Thứ Sáu, 1 tháng 11, 2019

TỔNG BÍ THƯ HỌP BỘ CHÍNH TRỊ VỀ NHIỆM VỤ CỦA BAN CHỈ ĐẠO TW VỀ PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG



Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng có quyết tâm rất cao, chỉ đạo quyết liệt, với cách làm khoa học, chặt chẽ, nền nếp, bài bản, phối hợp nhịp nhàng, từng bước chắc chắn.
Ngày 1-11-2019, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã chủ trì họp Bộ Chính trị để cho ý kiến về Đề án sửa đổi, bổ sung Quy định số 163-QĐ/TW, ngày 1-2-2013 của Bộ Chính trị khóa XI về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng và Đề án sửa đổi, bổ sung Quyết định số 159-QĐ/TW, ngày 28-12-2012 của Bộ Chính trị khóa XI về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Ban Nội chính Trung ương.
Tham dự cuộc họp có đại diện lãnh đạo các ban đảng, Đảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự đảng Chính phủ và các bộ, ngành có liên quan.
Sau khi nghe lãnh đạo Ban Nội chính Trung ương báo cáo về những nội dung cơ bản của Đề án, Văn phòng Trung ương Đảng báo cáo tổng hợp ý kiến các cơ quan liên quan và ý kiến phát biểu của các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đánh giá cao Ban Nội chính Trung ương - Cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng đã chuẩn bị công phu, chu đáo, tiếp thu nghiêm túc, kỹ lưỡng ý kiến góp ý của các cơ quan chức năng.
Bộ Chính trị cơ bản tán thành những nội dung đã nêu tại Tờ trình và Đề án, nhất trí những nội dung kiến nghị sửa đổi, bổ sung.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng khẳng định sau hơn 6 năm thực hiện Quyết định 159 của Bộ Chính trị, Ban Nội chính Trung ương đã triển khai nhiều công việc, khá toàn diện, tích cực, chủ động nghiên cứu, tham mưu, đề xuất nhiều chủ trương, quan điểm, định hướng lớn của Đảng về công tác nội chính; chủ động, sáng tạo thực hiện tốt nhiệm vụ Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, kiên trì, quyết liệt trong tham mưu, chỉ đạo xử lý những khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ điều tra, truy tố, xét xử các vụ án, xử lý các vụ việc tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm.
Bám sát Quy định 163 của Bộ Chính trị khóa XI, trong hơn 6 năm qua, nhất là từ đầu nhiệm kỳ khóa XII đến nay, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng có quyết tâm rất cao, chỉ đạo quyết liệt, với cách làm khoa học, chặt chẽ, nền nếp, bài bản, phối hợp nhịp nhàng, từng bước chắc chắn, rõ đến đâu xử lý đến đó, công khai, minh bạch.
Nhất là, đã phát huy tốt cơ chế chỉ đạo xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng, kinh tế; chỉ đạo phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ giữa các khâu trong công tác phát hiện, xử lý tham nhũng từ thanh tra, kiểm toán, kiểm tra, rồi đến điều tra, truy tố, xét xử, thu hồi tài sản tham nhũng.
Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng và Ban Nội chính Trung ương đã có những đóng góp quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, công tác nội chính, phòng, chống tham nhũng và góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.
Tuy nhiên, để khắc phục những hạn chế, khó khăn sau hơn 6 năm thực hiện Quy định 163 và Quyết định 159 của Bộ Chính trị khóa XI, nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, Ban Nội chính Trung ương, đáp ứng yêu cầu công tác phòng, chống tham nhũng trong thời gian tới, Bộ Chính trị thống nhất cao cần thiết phải sửa đổi, bổ sung.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh việc sửa đổi, bổ sung Quy định 163 và Quyết định 159 nhằm khẳng định và làm rõ hơn chức năng, nhiệm vụ, đề cao quyền hạn, trách nhiệm trước Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trong lãnh đạo, chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, giám sát công tác phòng, chống tham nhũng, nhất là công tác thanh tra, kiểm toán, xử lý các vụ việc, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án các vụ án tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp, dư luận quan tâm; nhiệm vụ của Ban Nội chính Trung ương trong tham mưu, giúp việc cho Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng về công tác nội chính, phòng, chống tham nhũng, cải cách tư pháp; khẳng định quyết tâm mạnh mẽ của Đảng, Nhà nước ta trong việc tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác phòng, chống tham nhũng.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng yêu cầu Ban Nội chính Trung ương phối hợp Văn phòng Trung ương Đảng tiếp thu ý kiến của các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, các cơ quan liên quan khẩn trương hoàn thiện Đề án và các dự thảo quy định, quyết định, ký ban hành để tổ chức thực hiện.
Cũng tại Hội nghị này, sau khi xem xét Tờ trình của Ban Tổ chức Trung ương, Bộ Chính trị đã quyết định một số trường hợp nhân sự thuộc thẩm quyền của Bộ Chính trị./.

NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG



Ngày 25-10, trao đổi với phóng viên Báo Hànộimới bên lề kỳ họp thứ tám, Quốc hội khóa XIV, các đại biểu Quốc hội cho biết, cử tri rất đồng tình, hoan nghênh sự quyết liệt trong công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước thời gian qua. Công tác này cần được tiếp tục thực hiện hiệu quả hơn nữa để củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.
Làm tốt công tác cán bộ để phòng, chống tham nhũng
Công tác phòng, chống tham nhũng trong năm 2019 đã có thêm những bước tiến mạnh mẽ, với nhiều chủ trương, giải pháp đột phá, đạt kết quả rõ rệt, không chỉ trong nước mà dư luận quốc tế cũng hoan nghênh. Tuy nhiên, đây là cuộc đấu tranh lâu dài, phức tạp, vì không phải đấu tranh với bên ngoài, với người khác, mà đấu tranh với chính chúng ta, trong từng con người chúng ta.
Để nâng cao hiệu quả phòng, chống tham nhũng, Quốc hội đã ban hành Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018. Năm 2019, Chính phủ ban hành Nghị định số 31/2019/NĐ-CP ngày 10-4-2019 quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức thi hành Luật Tố cáo; Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 22-4-2019 về việc tăng cường xử lý, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp trong giải quyết công việc. Hiện, Chính phủ đang khẩn trương hoàn thành nghị định quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập và xây dựng Đề án cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập.
Thời gian tới, bên cạnh việc đẩy mạnh các nhiệm vụ, giải pháp phòng, chống tham nhũng đã được Chính phủ nêu trong báo cáo gửi đại biểu Quốc hội tại kỳ họp thứ tám, Quốc hội khóa XIV, các cấp phải làm tốt công tác cán bộ và tổ chức cán bộ. Cơ quan chức năng cần đưa nội dung, tinh thần Quy định số 205-QĐ/TƯ ngày 23-9-2019 của Bộ Chính trị về việc “Kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền” vào các quy định cụ thể trong Luật Cán bộ, công chức; Luật Viên chức; Luật Kiểm toán nhà nước… 
Cần quyết liệt loại bỏ “tham nhũng vặt” 
Công tác phòng, chống tham nhũng thời gian qua đã đạt được những kết quả tích cực với sự vào cuộc quyết liệt của Đảng và Nhà nước. Những vụ việc tham nhũng đã được xử lý đến nơi đến chốn, phát hiện đến đâu xử lý đến đó. Qua công tác tiếp xúc cử tri, tôi nhận thấy, nhân dân rất đồng tình, hoan nghênh.
Tuy nhiên, cử tri còn nhiều băn khoăn về vấn đề thu hồi tài sản do tham nhũng mà có. Đồng thời tình trạng “tham nhũng vặt” vẫn tồn tại. Đây là vấn đề người dân rất quan tâm bởi “tham nhũng vặt” luôn hiện diện trong các lĩnh vực thực thi công vụ, khiến người dân, doanh nghiệp cảm thấy bất an. Mặc dù đã có sự vào cuộc của các cấp nhưng tình trạng này chưa thuyên giảm, có nguy cơ ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của Đảng và Nhà nước. Do đó, phải có những giải pháp quyết liệt nhằm loại bỏ triệt để “tham nhũng vặt” để củng cố lòng tin của nhân dân.

CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN CẦN HIỂU ĐÚNG VỀ NỢ CÔNG



Nền kinh tế Việt Nam đang phát triển nhanh, dự báo trong năm 2019 sẽ tăng trưởng vượt mức 6,8%, vào tốp 20 nền kinh tế thúc đẩy tăng trưởng GDP của toàn cầu. Thế nhưng, vẫn có những thông tin không khách quan, xuyên tạc, thổi phồng về nguy cơ nợ công của nền kinh tế Việt Nam. Chính vì vậy, cán bộ, đảng viên cần nhìn nhận đúng vấn đề, từ đó tuyên truyền cho quần chúng nhân dân, tránh nhận thức lệch lạc, sai trái.
Nợ công đang trong tầm kiểm soát
Nợ công của Việt Nam vẫn đang nằm trong tầm kiểm soát. Cụ thể, chiều 21-10, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ báo cáo Quốc hội về tình hình thực hiện ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2019, dự toán NSNN và phân bổ ngân sách Trung ương năm 2020. Theo đó, thu NSNN 9 tháng đạt 77,5% dự toán, mức cao nhất so với cùng kỳ một số năm gần đây và tăng 10,1% so với cùng kỳ năm 2018. Ước thực hiện thu cả năm 2019 vượt 3,3%, khoảng 46.000 tỷ đồng so với dự toán. Thu ngân sách Trung ương là năm thứ hai liên tiếp vượt dự toán. 
Về cân đối ngân sách, theo Bộ trưởng Bộ Tài chính, bội chi ngân sách năm 2019 khoảng 3,4% GDP. Nợ công là 56,1% GDP, nợ Chính phủ 49,2% GDP và nợ nước ngoài quốc gia là 48,5% GDP. Như vậy, với quy mô GDP năm 2019 khoảng 6,2 triệu tỷ đồng (266,5 tỷ USD) thì quy mô nợ công tương ứng 3,48 triệu tỷ đồng. 
Hiện nay trên thế giới, các nghiên cứu về bền vững nợ tuy không chỉ ra ngưỡng nợ nào là an toàn, áp dụng chung cho tất cả các nước nhưng có sự đồng thuận chung rằng, mức nợ công cao đến hơn 100% tổng sản phẩm nội địa (GDP) được coi là mức đáng báo động và tiềm ẩn nhiều rủi ro, mất khả năng trả nợ. Tuy nhiên, cũng có những nước nợ công rất cao, ví như Nhật Bản, mặc dù là nền kinh tế trong tốp đầu thế giới, dự trữ ngoại hối dồi dào, có hoạt động cho vay, cung cấp hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) lớn trên toàn cầu, thị trường vốn trong nước rất phát triển, nhưng mức nợ công cao nhất thế giới (hơn 179% GDP), nền kinh tế nước này tiềm ẩn rủi ro.
Bất kỳ nền kinh tế nào cũng có nhu cầu vay nợ để phát triển. Nền kinh tế càng phát triển thì nhu cầu vay nợ càng lớn. Theo báo cáo tháng 2-2019, Mỹ đang có số nợ kỷ lục là 22.021 tỷ USD, bội chi ngân sách trong năm tài khóa 2018 của Mỹ là 779 tỷ USD. Tuy nhiên, khả năng vay nợ được cũng chính là thể hiện sức hút và mức độ tín nhiệm của nền kinh tế. Với nền kinh tế đang tăng trưởng nhanh như Việt Nam thì nhu cầu vay nợ để bảo đảm các nhu cầu cân đối tài chính, có nguồn lực để thúc đẩy phát triển là vô cùng cần thiết. Tính bền vững của nợ công không chỉ phụ thuộc vào mức độ nợ của một quốc gia mà còn phụ thuộc vào khả năng tiếp tục vay nợ của quốc gia, trong đó mức tín nhiệm quốc gia đóng vai trò hết sức quan trọng để các nhà đầu tư có lòng tin đối với quốc gia vay nợ, tránh được khủng hoảng về tính thanh khoản.
Hệ số tín nhiệm quốc gia của Việt Nam tăng
Qua các đợt đánh giá bền vững nợ hàng năm, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) đều đánh giá cao việc triển khai hiệu quả cam kết củng cố tài khóa và biện pháp tái cơ cấu, kiểm soát chặt chẽ nợ công của Chính phủ Việt Nam. Các tổ chức này đánh giá, nợ công và nợ nước ngoài của Việt Nam hiện ở mức bền vững. Yếu tố này cũng góp phần quan trọng để các tổ chức xếp hạng quốc tế liên tục nâng hạng hệ số tín nhiệm quốc gia của Việt Nam trong thời gian gần đây.          
Cụ thể, ngày 5-4-2019, Tổ chức xếp hạng tín nhiệm Standard & Poor’s (S&P) nâng hệ số tín nhiệm quốc gia dài hạn của Việt Nam lên 1 bậc, từ mức BB- lên mức BB, triển vọng "Ổn định". Đây là lần đầu tiên tổ chức này cải thiện xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam kể từ tháng 12-2010. Theo nhận định của S&P, ổn định chính trị, tăng trưởng kinh tế vĩ mô vững chắc trong thời gian dài phản ánh cải thiện rõ rệt về nền tảng thể chế của Việt Nam. S&P dự báo triển vọng tăng trưởng của Việt Nam sẽ được duy trì trong thời gian tới, góp phần cải thiện hồ sơ tín dụng của nước ta. Triển vọng "Ổn định" thể hiện dự báo nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng nhanh, phản ánh môi trường hoạch định chính sách của nước ta dần được cải thiện. Theo đánh giá của hãng xếp hạng này, nhìn chung, các chỉ tiêu kinh tế đối ngoại của Việt Nam được đánh giá tích cực. Quy mô nợ nước ngoài của Việt Nam được cải thiện.
Với sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, công tác quản lý nợ công những năm gần đây đạt nhiều kết quả tích cực, đóng góp quan trọng vào việc hoàn thành toàn diện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, ổn định vĩ mô và tăng cường hệ số tín nhiệm quốc gia.
Việt Nam đã thực hiện tốt nhiệm vụ huy động vốn vay với chi phí thấp gắn liền với mức độ rủi ro hợp lý để bổ sung nguồn lực cho đầu tư phát triển kinh tế-xã hội, góp phần thúc đẩy phát triển thị trường vốn, thị trường trái phiếu trong nước. Việc kiểm soát hiệu quả, bảo đảm các chỉ tiêu về nợ nằm trong giới hạn cho phép; với chủ trương thực thi chính sách tài khóa thận trọng, tốc độ tăng quy mô nợ công đã giảm từ mức 18,1% giai đoạn 2011-2015 xuống còn 8,2%/năm trong giai đoạn 2016-2018; nợ công so với GDP giảm từ mức 63,7% vào năm 2016 xuống còn 56,1% hiện nay. 
