Thứ Sáu, 18 tháng 10, 2019

NHẬN DIỆN THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG THƯ NGỎ, GÓP Ý ĐẠI HỘI XIII ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC


                                                                                          [1]

Đảng Cộng sản Việt Nam đang tiến hành các bước chuẩn bị cho đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội lần thứ XIII. Lợi dụng thời điểm diễn ra sự kiện quan trọng này, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, chống phá dưới nhiều hình thức, như “gửi thư”, “trao đổi”, “góp ý cho Đại hội XIII”…
Họ cho rằng, Đại hội XIII là thời cơ để đổi mới chính trị theo hình thức đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, xây dựng nhà nước dựa trên nền tảng “xã hội dân sự”. Thực chất, ẩn khuất đằng sau những góp ý này là ý đồ xóa bỏ, lật đổ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Hình thức “gửi thư”, “trao đổi”, “góp ý cho Đại hội XIII” như trên đã trở thành hoạt động mang tính “truyền thống” mỗi kỳ Đại hội Đảng. Nếu thiếu nhận thức chính trị, chỉ nhìn qua những bản góp ý, trao đổi được chuẩn bị khá dày dặn này (có bản dài đến 50 trang) có thể sẽ khiến nhầm lẫn đó là “sự góp ý tâm huyết”. Song kỳ thực, vấn đề đã trở nên cũ rích từ nhiều kỳ đại hội trước được diễn đạt lại với giọng điệu mới tinh vi, được che đậy bởi nghệ thuật sử dụng ngôn từ trau chuốt mà “hoa ngôn xảo ngữ”.
Họ trình bày nhiều vấn đề, nhất là những vụ việc gây rối mang màu sắc chính trị nơi này, nơi khác, một số người mệnh danh là “dân chủ” được thể bới lại và tung hô lên “vấn đề đa đảng” hòng đánh lừa hoặc lôi kéo những người nhẹ dạ, cả tin theo ý đồ chính trị của họ.
Điển hình trên các trang mạng, blog hải ngoại, mạng xã hội đăng tải bản “Góp ý cho Đại hội XIII”, tác giả sau trình bày những nội dung như “Đánh giá về tình hình mới”, quy kết Đảng “giác ngộ yếu kém yếu tố dân tộc, dân chủ đã tạo ra nỗi đau về hòa hợp dân tộc”, dẫn đến “Sự thất bại nghiêm trọng 43 năm xây dựng CNXH của Đảng Cộng sản Việt Nam trong phát huy sức mạnh quốc gia”… đã giả bộ “khẩn thiết kiến nghị” rằng: Chừng nào ở Việt Nam chỉ có độc tài, độc nhất một đảng lãnh đạo thì chừng đó không thể nói tới một nền dân chủ chân chính được; ở Việt Nam muốn phát triển, muốn có dân chủ thực sự thì phải hội nhập vào xu thế đa đảng, “xã hội dân sự” như nước ngoài.
Nhiều phần tử cơ hội chính trị “theo đóm ăn tàn”, “tát nước theo mưa” bôi nhọ Đảng, phủ nhận vị trí, vai trò cầm quyền qua cái gọi là “góp ý”, “trao đổi”. Hay trong bài “Trao đổi về Đại hội XIII, Đảng Cộng sản Việt Nam”, có vị giáo sư già phản Đảng xuyên tạc rằng “Chủ nghĩa Mác - Lênin như một cái mành che mắt, vì sự kiên trì Mác - Lênin như một cái chụp lên đầu, trong chế độ độc đảng toàn trị Việt Nam thì làm gì có dân chủ, do đó không cần đảng lãnh đạo”...
Các luận điệu dưới mác góp ý trên, kỳ thực là mưu toan xóa bỏ vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được quy định trong Điều 4, Hiến pháp 2013.
Nói cho cùng, bản chất của đảng chính trị chính là bản chất giai cấp. Trong xã hội có giai cấp, thậm chí nhiều giai cấp, sự xuất hiện của một đảng hay nhiều đảng chính trị cũng là lẽ bình thường. Dù dưới màu sắc chính trị hay xã hội, dân tộc hoặc tôn giáo, tên gọi có khác nhau, nhưng đảng thực chất là đảng chính trị, đảng nào cũng đều hướng tới việc cầm quyền, trong việc giành, giữ, thực thi quyền lực nhà nước.
Tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể, tương quan lực lượng giữa các giai cấp, các bộ phận trong một giai cấp, mỗi nước có thể có một đảng hoặc nhiều đảng. Trong thực tiễn, có thể là một đảng lãnh đạo, hoặc nhiều đảng tranh giành quyền lãnh đạo xã hội theo chế độ nghị trường. Không có một đảng lãnh đạo hoặc không lập được liên minh lãnh đạo giữa các đảng thì tất yếu đất nước sẽ rơi vào tình trạng vô chính phủ và hỗn loạn.      
