hợp đạo đức, thuần phong mỹ tục, lợi ích dân tộc, mở ra các kênh đối thoại, tổ chức hội thảo để chia sẻ kinh nghiệm với các quốc gia ở các cấp độ khác nhau.

Tại khu vực, uy tín của Việt Nam được thể hiện qua vai trò Chủ tịch Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) 2020, đồng thời là Chủ tịch Ủy ban liên chính phủ ASEAN về nhân quyền (AICHR). Trong cuộc họp đặc biệt lần hai của AICHR theo hình thức trực tuyến diễn ra cuối tháng 11/2020, các nước đánh giá cao vai trò của Việt Nam trên cương vị Chủ tịch AICHR 2020 đã dẫn dắt hoạt động của AICHR trong giai đoạn đặc biệt khó khăn do tác động của đại dịch COVID -19. Việt Nam không chỉ giúp duy trì đà hợp tác của AICHR và ứng phó hiệu quả trước các tác động của đại dịch mà còn thúc đẩy soạn thảo và thông qua một loạt các văn kiện quan trọng định hướng hợp tác trong thời gian tới. Việt Nam quan tâm thúc đẩy các quyền cơ bản của người dân ASEAN, đặc biệt chú trọng đến nhóm yếu thế như thúc đẩy quyền của phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, gắn kết tình hữu nghị, thống nhất, tạo đồng thuận và hợp tác, trong đó đặc biệt là nỗ lực bảo đảm quyền con người trong đại dịch COVID-19, được cộng đồng các quốc gia ASEAN đánh giá cao. Đồng thời, tham gia đóng góp tích cực vào định hình các chuẩn mực quốc tế về bảo đảm quyền con người, đặc biệt quyền của các nhóm dễ bị tổn thương… Với những nỗ lực chung trong thúc đẩy, bảo vệ quyền con người trong phạm vi quốc gia và khu vực, các nước thành viên ASEAN chính thức đề cử Việt Nam là ứng cử viên duy nhất đại diện cho ASEAN làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2023-2025.

Sự cố gắng và thành quả của Việt Nam trong việc đảm bảo và thực thi quyền con người đã được nhiều tổ chức quốc tế, chính giới các nước ghi nhận, đánh giá cao, là cơ sở quan trọng để Việt Nam được tín nhiệm, giao phó các cương vị quan trọng trên trường quốc tế như thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Chủ tịch luân phiên ASEAN và nhiều tổ chức quan trọng khác. Trong phiên làm việc ngày 25/1/2019, nhóm làm việc về rà soát định kỳ phổ quát chu kỳ III của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc đã đồng thuận thông qua Báo cáo về kết quả rà soát của Việt Nam và khẳng định, Việt Nam luôn đảm bảo những quyền tự do cơ bản của công dân, phù hợp với các Công ước quốc tế về quyền con người. Sự đảm bảo đó được thể hiện trong hiến pháp, pháp luật và bảo đảm trên thực tế ở Việt Nam.

Trong bài phát biểu tại Hội nghị toàn quốc các cơ quan nội chính triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng (ngày 15/9/2021), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Chúng ta ai cũng biết, một gia đình muốn êm ấm, hòa thuận, hạnh phúc thì cùng với sự dạy bảo, khuyên nhủ còn phải có khuôn phép, gia phong, nền nếp... Một làng, một xã, một dòng họ cũng có hương ước, quy ước, lệ làng; một cơ quan, một công sở phải có nội quy; một tổ chức, đoàn thể phải có quy chế, có điều lệ... Một đất nước, một xã hội muốn tốt đẹp thì bên cạnh sự giáo dục, sự khuyên nhủ, càng phải có kỷ cương, phép nước, phải có pháp luật nghiêm minh để bảo vệ cái tốt, cái đúng; răn đe, trừng trị những cái xấu, cái sai, có hại cho dân cho nước, tức là phải có sự quản lý bằng cơ chế, pháp luật, phải có phép nước”.

