Thứ Tư, 22 tháng 7, 2020

HÀNH ĐỘNG CỦA CÁC NƯỚC TRƯỚC MƯU ĐỒ NHẰM ĐỘC CHIẾM BIỂN ĐÔNG CỦA TRUNG QUỐC



Dư luận trong thời gian gần đây nhìn chung đều cho rằng Trung Quốc đã có nhiều hành động "bắt nạt" các nước láng giềng liên quan tới tranh chấp ở Biển Đông.
"Dư luận trong thời gian gần đây nhìn chung đều cho rằng Trung Quốc đã có nhiều hành động "bắt nạt" các nước láng giềng liên quan tới tranh chấp ở Biển Đông. Các hành động của Trung Quốc có thể làm gia tăng bất ổn, làm mất an ninh trong khu vực, thậm chí có thể khiến căng thẳng leo thang. Và các nước không thể đứng nhìn sự an toàn, tự do hàng hải ở Biển Đông - tuyến đường giao thương hàng hải huyết mạch của thế giới bị xâm phạm", TS James Rogers, Giám đốc Chương trình “Global Britain” thuộc Viện Henry & Jackson (London, Anh) nhận định.
Những lập trường cứng rắn
Cho đến nay, Liên minh châu Âu (EU) cùng nhiều quốc gia khác trên thế giới như Ấn Độ, Australia, Nhật Bản... đều lên tiếng phản đối trước những hành động gây hấn của Trung Quốc trên Biển Đông.
 Ngoại trưởng Australia Marise Payne thậm chí còn chỉ trích mạnh mẽ các hành động gần đây của Trung Quốc ở Biển Đông, đặc biệt là vụ tàu hải cảnh Trung Quốc đâm chìm tàu cá Việt Nam hồi tháng 4 và tuyên bố của Bắc Kinh về việc lập các "quận hành chính mới".
Bà Marise Payne nói rằng, Australia "rất quan tâm đến sự ổn định của tuyến hàng hải quan trọng này cũng như các quy tắc và luật lệ chi phối nó" và kêu gọi các quốc gia tuân thủ luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước quốc tế của Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS) và bảo vệ tự do hàng hải, hàng không.
Đó là trên phương diện tuyên bố ngoại giao, còn ở thực địa, khu trục hạm HMAS Parramatta của hải quân Australia đã tham gia diễn tập cùng các chiến hạm Mỹ là USS Barry, USS America và USS Bunker Hill khi đi qua Biển Đông, gần nơi tàu khảo sát địa chất Hải dương 8 của Trung Quốc bám theo tàu khoan West Capella do Công ty dầu khí Malaysia Petronas vận hành.
http://static.cand.com.vn/Files/Image/chienthang/2020/07/18/thumb_660_3d3f9701-c772-4203-9ec6-9a8a3786542d.jpg
Trung Quốc thường sử dụng tàu cá hoặc tàu hải cảnh, hải giám để tấn công các tàu, thuyền của các quốc gia láng giềng trên Biển Đông. Ảnh:Getty
Nhật Bản cũng bày tỏ "quan ngại chính đáng" và "phản đối mạnh mẽ" bất kỳ hành động nào gây gia tăng căng thẳng trên Biển Đông. Với quan điểm xuyên suốt đối với vấn đề Biển Đông là duy trì hòa bình, đảm bảo an ninh và tự do hàng hải quốc tế, trên nguyên tắc mọi bất đồng tranh chấp chủ quyền và tranh chấp biển phải được giải quyết dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế và luật biển quốc tế bằng các biện pháp hòa bình, từ năm 2016, Sách Trắng quốc phòng Nhật Bản đã nêu rõ rằng, các hoạt động hiện tại của Trung Quốc tại Biển Đông là bá quyền, đơn phương, hướng tới việc đặt các nước vào việc.
Vì thế, trong những năm gần đây, Nhật Bản đã thúc đẩy quốc tế hóa vấn đề Biển Đông; giúp các nước trong khu vực Đông Nam Á bảo vệ quyền lợi, nâng cao năng lực phòng thủ trên biển và củng cố mối quan hệ đồng minh Mỹ-Nhật...
Còn Ấn Độ thời gian quan cũng đã thay đổi chiến lược trên Biển Đông, trong đó xây dựng kế hoạch gần gũi hơn với các quốc gia có cùng tranh chấp với Trung Quốc. Quan điểm của Ấn Độ đến giờ vẫn là tự do hàng hải rất quan trọng vì 55% hàng hóa thương mại nước này đều được vận chuyển qua Biển Đông.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Ấn Độ Anurag Sirvastava từng khẳng định, Biển Đông là một phần của tài nguyên chung toàn cầu và Ấn Độ luôn quan tâm đến việc duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực. "Chúng tôi kiên quyết ủng hộ quyền tự do hàng hải, tự do hàng không và hoạt động thương mại hợp pháp không bị ngăn trở trong những vùng biển quốc tế, phù hợp với luật pháp quốc tế.
Không quốc gia nào chấp nhận một Trung Quốc luôn thù địch kiểm soát tuyến đường biển chiến lược này", ông Anurag Sirvastava nói.
Cũng đánh giá vai trò quan trọng của Biển Đông khi có tới 1/3 lưu lượng vận chuyển hàng hóa của thế giới qua đây, Đại sứ EU tại ASEAN Igor Driesmans cho rằng, việc bảo đảm tự do hàng hải tại khu vực này là điều mà cả thế giới đều cần. Ông Igor Driesmans cũng khẳng định cam kết của EU trong việc duy trì trật tự tại các vùng biển và đại dương, trong đó có Biển Đông, dựa trên luật pháp quốc tế, an ninh và hợp tác hàng hải, cũng như tự do hàng hải và hàng không.
Với Mỹ, nước có những lợi ích ở Biển Đông, cả Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng và nhiều nghị sĩ đã lên tiếng chỉ trích cách hành xử của Trung Quốc trên Biển Đông, nhấn mạnh đó là hành vi bất hợp pháp, gây hại cho các nước trong khu vực. Hồi tháng 4, Mỹ phản đối kịch liệt việc Trung Quốc đâm chìm tàu cá Việt Nam. Đến tháng 6, Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo tuyên bố Trung Quốc không được phép xem Biển Đông là “đế chế hàng hải”, đồng thời cho biết phía Mỹ sẽ sớm thảo luận thêm về vấn đề này.
Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Daniel J.Kritenbrink trong cuộc gặp gỡ báo chí đầu tháng 7 cho biết: “Mục tiêu của chúng tôi là đảm bảo hòa bình và ổn định lâu dài trên Biển Đông. Chúng tôi tin rằng, các quốc gia có chủ quyền trên Biển Đông dù lớn hơn nhỏ đều phải hành xử theo luật pháp quốc tế, đưa ra các tuyên bố chủ quyền dựa trên luật pháp quốc tế, phải thượng tôn pháp luật và không được dùng thế của nước lớn để áp chế nước nhỏ. Chúng tôi tin vào các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp Biển Đông, tin vào quyền tự do hàng hải và hàng không trên Biển Đông”.
Phân tích những hành động của Trung Quốc trong việc ngăn cản các quốc gia khác khai thác dầu khí trên Biển Đông, trong đó có các hoạt động của Malaysia và Việt Nam, Đại sứ Daniel J.Kritenbrink chỉ rõ, Mỹ phản đối Trung Quốc cản trở các quốc gia thành viên ASEAN tiếp cận khai thác trữ lượng dầu khí ở Biển Đông; phản đối Trung Quốc ngăn cản hoạt động tự do trên vùng biển này cũng như ngăn cản các hoạt động kinh tế ở vùng Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương; phản đối việc Trung Quốc hay bất kỳ nước nào sử dụng các biện pháp ép buộc để tăng cường tuyên bố chủ quyền của họ ở Biển Đông. "Mỹ kêu gọi Trung Quốc dừng ngay các hoạt động mang tính khiêu khích làm ảnh hưởng đến ổn định khu vực", Đại sứ Daniel J.Kritenbrink nói.
Và không chỉ tuyên bố, Mỹ còn có những hành động trên thực tế nhằm bảo đảm tự do hàng hải ở Biển Đông. Ngày 4-7, Mỹ đã điều 2 tàu sân bay USS Ronald Reagan và USS Nimitz cùng 4 tàu chiến khác đến Biển Đông tham gia cuộc tập trận quy mô lớn với Philippines, cùng thời điểm Trung Quốc đang tiến hành các cuộc tập trận quân sự riêng gần quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.
"Mục đích của cuộc tập trận là nhằm thể hiện một tín hiệu rõ ràng đối với các đối tác và đồng minh của chúng tôi rằng Mỹ cam kết đảm bảo an ninh và ổn định khu vực", Chuẩn Đô đốc George M.Wikoff, chỉ huy cuộc tập trận cho biết.
Và công hàm ngoại giao lên  Liên hợp quốc
Theo đánh giá của các nhà phân tích, câu chuyện pháp lý tại Biển Đông “nóng” hơn bao giờ hết, sau khi Mỹ chính thức gửi Công thư lên Liên hợp quốc (LHQ), phản đối các yêu sách biển quá đáng của Trung Quốc.
Trong văn kiện gửi ngày 1-6, Đại sứ Mỹ tại LHQ Kelly Craff đề cập tới công hàm của Trung Quốc ngày 12-12-2019 nhằm phản đối việc Malaysia cùng ngày đã gửi một bản Đệ trình lên Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của LHQ. Đại sứ Kelly Craft nhấn mạnh, Mỹ phản đối các yêu sách chủ quyền trên biển của Trung Quốc do không phù hợp với luật pháp quốc tế được phản ánh qua Công ước quốc tế của LHQ về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS).
Công thư của Mỹ được lưu hành đúng vào thời điểm các quốc gia Đông Nam Á gửi công hàm ngoại giao phản đối Trung Quốc lên LHQ. Tờ Channel News Asia cho hay, ngày 5-6, tức 4 ngày sau công thư của Mỹ, Indonesia - quốc gia vốn trước nay quan điểm rằng không tham gia bất kỳ tranh chấp lãnh hải nào ở Biển Đông đã thông báo về công hàm ngoại giao của nước này gửi lên LHQ từ ngày 26-5.
Trong bức thư gửi Tổng thư ký LHQ, Indonesia đã bác bỏ các yêu sách vô lý và trái với luật pháp quốc tế của Trung Quốc ở Biển Đông; đề cập đến 3 công hàm trước đó của Trung Quốc và bác bỏ yêu sách của Bắc Kinh về vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa đối với các thực thể tại quần đảo Trường Sa (thuộc chủ quyền của Việt Nam), đồng thời lặp lại rằng đường chín đoạn (hay còn gọi là đường lưỡi bò) bao hàm yêu sách về các quyền lịch sử là thiếu cơ sở pháp lý quốc tế và đi ngược lại với UNCLOS...
Hãng Times of India bình luận rằng "cuộc đấu công hàm ngoại giao về vấn đề Biển Đông" được Malaysia khởi xướng hồi tháng 12 năm ngoái, bằng một công hàm phản đối Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền với thềm lục địa ở Biển Đông. Khi đó, Malaysia đã đệ trình lên Ủy ban Ranh giới thềm lục địa về thềm lục địa mở rộng của nước này tại Biển Đông - một động thái mà Bắc Kinh đã ngay lập tức đáp trả tại LHQ.
Chưa đầy 3 tháng sau, Philippines cũng trình công hàm phản đối công hàm của Trung Quốc và một công hàm phản hồi công hàm của Malaysia. Động thái này của Manila cũng nhận được công hàm phản đối từ Bắc Kinh.
Ngày 30-3, Phái đoàn thường trực Việt Nam tại LHQ trình công hàm phản đối các yêu sách của Trung Quốc tại Biển Đông với lập luận rõ ràng rằng, các yêu sách này vi phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam tại Biển Đông. 10 ngày sau, Việt Nam tiếp tục gửi thêm một công hàm nữa lên LHQ, để khẳng định lập trường trong vấn đề Biển Đông, trong đó có đề cập đến công hàm của Malaysia và của Philippines.
Phân tích những diễn biến này, nhà nghiên cứu luật hàng hải quốc tế tại Đại học Gadjah Mada (UGM) Andi Arsana cho hay: "Những gì Indonesia, Malaysia, Việt Nam đang làm đều dựa trên luật pháp quốc tế, trong khi yêu sách của Trung Quốc là đơn phương, trái với Công ước quốc tế của LHQ về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS). Đó là một vấn đề không thể thảo luận. Các nước không nên và cũng không đồng ý các cuộc đàm phán hoặc đàm phán song phương về vấn đề này".
Trong khi đó, TS James Rogers, Giám đốc Chương trình “Global Britain” thuộc Viện Henry & Jackson (London, Anh) nhận định: "Dư luận trong thời gian gần đây nhìn chung đều nhận định Trung Quốc đã có nhiều hành động "bắt nạt" các nước láng giềng liên quan tới tranh chấp ở Biển Đông, trong đó có Việt Nam, Philippines và Malaysia. Các hành động của Trung Quốc có thể làm gia tăng bất ổn an ninh trong khu vực, thậm chí có thể khiến căng thẳng leo thang.
Và các nước không thể đứng nhìn sự an toàn, tự do hàng hải ở Biển Đông - tuyến đường giao thương hàng hải huyết mạch của thế giới bị xâm phạm. Các công hàm ngoại giao vừa hướng tới việc giải thích vấn đề theo luật pháp quốc tế, vừa củng cố cho những phản ứng ngoại giao của cộng đồng quốc tế - một biện pháp cần thiết và khôn khéo để giải quyết vấn đề Biển Đông"