Dân chủ, dưới sự lãnh đạo của đảng chính trị là dành cho số đông hoặc dành cho thiểu số. Lịch sử các hình thái dân chủ không nằm ngoài điều đó. Dưới chủ nghĩa tư bản, dân chủ nằm trong tay giai cấp tư sản, được tổ chức thành nhà nước tư sản và nhà nước đó bảo đảm quyền dân chủ cho một số ít người là giai cấp tư sản nhằm chống lại đông đảo những người lao động. Ở đó, dân chủ chân chính là thứ bị giai cấp tư sản lợi dụng, bị biến thành thứ dân chủ nửa vời, không triệt để ở mọi cấp độ và tính chất, chỉ trong tay bộ phận thiểu số là giai cấp tư sản chứ không phải quảng đại quần chúng nhân dân lao động.
Họ nói, dân chủ là phải đa đảng. Nhưng thực tế lại không như vậy. Chẳng hạn, ở một số nước tư bản như Hoa Kỳ - được mệnh danh là “thiên đường tự do”, trong suốt hàng trăm năm qua kể từ khi ra đời, trong bối cảnh nhiều đảng, nhưng thực chất chỉ có hai đảng lớn nhất của giai cấp tư sản thay nhau cầm quyền. Tuy là hai đảng nhưng khó ai có thể tìm thấy sự khác nhau về bản chất, về lập trường giai cấp và hệ tư tưởng giữa hai đảng đó, và nếu có khác nhau thì chỉ ở tên gọi và một số chính sách nhất định mà thôi.
Bên cạnh đó, Đảng Cộng sản với lịch sử hơn 100 năm, người đại diện và đấu tranh không mệt mỏi vì quyền lợi của hàng triệu công nhân và những lý tưởng cao đẹp, có thời kỳ bị loại ra ngoài vòng pháp luật, các đảng viên của đảng luôn bị đe dọa, bị khủng bố; luật pháp “khoanh tròn” hoạt động của Đảng Cộng sản trong không gian chính trị nhỏ bé và ngột ngạt nên chẳng có cơ may phát triển, còn nói gì đến cái gọi là dân chủ trong việc đấu tranh giành vị trí cầm quyền?
Trong XHCN, dân chủ là quyền làm chủ đất nước, xã hội và làm chủ bản thân mình một cách toàn vẹn. Nhà nước thuộc về nhân dân, do nhân dân bầu ra một cách dân chủ, công khai và vì lợi ích của nhân dân. Quyền lực của nhà nước thuộc về nhân dân lao động và được quyết định bởi chính nhân dân. Nói cách khác, Nhà nước pháp quyền XHCN là công cụ trong tay nhân dân, để nhân dân thực hiện quyền làm chủ một cách toàn diện và tự do, nhằm bảo vệ quyền làm chủ của chính mình và độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, tôn trọng độc lập, chủ quyền của dân tộc khác.
Mặt khác, thể chế chính trị, Nhà nước pháp quyền đó cũng chống lại tất cả những gì xâm phạm tới và làm tổn hại tới quyền dân chủ của nhân dân lao động. Do đó, dân chủ XHCN vừa là mục tiêu cao cả, vừa là động lực căn bản và mạnh mẽ của sự phát triển xã hội và tiến bộ toàn diện không ngừng của nhân dân, đất nước với phẩm giá con người được thừa nhận một cách đầy đủ, tôn trọng và bảo vệ.
Lấy hiện trạng ngày nay xã hội còn những tồn tại, những hạn chế, nhiều vấn đề mất dân chủ, điển hình là những vụ án mà cá nhân lãnh đạo vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tập trung dân chủ để quy đó là lỗi cơ chế, là lỗi hệ thống? Đó là sự quy kết hoàn toàn sai lệch. Không có bất cứ xã hội nào tránh được những hạn chế khi thực hiện. Với Việt Nam, việc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới XHCN tất còn nhiều tồn tại chưa dễ gì gỡ bỏ, và việc xảy ra những vấn đề mất dân chủ ở một số bộ phận, nơi này nơi khác là biểu hiện của tồn tại xã hội mà chúng ta đang đấu tranh, ngăn ngừa, đó không phải là bản chất của xã hội XHCN.
Như vậy, có thể thấy bằng giọng điệu tinh vi để vu khống chế độ do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sẽ không có dân chủ, họ cổ súy tư tưởng bài xích Đảng, từ đó thúc đẩy đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, đòi thực hiện nhà nước “tam quyền phân lập”. Phương thức, thủ đoạn rất nguy hiểm mà phần tử cơ hội chính trị, phản động sử dụng trong các “kiến nghị”, “góp ý”, “trao đổi” là đề và gửi đến cơ quan cao nhất của Đảng, đến lãnh đạo Đảng, Nhà nước, sau đó phát tán trên các trang mạng hải ngoại, blog phản động, mạng xã hội. Người đọc cần phải tỉnh táo nhận diện, tránh bị cuốn vào trận địa xảo trá của họ, dẫn tới tư tưởng hoài nghi, hoang mang, dao động, suy giảm niềm tin với Đảng.