Cần khẳng định rằng, ở bất kỳ quốc gia nào, quyền của mỗi công dân phải gắn liền với trách nhiệm, nghĩa vụ với đất nước, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Tại Việt Nam cũng như ở bất kỳ quốc gia có chủ quyền, người nào vi phạm pháp luật phải bị xử lý theo quy định pháp luật. Hoàn toàn không có việc Việt Nam vi phạm nhân quyền thông qua các hoạt động tố tụng như khởi tố, bắt giữ, điều tra, truy tố, luận tội, xét xử trước tòa án. Ở Việt Nam không có khái niệm, danh xưng nào gọi những đối tượng vi phạm pháp luật là những nhà “bất đồng chính kiến” hay “tù nhân lương tâm”, “tù nhân chính trị” như những luận điệu mà các tổ chức chống phá đưa ra. “Báo cáo nhân quyền” mà các tổ chức lấy danh về nhân quyền đưa ra hằng năm nhằm cáo buộc tình hình vi phạm nhân quyền ở Việt Nam là dựa trên những thông tin thu thập theo kiểu cóp nhặt, phiến diện, xuyên tạc. Do đó, những luận điệu của các cá nhân, tổ chức thù địch, thiếu thiện chí lấy cớ nhân quyền để quy chụp, chống phá Việt Nam chỉ là những luận điệu lạc lõng.

Bác bỏ luận điệu sai trái, khẳng định vị thế Việt Nam trên trường quốc tế

Thực tế cho thấy, hoạt động lợi dụng vấn đề nhân quyền chống Việt Nam đang được các thế lực thù địch cả trong và ngoài nước không ngừng đẩy mạnh với quy mô ngày càng mở rộng, tính chất ngày càng gay gắt, quyết liệt, theo kiểu “mềm, ngầm, sâu, hiểm”, vô cùng tinh vi, xảo quyệt.

Trong lĩnh vực pháp lý: Các thế lực thù địch không những đưa ra các luận điệu vô lý để phê phán một số điều luật hay văn bản pháp lý cụ thể của Việt Nam, nhất là họ tập trung đả phá Hiến pháp năm 2013 rồi cho đó là lạc hậu, trái với quy định và luật pháp, thông lệ quốc tế, từ đó lên giọng chỉ trích toàn bộ hệ thống pháp luật của Việt Nam, cho là thiếu hụt, khập khiễng, chưa phù hợp. Đồng thời, họ vin vào việc một số cán bộ, nhân viên Nhà nước vi phạm pháp luật để rêu rao cán bộ, nhân viên Nhà nước đứng ngoài pháp luật, kích động, kêu gọi mọi người không tuân thủ và không thi hành pháp luật. Họ lấy cớ số cá nhân lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí để chống phá Nhà nước và chế độ bị cơ quan chức năng bắt giữ, khởi tố, xử lý theo pháp luật để vu khống Việt Nam vi phạm nhân quyền trong khi giải quyết các vấn đề cụ thể liên quan đến tự do cá nhân. 

Trong lĩnh vực văn hóa: Họ cố tình cắt xén, diễn giải một chiều theo ý đồ xấu, dựng chuyện Việt Nam không thực hiện đúng tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền như đã cam kết, đặc biệt là Điều 19 về quyền tự do ngôn luận, tự do bày tỏ chính kiến; vu cáo, xuyên tạc Nhà nước ta rẻ rúng, nghi kỵ trí thức, đàn áp văn nghệ sỹ, bóp nghẹt tự do báo chí, tự do văn học nghệ thuật… Thổi phồng, đề cao, cổ súy cho số phần tử lợi dụng văn học nghệ thuật để bôi đen bức tranh hiện thực đất nước, hà hơi, tiếp sức cho những phần tử mà họ gọi là “dũng cảm lột xác” dám nhìn nhận lại bản chất đích thực của cuộc chiến tranh giải phóng của Việt Nam, xóa nhòa ranh giới giữa kẻ xâm lược và bọn tay sai với quân đội và quần chúng cách mạng, biến cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ thành cuộc “nội chiến” do “tham vọng của cộng sản” gây ra; ca ngợi chính quyền Sài Gòn theo kiểu hoài niệm, nhớ lại; cố tình gây chia rẽ, tạo ra tâm lý phân biệt vùng miền, làm giảm sự quyết tâm, đồng lòng của nhân dân cả nước trước những thách thức của thiên tai, dịch bệnh.