PHÁT HUY NHÂN TỐ CHÍNH TRỊ - TINH THẦN CỦA QUÂN ĐỘI TRONG PHÒNG, CHỐNG DỊCH COVID-19


Dịch Covid-19 là đại dịch đặc biệt nguy hiểm, lây lan nhanh, tác động nghiêm trọng đến tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị - xã hội, đối ngoại, an ninh, quốc phòng của các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới. Tại Việt Nam, với tầm nhìn và tư duy chiến lược, Đảng, Nhà nước ta đã sớm dự báo sát đúng tình hình, mức độ nguy hiểm của dịch bệnh. Với tinh thần bám sát thực tiễn, xây dựng chiến lược ứng phó khoa học, sáng tạo, phù hợp, triển khai quyết liệt, đồng bộ, huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong phòng chống dịch. Quán triệt quan điểm “chống dịch như chống giặc” được thấu suốt từ Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đến từng cán bộ, chiến sĩ; xác định đây là nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ chiến đấu của Quân đội trong thời bình, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã kịp thời có các văn bản chỉ đạo trong từng giai đoạn phòng, chống dịch, góp phần quan trọng cùng với cả nước bước đầu đẩy lùi dịch bệnh, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, coi Việt Nam là “điểm sáng” của thế giới về phòng, chống đại dịch. Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã khẳng định: “Quân đội luôn là trụ cột của quốc gia, đặc biệt khi đất nước lâm nguy, giặc giã, thảm họa, thiên tai, dịch bệnh nguy hiểm, thì vai trò chủ đạo và tính chất nòng cốt của Quân đội càng được thể hiện rõ hơn và phát huy mạnh mẽ”. Chứng tỏ sức mạnh tổng hợp của đất nước và Quân đội dựa trên nền tảng chính trị - tinh thần gồm tổng thể các yếu tố từ đường lối đúng đắn của Ðảng, tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, lòng yêu Tổ quốc, niềm tin vào sự lãnh đạo của Ðảng và sự điều hành của Chính phủ, từ truyền thống của dân tộc và ý chí quyết chiến, quyết thắng của bộ đội ta đã được phát huy cao độ, không chỉ trong các cuộc chiến tranh trước đây, mà còn trên trận tuyến chống đại dịch hiện nay.