[1] Bài viết của Lê Thế Cương đăng trên Báo Công an Nhân dân điện tử, ngày 02/09/2019

TỔ CHỨC PHÓNG VIÊN KHÔNG BIÊN GIỚI LẠI DIỄN TRÒ HỀ


                                                              [1]

Rạng sáng 13-9-2019, tại Berlin (Đức), tổ chức Phóng viên không biên giới lại giở chiêu trò trao giải Tự do báo chí, hạng mục “Ảnh hưởng” cho Phạm Đoan Trang, đối tượng từng có nhiều hành động lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền vu cáo, xuyên tạc tình hình Việt Nam. Vậy đâu là sự thật về tổ chức Phóng viên không biên giới và vì sao lại dựng Phạm Đoan Trang để trao giải?
Phóng viên không biên giới “hành, ngôn bất nhất”
Phóng viên không biên giới hay Ký giả không biên giới (Tiếng Pháp: Reporters sans frontières: RSF) là một tổ chức phi chính phủ với phạm vi hoạt động trên toàn cầu. Mục đích của họ được cho là bảo vệ tự do báo chí trên toàn thế giới, chống kiểm duyệt và tạo áp lực giúp đỡ những nhà báo đang bị giam giữ.
Tổ chức này lấy Điều 19 của Tuyên ngôn quốc tế Nhân quyền làm cơ sở để hành động. Phóng viên không biên giới được Robert Ménard, Rémy Loury, Jacques Molénat và Élmilien Jubineau sáng lập tại Montpellier, Pháp, năm 1985. Hiện, tổ chức này có trụ sở tại quận 2, Paris; mở văn phòng tại Berlin, Brussels, Geneva, Madrid, Rome, Stockholm, Tunis, Washington DC.
Văn phòng đầu tiên của họ ở châu Á, đặt tại Đài Bắc, Đài Loan vào tháng 7-2017. Ngoài ra tổ chức còn hoạt động chung với 150 thông tin viên, phóng viên trên khắp các châu lục cũng như với hàng chục tổ chức đảng phái độc lập với chính phủ.
Viện dẫn Tuyên ngôn nhân quyền của Liên hợp quốc về nhân quyền, tự do ngôn luận, tổ chức này tuyên bố theo đuổi tự do chân lý khách quan là một yếu tố của phẩm giá và tự do của con người, cho rằng tự do ngôn luận và thông tin là tự do đầu tiên.
Những phương châm mang nhiều ý nghĩa câu từ mỹ miều hơn là khẳng định giá trị hành động mà họ đưa ra: “Phóng viên không biên giới – RSF là tổ chức lớn nhất thế giới bảo vệ tự do báo chí, được hiểu là quyền tự do của con người để thông báo và được thông báo”. Với những tuyên bố và phương châm hành động như vậy, song thực tế, hoạt động của tổ chức này có đúng tôn chỉ, mục đích? Các báo cáo, giải thưởng có mang tính khách quan, chân thực?
Đối với Việt Nam, báo cáo của tổ chức Phóng viên không biên giới thường niên vu cáo Việt Nam, cho rằng các cơ quan báo chí đều hoạt động dưới sự chỉ đạo và kiểm soát chặt chẽ của Đảng Cộng sản Việt Nam nên “nguồn tin độc lập duy nhất mà hiện nay người dân có thể tiếp cận chính là từ các blogger và nhà báo tự do”.
Tổ chức này xuyên tạc chính quyền cộng sản “đang tìm cách đàn áp và sách nhiễu nhiều blogger thông qua việc sử dụng công an thường phục”; vu cáo đã có nhiều blogger và nhà báo tự do bị bỏ tù bởi các tội danh “tuyên truyền chống nhà nước”, “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, “lạm dụng quyền tự do dân chủ” theo các điều luật 88, 79 và 258 trong Bộ luật Hình sự Việt Nam.