Thậm chí, họ còn phô trương bản chất “đạo đức giả” khi dựng lên các chương trình mang tính nhân văn, nhân đạo kêu gọi mọi người chung tay giúp đỡ nhau nhưng kỳ thực là trò lừa bịp. Các thế lực thù địch còn tuyên truyền, vận động dựng lên những “nhân vật tiêu biểu”, những màn kịch “trao giải thưởng quốc tế” cho những người “tiên phong trong cuộc đấu tranh vì tự do, vì dân chủ”, thực ra đó là những đối tượng chống đối, bất mãn; lợi dụng tình hình dịch COVID -19 đăng bài phỏng vấn liên tục các cá nhân “bất đồng chính kiến”, người lao động nghèo, yếu thế để chống phá.

Trong lĩnh vực dân tộc, tôn giáo: Lợi dụng sự việc các cơ quan chức năng bắt, điều tra, xử lý những đối tượng lợi dụng dân tộc và tôn giáo có hành vi chống đối, vi phạm pháp luật… để xuyên tạc và vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền. Một số cá nhân mượn danh nghĩa chức sắc, tín đồ tôn giáo được sự tiếp tay của các thế lực thù địch đã lợi dụng nhân quyền trong lĩnh vực dân tộc, tôn giáo để chống phá chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta. Các thế lực thù địch vừa tích cực rêu rao, vừa vu cáo Việt Nam không có tự do tín ngưỡng, không cho tự do hành đạo và đàn áp tôn giáo, chia rẽ các tôn giáo, đồng bào lương, giáo để chống lại chính sách đoàn kết, ổn định phát triển kinh tế…

Trong lĩnh vực thực hiện chính sách với tù nhân: Tù nhân là những cá nhân vi phạm pháp luật Việt Nam, phải chấp hành các chế tài theo luật định. Trong số các tù nhân này có người lợi dụng nhân quyền để chống phá lại chế độ, nhà nước ta. Thời gian qua, đây là một trong những điểm nóng, một mối quan tâm thường xuyên và cũng là một “mảnh đất” của các thế lực thù địch nhằm vào để can thiệp, vu cáo Nhà nước Việt Nam. Thông qua cơ chế của Liên hiệp quốc, qua nghị viện một số nước hoặc tổ chức phi chính phủ hoạt động về lĩnh vực này, số tổ chức, cá nhân phản động lưu vong cung cấp những thông tin sai lệch, xuyên tạc, mang tính quy chụp, dựng chuyện gửi các “kiến nghị”, “thư ngỏ” lên các tổ chức quốc tế thiếu thiện chí với Việt Nam để chống phá; đồng thời, cố tình đánh tráo bản chất, gieo rắc tâm lý bất an, gây hiểu nhầm, hiểu sai trong dư luận.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân là mục tiêu phấn đấu”; “Phát triển con người toàn diện và xây dựng văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”; “…con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng của đất nước”.

Quyền con người được khẳng định trong bản Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1992 và 2013. Hiến pháp năm 2013 có 11 chương, 120 Điều. Trong đó, chương về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là chương có điều luật nhiều nhất, gồm 36 điều (từ Điều 14 đến Điều 49).

Để có cơ sở pháp lý thúc đẩy và bảo vệ, bảo đảm quyền con người, Nhà nước Việt Nam đã có những nỗ lực không ngừng cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người. Tính từ năm 2014 đến nay, Quốc hội nước ta đã sửa đổi, bổ sung, ban hành mới hơn 100 văn bản luật, pháp lệnh liên quan đến việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong số đó có những luật cơ bản, quan trọng như: Bộ luật Hình sự 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Bộ luật Dân sự 2015, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015, Luật Trưng cầu dân ý 2015, Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016, Luật Trẻ em 2016, Luật Báo chí 2016, Luật Tiếp cận thông tin 2016, Luật An ninh mạng 2018, Luật Đặc xá 2018… Việc hoàn thiện khung pháp luật về quyền con người, quyền công dân nói trên đã phản ánh đúng bản chất của chế độ ta, đó là xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tăng cường cơ chế dân chủ, công khai để mọi cá nhân trong xã hội đều có thể tham gia xây dựng, quản lý xã hội, giám sát các hoạt động của cơ quan nhà nước, cũng như tạo ra khuôn khổ pháp lý để các cơ quan nhà nước hoạt động tốt hơn, phục vụ tốt hơn nhu cầu của mọi tầng lớp nhân dân.