Trong cuộc chiến cam go này, đối với Quân đội, sức mạnh đó được thể hiện trước hết ở tinh thần chủ động, sáng tạo, ý chí tiến công không lùi bước, xung kích, đi đầu, làm tròn trọng trách mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân tin tưởng giao phó. Ngay từ đầu, Quân đội đã phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ, ngành, địa phương, chủ động xây dựng, điều chỉnh các kế hoạch, phương án ứng phó với các cấp độ dịch, sớm tổ chức diễn tập toàn quân với quy mô lớn (tại 227 điểm cầu, 267 điểm thực binh với trên 22.000 người tham gia), dự báo các tình huống xấu nhất có thể xảy ra để có phương án xử lý tốt nhất. Tăng cường tổ chức tập huấn, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, kiện toàn, sắp xếp, bố trí lực lượng; kịp thời bổ sung một khối lượng lớn trang thiết bị, vật tư y tế, cơ sở vật chất theo phương châm “4 tại chỗ” đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.

Sức mạnh đó còn được thể hiện sâu sắc ở tinh thần “nhường cơm, sẻ áo”, chấp nhận gian khổ, hy sinh quên mình, “vì nhân dân phục vụ”. Thực hiện sự chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, các đơn vị đã tổ chức trên 09 vạn lượt cán bộ, chiến sĩ bộ đội Biên phòng, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ khắc phục khó khăn, gian khổ, kiên cường bám trụ ngày đêm tại 1.645 tổ, chốt dọc theo các tuyến biên giới phía Bắc, Tây, Tây Nam, tạo thành “lá chắn thép” không để dịch bệnh lây lan từ ngoài vào nội địa. Chủ động dồn dịch, nhường doanh trại để tổ chức 159 địa điểm cách ly tập trung cho gần 07 vạn người từ vùng dịch nước ngoài về nước, với tinh thần phục vụ tận tình, chu đáo, góp phần thắt chặt tình cảm quân, dân, để lại ấn tượng sâu sắc về đất nước, Quân đội, con người Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế. Lực lượng quân y đã thành lập 25 đội, 154 tổ quân y cơ động, 07 bệnh viện dã chiến truyền nhiễm với tổng số 2.800 giường bệnh sẵn sàng làm nhiệm vụ. Trong thời gian ngắn, Học viện Quân y đã nghiên cứu, sản xuất thành công bộ sinh phẩm phát hiện vi rút Corona chủng mới phục vụ công tác phát hiện, sàng lọc người bệnh trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài. Qua đó khẳng định năng lực và đóng góp quan trọng của Quân đội trong phòng, chống dịch bệnh, góp phần nâng cao vị thế của nền y học nước nhà. Bộ đội Hóa học đã huy động các trang bị chuyên dụng hiện đại, có mặt kịp thời tại các “tâm dịch” khử trùng, tiêu tẩy, góp phần khoanh vùng, dập dịch hiệu quả, nhất là tại Sơn Lôi/Vĩnh Phúc, Trúc Bạch, Bạch Mai, Hạ Lôi/Hà Nội. Dù miền xuôi hay miền ngược, ở đâu bộ đội đến thì ở đó lòng dân yên tâm, tin tưởng hơn, làm đẹp thêm hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới.

Trước sự bùng phát của đại dịch trên thế giới, phát huy tinh thần quốc tế vô tư, trong sáng, chúng ta đã tích cực hợp tác, trao đổi kinh nghiệm, hỗ trợ trang thiết bị, vật tư y tế, cử chuyên gia giúp quân đội một số quốc gia trong phòng, chống dịch bệnh (Lào, Campuchia, Nga, Cu Ba, Trung Quốc,…). Dù giá trị vật chất không lớn nhưng nghĩa cử cao đẹp đó được bạn bè quốc tế trân trọng, khen ngợi, góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Quân đội và đất nước trên trường quốc tế. Ngay trong cuộc chiến với dịch bệnh, toàn quân đã chủ động điều chỉnh, tổ chức triển khai thực hiện tốt các hoạt động quân sự, quốc phòng; duy trì nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới, biển đảo của Tổ quốc, không để bị động, bất ngờ; tích cực giúp các địa phương khắc phục hậu quả thiên tai, hạn hán, xâm nhập mặn; phối hợp giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn cả nước.

Có thể khẳng định, sức mạnh chính trị - tinh thần của cán bộ, chiến sĩ Quân đội bắt nguồn từ bản chất, truyền thống cách mạng của Đảng và cội nguồn lịch sử, văn hóa của dân tộc được kế thừa, phát huy trong điều kiện mới, bảo đảm cho Quân đội ta luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân, thực sự là điểm tựa tin cậy cho toàn dân trong cuộc chiến đẩy lùi dịch bệnh, với khát vọng và quyết tâm như đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Toàn thể dân tộc Việt Nam ta hãy cùng chung sức, đồng lòng vượt qua mọi khó khăn, thách thức để chiến thắng đại dịch Covid-19”.

Thời gian tới, đại dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp, có thể bùng phát trở lại, gây hậu quả nghiêm trọng, thách thức gay gắt vai trò của các nước, các thể chế quốc tế về an ninh phi truyền thống, làm thay đổi trật tự thế giới, thúc đẩy chủ nghĩa dân tộc cực đoan, làm gia tăng cạnh tranh địa chiến lược giữa các nước lớn, nhất là trên Biển Đông, tác động sâu sắc đến môi trường an ninh khu vực. Nước ta đang chuyển sang trạng thái “bình thường mới”, mở ra cơ hội đan xen nhiều khó khăn, thách thức bởi tác động tiêu cực của dịch bệnh; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tham nhũng, lãng phí và sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, đặt ra những yêu cầu mới nặng nề hơn đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong Quân đội, cùng với phòng, chống dịch, tiếp tục đẩy mạnh triển khai các nghị quyết, chiến lược, đề án về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; điều chỉnh tổ chức lực lượng, cơ cấu lại, đổi mới, sắp xếp, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp quân đội, chuẩn bị và tổ chức đại hội đảng các cấp trong Đảng bộ Quân đội, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng,... đòi hỏi phải có sự thống nhất cao về nhận thức và hành động. Vì vậy, để phát huy nhân tố chính trị - tinh thần của Quân đội trong phòng, chống dịch Covid-19, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, cần thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau:

Một là, tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ Quân đội phòng, chống dịch Covid-19 trong tình hình mới. Trước hết cần khẳng định, nhân tố chính trị - tinh thần giữ vai trò quan trọng có ý nghĩa quyết định đến sức mạnh chiến đấu của quân đội. V.I. Lê-nin chỉ rõ: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi hay thất bại đều tùy thuộc vào tâm trạng của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường”1. Do đó, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng bộ đội là vấn đề quan trọng hàng đầu, cần được làm trước, làm thường xuyên để phát huy sức mạnh chính trị - tinh thần của cán bộ, chiến sĩ. Thực tiễn vừa qua, cấp ủy, chỉ huy các đơn vị đã chú trọng làm tốt công tác quán triệt nhận thức, động viên tư tưởng bộ đội, chấp hành nghiêm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị với tinh thần “chống dịch như chống giặc”. Đây là yếu tố tiên quyết, trở thành kinh nghiệm thực tiễn quý báu để phát huy cao độ sức mạnh chính trị - tinh thần trong thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị.

Vì vậy, cùng với việc điều chỉnh thực hiện tốt chương trình giảng dạy, giáo dục chính trị cho các đối tượng, cần tiếp tục quán triệt nghiêm sự chỉ đạo của các cấp về phòng, chống dịch bệnh, trọng tâm là Lời kêu gọi của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Kết luận số 172-TB/TW, ngày 21/3/2020 của Bộ Chính trị, Công văn số 79-CV/TW, ngày 29/01/2020 của Ban Bí thư, Chỉ thị số 19/CT-TTg, ngày 25/4/2020 của Thủ tướng Chính phủ, Chỉ thị số 260-CT/QUTW, ngày 19/3/2020 của Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chỉ thị số 104/CT-BQP, ngày 12/5/2020 của Bộ Quốc phòng về tiếp tục thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 trong tình hình mới.