Theo Wikipedia dẫn một điều tra của 2 nhà báo thuộc đài truyền thanh và truyền hình nhà nước WDR (Đức) thì tổ chức Phóng viên không biên giới nhận được nhiều ủng hộ từ nhà tỉ phú Mỹ George Soros, người đã từng ủng hộ công đoàn Solidarno hàng triệu đô la Mỹ và từ Quỹ quốc gia hỗ trợ dân chủ (National Endowment for Democracy), là tổ chức mà 90% ngân sách xuất phát từ ngân sách quốc gia của Mỹ và thuộc Bộ Ngoại giao Mỹ.
Rồi nhà tài trợ là nhà công nghiệp vũ khí và “ông hoàng” truyền thông đại chúng của Pháp Serge Dassault, tập đoàn truyền thông đại chúng Vivendi và nhà tỉ phú Franois Pinault. Ngoài ra công ty quảng cáo nổi tiếng Saatchi & Saatchi tại New York đều thực hiện miễn phí toàn bộ các hoạt động chung quanh quan hệ công chúng cho tổ chức này.
Theo thông tin chính thức của RSF, ngay từ 2013, nguồn ngân sách hoạt động hằng năm lên đến nhiều triệu euro, trong đó có đến trên 70% do các chính phủ và các nhà tài phiệt tài trợ.
Với thực tế tài chính như vậy, đủ hiểu để tổ chức này hoạt động vì ai, nhằm mục đích gì. Những cái gọi là “xếp hạng tự do báo chí” hằng năm đối với các quốc gia hay giải “nhân quyền”, “tự do báo chí” mà RSF thực chất chỉ giống như “mồi câu”, nhử các cá nhân có hành vi chống đối nhà nước sở tại cố gắng “lập thành tích” bằng các trò quấy phá, chống đối để lĩnh thưởng! “Ăn cây nào rào cây đấy”, RSF chủ yếu phục vụ mục đích chính trị của các thế lực núp sau cái bóng gọi là tự do báo chí, dân chủ, nhân quyền.
Do vậy, người ta cũng dễ hiểu, xếp hạng của RSF luôn dựa vào danh sách củaBộ Ngoại giao Mỹ dành sự “quan tâm” ở nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó có các nước như Iran, Syria, TriềuTiên, Việt Nam, Cuba, Trung Quốc; tuy nhiên lại né tránh, không đưa ra bất kỳ báo cáo nào về hoạt động chống lại nhà báo của Mỹ và các đồng minh.
Thí dụ, RSF không đưa tin về những người hoạt động trên lĩnh vựctruyền thông bị giết hại tại Philippines, mặc dù từ năm 1986 đến nay có 176 nhà báo bị giết hại ở nước này. Rồi trường hợp 5 người Cuba bị giam ở Miami, nhà báo M.A.Jamal (M.A.Gia-man) bị kết án tử hình, nhưng RSF không đề cập qua bất cứ câu chữ nào trong các bản báo cáo.
Nói về RSF, ngay trên quê hương của Phóng viên không biên giới, đúng như Giáo sư Salim Lamrani - nhà văn và nhà báo người Pháp chuyên về quan hệ Mỹ-Cuba - trên tạp chí “Nghiên cứu toàn cầu” trong bài “Sự lừa dối của Phóng viên không biết giới”, ông viết: “Như người ta có thể dễ dàng thấy, Phóng viên không biên giới không phải là một nguồn đáng tin cậy. Chương trình nghị sự chính trị ẩn giấu của nó đã trở nên quá rõ ràng và ác ý của nó đối với một số quốc gia nằm trong danh sách đen của Mỹ hầu như không phải là vấn đề trùng hợp.