Trên cơ sở dự báo tình hình thực hiện vay, trả nợ và các hạn mức nợ, Chính phủ cho rằng đến cuối năm 2019 dự kiến các chỉ tiêu nợ so với GDP duy trì trong các ngưỡng an toàn được Quốc hội cho phép và tiếp tục xu hướng giảm. Chính phủ dự báo đến cuối năm 2020 nợ công còn khoảng 54,3% GDP, nợ Chính phủ khoảng 48,5% GDP, nợ nước ngoài của quốc gia so với GDP khoảng 45,5%. Dự báo này được tính toán trên cơ sở dự kiến GDP theo giá hiện hành năm 2020 đạt 6.807 nghìn tỷ đồng. Nợ công năm tới dù tiếp tục giảm về tỷ lệ so với GDP nhưng xét về số tuyệt đối thì vẫn tăng do quy mô GDP của nền kinh tế Việt Nam tăng lên (quy mô GDP theo giá hiện hành năm 2018 là 5.535,3 nghìn tỷ đồng). 3 nguyên nhân khiến nợ công so với GDP tiếp tục giảm trong năm nay. Đầu tiên là tình hình cân đối NSNN diễn biến thuận lợi, qua đó giảm nhu cầu huy động vốn của Chính phủ để bù đắp bội chi cho đầu tư phát triển. Kế đó, các giải pháp quyết liệt nhằm đẩy mạnh tốc độ giải ngân trong những tháng cuối năm nếu được triển khai hiệu quả sẽ đưa tỷ lệ giải ngân nguồn vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài năm 2019 đạt khoảng 78,7% kế hoạch năm. Nguyên nhân thứ ba là dư nợ bảo lãnh Chính phủ tiếp tục giảm do Chính phủ siết chặt.
Theo ông Võ Hữu Hiển, Phó cục trưởng Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính), nhằm tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại nợ công, Bộ Tài chính đã giảm dần tỷ trọng nợ nước ngoài, tập trung huy động vốn trong nước với lãi suất hợp lý, phát hành trái phiếu Chính phủ (TPCP) kỳ hạn dài để giảm áp lực trả nợ trong ngắn hạn. Nhờ đó, thúc đẩy phát triển thị trường TPCP trong nước thông qua đa dạng hóa các sản phẩm và mở rộng cơ sở nhà đầu tư dài hạn, đồng thời siết chặt việc cấp bảo lãnh Chính phủ cho các khoản vay mới, hạn chế rủi ro nghĩa vụ nợ dự phòng cho NSNN. Cụ thể, cơ cấu nợ Chính phủ có chuyển biến khả quan theo hướng giảm dần sự phụ thuộc vào các khoản vay nước ngoài. Tỷ trọng dư nợ trong nước hiện nay chiếm khoảng 62% nợ Chính phủ (so với tỷ trọng 40% vào năm 2010). Từ đầu năm 2019 đến nay, kỳ hạn phát hành TPCP bình quân duy trì ở mức rất dài là 13,3 năm, tăng mạnh so với mức bình quân 4,8 năm trong giai đoạn 2011-2015. Lãi suất phát hành giảm đáng kể, góp phần giảm chi phí huy động vốn cho NSNN. Lãi suất phát hành TPCP trong nước giảm từ mức bình quân 12%/năm trong giai đoạn 2011-2015 xuống còn khoảng 4,95%/năm từ đầu năm 2019 đến nay. 
Bố trí đủ nguồn để trả nợ theo cam kết
Trong những năm vừa qua, Chính phủ luôn chủ động bố trí đủ nguồn trong dự toán cân đối ngân sách để trả nợ trong mức đã được Quốc hội phê duyệt, theo đúng cam kết với các nhà đầu tư, không để xảy ra tình trạng nợ quá hạn ảnh hưởng đến uy tín của Chính phủ và hình ảnh của Việt Nam trên thị trường tài chính quốc tế. Chỉ tiêu nghĩa vụ trả nợ so với thu NSNN được duy trì ở mức hợp lý. Đến cuối năm 2018 đạt khoảng 15,9%, thấp hơn ngưỡng an toàn được Quốc hội cho phép là 25%...
Trong bối cảnh cân đối ngân sách cho chi trả nợ còn nhiều khó khăn, đồng thời để phòng ngừa rủi ro thanh khoản cho danh mục nợ công, trong thời gian tới Bộ Tài chính cho biết, sẽ tiếp tục theo dõi diễn biến thị trường để triển khai các phương án mua lại, hoán đổi TPCP đáo hạn trong năm 2020 và năm 2021 tại các thời điểm trung-dài hạn. Việc quản lý nợ công và tái cơ cấu nợ công từ nay đến cuối giai đoạn 2020 và giai đoạn 5 năm tiếp theo cần được tiếp tục triển khai đồng bộ với việc thực hiện các mục tiêu, giải pháp cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh; trong đó, có cơ cấu lại NSNN, đầu tư công, khu vực doanh nghiệp nhà nước, hệ thống các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng (TCTD). Bộ Tài chính sẽ tiếp tục kiểm soát chặt chẽ các chỉ tiêu an toàn nợ công. Việc nghiên cứu, đề xuất các ngưỡng an toàn nợ công cho giai đoạn 5 năm tới sẽ được đánh giá hết sức thận trọng, không chỉ tập trung vào quy mô nợ so với GDP mà còn phải phù hợp khả năng chi trả nợ của NSNN, ưu tiên tạo thêm dư địa để bố trí nguồn lực ngân sách cho đầu tư phát triển.
Đối với vốn vay nước ngoài, Bộ Tài chính sẽ thực hiện đồng bộ các chủ trương, chính sách lớn trong việc huy động, quản lý và sử dụng vốn vay ODA, vay ưu đãi, tập trung cho chi đầu tư phát triển, không sử dụng cho chi thường xuyên. Đặc biệt, Bộ Tài chính sẽ kiểm soát chặt chẽ các khoản vay của cơ quan địa phương, hoạt động vay nợ nước ngoài của doanh nghiệp và TCTD theo hình thức tự vay, tự trả, đặc biệt là các khoản nợ ngắn hạn.
Như vậy, có thể khẳng định rằng, nợ công của Việt Nam vẫn đang được kiểm soát chặt chẽ. Do đó, các cán bộ, đảng viên cần nắm vững tình hình, tuyên truyền cho người thân, bạn bè và quần chúng. Để từ đó củng cố niềm tin về sự phát triển ngày càng bền vững của nền kinh tế nước ta, tránh bị tác động tiêu cực bởi các thông tin không khách quan, xuyên tạc sự thật nhằm mục đích xấu.