Hiện nay, Việt Nam là một trong những nước tích cực, chủ động tham gia vào hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người do Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác ban hành. So với nhiều nước trong khu vực và các nước phát triển, Việt Nam không thua kém về số lượng là thành viên các công ước quốc tế về quyền con người. Tính đến năm 2021, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con người; phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), trong đó có 7/8 công ước cơ bản. Việt Nam đã phê chuẩn hoặc tham gia nhiều điều ước quốc tế về nhân quyền. Việt Nam luôn khẳng định trên thực tế là thành viên nỗ lực tham gia các công ước quốc tế với tinh thần, trách nhiệm cao nhất, được nhiều tổ chức quốc tế, các quốc gia đánh giá cao.

Mặc dù nước ta đang gặp không ít những trở ngại, thách thức do thiên tai, dịch bệnh và từ sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị nhưng vấn đề nhân quyền của Việt Nam luôn được thực thi trên thực tế. Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và vững chắc về nhân quyền. Điều đó không chỉ thể hiện ở những nỗ lực của chúng ta trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, mà còn được thể hiện ở việc bảo đảm quyền còn người, quyền công dân trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Điển hình như, Việt Nam là một trong sáu quốc gia thành viên Liên hợp quốc đã hoàn thành phần lớn các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ trước thời hạn năm 2015 và được xem là tấm gương điển hình của cộng đồng quốc tế trong thực hiện mục tiêu phát triển bao trùm, không ai bị bỏ lại phía sau của Liên hợp quốc. Theo Báo cáo “Phát triển con người năm 2019” được Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) công bố ngày 9/12/2019, với chỉ số HDI là 0,63, Việt Nam xếp thứ 118 trong tổng số 189 nước… Với những thành tựu trong việc tôn trọng, bảo đảm về quyền của con người, Việt Nam được tín nhiệm là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2014 - 2016). Tại khóa họp lần thứ 73, tại trụ sở Liên hợp quốc vào ngày 7/6/2019, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã bầu Việt Nam làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021 với số phiếu gần như tuyệt đối (192/193 phiếu). Gần đây, Việt Nam đã thực hiện tốt vai trò Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc với nhiều dấu ấn, đóng góp sáng tạo, thiết thực, trong đó có vấn đề bảo đảm quyền con người trước những thách thức do đại dịch COVID-19 gây ra, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao và làm cho vị thế và uy tín của Việt Nam ngày càng tăng trên trường quốc tế.

Thành tựu đảm bảo nhân quyền tại Việt Nam trên các lĩnh vực đời sống văn hóa, kinh tế, xã hội, đặc biệt là những thành tựu của Việt Nam trong việc phòng, chống dịch COVID-19 và bảo đảm quyền sống là quyền cao nhất trong đại dịch COVID-19 là những minh chứng rõ nét nhất trong bảo đảm quyền của con người trước những biến cố, đại dịch mà người dân trên toàn thế giới phải trải qua.

Đánh giá về nhân quyền cần phải đảm bảo cách nhìn khách quan, toàn diện, không thể phán theo kiểu “thầy bói xem voi”, không thể lấy một số vụ việc tiêu cực, những hiện tượng sai lệch mà quy chụp thành bản chất. Những thông tin để làm căn cứ đánh giá, báo cáo, xếp loại nhân quyền Việt Nam của một số tổ chức quốc tế thiếu thiện chí đều khai thác từ số đối tượng thù địch, phản động, bất mãn, cơ hội chính trị, số này luôn có những hành động hủy hoại mọi nỗ lực, thành tựu của Việt Nam trong vấn đề nhân quyền. Khi không có bất kỳ các hoạt động khảo sát, trải nghiệm vấn đề nhân quyền của một quốc gia thì mọi đánh giá về nhân quyền của quốc gia đó đều mang tính chủ quan, thiếu tính thực tiễn, sai lệch. Mặt khác, không thể mượn danh nhân quyền để tung hô cho lối sống tự do “vô pháp” để biện minh việc làm sai trái, quay lưng lại Tổ quốc, dân tộc.