Tiếp tục quán triệt sâu sắc, thống nhất trong toàn quân quan điểm “chống dịch như chống giặc”, “chống dịch là nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình”, bảo đảm trong bất luận hoàn cảnh nào Quân đội cũng đi đầu trong phòng, chống dịch bệnh. Giáo dục cho bộ đội thấu suốt nhận thức, không chủ quan, lơ là, luôn gương mẫu đi đầu, nhân lên các giá trị tốt đẹp trong phòng, chống dịch về truyền thống yêu nước, trách nhiệm cộng đồng, tinh thần tương thân, tương ái, tự hào, tự tôn dân tộc, tính kỷ luật, đoàn kết, chủ động, sáng tạo, khát vọng vươn lên, khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Chú trọng làm tốt công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về việc Quân đội ứng phó với đại dịch Covid-19 và các thách thức an ninh phi truyền thống, góp phần bổ sung, phát triển đường lối quân sự, quốc phòng, xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Hai là, đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, định hướng dư luận trong cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trước diễn biến phức tạp của dịch bệnh. Xã hội càng phát triển thì nhu cầu thông tin của con người càng tăng. Do đó, công tác thông tin, tuyên truyền ngày càng giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Khi dịch bệnh đe dọa sự an toàn của con người và xã hội thì các luồng thông tin về nó tác động rất lớn đến việc xây dựng và phát huy nhân tố chính trị - tinh thần của cán bộ, chiến sĩ Quân đội. Vì vậy, cần tập trung phát huy tốt tất cả các kênh thông tin, tuyên truyền, định hướng dư luận đảm bảo kịp thời, minh bạch, chính xác. Tăng cường tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, gắn tuyên truyền phòng, chống dịch bệnh với tuyên truyền nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Báo chí quân đội chủ động xây dựng tuyến tin, bài chuyên sâu, qua đó khẳng định tính ưu việt của chế độ ta, vai trò, chức năng, bản chất, truyền thống của Quân đội và hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trên trận tuyến chống đại dịch và có phương án tuyên truyền trong tình huống khẩn cấp về dịch bệnh nếu xảy ra.

Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, tuyên truyền trên nền tảng mạng truyền số liệu quân sự, internet, mạng xã hội và các thiết chế văn hóa tại đơn vị. Các đơn vị văn học, nghệ thuật quân đội phát động sáng tác, quảng bá các tác phẩm về đề tài phòng, chống dịch bệnh. Đẩy mạnh công tác thi đua - khen thưởng trong phòng, chống dịch gắn với các cuộc vận động lớn, phong trào thi đua Quyết thắng và các đợt thi đua cao điểm, đột kích nhân các ngày lễ kỷ niệm lớn; hướng mạnh về cơ sở, tập trung vào các lực lượng trực tiếp làm nhiệm vụ; kịp thời phát hiện, tôn vinh, nhân rộng các mô hình hay, cách làm sáng tạo, tập thể, cá nhân tiêu biểu trong cuộc chiến đẩy lùi đại dịch.

Ba là, phát huy vai trò trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong phòng, chống dịch bệnh và thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị, đảm bảo giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội. Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định nâng cao sức mạnh chính trị - tinh thần của Quân đội. Do vậy, cần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng, tập trung vào tiếp tục triển khai có hiệu quả nghị quyết chuyên đề lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ phòng, chống dịch. Kịp thời bổ sung chủ trương, biện pháp lãnh đạo sát đúng, phù hợp với tình hình mới, đảm bảo vừa lãnh đạo phòng, chống dịch bệnh tốt, vừa triển khai đồng bộ các biện pháp để thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Quân ủy Trung ương và nghị quyết của cấp ủy các cấp về lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, xây dựng đảng bộ trong sạch, vững mạnh, gắn với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghiêm Chỉ thị số 747-CT/QUTW, ngày 23/7/2019 của Thường vụ Quân ủy Trung ương, hướng dẫn của Tổng cục Chính trị làm tốt công tác chuẩn bị và tổ chức thành công đại hội đảng các cấp trong Đảng bộ Quân đội, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

Cùng với đó, tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) gắn với Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII), Chỉ thị số 87-CT/QUTW của Thường vụ Quân ủy Trung ương về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và Chỉ thị số 855-CT/QUTW, ngày 12/8/2019 của Thường vụ Quân ủy Trung ương về đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Quán triệt và thực hiện tốt các quy định của Đảng về nêu gương2, đặc biệt là Quy định số 646-QĐ/QUTW, ngày 06/01/2012 của Thường vụ Quân ủy Trung ương “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, quản lý các cấp trong Quân đội” và Nghị quyết số 109-NQ/QUTW, ngày 11/2/2019 của Quân ủy Trung ương về “Xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội, nhất là cấp chiến dịch, chiến lược đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới”. Phát huy tốt vai trò trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, nhất là bí thư cấp ủy, cán bộ chủ trì, cán bộ chính trị các cấp, làm nòng cốt trong nâng cao sức mạnh chính trị - tinh thần của cán bộ, chiến sĩ, tạo cơ sở để phát huy sức mạnh tổng hợp của Quân đội ứng phó tốt với các cấp độ dịch và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ.

Bốn là, phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng; tăng cường công tác chính sách, dân vận, xây dựng mối quan hệ đoàn kết gắn bó quân - dân; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng và cấp ủy, chính quyền địa phương thực hiện tốt nhiệm vụ phòng, chống dịch, gắn với phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh trên địa bàn. Đây là các yếu tố rất quan trọng để nâng cao sức mạnh chính trị - tinh thần của cán bộ, chiến sĩ Quân đội. Tập trung phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng (thanh niên, phụ nữ, công đoàn) và hội đồng quân nhân, tổ chức nhiều hoạt động có ý nghĩa thiết thực, góp phần nâng cao chất lượng công tác phòng, chống dịch và các nhiệm vụ của đơn vị. Thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, kịp thời chế độ chính sách đối với Quân đội và hậu phương quân đội, nhất là một số chế độ đặc thù trong phòng, chống dịch theo quy định tại Nghị định số 37/NĐ-CP, ngày 29/3/2020 của Chính phủ. Quản lý chặt chẽ tình hình chính trị nội bộ, tổ chức quán triệt và thực hiện nghiêm túc các quy định về phòng gian, giữ bí mật, bảo đảm an ninh, an toàn tại đơn vị và các khu cách ly.

Tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia phòng, chống dịch và giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, nhất là tại các địa bàn chiến lược, biên giới, biển đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo. Phối hợp với các cơ quan chức năng tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương làm tốt công tác điều phối, tiếp nhận, vận chuyển, theo dõi, cách ly và các nội dung, biện pháp ứng phó hiệu quả với các cấp độ dịch trên địa bàn (nếu xảy ra), giúp dân khôi phục, phát triển sản xuất, ổn định đời sống, xóa đói, giảm nghèo, góp phần xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh, khu vực phòng thủ vững chắc, tăng cường tiềm lực quốc phòng, “thế trận lòng dân” trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Năm là, tích cực đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng, xuyên tạc công tác phòng, chống dịch bệnh để chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội. Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ráo riết tăng cường chống phá, hòng làm suy giảm niềm tin, ý chí của nhân dân và Quân đội, tiến tới xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Lợi dụng tình hình dịch bệnh, các vấn đề bức xúc trong xã hội và dịp diễn ra đại hội đảng các cấp, chúng tập trung xuyên tạc chủ trương, chính sách, hạ thấp uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội, tung tin bịa đặt về công tác nhân sự đại hội, phủ nhận kết quả phòng, chống dịch bệnh, phủ nhận vai trò, chức năng của Quân đội. Vì vậy, quá trình xây dựng và phát huy sức mạnh chính trị - tinh thần của cán bộ, chiến sĩ Quân đội cũng là quá trình đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch. Theo đó, cần đẩy mạnh quán triệt, thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, phát huy vai trò của các cơ quan chức năng và lực lượng nòng cốt triển khai đồng bộ các biện pháp, kiên quyết đấu tranh vạch trần và làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, nhất là trên không gian mạng.