Những đóng góp hào phóng nhận được từ NED giải thích sự liên kết của RSF với Nhà Trắng.Robert Menard không chỉ đạo một tổ chức bảo vệ các quyền tự do báo chí, mà thay vào đó, một văn phòng tuyên truyền được tài trợ bởi các tập đoàn kinh tế và tài chính phục vụ cho thế lực hùng mạnh”. Hay như nhà báo Safaa Kasraoui của tờ Moroco World News đánh giá: “Báo cáo của RSF là sai lệch, không chính xác và không tính đến, theo cách khách quan và vô tư của nhiều chỉ số tích cực về môi trường cởi mở và tự do do báo chí”.
Phạm Đoan Trang: Khi niềm tin lạc lối
Theo dõi hoạt động của Phóng viên không biên giới nhiều năm, nhiều người không lấy làm bất ngờ trong nhiều ngày qua, RSF công bố danh sách đề cử và ngày 13-9-2019 vừa qua tổ chức trao giải tự do báo chí cho 3 người, trong đó có Phạm Đoan Trang. Cô ta là ai?
Phạm Đoan Trang, sinh năm 1978 tại Hà Nội trong một gia đình cơ bản, được ăn học tử tế, từng là học sinh trường Hà Nội – Amstesdam. Nhiều người phải thừa nhận Phạm Đoan Trang có năng lực học hành, viết lách sắc sảo, có tài năng, từng là phóng viên có triển vọng tại nhiều tờ báo ở Việt Nam như: Vnexpress, Vietnamnet, Pháp luật… Tuy nhiên, có chút năng lực nhưng vì các động cơ cá nhân, Phạm Đoan Trang đã đi ngược lại với lợi ích của dân tộc, nhân dân, Đảng và Nhà nước.
Trong nhiều bài viết, nhiều cuốn sách như: “Chính trị bình dân”, “Cẩm nang nuôi tù”... (đều xuất bản chui), Phạm Đoan Trang xuyên tạc, bóp méo tình hình dân chủ, nhân quyền Việt Nam, kích động những người nhẹ dạ cả tin tham gia biểu tình, chống phá chính quyền, nhà nước, làm mất an ninh trật tự, phá hoại môi trường hòa bình, ổn định chính trị ở Việt Nam.
Trong phát ngôn cũng như hoạt động của mình, Phạm Đoan Trang bất chấp đạo lý, luôn thể hiện cái gọi là tinh thần “dấn thân”, đã liên kết với một số blogger chống phá dưới các trướng “dân chủ”, “xã hội dân sự”, hô hào mang lại “tự do, dân chủ, nhân quyền” cho Việt Nam! Nguy hiểm hơn, đối tượng này được cho là thành viên, phối hợp tích cực với Tổ chức Việt Tân (tổ chức đã được Bộ Công an xếp vào tổ chức khủng bố), “ngưu lai, mã khứ tầm quy” cùng với Phạm Chí Dũng, Tạ Phong Tần, Nguyễn Văn Hải... “nội công, ngoại kích”, không từ âm mưu, thủ đoạn nào nói xấu đất nước, chế độ, lên án xã hội, vu cáo chính quyền đến thực hiện âm mưu lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.
Với thủ đoạn “dẫn lang nhập thất”, Phạm Đoan Trang liên hệ với nhiều tổ chức, ủy ban nhân quyền quốc tế để đối thoại, thảo luận trước các báo cáo định kỳ phổ quát liên quan đến tình hình dân chủ, nhân quyền Việt Nam; trả lời phỏng vấn các cơ quan truyền thông, mạng hải ngoại vu cáo thực tiễn vấn đề quyền con người. Từ đó tạo ra nhận thức sai lệch của các tổ chức, cộng đồng quốc tế, gây sức ép đối với Việt Nam trong quá trình hội nhập, đàm phán, ký kết các hiệp định quốc tế mà Việt Nam tham gia.
Với một chân tướng như vậy, thật kệch cỡm cho một giải tự do báo chí “treo đầu dê, bán thịt chó” của RSF và cũng thật tiếc cho một niềm tin lạc lối, không biết “quay đầu là bờ”…