Vạch trần bản chất của đối tượng cầm đầu


Trong tổ chức “Tin lành Đấng Christ Tây Nguyên”, phải kể đến A Đảo (SN 1981, trú tại huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum). Đối tượng này có những hoạt động chống phá quyết liệt. 

Cụ thể, vào khoảng tháng 7/2014, theo sự chỉ đạo của số cầm đầu UMCC bên ngoài, A Đảo cùng Y Nuen Ayun ra Hà Nội gặp ông David Showronski và bà Rose Miconell (nhân viên Đại sứ quán Úc tại Hà Nội) và Nguyễn Bắc Truyển, Nguyễn Văn Đài để cung cấp tài liệu giấy mời, giấy triệu tập làm việc, giấy chứng nhận mãn hạn tù... của các đối tượng tại Tây Nguyên; xuyên tạc chính sách tôn giáo, xuyên tạc, vu cáo chính quyền Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, đàn áp, sách nhiều người dân tộc thiểu số (DTTS) ở địa bàn Tây Nguyên. 

Hoạt động nhóm họp, sinh hoạt tôn giáo trái phép để lôi kéo, lừa gạt, núp bóng tôn giáo, hoạt động chống phá của cái gọi là “Hội thánh Tin lành đấng Christ Tây Nguyên.

Từ tháng 2 - 12/2015, số cầm đầu UMCC ở bên ngoài tiếp tục giới thiệu, chỉ đạo số tay chân trong nước như A Đảo, A Hlum, A Hmưk, A Trung, A Xã, A Viei, Y Huy, A Đoàn, A Hluih, A Chang, Y Bét tham gia đào tạo, huấn luyện trực tuyến về Nhân quyền, tự do tôn giáo quốc tế, hướng dẫn cách thức đối phó với chính quyền Việt Nam... Tuy nhiên, việc chỉ đạo số trong nước tham gia các khóa đào tạo này của UMCC chỉ với mục đích nhận được số tiền hỗ trợ khoảng 500.000 đồng/tuần/1 đối tượng tham gia.

Trong khóa học này A Đảo quen biết Huỳnh Thục Vy, sau đó A Đảo, Y Bét, A Trung tiếp tục lợi dụng Huỳnh Thục Vy. Từ đó, đối tượng đã gặp gỡ và tiếp xúc với một số người nước ngoài nhằm mục đích xin tiền, phục vụ việc tieu xài xá nhân. 

Từ ngày 25/7/2016 đến ngày 11/8/2016, với mục đích trục lợi và theo chỉ đạo của số cầm đầu, cốt cán UMCC bên ngoài, A Đảo cùng Y Bét xuất cảnh sang Đông Timor dự Hội nghị tự do tôn giáo khu vực Đông Nam Á. Tại hội nghị này, A Đảo được các đối tượng trả 500 USD thù lao. Ngoài ra, từ tháng 3/2016 đến tháng 8/2016, A Ga (cốt cán UMCC đang cư trú bất hợp pháp tại Thái Lan) chỉ đạo A Đảo, Nay Them tổ chức 3 đợt đưa 10 người DTTS xuất cảnh và định cư trái phép ở Thái Lan. Khi đối tượng này đang tổ chức đưa, dẫn người thì bị lực lượng Công an đã phát hiện, bắt quả tang vào ngày 18/8/2016. Quá trình bắt giữ, lực lượng chức năng đã thu giữ 160 USD, 49.735.000VNĐ liên quan hoạt động phạm tội của A Đảo. Căn cứ vào các hành vi phạm tội trên, Cơ quan ANĐT đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với A Đảo về hành vi tổ chức người khác trốn ra nước ngoài theo điều 275, BLHS năm 1999. Đồng thời, đã ra lệnh truy nã quốc tế đối với A Ga về tội tổ chức người khác trốn đi nước ngoài. 