Cuộc chiến chống đại dịch Covid-19 còn diễn biến phức tạp, có thể kéo dài, với hệ lụy nặng nề cho thế giới, trong đó có Việt Nam. Vì vậy, việc phát huy nhân tố chính trị - tinh thần, yếu tố quyết định nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân, làm nòng cốt cùng toàn dân chiến thắng đại dịch và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là vấn đề rất cấp thiết. Do đó, cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện đồng bộ các giải pháp nêu trên, không ngừng nâng cao sức mạnh chính trị - tinh thần của toàn quân, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, xứng đáng với lời khen của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với Dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”3. v

Thượng tướng NGUYỄN TRỌNG NGHĨA, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam
_________________         

1 - V.I. Lê-nin - Toàn tập, Tập 31, Nxb Sự thật, H. 1989, tr. 105.

2 - Quy định số 101-QĐ/TW, ngày 07/6/2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”; Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”, v.v.

3 - Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 14, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 435.

http://tapchiqptd.vn/vi/nhung-chu-truong-cong-tac-lon/phat-huy-nhan-to-chinh-tri-tinh-than-cua-quan-doi-trong-phong-chong-dich-covid19/15573.html


QUÂN ĐỘI TÍCH CỰC THAM GIA TÌM KIẾM CỨU NẠN TRÊN BIỂN


Việt Nam là quốc gia ven biển, nằm trong vùng xích đạo và dải nhiệt đới phía Tây Thái Bình Dương - khu vực trọng điểm ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu; có nhiều tuyến hàng hải quốc tế đi qua, lại đang trong quá trình đẩy mạnh phát triển kinh tế biển, nên tình hình thiên tai, tai nạn, sự cố ở vùng biển nước ta xảy ra với tần suất cao, tính chất phức tạp, gây thiệt hại nghiêm trọng về người, tài sản, ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế - xã hội và hoạt động quân sự, quốc phòng. Điều đáng nói là, trong mấy năm gần đây, tình hình tai nạn, sự cố trên vùng biển nước ta không chỉ gia tăng về số vụ, quy mô mà còn phức tạp về tính chất, diễn biến khó lường, nhất là sự cố về hóa chất, tràn dầu có thể hủy hoại môi trường trên phạm vi rộng, v.v.

Nhận thức rõ tác hại của thiên tai, biến đổi khí hậu và quán triệt sâu sắc chức năng, nhiệm vụ được giao, Quân đội đã tích cực, chủ động khắc phục khó khăn, thực hiện nhiệm vụ phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn nói chung và tìm kiếm cứu nạn trên biển nói riêng đạt nhiều kết quả tích cực. Nổi bật là, công tác lãnh đạo, chỉ đạo được cấp ủy, chỉ huy các cấp quan tâm, tiến hành chặt chẽ. Các lực lượng (nòng cốt là Cảnh sát biển, Hải quân, Bộ đội Biên phòng, Phòng không - Không quân và các quân khu có biển,...) chủ động chuẩn bị lực lượng, vật chất, phương tiện, xây dưng kế hoạch, phương án, phòng, chống thiên tai, sự cố, tìm kiếm cứu nạn phù hợp với nhiệm vụ, sát đặc điểm địa bàn và thường xuyên rà soát, bổ sung, điều chỉnh, tổ chức luyện tập, diễn tập, ứng trực nghiêm túc.

Với tinh thần không quản ngại nguy hiểm, tất cả “vì nhân dân phục vụ”, lực lượng quân đội luôn đi đầu, có mặt kịp thời ở nơi xảy ra thiên tai, sự cố, thể hiện rõ vai trò là lực lượng xung kích, nòng cốt, trong ứng phó sự cố, khắc phục hậu quả thiên tai, cứu hộ, cứu nạn trên biển. Từ ngày 15/8/2018 đến nay, các đơn vị quân đội đã huy động 125.056 lượt cán bộ, chiến sĩ, 3.364 lượt phương tiện phối hợp cùng các cơ quan chức năng, các lực lượng, địa phương tham gia tìm kiếm cứu nạn 1.480 vụ, cứu được 1.722 người, 96 phương tiện và kêu gọi, hướng dẫn 2.060.716 lượt người, 447.015 phương tiện đang hoạt động trên biển di chuyển ra khỏi vùng ảnh hưởng của bão, neo đậu tránh, trú an toàn. Đặc biệt, chúng ta đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ xử lý sự cố tràn dầu tại khu dân phố 5, phường Quảng Hưng, thành phố Thanh Hóa; vụ cháy tàu APL Vancouver, Quốc tịch Singapore; tìm kiếm, khắc phục hậu quả vụ tai nạn nghiêm trọng tàu cá NA-95899 TS bị tàu Pacific 01 đâm chìm, làm 09 ngư dân mất tích; ứng phó sự cố tàu BV-98459 TS chở khoảng 50.000 lít dầu DO bị chìm tại vùng biển Phú Quý, tỉnh Bình Thuận; ứng phó tràn dầu vụ tàu vận tải VIETSUN INTERGRITY bị chìm tại phao số 28, luồng Sài Gòn - Vũng Tàu, sông Lòng Tàu, huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh,... được cấp ủy, chính quyền địa phương, nhân dân và bạn bè quốc tế đánh giá cao. Không dừng lại ở đó, các cơ quan, đơn vị quân đội luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, trực tiếp động viên, sẻ chia, giúp đỡ người bị nạn, nhân dân địa phương ven biển, trên các đảo bị ảnh hưởng bởi thiên tai, khắc phục hậu quả, ổn định đời sống và sản xuất, góp phần tô thắm thêm truyền thống tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”.

Thời gian tới, dự báo tình hình thời tiết, khí hậu, thủy văn trên các vùng biển nước ta sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp, cực đoan và khó lường; các hoạt động giao thương, phát triển kinh tế biển ngày càng sôi động, tiềm ẩn nhiều nguy cơ tai nạn, sự cố. Để nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả ứng phó sự cố, phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn trên biển, giảm thiểu thiệt hại về người và tài sản của nhân dân, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, các cơ quan, đơn vị cần quán triệt, thực hiện tốt nội dung, giải pháp chủ yếu sau:

Một là, đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm cho bộ đội và nhân dân về công tác bảo đảm an toàn hàng hải và tìm kiếm cứu nạn trên biển. Tìm kiếm cứu nạn trên biển là hoạt động có tính đặc thù cao, luôn phải tiến hành trong điều kiện khó khăn, nguy hiểm trực tiếp đến tính mạng của cán bộ, chiến sĩ. Vì vậy, để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị cần quán triệt cho cán bộ, chiến sĩ nắm vững đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trực tiếp là các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng về bảo đảm an toàn hàng hải, tìm kiếm cứu nạn trên biển. Trọng tâm là, Nghị định số 30/2017/NĐ-CP, ngày 21/3/2017 của Chính phủ về “Quy định tổ chức, hoạt động ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn”; Quyết định số 506/2019/QĐ-TTg, ngày 04/5/2019 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt bổ sung danh mục các nhiệm vụ triển khai thực hiện Công ước quốc tế về tìm kiếm cứu nạn hàng hải năm 1979 (SAR 79) theo Quyết định số 06/2009/QĐ-TTg, ngày 15/01/2009 giai đoạn 2019 - 2025 trong Quân đội; mệnh lệnh, chỉ thị, hướng dẫn của cấp trên về nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn trên biển, cũng như kết quả, kinh nghiệm trong thực hiện nhiệm vụ này của các lực lượng, v.v. Qua đó, làm cho cán bộ, chiến sĩ nắm vững quan điểm, nguyên tắc, phương châm, yêu cầu cấp thiết đặt ra trong phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn trên biển; xác định đây là nhiệm vụ chính trị - “nhiệm vụ chiến đấu” trong thời bình; xây dựng động cơ, trách nhiệm, quyết tâm, lòng dũng cảm trong thực hiện nhiệm vụ quan trọng này. Đồng thời, chủ động đấu tranh với tư tưởng chủ quan, xem nhẹ, ngại khó khăn, gian khổ, nguy hiểm.