[1] Bài viết của Lê Vĩnh Bình đăng trên Báo Công an Nhân dân điện tử, ngày 16/09/2019

THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC MỐI QUAN HỆ VIỆT – TRUNG



                                                                                            Trung Nguyễn



Thời gian gần đây, lợi dụng những diễn biến phức tạp của tình hình khu vực và thế giới, đặc biệt ở Biển Đông, không ít những cá nhân đóng vai “người yêu nước”, “chiến sĩ đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền” đã viết bài phát tán trên internet, mạng xã hội với những giọng điệu nhằm xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam, đặc biệt là quan hệ Việt Nam- Trung Quốc.
Nhất là sau khi Phó Thủ tướng Phạm bình Minh có bài phát biểu tại kỳ họp thứ 74 Đại hội đồng Liên hợp quốc về chủ nghĩa đa phương, trong đó có nội dung kêu gọi các nước có liên quan ở Biển Đông tuân thủ luật pháp quốc tế, cần kiềm chế những hành động đơn phương làm phức tạp tình hình, gia tăng căng thẳn; trên một số trang mạng phản động trong và ngoài nước đăng tải, phát tán nhiều bài, ảnh có nội dung xuyên tạc sự thật như đối tượng Nguyễn Ngọc Chu với bài “Sao không chỉ mặt gọi tên Trung Quốc?”, hay của Đỗ Ngà với bài “Kêu oan nhưng không tố cáo kẻ thù, chỉ có cộng sản?... Với thủ đoạn vẫn tinh vi như trước, từ những nguồn tin, những tài liệu không có thật với những hình ảnh minh họa với những “lập luận” có vẻ rất “hợp lý, lôgic”.
Quan hệ giữa Việt – Trung là mối quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, độc lập, tự chủ, bình đẳng, cùng có lợi. Mối quan hệ ấy, do Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Mao Trạch Đông và các nhà lãnh đạo tiền bối của hai nước đặt nền móng và dày công vun đắp trong suốt gần 70 năm qua. Đó, là tài sản quý báu được hai nước gìn giữ, kế thừa và phát triển. Đặc biệt, từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ (tháng 11-1991), với việc bình thường hóa quan hệ của hai nước đã thúc đẩy mối quan hệ và tạo điều kiện cho hai nước phát triển nhanh về kinh tế - xã hội. Trên thế giới, hiếm có mối quan hệ nào phát triển nhanh chóng như quan hệ giữa Việt Nam và Trung Hoa.
Thế hiện thông qua các chuyến thăm hữu nghị, các cuộc hội đàm song phương, các cuộc gặp gỡ tại các diễn đàn thế giới, khu vực… Hai nước Việt – Trung đã định ra khuôn khổ hợp tác, từ “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” (năm 1999) đến “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” (năm 2005) và cuối cùng là “đối tác hợp tác chiến lược toàn diện” (năm 2008). Hai nước đã giải quyết được hai trong ba vấn đề bất đồng quan trọng liên quan đến biên giới – lãnh thổ: Ký kết Hiệp định biên giới trên đất liền vào năm 1999 và đã hoàn thành công tác phân giới cắm mốc trên đất liền (năm 2008); ký Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ (năm 2000); ký Hiệp định Hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ (năm 2004)… trong năm 2018, hai nước đã tiến hành kỷ niệm 10 năm thiết lập quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt – Trung.
Là những người Việt Nam yêu nước, chúng ta phải nhận thức rõ âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch và giữ gìn, phát triển mối quan hệ tốt đẹp Việt – Trung kiên quyết đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái, phản động của các thế lực thù địch và  luôn bảo vệ thành quả tốt đẹp của mối quan hệ hợp tác Việt – Trung là bằng chứng rõ ràng nhất bác bỏ chiêu trò bịa đặt, xuyên tạc sự thật.