CẦN NHẬN THỨC THẤU ĐÁO VỀ KẾT HỢP PHÁT TRIỂN KINH TẾ VỚI CỦNG CỐ QUỐC PHÒNG, AN NINH



Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế-xã hội (KH-XH), với củng cố quốc phòng, an ninh (gọi tắt là kết hợp kinh tế với quốc phòng) là quan điểm, chủ trương của Đảng ta và đã triển khai thực hiện qua nhiều kỳ đại hội.
Quan điểm này xuất phát từ truyền thống dựng nước phải đi đôi với giữ nước của dân tộc Việt Nam đã hình thành từ hàng nghìn năm qua và được trao truyền từ thời đại này sang thời đại khác, từ thế hệ này qua thế hệ khác. Chính từ sự kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng đã giúp cho đất nước ta luôn ổn định về chính trị, giữ vững độc lập, chủ quyền, bảo đảm tốt trật tự an toàn xã hội, không ngừng mở rộng các quan hệ đối ngoại... Đó là cơ sở để đưa nước ta từ một nước lạc hậu, kém phát triển, trở thành một nước đang phát triển, với mức thu nhập trung bình như hiện nay.
Những năm gần đây, với sự nỗ lực của các cấp, các ngành, các địa phương, sự tham mưu đúng, trúng của các cơ quan, đơn vị thuộc LLVT, công tác kết hợp kinh tế với quốc phòng từ cấp vĩ mô đến vi mô đã thu được những kết quả rất đáng khích lệ. Qua tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc cho thấy: Việc kết hợp kinh tế với quốc phòng đã được nhiều bộ, ngành, địa phương chú trọng thực hiện. Ở các bộ, ngành đã nhận thức rõ công tác quốc phòng không phải là chỉ riêng LLVT tiến hành, nên đã có những đóng góp tích cực từ việc tham mưu với Đảng, Nhà nước hoạch định chính sách, đường lối, cho đến trực tiếp phối hợp với các cơ quan, đơn vị thuộc LLVT triển khai thực hiện các dự án, đề án về kết hợp kinh tế với quốc phòng trên khắp các vùng miền, biên giới, hải đảo. Do đó thế trận phòng thủ trên bộ, trên không, trên biển không ngừng được củng cố, góp phần giữ vững chủ quyền an ninh biên giới quốc gia, giữ vững không phận và chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.
Đối với các địa phương, nhận thức của đội ngũ cán bộ chủ trì cũng đã có những chuyển biến tích cực. Hệ thống văn bản lãnh đạo, chỉ đạo việc phát triển kinh tế gắn với củng cố quốc phòng, an ninh đã được ban hành có tính thường kỳ. Nhiều địa phương đã cố định một tỷ lệ ngân sách, bố trí diện tích tự nhiên để xây dựng các công trình quân sự, quốc phòng, xây dựng căn cứ chiến đấu trong khu vực phòng thủ. Tổng hợp tất cả các yếu tố lại chúng ta có thể thấy, hệ thống khu vực phòng thủ trên địa bàn cả nước đang dần được hình thành và có sự liên kết khá vững chắc cả trên bộ, trên không, trên biển; tiềm lực quân sự trong khu vực phòng thủ đang được tăng cường, có thể đáp ứng được yêu cầu tác chiến khi có chiến tranh xảy ra.
Tuy nhiên, nhìn vào thực tế cũng thấy nổi lên một số vấn đề, đó là vẫn còn một số người cho rằng hiện nay chỉ cần tập trung phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập là được, còn chiến tranh chưa xảy ra nên chưa cần đầu tư nhiều nguồn lực vào công tác quốc phòng. Nguyên nhân dẫn đến nhận thức sai lệch này là do hiểu không đúng về vai trò, mối quan hệ của kinh tế đối với quốc phòng, quốc phòng đối với kinh tế trong một quốc gia độc lập, thống nhất có chủ quyền. Do đó họ muốn tách rời quan hệ kinh tế với quan hệ quốc phòng, tách rời việc tạo tiềm lực kinh tế với tạo tiềm lực quốc phòng. Một phần nữa là do tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, cho rằng đã làm kinh tế thì chỉ quan tâm đến lợi nhuận, lợi ích cá nhân hoặc lợi ích cục bộ. Chính từ nhận thức trên đã dẫn đến những hiện tượng, hành vi có tác động xấu tới việc kết hợp kinh tế với quốc phòng trong thực tiễn, đó là:
Trước hết, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư phát triển KT-XH ở một số địa phương đã có những dấu hiệu chỉ quan tâm đến lợi ích trước mắt, lợi ích cục bộ của ngành mình, địa phương mình hoặc của một nhóm người; không chú trọng đến tính liên kết, đồng bộ trong phát triển của các lĩnh vực, vùng miền. Điều này một phần xuất phát từ cái gọi là “tư duy nhiệm kỳ” đang tồn tại trong một số cán bộ. Việc làm đó đã khiến nguồn lực đầu tư đổ dồn vào chỗ có thể sinh lợi, còn các nơi khác thì không, kể cả vùng trọng điểm về quốc phòng, an ninh. Hệ lụy của nó là tạo ra sự mất cân đối về nguồn lực giữa các vùng miền, nới rộng khoảng cách giàu nghèo, làm ảnh hưởng đến việc xây dựng thế trận quốc phòng, thế trận lòng dân. Việc ban hành văn bản nhằm vào lợi ích cục bộ là một hiện tượng rất đáng báo động, bởi đây cũng là gốc rễ sinh ra sự thiếu công bằng trong xã hội, là một phần nguyên nhân của hiện tượng khiếu nại, tố cáo vượt cấp, và điều nguy hại là nó sẽ gây ra những hệ lụy rất khó khắc phục trong thực tiễn.
Thứ hai là, hiện nay đang tồn tại hiện tượng cố tình làm sai các hướng dẫn, chỉ đạo của cơ quan chức năng và cơ quan cấp trên trong lĩnh vực kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh. Có những địa phương, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, mặc dù đã được cơ quan chức năng hướng dẫn kỹ càng, đầy đủ trước khi thực hiện các dự án, đề án, nhưng trong tổ chức thực hiện đã cố tình làm sai, làm trái. Vấn đề này thể hiện rất rõ trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, lĩnh vực khai thác du lịch, khoáng sản... Có khá nhiều công trình sai phép, trái phép về độ cao, về phạm vi, diện tích xây dựng, hoặc vị trí, quy mô xây dựng không đúng quy hoạch... Vì vậy, nhiều công trình khi xây dựng lên đã uy hiếp sự an toàn của mục tiêu cần bảo vệ (công trình số 8B phố Lê Trực, Ba Đình, Hà Nội là một điển hình và công trình này đang bị UBND TP Hà Nội yêu cầu tháo dỡ, bảo đảm đúng so với thiết kế và giấy phép xây dựng). Trong thực hiện, vì lợi ích kinh tế nên có những địa phương đã cấp phép cho các doanh nghiệp xây dựng và khai thác dịch vụ du lịch vào các vị trí quan trọng trong thế trận phòng thủ ở địa phương. Có những khu du lịch chiếm cứ toàn bộ một dải bờ biển, hoặc chiếm toàn bộ khu vực có thể tạo nên trận địa phòng ngự tại một điểm cao, sau đó xây dựng các công trình, phá vỡ địa hình tự nhiên, làm ảnh hưởng tới kế hoạch tác chiến phòng thủ của địa phương, trong đó khu lịch sinh thái biển Tiên Sa thuộc bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng có thể gọi là một ví dụ điển hình. Rất may là khu resort này đã bị cơ quan chức năng và chính quyền địa phương đình chỉ thi công. Trong cả nước còn có khá nhiều dự án xây dựng, khai thác khoáng sản trái phép, hoặc sai phép, xuất phát từ lợi ích của một nhóm người, nhưng lại làm phương hại đến lợi ích của cộng đồng và lợi ích quốc gia, làm ảnh hưởng tới khả năng cơ động lực lượng, làm sai lệch kết cấu của thế trận phòng thủ, không đúng quan điểm kết hợp kinh tế với quốc phòng của Đảng.
Thứ ba là, có hiện tượng cán bộ nhận thức lơ mơ cả về lý luận và thực tiễn đối với quan điểm kết hợp kinh tế với quốc phòng. Do đó khi thực hiện nhiệm vụ đã không thể làm tròn trách nhiệm, hoặc không biết mình làm sai. Nguyên nhân của hiện tượng này là do cán bộ không chịu học tập, nghiên cứu về chủ trương, đường lối của Đảng trong lĩnh vực kết hợp kinh tế với quốc phòng, nên không hiểu được căn nguyên, gốc rễ vấn đề, làm việc theo cảm tính, thiếu căn cứ lý luận và không phù hợp với thực tiễn. Một phần khác là do các thế lực thù địch lôi kéo, gây nhiễu loạn thông tin, khiến cho một số cán bộ không phân biệt được lợi và hại, chỉ nhìn một chiều, nên khi hoạch định chính sách, triển khai chính sách phát triển KT-XH, hoặc giám sát thực hiện... đều dễ mắc sai lầm, tiến hành các dự án, đề án theo kiểu đơn lẻ, thiển cận, thiếu sự quan sát, gắn kết có tính tổng quan giữa phát triển KT-XH với củng cố quốc phòng, an ninh.
Trong nhân dân thì còn một bộ phận thiếu hiểu biết về pháp luật, cộng với lòng tham nên thừa lúc công tác quản lý còn lỏng lẻo, đã cố ý lấn chiếm các khu vực quân sự, quốc phòng, biến đất quốc phòng thành đất của riêng mình. Vì vậy nhiều khu đất đã được quy hoạch thành khu vực xây dựng công trình quân sự, phục vụ sự nghiệp quốc phòng, nhưng một bộ phận người dân đã xâm phạm, canh tác hoặc xây dựng các công trình trong khu vực lấn chiếm. Khi Nhà nước thu hồi thì tỏ thái độ chống đối, chây ỳ, không chịu di dời trả lại mặt bằng cho Nhà nước, khiến cho việc giải phóng mặt bằng trở nên phức tạp. Bên cạnh đó đã xuất hiện một số đối tượng có kiến thức về luật pháp, nhưng lại vào hùa với cái sai hòng trục lợi nên đã hướng lái người dân “cố thủ” trên các khu vực đã lấn chiếm để đòi hỏi quyền lợi. Việc lấn chiếm đất quốc phòng ở khu vực sân bay Miếu Môn hiện nay là một ví dụ điển hình.
Khắc phục hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong lĩnh vực kết hợp kinh tế với quốc phòng là việc bắt buộc phải làm. Cần phải làm cho mọi cán bộ và nhân dân hiểu rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của việc kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, từ đó xác định rõ trách nhiệm, bổn phận của mình trong thực hiện chủ trương trên. Vì vậy, phải tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, nêu bật các điển hình tích cực, đồng thời cũng chỉ rõ các hành vi tiêu cực trong lĩnh vực này. Các cơ quan chức năng cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm cho hệ thống văn bản này luôn thống nhất với quan điểm, đường lối của Đảng, tạo cơ sở vững chắc và tính chặt chẽ trong hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ kết hợp kinh tế với quốc phòng. Các văn bản trước khi ban hành phải được rà soát, loại bỏ mọi kẽ hở có thể tạo ra lợi ích cục bộ cho một ngành, hoặc một nhóm người. Công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các dự án, đề án phát triển KT-XH cần được tiến hành nghiêm túc, liên tục, từ khâu xét duyệt cho đến lúc triển khai thực hiện và hoàn thành, tất cả các khâu, các bước phải luôn gắn kết với yếu tố bảo đảm quốc phòng, an ninh. Mọi hành vi sai trái, đi ngược lại quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước đều phải bị nghiêm trị theo đúng quy định của pháp luật.
Trên thế giới hiện nay, hầu hết các cường quốc về kinh tế thì đều là các cường quốc về quân sự, quốc phòng, điều đó chứng tỏ kinh tế và quốc phòng là hai thực thể không thể tách rời. Việc Đảng ta đề ra và kiên quyết, kiên trì với quan điểm kết hợp giữa phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh là phù hợp cả về mặt lý luận và thực tiễn khách quan. Kinh tế không phát triển thì không có nguồn lực cho quốc phòng vững mạnh, ngược lại quốc phòng không vững chắc thì không có chỗ dựa cho KT-XH phát triển. Cha ông chúng ta từ xa xưa đã dạy “Thái bình nên gắng sức/Non nước vững nghìn thu”, “giữ nước từ khi nước chưa nguy”... Ngày nay, Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”, “xây dựng phải đi đôi với bảo vệ”... Đó chính là những khái quát ở tầm mức cao về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong thời đại ngày nay mà cụ thể hóa nó chính là kết hợp kinh tế với quốc phòng. Do vậy, không có lý do gì để quan niệm phát triển kinh tế không gắn kết với quốc phòng, an ninh tồn tại trong tư duy, nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân Việt Nam.