Sau khi A Đảo bị xử lý, một số người dân trước đó đã bị khống chế theo UMCC tại các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Lâm Đồng, Bình Phước tỏ ra bất mãn, không tin tưởng vào UMCC. Một số trường hợp đã viết đơn tự nguyện xin chuyển sinh hoạt theo Hệ phái Tin lành đã được cấp quy chế pháp nhân và được cấp ủy, chính quyền địa phương tạo điều kiện để chuyên sinh hoạt tại các hệ phái Tin lành như: Bắp tít Liên hiệp; Bắp tít Nam Phương..., bộ khung tổ chức trong nước tự tan rã. 

Tháng 9/2020, ngay sau khi A Đảo ra tù, số cầm đầu bên ngoài tiếp tục sử dụng A Đảo thành con bài cho âm mưu của chúng, một mặt chúng vận động, kêu gọi, quyên góp tiền để gửi cho A Đảo, mặt khác chúng chỉ đạo A Đảo móc nối, lôi kéo, gây dựng số tay chân bên trong, một trong những người tham gia CHPC tích cực nhất trên địa bàn Đắk Lắk đó là Y Krếc Bya (hay còn gọi là Ama Guôn, sinh năm 1978, trú tại buôn Knia 2, xã Ea Bar, huyện Buôn Đôn). Y Krếc là đối tượng FULRO, bị xử phạt 8 năm tù về tội “Phá hoại chính sách đoàn kết”. Năm 2013, sau khi ra tù được một năm, Y Krếc lại tiếp tục tham gia hoạt động cơ sở ngầm FULRO và bị cơ quan Công an đấu tranh xử lý, đưa ra kiểm điểm trước dân. Với vai trò là “Quản nhiệm điểm sinh hoạt buôn Knia 2”, sau khi được liên lạc, lôi kéo, Y Krếc đã đồng ý tham gia CHPC và được A Ga giao cho làm Thủ quỹ của Ban điều hành tạm thời.

Từ tháng 3/2020 cho đến khi bị phát hiện, Y Krếc đã tích cực lôi kéo 15 người, hầu hết là các tín đồ Tin lành sinh hoạt trong điểm nhóm tại gia của mình tham gia CHPC. Ngoài ra còn có một số đối tượng khác, như: Y Nuen Ayun (Ama Đawit, sinh năm 1967; trú buôn Puăn B, xã Ea Phê, huyện Krông Pắc); Y Chới Bkrông (Ama H'Nal, sinh năm 1972; trú buôn Ko Mleo, xã Hòa Thắng, TP Buôn Ma Thuột); YYuăn Byă (Ama H'Wôn, sinh năm 1966; trú tại buôn Knia 3, xã Ea Bar, huyện Buôn Đôn) là những đối tượng tích cực tham gia phát triển CHPC trên địa bàn Đắk Lắk.

Quá trình làm việc với cơ quan Công an, những người này khai nhận, được sự chỉ đạo từ A Ga và các đối tượng cầm đầu bên ngoài, họ đã tiếp tục đi tuyên truyền, vận động, lôi kéo những người thân trong gia đình, các tín đồ sinh hoạt đạo thuần túy nhẹ dạ cả tin khác trong buồn cùng tham gia. Thủ đoạn lôi kéo mọi người của các đối tượng vẫn là những luận điệu cũ rích, đó là tham gia CHPC để về lâu dài sẽ thành lập “tôn giáo riêng, nhà nước riêng” cho người Tây Nguyên, và nếu sau này “Nhà nước Đê ga” thành công thì những người tham gia sẽ được chia đất đai, nhà cửa, tài sản, phong chức tước. 

Bản thân Y Krếc đã tập hợp, gửi các “bản tường trình”, “báo cáo” xuyên tạc về tình hình tôn giáo, nhân quyền cho phản động bên ngoài để tập hộ, báo cáo cho phản động lưu vong, phản ánh sai lệnh cho các tổ chức quốc tế, gây sức ép, làm giảm uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. 