Thứ Hai, 14 tháng 10, 2019

VẠCH ĐỊNH ĐƯỜNG LỐI, KẾT NỐI NIỀM TIN



QĐND - Ngày 12-10, Hội nghị lần thứ 11, Ban Chấp hành (BCH) Trung ương khóa XII đã tiến hành phiên bế mạc; khép lại những thành công tốt đẹp nối tiếp trên nghị trường và mở toang cánh cửa của niềm tin kỳ vọng; gợi mở cho toàn Đảng, toàn dân những ánh nhìn và cách nhìn mới mẻ, rộng hơn, xa hơn, cao hơn về chặng đường kế tiếp của sự nghiệp cách mạng.

Diễn ra trong 6 ngày, Hội nghị lần thứ 11 hoàn thành chương trình làm việc sớm hơn kế hoạch một ngày, nhưng bảo đảm tốt các mục tiêu, nội dung, yêu cầu đặt ra. Điều đó cho thấy tinh thần làm việc khẩn trương, trách nhiệm, hiệu quả của các đồng chí Ủy viên Trung ương. Minh chứng là, Trung ương đã hoàn thành nhiều phần việc quan trọng trong công tác chuẩn bị Đại hội XIII của Đảng; cho ý kiến vào Báo cáo tình hình kinh tế-xã hội, ngân sách nhà nước năm 2019; dự kiến Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, ngân sách nhà nước năm 2020; Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng nhiệm kỳ Đại hội XII; bầu bổ sung Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương; nghiêm khắc thi hành kỷ luật cán bộ, đảng viên và hoàn thành một số vấn đề, nội dung công việc quan trọng khác.
Trong đó, kết quả ấn tượng và quan trọng nhất là Trung ương đã thảo luận, bổ sung và hoàn thiện toàn bộ các Dự thảo Văn kiện (DTVK) trình Đại hội XIII của Đảng. Đây là kết quả xứng đáng từ sự chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ của Bộ Chính trị đối với các tiểu ban, trên cơ sở quán triệt kết luận của Hội nghị Trung ương 10, khóa XII (tháng 5-2019) về việc xây dựng các DTVK trình Đại hội XIII của Đảng. Đây cũng là thành quả của trí tuệ trách nhiệm, tâm huyết và sự chung sức đồng lòng của cả hệ thống chính trị trước nhiệm vụ chính trị đặc biệt của Đảng và đất nước.
Với thái độ làm việc nghiêm túc của Hội nghị Trung ương 11, các DTVK đến thời điểm hiện tại đều bảo đảm tiến trình, tiến độ, chất lượng tốt, bố cục phù hợp, khoa học. Các DTVK gợi mở được nhiều vấn đề mới, lớn, cốt lõi của công tác lãnh đạo, chỉ đạo sự nghiệp cách mạng trong tình hình mới; cho thấy tính bao quát, bao trùm cả về tầm nhìn, tư duy lãnh đạo, tính dự báo xuyên suốt và cả những nhận định, đánh giá, giải pháp trong giải quyết những vấn đề cụ thể đặt ra trên từng lĩnh vực: Xây dựng Đảng, kinh tế-xã hội, văn hóa, giáo dục, an ninh, quốc phòng, đối ngoại...
Theo kế hoạch và tiến trình chuẩn bị tiến hành Đại hội XIII của Đảng, sau khi được Hội nghị Trung ương 11, khóa XII xem xét, cho ý kiến hoàn thiện một bước, các DTVK sẽ được gửi đến đại hội đảng bộ các cấp đóng góp ý kiến; sau đó xin ý kiến rộng rãi trong toàn dân. Bởi thế, sau hội nghị lần này, các cấp ủy, tổ chức đảng cần sớm chú trọng quán triệt, học tập nghị quyết, kết luận của Trung ương. Trong toàn Đảng nhất thiết phải dấy lên đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, đóng góp tâm sức, trí tuệ vào các DTVK, làm cơ sở để Trung ương tiếp tục hoàn thiện văn kiện, hoạch định đường lối lãnh đạo sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn tới.