Thứ Hai, 28 tháng 10, 2019

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN THÀNH QUẢ DÂN CHỦ VÀ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA VIỆT NAM



 Trong thời gian qua, trước những khó khăn về kinh tế-xã hội chưa được giải quyết và những diễn biến phức tạp trong khu vực… lợi dụng tình hình này, những kẻ cơ hội chính trị, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" đã xuyên tạc tình hình, hòng bôi nhọ Đảng Cộng sản Việt Nam, chế độ xã hội Việt Nam…

Họ viết và tán phát trên mạng rằng: "Đàn áp về nhân quyền ở Việt Nam ngày càng gia tăng"; "các quyền của người dân, trong đó có dân chủ, quyền lập hội, biểu tình… không được thực hiện, trái lại ngày càng bị bóp nghẹt...". Vậy dân chủ và quyền con người là gì? Những quyền này đã và đang được bảo đảm ở Việt Nam như thế nào?
Theo quan niệm chung, dân chủ là chế độ chính trị trong đó toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, do dân thực hiện trực tiếp hoặc thông qua đại diện của mình bầu ra... Đó là các cơ quan quyền lực và chính quyền các cấp.
Về hình thức, hoặc mô hình dân chủ gồm có các dạng-dân chủ trực tiếp, dân chủ gián tiếp. Một trong những đặc trưng nổi bật nhất của chế độ dân chủ là thiết lập và duy trì nguyên tắc “thiểu số phục tùng đa số”, đồng thời thừa nhận quyền tự do về chính trị và quyền bình đẳng về giới tính, về dân tộc, về vị thế chính trị-xã hội của mọi công dân. Trong đó gồm cả quyền được bảo lưu của cá nhân.
Có thể nói, các cuộc cách mạng dân chủ tư sản mở đầu từ thế kỷ 16, với các cuộc cách mạng điển hình như: Hà Lan năm 1581 (mở đầu); Anh năm 1689; Mỹ năm 1766; Pháp năm 1789 đã mở ra một nền dân chủ tư sản, trong đó bao gồm đầy đủ các nhân tố của dân chủ. Cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa (XHCN) Tháng Mười Nga năm 1917 đã mở ra một chế độ dân chủ mới. Đó là dân chủ XHCN, nền dân chủ do giai cấp công nhân lãnh đạo hướng đến lợi ích và sự bình đẳng cho mọi người. Sau Chiến tranh thế giới thứ II, do tác động của chủ nghĩa xã hội, phong trào giải phóng dân tộc ra đời, trong đó có Cách mạng Tháng Tám của Việt Nam. Chế độ dân chủ sau Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam là chế độ dân chủ nhân dân hướng theo con đường xây dựng xã hội XHCN. Có thể xem các nền dân chủ: Dân chủ tư sản, dân chủ XHCN, dân chủ nhân dân là 3 chế độ-3mô hình dân chủ trên thế giới. Mỗi một chế độ dân chủ nói trên đều có những thiết chế khác nhau, nhưng tựu trung đều có những yếu tố sau: 1) Sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của công dân (bao gồm tất cả các thành viên xã hội); 2) Bầu cử tự do và theo nhiệm kỳ bầu ra các cơ quan, người lãnh đạo nhà nước; 3) Quyền lực của nhà nước được chia ra làm 3 nhánh: Lập pháp, hành pháp và tư pháp. Mỗi cơ quan trên có một chức năng riêng; 4) Hiến pháp và pháp luật được xem là tối thượng; 5) Các quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân được tôn trọng và bảo đảm.
Thực tế cho thấy, chế độ dân chủ trên thế giới có nhiều mô hình. Chế độ dân chủ ở Hoa Kỳ có đặc trưng là luôn có hai đảng chính trị thay nhau lãnh đạo cầm quyền; công dân, trong các cuộc bầu cử bị chia thành hai loại “đại cử tri” và cử tri thường. Đặc trưng nền dân chủ của Việt Nam là tất cả mọi người đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ; chế độ dân chủ của Việt Nam dựa trên hệ thống chính trị các cấp-đó là chế độ sinh hoạt của Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp; là tiếng nói của Mặt trận Tổ quốc và của các đoàn thể xã hội luôn luôn được tôn trọng. Ở đây tiếng nói, nguyện vọng của người dân được bảo đảm thông qua các đại diện của mình.
Một trong những đặc trưng của nền dân chủ ở Việt Nam là chế độ dân chủ do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và cầm quyền. Tuy nhiên, vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam phải tuân thủ nguyên tắc: “1. Đảng Cộng sản Việt Nam-đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội; 2. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình; 3. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật". (Điều 4, Hiến pháp 2013).
Ngay từ khi cách mạng thành công (tháng 8-1945) cho đến thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm đến dân chủ ở cấp cơ sở. Còn nhớ, sau sự kiện nông dân ở tỉnh Thái Bình tụ tập đông người đi khiếu kiện gây ách tắc giao thông (năm 1997); một số nơi, nông dân còn tấn công, đập phá trụ sở cơ quan công quyền. Sau khi khảo sát, nghiên cứu, khi ấy, Tổng Bí thư Đỗ Mười cho rằng: Tình trạng gây mất trật tự nói trên bắt nguồn từ sự vi phạm quyền dân chủ của người dân. Theo đó. Tổng Bí thư Đỗ Mười chỉ đạo ban hành Chỉ thị số 30 về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Nội dung quy chế dân chủ ở cơ sở gồm: Bảo đảm để mọi người dân ở cơ sở được thông tin về pháp luật, các chủ trương, chính sách của Nhà nước…; có quy chế và các hình thức để nhân dân, cán bộ, công chức ở cơ sở được bàn bạc và tham gia ý kiến vào các chủ trương, chính sách, nhiệm vụ công tác chuyên môn, công tác cán bộ... của chính quyền, cơ quan, đơn vị;  có quy định về việc để nhân dân bàn và quyết định dân chủ đối với những loại việc liên quan trực tiếp đến đời sống của nhân dân trên địa bàn; cơ chế để nhân dân, công nhân, cán bộ, công chức ở cơ sở trực tiếp và thông qua, gồm: Mặt trận, các đoàn thể, ban thanh tra nhân dân kiểm tra, giám sát hoạt động của chính quyền, thủ trưởng cơ quan,…