Bộ Chỉ huy Quân sự các tỉnh có biển chủ động tham mưu cho cấp ủy, chính quyền và phối hợp chặt chẽ với lực lượng Bộ đội Biên phòng, Hải quân, Cảnh sát biển, Công an, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Hiệp hội nghề cá, làm tốt công tác tuyên truyền cho ngư dân về công tác bảo đảm an toàn hàng hải, tìm kiếm cứu nạn; tổ chức xây dựng và phát huy vai trò của các tổ, đội tàu thuyền đoàn kết hoạt động trên biển trong công tác hỗ trợ cứu kéo lẫn nhau, tìm kiếm cứu nạn khi gặp sự cố, thực hiện tốt phương châm “Tự cứu mình là chính”; đồng thời, hướng dẫn ngư dân sử dụng các phương tiện thông tin, tín hiệu báo khẩn cấp khi gặp sự cố, v.v.

Hai là, chuẩn bị đầy đủ, chu đáo, phát huy tốt “4 tại chỗ”1 trong tìm kiếm cứu nạn trên biển. Thiên tai, sự cố trên biển ngày càng phức tạp, khó dự báo, diễn biến thất thường, đột biến cao. Vì vậy, để ứng phó, xử lý kịp thời, có hiệu quả, cần chủ động làm tốt công tác chuẩn bị về mọi mặt, phát huy tốt “4 tại chỗ”. Theo đó, các cơ quan, đơn vị thường xuyên kiện toàn Ban Chỉ huy phòng, chống thiên tai - tìm kiếm cứu nạn ở các cấp; duy trì nghiêm chế độ ứng trực, nắm chắc tình hình, tham mưu đề xuất, xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống xảy ra; chú trọng rà soát, bổ sung, điều chỉnh các phương án, kế hoạch sát tình hình thực tế, địa bàn và yêu cầu nhiệm vụ; chuẩn bị đầy đủ công tác bảo đảm, hiệp đồng chặt chẽ với chính quyền địa phương và các lực lượng đứng trên địa bàn, kịp thời cơ động ứng phó các tình huống không để bị động, bất ngờ. Để đạt hiệu quả cao, thời gian tới, Cục Cứu hộ - Cứu nạn tiếp tục phối hợp với các quân khu chỉ đạo Bộ Chỉ huy quân sự các tỉnh, thành phố có biển tham mưu cho Ban Chỉ huy phòng, chống thiên tai - tìm kiếm cứu nạn địa phương chỉ đạo các sở, ngành hoàn thành xây dựng Kế hoạch ứng phó với 12 tình huống sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn theo Quyết định số 1041/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Nghị định 30/2017/NĐ-CP của Chính phủ quy định tổ chức, hoạt động ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn; Quyết định số 19/2017/QĐ-BQP của Bộ Quốc phòng về thực hiện Nghị định 30/2017/NĐ-CP của Chính phủ. Trên cơ sở đó, kiện toàn lực lượng tham gia phòng, chống thiên tai, sự cố, tìm kiếm cứu nạn, từng bước xây dựng, phát triển mô hình các đội, trung tâm tìm kiếm cứu nạn trên biển chuyên trách, kiêm nhiệm, lấy lực lượng Hải quân, Cảnh sát biển và Bộ đội Biên phòng làm nòng cốt.

Cục Cứu hộ - Cứu nạn tiếp tục phối hợp với Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng, chống thiên tai đề xuất Chính phủ xin chủ trương đầu tư xây dựng một số trạm phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn trên các đảo; phối hợp với các cơ quan chức năng của bộ, ngành liên quan triển khai xây dựng Chương trình Quốc gia nghiên cứu, ứng dụng và huy động nguồn lực khoa học công nghệ ứng phó động đất, sóng thần. Triển khai thực hiện hiệu quả các dự án trọng điểm, mua sắm trang thiết bị chuyên dụng phục vụ công tác ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn theo kế hoạch đầu tư trung hạn 05 năm (2016 - 2020) đã được phê duyệt; chú trọng đổi mới trang bị, đầu tư mua sắm trang bị cứu hộ, cứu nạn trên biển với phương châm: “hiện đại, nhanh gọn, linh hoạt”, hoạt động  trong mọi điều kiện thời tiết, cả trên mặt nước và dưới mặt nước. Từng bước hiện đại hoá cơ sở vật chất, phương tiện, trang thiết bị phục vụ huấn luyện, diễn tập và tổ chức tìm kiếm cứu nạn trên biển.

Do tính chất nhiệm vụ phức tạp, vùng biển rộng, nên để phát huy “4 tại chỗ” trong tìm kiếm cứu nạn trên biển, Cục Cứu hộ - Cứu nạn phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng tham mưu giúp Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Văn phòng Ủy ban Quốc gia Ứng phó sự cố, thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn ban hành Quy chế phối hợp giữa các lực lượng Hải quân, Cảnh sát biển Việt Nam, Bộ đội biên phòng với các Trung tâm phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng hải; kết hợp các hoạt động huấn luyện, tuần tra, kiểm soát quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo với sẵn sàng tham gia tìm kiếm cứu nạn, v.v.

Ba là, nâng cao chất lượng công tác huấn luyện, diễn tập tìm kiếm cứu nạn trên biển cho bộ đội, nhất là lực lượng chuyên trách trên các địa bàn. Tìm kiếm cứu nạn trên biển là “nhiệm vụ chiến đấu” của Quân đội trong thời bình. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, các cơ quan, đơn vị cần đẩy mạnh đổi mới, nâng cao hơn nữa chất lượng huấn luyện, diễn tập; bồi dưỡng về kinh nghiệm tổ chức, điều hành, kỹ năng, quy trình xử lý sự cố, thiên tai, tìm kiếm cứu nạn cho các lực lượng. Trong đó, tập trung huấn luyện chuyên sâu, nâng cao năng lực 05 đội hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thiên tai; huấn luyện nâng cao kỹ năng điều khiển, sử dụng các phương tiện tìm kiếm cứu nạn hiện đại và kỹ năng thực hành khắc phục sự cố tràn dầu, chống cháy nổ cho nhân viên chuyên môn kỹ thuật. Để đạt hiệu quả cao, các cơ quan, đơn vị tập trung nghiên cứu xây dựng kế hoạch, chương trình, nội dung, phương pháp huấn luyện, diễn tập sát với thực tiễn địa bàn; quan tâm đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, hiện đại hóa mô hình huấn luyện, kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện cơ bản với ứng dụng khoa học công nghệ thông tin. Cục Cứu hộ - Cứu nạn phối hợp với Cục Quân huấn tham mưu giúp Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, Ủy ban Quốc gia Ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn tổ chức tập huấn nâng cao nghiệp vụ công tác cứu hộ, cứu nạn, triển khai hướng dẫn các mẫu kế hoạch về ứng phó sự cố, thiên tai, thảm họa và tìm kiếm cứu nạn trong toàn quân và Ban chỉ huy phòng, chống thiên tai - tìm kiếm cứu nạn các bộ, ngành và địa phương. Tiếp tục chỉ đạo Trung tâm huấn luyện tìm kiếm cứu nạn đường biển, Học viện Hải quân; Trung tâm huấn luyện quốc gia tìm kiếm cứu nạn đường không, Quân chủng Phòng không - Không quân tổ chức lớp đào tạo, huấn luyện nhân viên chuyên môn điều khiển phương tiện thuỷ nội địa, tìm kiếm cứu nạn; huấn luyện tìm kiếm cứu nạn đường không, đường biển. Đồng thời, tích cực nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện giáo trình, tài liệu huấn luyện về tìm kiếm cứu nạn trên biển, bảo đảm tính chuyên sâu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.