Đối tượng Y Nuen với vai trò “Giáo hội phó” CHPC đã lôi kéo một số người tham gia; thu thập, gửi một số “bản tường trình” vu cáo chính quyền, vu cáo lực lượng Công an vi phạm tự do tôn giáo, nhân quyền. Đối với Y Chới Bkrông, sau khi được tuyên truyền, lôi kéo tham gia CHPC, từ tháng 11/2020 đến nay, Y Chới đã tham gia nhiều buổi tập huấn nhân quyền trực tuyến do Y Quynh Bdap và Nguyễn Đình Thắng giảng dạy, đồng thời đã viết một số báo cáo với nội dung vu cáo chính quyền đàn áp tôn giáo gửi cho A Ga. Để “nuôi dưỡng” cho hoạt động trong nước, các đối tượng phản động bên ngoài đã nhiều lần gửi tiền cho số cầm đầu, cốt cán trong nước để củng cố niềm tin hoạt động chống phá. Tuy nhiên, A Đảo, Y Krếc, Y Nuen đã trục lợi cá nhân, “ăn chặn” và thậm chí mâu thuẫn nhau về việc “chia tiền”.

Từ những âm mưu, ý đồ hoạt động và những chứng cứ thu được đã thể hiện “Hội thánh Tin lành đấng Christ Tây Nguyên” chính là một tổ chức phản động đội lột tôn giáo để tiến hành các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia.  Do đó, mọi hoạt động liên quan đến tổ chức này đều là hành vi vi phạm pháp luật. Mặc dù sau khi bị phát hiện, các đối tượng tham gia CHPC trên địa bàn Đắk Lắk đều đã thừa nhận, cam kết từ bỏ, tuy nhiên, tùy vào tính chất, mức độ vi phạm của từng người mà cơ quan chức năng sẽ có biện pháp xử lý phù hợp, đúng quy định của pháp luật. 

Thực tế, thời gian qua tại Tây Nguyên, đa số các chức sắc, tín đồ các tôn giáo được tạo điều kiện sinh hoạt tôn giáo thuần túy, chấp hành tốt các quy định của pháp luật. Riêng đối với đạo Tin lành, ngoài 5 tổ chức đã được Nhà nước công nhận (gồm: Hội thánh Tin lành Việt Nam (Miền Nam), Hội thánh Tin lành Cơ đốc Phục lâm, Hội thánh Tin lành Trưởng lão, Hội thánh Truyền giáo Cơ đốc và Hội thánh Tin Lành Liên hữu Cơ đốc), vẫn còn hàng chục tổ chức, hệ phái Tin lành chưa được công nhận tư cách pháp nhân, chưa được đăng ký hoạt động (nh Tin lành Truyền giảng phúc âm, Tin lành Liên hữu Bắp tít, Tin lành Phúc âm đời đời...) với tổng số hàng chục ngàn tín đồ. Các tổ chức, hệ phái này vẫn được tạo điều kiện để hoạt động ổn định. Tuy nhiên, thời gian qua, các thế lực thù địch bên ngoài, nhất là số FULRO lưu vong tiếp tục rêu rao ở Việt Nam “không có tự do tôn giáo”, chỉ có “tôn giáo quốc doanh”, không cho các tổ chức Tin lành chưa được đăng ký hoạt động. 

Một lần nữa chúng ta cần khẳng định rằng, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, nhưng bên cạnh đó cũng nghiêm cấm việc lợi dụng tôn giáo để xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Mỗi tín đồ tôn giáo bên cạnh việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cần phải thực hiện nghĩa vụ công dân của mình trên cơ sở chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật. Qua đây, mỗi chức sắc, tín đồ và người dân hãy đề cao cảnh giác, không tin, không nghe các đối tượng lôi kéo tham gia vào các hoạt động tôn giáo đề chống Đảng, Nhà nước, vi phạm pháp luật, đồng thời tích cực tố giác, phối hợp với chính quyền và lực lượng Công an các cấp ngăn chặn, góp phần loại bỏ cái gọi là “Hội thánh Tin lành đấng Christ Tây Nguyên” ra khỏi cộng đồng

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...