Sau Chỉ thị 30, Chính phủ đã luật hóa bằng nghị định của Chính phủ. Dựa trên chỉ thị và nghị định về dân chủ, Nhà nước Việt Nam đã ban hành hàng trăm văn bản nhằm bảo đảm quyền dân chủ của người dân ở cơ sở, bao gồm cả quyền dân chủ của cán bộ, công chức, của cán bộ, nhân viên ở các doanh nghiệp… Cho đến nay, chế độ dân chủ ở Việt Nam đã và đang được thực hiện nghiêm túc ở các cấp, từ cơ sở xã phường, cơ quan, cho đến Quốc hội. Tất cả những vấn đề từ đời sống thường nhật cho đến vấn đề độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ đều được người dân quan tâm và có quyền tham gia. Chẳng hạn, hiện nay vấn đề nguồn nước sạch, thực phẩm an toàn, bảo vệ quyền trẻ em... từng là những chủ đề “nóng” trên diễn đàn Quốc hội. Gần đây, vấn đề Biển Đông là chủ đề được Quốc hội Việt Nam đặc biệt quan tâm.
Ngày nay, nói đến chế độ dân chủ và quyền con người (QCN) thì không thể không nói đến quyền sử dụng internet và mạng xã hội. Việt Nam chính thức nối mạng internet từ năm 1997. Từ năm 2010, đường truyền internet ở Việt Nam được chuyển từ dây cáp đồng sang cáp quang. Tính đến năm 2017, Việt Nam đã có 64 triệu người dùng internet, chiếm 67% dân số cả nước. Với con số này, Việt Nam là quốc gia có lượng người dùng internet cao thứ 12 trên toàn thế giới và đứng thứ 6 trong tổng số 35 quốc gia/vùng lãnh thổ khu vực châu Á.
Theo thống kê chưa đầy đủ, cho đến nay, Việt Nam đã có 858 cơ quan báo chí in; 105 cơ quan báo điện tử; 207 trang thông tin điện tử tổng hợp của các cơ quan báo chí; 66 đài phát thanh, truyền hình. Hiện nay, không chỉ người dân Việt Nam mà cư dân nước ngoài sinh sống, làm việc ở Việt Nam có đầy đủ thông tin từ những hãng thông tấn báo chí lớn. Hiện ở Việt Nam có tới 75 kênh truyền hình nước ngoài “online”, trong đó có các kênh nổi tiếng, như: CNN, BBC, TV5, NHK, DW, Australia Network, KBS, Bloomberg... Hiện có tới 20 cơ quan báo chí nước ngoài có phóng viên thường trú tại Việt Nam, nhiều báo, tạp chí in bằng nhiều thứ tiếng nước ngoài được phát hành rộng rãi. Qua internet, người dân Việt Nam có thể tiếp cận thông tin từ các cơ quan thông tấn, báo chí lớn trên thế giới, như: AFP, AP, BBC, VOA, Reuters, Kyodo, Economist, Financial Times,...
Trước mỗi kỳ họp Quốc hội, các đại biểu đều có chương trình tiếp xúc cử tri. Những cuộc tiếp xúc cử tri được các đài phát thanh, truyền hình đăng tải rộng rãi. Nội dung các cuộc tiếp xúc cử tri ngày nay không chỉ là những vấn đề sinh kế, điều kiện sinh hoạt của người dân, tham gia vào các dự thảo luật, mà cử tri còn đặc biệt quan tâm đến những vấn đề lớn của đất nước, các chủ trương trong chính sách đối ngoại... 
QCN là các nhu cầu về vật chất và tinh thần-từ nhu cầu về dân sự, chính trị, đến kinh tế-xã hội và văn hóa được luật hóa và được Nhà nước tôn trọng, bảo vệ. Xét về lịch sử, QCN chỉ đến với dân tộc Việt Nam khi Cách mạng Tháng Tám thành công. Các Hiến pháp Việt Nam từ Hiến pháp 1946 đến Hiến pháp 2013 đã quy định về QCN. Nội dung những quy định này hoàn toàn tương thích với luật quốc tế về QCN. Hiến pháp 2013 đã dành cả một chương để quy định về QCN. Trong đó, Điều 14 quy định: “Ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, các QCN, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật; QCN, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”.
Kiểm soát quyền lực của nhân dân không chỉ là nguyên tắc của chế độ ở Việt Nam mà còn là động lực của sự phát triển. Trong xã hội ở Việt Nam ngày nay, nguyên thủ cũng có trách nhiệm trả lời những vấn đề người dân quan tâm. Trong buổi tiếp xúc với cử tri quận Ba Đình, Hà Nội sáng 15-10, trả lời ý kiến của cử tri quan tâm về vấn đề chủ quyền biển đảo ở Biển Đông, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nói: "Chúng ta phải giữ vững môi trường hòa bình để phát triển đất nước, nhưng không nhân nhượng vấn đề lãnh thổ, độc lập, chủ quyền”.
Những ý kiến xuyên tạc, phủ nhận thành tựu về dân chủ và QCN có nhiều nguyên nhân, trong đó có những nhận thức không đầy đủ về dân chủ và QCN… Ở nhiều quốc gia phương Tây, dân chủ thường gắn với các hoạt động chống chính phủ của các tổ chức phi chính phủ (NGOs)… Đó là các cuộc tụ tập đông người, phá hủy các công trình công cộng, xúc phạm cá nhân, quan chức từ cấp thấp cho đến tổng thống. Quyền tự do báo chí cũng có nội dung tương tự… Trách nhiệm của người đưa tin, của cơ quan quản lý báo chí thường rất nhẹ. Vì vậy dùng tiêu chí dân chủ, nhân quyền của phương Tây để xem xét, đánh giá chế độ dân chủ và QCN của Việt Nam là một sai lầm về chính trị và thiếu sót về phương pháp luận.
Không phủ nhận rằng trong quá trình quản lý xã hội, Việt Nam còn có những khiếm khuyết, trong đó có việc bảo đảm quyền dân chủ của người dân. Ở địa phương này, địa phương khác vẫn còn có hiện tượng lợi ích của người dân chưa được tôn trọng, bảo đảm, nhất là trong vấn đề đất đai. Đây là vấn đề lớn mà các cấp ủy và chính quyền cần đặc biệt quan tâm.
Tuy nhiên, cần nhận thức đúng, về mặt nguyên tắc, nền dân chủ của Việt Nam là một nền dân chủ có kỷ cương, có tổ chức, có hệ thống. Trong xã hội Việt Nam, bảo đảm quyền dân chủ, nhưng phải bảo đảm đúng pháp luật và giữ vững sự ổn định xã hội. Bảo đảm dân chủ và QCN vừa là quyền, vừa là mục tiêu hướng đến của chế độ… vì vậy mỗi chúng ta cần nỗ lực hơn nữa để bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền dân chủ và QCN theo đúng quy định của Hiến pháp và pháp luật.
Theo TS CAO ĐỨC THÁI (Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quyền con người, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh)