Cùng với các nội dung, giải pháp trên, Quân đội tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế với quân đội các nước, nhất là các nước trong khu vực, nhằm chia sẻ thông tin, ứng dụng khoa học công nghệ, tổ chức diễn tập, xử lý các tình huống tìm kiếm cứu nạn, cứu trợ thảm họa trên biển; chủ động phối hợp với các bộ, ngành, địa phương đề xuất xây dựng phương án đàm phán với các nước có chung Biển Đông về phân vùng tìm kiếm cứu nạn trên biển, thực hiện tốt trách nhiệm quốc gia thành viên của Tổ chức Hàng hải quốc tế, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Thiếu tướng DOÃN THÁI ĐỨC, Cục trưởng Cục Cứu hộ - Cứu nạn, Chánh Văn phòng Ủy ban Quốc gia ứng phó sự cố, thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn
_____________

1 - “4 tại chỗ”: lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ, hậu cần tại chỗ và chỉ huy tại chỗ.

 http://tapchiqptd.vn/vi/nhung-chu-truong-cong-tac-lon/quan-doi-tich-cuc-tham-gia-tim-kiem-cuu-nan-tren-bien/15692.html

 


TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC BẢO VỆ CHÍNH TRỊ NỘI BỘ QUÂN ĐỘI TRONG TÌNH HÌNH MỚI


Công tác bảo vệ chính trị nội bộ Quân đội là một nội dung công tác đảng, công tác chính trị; khâu cơ bản, quan trọng của công tác bảo vệ an ninh Quân đội, góp phần bảo đảm cho Quân đội luôn vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện tốt hơn nữa công tác bảo vệ chính trị nội bộ Quân đội.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, trực tiếp là Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, công tác bảo vệ chính trị nội bộ Quân đội thời gian qua được cấp ủy, tổ chức đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện chặt chẽ, hiệu quả theo đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của Quân đội. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội được đẩy mạnh. Tích cực, chủ động đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; bảo đảm bí mật, an toàn cho mọi hoạt động, hiệu quả công tác quản lý tình hình chính trị nội bộ của các đơn vị được nâng cao. Công tác thẩm tra, xác minh, thẩm định, kết luận về tiêu chuẩn chính trị, nhất là vấn đề chính trị hiện nay đối với cán bộ, đảng viên được tiến hành chặt chẽ, có chất lượng tốt. Kịp thời phát hiện, xử lý các vi phạm, làm trong sạch nội bộ phục vụ công tác chuẩn bị nhân sự đại hội đảng các cấp trong Đảng bộ Quân đội tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng,… góp phần quan trọng xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Tuy nhiên, công tác bảo vệ chính trị nội bộ Quân đội thời gian qua vẫn còn những điểm tồn tại, hạn chế. Nhận thức về yêu cầu, nhiệm vụ công tác bảo vệ chính trị nội bộ của một số cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ chủ trì cơ quan, đơn vị chưa đầy đủ, sâu sắc; chất lượng nắm, quản lý tình hình chính trị nội bộ, quản lý con người còn hạn chế; thực hiện các quy định về bảo vệ bí mật Nhà nước, bí mật quân sự có lúc, có nơi vẫn còn sơ hở, mất cảnh giác.

Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đang đứng trước những thời cơ, thuận lợi và cả khó khăn, thách thức đan xen. Các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, cán bộ; chúng gia tăng các hoạt động móc nối, cài cắm vào nội bộ, thu thập tình báo trên các lĩnh vực trọng yếu, cơ mật,... nhất là trong dịp chuẩn bị nhân sự đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới công tác bảo vệ an ninh Quân đội nói chung, công tác bảo vệ chính trị nội bộ Quân đội nói riêng cần tập trung thực hiện tốt những nội dung sau:

Một làtiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Tập trung vào: Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; Chỉ thị số 39-CT/TW, ngày 18/8/2014 của Bộ Chính trị về “Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình hiện nay”; Quy định số 126-QĐ/TW, ngày 28/02/2018 của Bộ Chính trị “Một số vấn đề về bảo vệ chính trị nội Đảng”; Chỉ thị số 118-CT/QUTW, ngày 20/02/2017 của Thường vụ Quân ủy Trung ương “Về tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ Quân đội trong tình hình hiện nay”; Thông tư số 11/2015/TT-BQP, ngày 17/3/2015 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành Điều lệ công tác bảo vệ an ninh Quân đội nhân dân Việt Nam và các văn bản có liên quan; ngăn chặn, đẩy lùi biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, phi chính trị hóa” Quân đội. Việc quán triệt, giáo dục phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, phù hợp với từng đối tượng; gắn nhận thức với hành động, “xây” đi đôi với “chống”, “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”. Trên cơ sở đó, phát huy tinh thần trách nhiệm trong tổ chức thực hiện, duy trì nền nếp chế độ theo quy định, quy chế đã ban hành; chủ động phối hợp với các lực lượng trong Quân đội và ngoài Quân đội, sử dụng đồng bộ các phương tiện, biện pháp nghiệp vụ để nắm chắc tình hình, xử lý kịp thời, chính xác mọi tình huống. Đồng thời, nêu cao tinh thần cảnh giác, kịp thời phát hiện và đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, hành động chống phá của các thế lực thù địch và hoạt động của các loại tội phạm; tích cực đấu tranh phản bác luận điệu sai trái, phản động. Trong đó, phải có giải pháp phù hợp làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, luận điệu “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch, bảo đảm cơ quan, đơn vị an toàn tuyệt đối về chính trị, vững mạnh về tổ chức.

Hai làtăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, sự quản lý của cán bộ chủ trì các cấp đối với công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Thấm nhuần lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh “… Chúng do thám tỉ mỉ về tình hình quân sự, chính trị và kinh tế của ta. Để làm gì? Để chúng tìm cách phá hoại! Để ngăn chặn âm mưu của kẻ địch, thì cán bộ, bộ đội và nhân dân ta cần phải luôn luôn nâng cao cảnh giác. Đó là một nghĩa vụ quan trọng mà mọi người công dân phải làm trọn để chống lại âm mưu của đế quốc và bè lũ tay sai, để bảo vệ nhân dân và bảo vệ Tổ quốc”1. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải coi công tác bảo vệ chính trị nội bộ là nội dung quan trọng trong nghị quyết lãnh đạo của cấp ủy, chi bộ, kế hoạch hoạt động của chính ủy, chính trị viên và người chỉ huy. Bám sát các nghị quyết, chỉ thị, quyết định của trên, sự phát triển của yêu cầu nhiệm vụ, tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn để bổ sung, hoàn thiện nội dung, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo phù hợp. Cấp có thẩm quyền cần nghiên cứu, ban hành các quy chế, quy định về công tác bảo vệ chính trị nội bộ sát với đặc điểm, tình hình nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị; triển khai toàn diện, đồng bộ các nội dung, biện pháp bảo đảm chặt chẽ, nền nếp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bảo vệ chính trị nội bộ ở từng cơ quan, đơn vị và toàn quân. Thường xuyên nắm vững tình hình, dự báo chính xác những vấn đề có thể xảy ra, kịp thời có phương án xử lý hiệu quả, không để bị động, bất ngờ về chính trị trong mọi tình huống. Đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, phát hiện, ngăn chặn kịp thời những biểu hiện lệch lạc về nhận thức, tư tưởng và hành động; phát huy vai trò nêu gương, tiền phong, gương mẫu về lời nói cũng như việc làm, nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì các cấp trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Quá trình thực hiện, cấp ủy, chỉ huy các cấp chú trọng gắn chặt hoạt động lãnh đạo của tổ chức đảng với công tác quản lý, điều hành của cán bộ chủ trì và tinh thần tích cực, tự giác của cán bộ, đảng viên, bảo đảm trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, công tác bảo vệ chính trị nội bộ luôn đạt hiệu quả thiết thực, góp phần giữ vững ổn định chính trị nội bộ cơ quan, đơn vị.