KHÔNG NÊN CỔ SÚY CHO TRÀO LƯU SAI TRÁI



Giữ vững nền độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ là mục đích tối cao, xuyên suốt trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Để hoàn thành mục đích đó, có rất nhiều chiến lược, sách lược, song bất kể trong hoàn cảnh nào cũng không bao giờ được thực hiện liên minh với nước này để chống nước kia như các thế lực phản động, thù địch đã và đang ra sức kêu gào, cổ súy.

Liên minh quân sự với Mỹ hay Trung Quốc đều không phải là thượng sách trong một thế giới đầy biến động như hiện nay. Bởi hiện nay, với sự nổi lên mạnh mẽ của trào lưu dân túy, các nước đều đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc mình lên trên hết, lên trước hết. Winston Churchill (cựu Thủ tướng Anh) từng tuyên bố: “Trên thế giới này không có đồng minh vĩnh viễn hay kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia mới là vĩnh viễn”. Câu nói đó thật chính xác trong hoàn cảnh hiện nay.
Dựa vào Mỹ để chống lại Trung Quốc hay ngả theo Trung Quốc để đối địch với Mỹ đều là sai lầm rất tai hại, ảnh hưởng nghiêm trọng đến độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Bởi, một khi chiến tranh xảy ra thì đều để lại những di chứng không thể khắc phục một sớm một chiều đối với cả kẻ thắng lẫn người thua. Đó là sự hy sinh, mất mát về con người, thiệt hại to lớn về kinh tế và bất ổn xã hội. Về điều này, Việt Nam hiểu rõ hơn ai hết. Mặt khác, ngày nay khi chiến tranh xảy ra, không có bất kỳ quốc gia nào lại liều lĩnh, dại dột ra mặt giúp nước này chống lại nước kia. Thực tế của Philippines là bài học xương máu, cảnh tỉnh cho chúng ta. Philippines là đồng minh thân cận, lâu năm của Hoa Kỳ, song Hoa Kỳ đã “ngoảnh mặt làm ngơ” khi Trung Quốc dùng vũ lực chiếm bãi cạn Scarborough vào năm 2012. Chính Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte, ngày 6-7-2019 đã phát biểu: “Các người (Mỹ) hãy mang chiến đấu cơ, chiến hạm đến biển Đông. Nổ phát súng đầu tiên và chúng tôi sẽ theo sau. Cứ làm đi, hãy chiến đấu cùng nhau... Chúng ta có hiệp ước phòng thủ chung kia mà. Vì thế, hãy sử dụng nó đi. Các người muốn rắc rối à? Được thôi, hãy chiến đấu cùng nhau”, đồng thời chỉ trích Mỹ về điều mà ông gọi là “lúc nào cũng thúc đẩy Philippines... biến tôi thành mồi nhử”. Vì vậy, chỉ có dựa vào chính mình mới là thượng sách giữ nước đúng đắn nhất hiện nay.
Chính sách đối ngoại của chúng ta hiện nay là đúng đắn, sáng tạo, linh hoạt, đã và đang phát huy hiệu quả trong thực tế. Đảng, Nhà nước ta luôn luôn thực hiện quan điểm, đường lối đối ngoại: Không để xảy ra xung đột, đụng độ; không tham gia bất cứ liên minh quân sự nào; không đi với nước này để chống nước kia; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế, xã hội đất nước là mục đích tối cao. Chính sách đó đã nhận được sự ủng hộ của các quốc gia và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Không phải ngẫu nhiên mà hiện nay chúng ta lại có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện và đối tác chiến lược với cả 5 nước Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Cũng không phải là sự ngẫu nhiên mà chúng ta vẫn giữ vững được nền hòa bình, độc lập, toàn vẹn lãnh thổ trong khi nhiều quốc gia khác đã và đang bị xâm phạm, trở thành thuộc địa thế hệ mới như Iraq, Afghanistan hay Lybia... Chỉ có thể kết luận rằng, chúng ta có được những thành quả to lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay chính là nhờ thực thi chính sách đối ngoại khôn khéo, không dựa vào nước này để chống lại nước kia.
Việt Nam là quốc gia đất không rộng, người không đông, quy mô nền kinh tế nhỏ. Thử tưởng tượng nếu chúng ta liên minh với “những gã khổng lồ” là Mỹ (GDP năm 2018 xấp xỉ 19.000 tỷ USD) hay Trung Quốc (GDP năm 2018 gần 15.000 tỷ USD) thì chúng ta có đủ lực về kinh tế để có thể chơi một cách sòng phẳng với họ hay không? Tổng thống Mỹ Donald Trump luôn luôn đòi hỏi các đồng minh phải có trách nhiệm, làm tròn nghĩa vụ tài chính trong các hoạt động chung với Mỹ. Nếu không sòng phẳng được, thì sớm hay muộn cũng bị họ coi thường hoặc phải chấp nhận để họ tài trợ, mở hầu bao, lúc đó không còn là đồng minh nữa, mà trở thành 1 chư hầu không hơn không kém. Vậy thì, độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ có giữ được không? Đã là đồng minh thì phải cho họ đặt căn cứ quân sự, cho họ bố trí binh lính, vũ khí trang bị trên lãnh thổ của mình. Tức là, mọi hoạt động của chúng ta luôn luôn bị giám sát 24/24 giờ. Điều này cũng tương tự như trong nhà của chúng ta đang chứa chấp tên giang hồ bặm trợn mà trong tay lúc nào cũng lăm lăm đao, kiếm, súng ống, không biết họ sẽ giết mình lúc nào.
Những hoạt động gần đây của Mỹ trên biển Đông như cử tàu quân sự tuần tra trong hải phận quốc tế, hay lên án, chỉ trích Trung Quốc âm mưu độc chiếm biển Đông... lại chính là động cơ mạnh mẽ thúc đẩy Trung Quốc có cớ để quân sự hóa biển Đông. Chúng ta không phản đối những hành động phù hợp luật pháp quốc tế của Mỹ trên biển Đông, song không vì thế mà tỏ thái độ tung hô quá mức Mỹ. Làm như vậy chỉ có hại chứ không có lợi cho việc duy trì hòa bình, ổn định lâu dài trên biển Đông.
Tóm lại, trong một thế giới đầy biến động, diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường hiện nay, để giữ vững nền độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc thì phải thực hiện đúng và đầy đủ “3 không”: không liên minh quân sự với nước ngoài, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự tại Việt Nam, không liên minh với nước này để chống nước khác. Chỉ có dựa vào chính mình, phân biệt rõ đối tượng, đối tác mới là cách tốt nhất, hiệu quả nhất mà thôi.

LUẬN THUYẾT MỊ DÂN



Hiện nay, phụ họa cho trào lưu đòi xét lại lịch sử vô cùng nguy hiểm của các thế lực phản động, thù địch, đã và đang xuất hiện nhiều luận thuyết nhằm giải thích, bào chữa cho cuộc chiến tranh phi nghĩa xâm lược Việt Nam trước đây của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trong đó đáng chú ý hơn cả là nhận định “Việt Nam đánh Pháp, đuổi Mỹ thực chất là đánh đuổi các nền văn minh nhân loại”.

Luận điệu này xuất phát từ những tên phản động đội lốt “nhà báo, nhà trí thức cấp tiến, tiến bộ”, những kẻ cơ hội lưu manh chính trị như Trương Huy San, Dương Hoài Linh và được bọn “ba que xỏ lá”, cùng các thế lực thù địch trong, ngoài nước và các nhà “ngụy sử” sử dụng để mị dân. Hơn nữa, chúng coi đó như một tấm bùa hộ mệnh, lời bào chữa để bảo vệ, thanh minh cho những hành động hèn nhát, bán nước hại dân của chế độ phong kiến thối nát cuối đời nhà Nguyễn, chính quyền bù nhìn Sài Gòn trước đây. Đó là luận điệu của những kẻ vong ơn bội nghĩa, “ăn cây táo, rào cây sung”, một kiểu tư duy nô lệ.
Văn minh nhân loại là thành quả lao động sáng tạo chung của loài người, chứ không phải riêng có của chủ nghĩa tư bản, không phải được hình thành trong thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa. Tư bản xuất hiện là theo quy luật phát triển tất yếu khách quan của lịch sử, là chất xúc tác, là điểm mốc để đánh dấu một bước phát triển của hình thái kinh tế, xã hội và đó hoàn toàn không phải thành tựu tự thân của tư bản. Trước khi chủ nghĩa tư bản xuất hiện hàng ngàn năm, dưới chế độ cộng sản nguyên thủy hay thời kỳ phong kiến, thế giới đã chứng kiến sự phát triển rực rỡ của các nền văn minh như văn minh sông Hằng, văn minh sông Hồng (châu Á), hay văn minh Maya (châu Mỹ).
Vì vậy, có thể nói Việt Nam từ xa xưa cũng đã là một nền văn minh của nhân loại. Việc chúng ta đánh đuổi thực dân Pháp hay đế quốc Mỹ, thực chất là đánh đuổi sự dã man, tàn bạo và tư tưởng áp bức, bóc lột, muốn nô lệ dân tộc khác mà thôi. Đó là hành động chính nghĩa để giành độc lập cho Tổ quốc và ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân...Do đó, nói Việt Nam đánh Pháp, đuổi Mỹ thực chất là đánh đuổi nền văn minh nhân loại là cách nói “tát bùn sang ao”, “cả vú lấp miệng em” hòng đánh lừa một bộ phận nhân dân nhẹ dạ cả tin và thiếu hiểu biết.
Với xu thế “lợi ích quốc gia, dân tộc là trên hết” thì sẽ chẳng ai lại dại dột từ chối, bỏ đi những mối lợi mà người khác đem lại cho mình, đó là bản chất của con người và nhân dân Việt Nam cũng không ngoại lệ. Nhưng, thực chất thì tất cả những gì thực dân Pháp hay đế quốc Mỹ trước đây đem đến cho chúng ta có hoàn toàn là những giá trị văn minh không? Thực chất hành động đó có phải đi khai sáng văn minh cho dân tộc ta như những gì chúng từng rêu rao không? Câu trả lời chắc chắn là không!
Trước hết, hãy nói về hành động đem quân xâm lược, nô dịch một đất nước có chủ quyền của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ như vậy đã là văn minh chưa, có xứng đáng là những nền văn minh của nhân loại? Rồi khi những “nền văn minh nhân loại” đó vào Việt Nam, sự thực như thế nào thì không chỉ người Việt Nam, mà cả bạn bè yêu chuộng hòa bình trên thế giới đều thuộc nằm lòng, rằng: Từ năm 1858 đến trước khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nhân dân ta lúc đó đã được hưởng những thành tựu văn minh gì, ngoài làm một kiếp ngựa trâu không hơn không kém, là trên 90% nhân dân mù chữ, tài nguyên thiên nhiên của đất nước bị vơ vét để làm giàu cho nước Pháp. Thậm chí, bọn chúng còn đang tâm bắt nhân dân ta phải nhổ lúa trồng đay để lấy nguyên liệu may quần áo phục vụ chiến tranh phát xít, bỏ mặc hơn 2 triệu đồng bào phải phơi xác nơi đầu đường, xó chợ vì đói, rét. Và hình tượng cùng cực đến mức không thể khổ hơn của các nhân vật chị Dậu, Chí Phèo, lão Hạc mà các nhà văn đương thời đã nói lên tất cả giá trị “văn minh” đó.
Rồi thì bom đạn, chất độc da cam, bom napal, những “khu trù mật”, “ấp chiến lược”, những đợt bố ráp, hành quân càn quét “tìm, diệt” của bọn Mỹ, ngụy tay sai; là lối sống thực dụng, hưởng thụ, rượu chè, bài bạc, đĩ điếm, hút chích; là vợ mất chồng, con mất cha, gia đình ly tán do chiến tranh, bom rơi đạn lạc. Những giá trị “văn minh” đó to lớn đến nỗi, đất nước đã được giải phóng gần 45 năm rồi, song cả dân tộc vẫn chưa khắc phục hết những mất mát, đau thương đó. Những công trình cầu cống, đường sắt, nhà ga xe lửa, công trình xây dựng mà thực dân Pháp và đế quốc Mỹ dựng lên ở Việt Nam trước đây cũng không phải vì mục đích tốt đẹp “khai sáng văn minh” cho chúng ta, mà chính là để phục vụ việc tận thu tư bản được thuận tiện, nhanh chóng, là để phục vụ các cuộc chơi thâu đêm suốt sáng của bọn tướng tá, binh lính sau những ngày đánh trận mà thôi.
Thực tế, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, sau những thất bại liên tiếp, không thể cứu vãn tại Việt Nam đã phải cút khỏi nước ta một cách nhục nhã, mất danh dự. Nhưng, với truyền thống yêu chuộng hòa bình, “đánh kẻ chạy đi chứ không đánh người chạy lại”, nhân dân Việt Nam sẵn sàng khép lại quá khứ, vượt qua bất đồng, hướng tới tương lai để hợp tác với Pháp và Mỹ, vì lợi ích của chính nhân dân mỗi nước. Song, chúng ta không bao giờ quên được tội ác tày trời mà thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã gây ra cho chúng ta trước đây. Đó là những bài học lịch sử được viết bằng máu, là lời cảnh tỉnh để chúng ta không một phút giây nào được lơ là, xao nhãng, mất cảnh giác mà quên đi lời dạy của Lênin “còn chủ nghĩa đế quốc là còn nguy cơ chiến tranh”. Thanh minh, bào chữa cho những tội ác của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã gây ra với đồng bào ta trước đây chính là hành động ngậm máu phun người, vong ân bội nghĩa, đánh đồng sự hy sinh xương máu của bao anh hùng liệt sĩ với hành động xâm lược phi nghĩa, vô nhân đạo của bọn cướp nước và tay sai bán nước hèn nhát. Lên án Việt Nam đánh đuổi những “nền văn minh nhân loại” chính là đang rêu rao, tuyên truyền, cổ xúy cho trào lưu phụ thuộc, bán mình cho ngoại bang mà thôi.
Nếu đã là những “nền văn minh nhân loại”, vậy tại sao bọn thù địch, phản động, hại nước hại dân không qua những xứ đó để dệt ước mơ, để thỏa chí tang bồng mà lại luôn quanh quẩn ở Việt Nam chống phá, chửi bới? Đất nước này, dân tộc này không bao giờ chấp nhận những kẻ phản phúc, vô ơn như thế!

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...