Ba làthực hiện nghiêm túc, chặt chẽ, kỹ lưỡng công tác rà soát, thẩm định, thẩm tra, xác minh và kết luận tiêu chuẩn chính trị của cán bộ, đảng viên, nhân sự tham gia cấp ủy các cấp, nhân sự Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, cán bộ, đảng viên ở các cơ quan, đơn vị trọng yếu và trong công tác quy hoạch, đề bạt, bổ nhiệm theo phân cấp quản lý cán bộ. Đây là một nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, có liên hệ mật thiết với nhiều lĩnh vực công tác trong Quân đội và ngoài Quân đội. Bởi vậy, trong thực hiện cần phải có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, xây dựng kế hoạch cụ thể, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng ngành; chú trọng phối hợp giữa công tác bảo vệ chính trị nội bộ với công tác tuyên huấn, tổ chức, cán bộ, kiểm tra, quân lực, điều tra hình sự và hoạt động của các tổ chức, lực lượng khác theo quy chế đã xác định để rà soát, thẩm định, thẩm tra, xác minh và kết luận tiêu chuẩn chính trị của cán bộ, đảng viên; đặc biệt là những vấn đề về lịch sử chính trị, chính trị hiện nay, các trường hợp có biểu hiện thoái hóa, biến chất, có vấn đề cần xem xét về chính trị. Tuyệt đối không để lọt vào cấp ủy, đội ngũ cán bộ chủ trì, cán bộ, nhân viên, chiến sĩ làm việc ở cơ quan, đơn vị, vị trí trọng yếu, cơ mật những người không đủ tiêu chuẩn chính trị, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, vi phạm những điều đảng viên không được làm, uy tín thấp. Đồng thời, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan có liên quan triển khai thực hiện tốt việc xét duyệt, thẩm tra tiêu chuẩn chính trị trong tuyển quân, tuyển sinh quân sự, tuyển người vào các cơ quan, đơn vị trọng yếu, cơ mật, đi công tác, học tập, thăm thân ở nước ngoài, v.v.

Bốn làthường xuyên nắm và quản lý chặt chẽ tình hình chính trị nội bộ, nhất là vấn đề chính trị hiện nay của cán bộ, đảng viên. Cấp ủy, chỉ huy các cấp duy trì nghiêm nền nếp chế độ quản lý, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên; chủ động phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn các hoạt động xâm nhập, cài cắm, móc nối, lôi kéo, mua chuộc, khống chế hoạt động và thu thập tin tức tình báo của nước ngoài. Trong đó, lấy phòng ngừa, ngăn chặn, triệt tiêu các nguy cơ từ gốc là nhiệm vụ cơ bản; lấy đấu tranh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Phải nắm chắc tình hình, nhận diện, phân loại đối tượng, xác định nội dung, hình thức và phương pháp đấu tranh phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội bộ hiện nay. Đồng thời, duy trì nghiêm chế độ báo cáo, trao đổi, giao ban, rút kinh nghiệm, chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện; khắc phục mọi biểu hiện chủ quan, mất cảnh giác, sơ hở, để kẻ địch, phần tử xấu tác động, lôi kéo, phá hoại nội bộ. Để đạt hiệu quả, các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị cần nghiên cứu, ban hành các quy chế, quy định, triển khai toàn diện, đồng bộ các nội dung, biện pháp bảo vệ chính trị nội bộ, trong xét duyệt tiêu chuẩn chính trị đối với các đối tượng.

Năm là, quán triệt và thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị, quy chế, quy định của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, quy định của Quân đội về công tác bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật quân sự; xây dựng đơn vị an toàn, địa bàn an toàn. Khi tiến hành phải nắm vững và thực hiện tốt phương châm: nhất quán về nguyên tắc; cụ thể về yêu cầu nhiệm vụ, mục tiêu, nội dung công tác; phù hợp về bước đi và cách làm. Thực hiện nghiêm các quy định về bảo vệ bí mật khi tham gia mạng xã hội, bảo đảm an toàn, an ninh mạng khi sử dụng các thiết bị công nghệ thông tin. Lực lượng bảo vệ chính trị nội bộ Quân đội phải tăng cường bám sát cơ sở, các địa bàn xung yếu, chiến lược về quốc phòng, an ninh, các tuyến biên giới, biển, đảo để nắm tình hình, dự báo chính xác những tình huống có thể xảy ra; gắn xây dựng đơn vị an toàn, địa bàn an toàn với xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện. Tích cực, chủ động phát hiện, ngăn ngừa, xử lý kịp thời các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội. Cơ quan bảo vệ an ninh các cấp chủ động tham mưu cho cấp ủy, chỉ huy triển khai có hiệu quả các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn các hoạt động khủng bố, phá hoại, không để lộ, lọt, mất công văn, tài liệu, con dấu, vũ khí, khí tài, trang bị, tài sản của Quân đội. Thực hiện nghiêm quy định trong quan hệ, tiếp xúc với các tổ chức, cá nhân nước ngoài có liên quan đến Quân đội; đấu tranh có hiệu quả với việc lợi dụng quan hệ, hợp tác trong lĩnh vực đối ngoại quân sự để thu thập tình báo, bí mật, cài cắm, móc nối, lôi kéo người trong nội bộ. Việc giải quyết, xử lý các vấn đề liên quan đến an ninh Quân đội, an ninh quốc gia phải bảo đảm đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy chế, quy định của Quân đội.

Sáu làxây dựng cơ quan và đội ngũ cán bộ chuyên trách vững mạnh, thực sự là lực lượng nòng cốt trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Cấp ủy các cấp cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng cơ quan bảo vệ an ninh có tổ chức bộ máy tinh, gọn, mạnh, hoạt động theo đúng chức năng, nhiệm vụ, giữ vững nguyên tắc, linh hoạt, nhạy bén trong xử lý các tình huống, thực hiện tốt chức năng tham mưu cho cấp ủy, cán bộ chủ trì về công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Thường xuyên quan tâm đào tạo, bồi dưỡng xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách bảo vệ an ninh có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức, lối sống tốt, trung thực, tận tụy với công việc, không ngại khó khăn, gian khổ, hy sinh; có phương pháp, tác phong công tác tốt; nắm chắc luật pháp, tinh thông về nghiệp vụ, thực sự là nòng cốt, chuyên trách bảo vệ an ninh ở đơn vị. Việc sắp xếp cán bộ bảo vệ an ninh phải đúng khả năng, sở trường của từng người; tăng cường công tác tập huấn, sơ kết, tổng kết, nghiên cứu khoa học để nâng cao trình độ tham mưu, hướng dẫn về công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong toàn quân. Đồng thời, tạo điều kiện cho cán bộ rèn luyện thực tế ở cơ sở, trau dồi kinh nghiệm thực tiễn, phát huy năng lực, sở trường trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ.

Trước yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ chế độ và Quân đội trong tình hình mới, công tác bảo vệ chính trị nội bộ Quân đội phải được cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ; không ngừng đổi mới nội dung, hình thức, nâng cao chất lượng công tác theo đúng yêu cầu mà Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quân ủy Trung ương đã đề ra. Thực hiện tốt nhiệm vụ này, không chỉ góp phần quan trọng vào việc tổ chức thành công đại hội đảng ở các cấp tiến tới Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng mà còn bảo đảm an ninh, an toàn trong xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội, thực sự là lực lượng nòng cốt bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thân yêu của chúng ta.

_____________

1 - Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 12, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 389.

http://tapchiqptd.vn/vi/nhung-chu-truong-cong-tac-lon/tang-cuong-cong-tac-bao-ve-chinh-tri-noi-bo-quan-doi-trong-tinh-hinh-moi/15732.html


Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...