Bám sát thông điệp trao gửi của Hội nghị Trung ương 11, sắp tới, các cấp ủy, cán bộ, đảng viên cần tập trung nghiên cứu kỹ, cho ý kiến vào các DTVK; tập trung vào các vấn đề lớn, như: Đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và diện mạo đất nước sau 35 năm đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh, tập trung vào 10 năm gần đây; mục tiêu phát triển đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030 (100 năm thành lập Đảng) và đến năm 2045 (100 năm thành lập nước); định hướng tiếp tục đổi mới, phát triển các lĩnh vực trọng yếu; các nhiệm vụ trọng tâm và các khâu đột phá chiến lược; nhận thức và giải quyết các mối quan hệ lớn trong quá trình phát triển...
Để làm được điều đó, từng cấp ủy cần chủ động ban hành chủ trương, giải pháp huy động trí tuệ của toàn Đảng và toàn dân tham gia xây dựng DTVK. Các bộ, ngành, địa phương, tổ chức chính trị-xã hội phải thật sự nghiêm túc, trách nhiệm cung cấp thực tiễn, đóng góp lý luận về các vấn đề, lĩnh vực liên quan, nhất là cung cấp thông tin về kết quả và kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ ở các cấp. Đặc biệt, bám sát tiến trình xây dựng văn kiện của Trung ương, các cấp ủy đảng phải hết sức quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo việc thảo luận, góp ý các DTVK Đại hội XIII của Đảng và DTVK đại hội đảng bộ cấp trên; đồng thời chuẩn bị thật tốt DTVK của cấp ủy cấp mình. Hệ thống cơ quan báo chí trong nước cần ưu tiên dung lượng tuyên truyền sâu đậm về nội dung các DTVK Trung ương, mở chuyên trang, chuyên mục và đăng tải những góp ý tâm huyết của cán bộ, đảng viên, nhân dân vào DTVK Đại hội XIII...
Hòa vào dòng chảy của sự nghiệp cách mạng, quán triệt sâu sắc chủ trương, đường lối của Trung ương, thời gian qua, Đảng bộ Quân đội đã lãnh đạo, chỉ đạo toàn quân quán triệt ý nghĩa của Hội nghị Trung ương lần thứ 11 và triển khai cụ thể hóa, đạt kết quả rõ nét trong thực hiện các chủ trương, giải pháp của Hội nghị Trung ương 10, khóa XII. Đặc biệt, các cấp ủy chỉ huy coi trọng giáo dục cho bộ đội nhận thức sâu sắc ý nghĩa và trách nhiệm trong tham gia chuẩn bị, tiến hành thành công đại hội đảng các cấp trong Đảng bộ Quân đội, tiến tới Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, góp phần vào thành công Đại hội XIII của Đảng.
Với truyền thống vẻ vang, trách nhiệm chính trị cao cả, cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ Quân đội nguyện mang hết tài năng, trí tuệ, gương mẫu đi đầu trong triển khai thực hiện hiệu quả nghị quyết, kết luận của Hội nghị Trung ương lần thứ 11, khóa XII; tâm huyết nghiên cứu, đóng góp tình cảm, trí tuệ để Trung ương có thêm luận cứ, căn cứ vạch định đường lối cách mạng sáng suốt cho tương lai!

KHẲNG ĐỊNH QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA VIỆT NAM TRONG BIỂN ĐÔNG



Sáng 14-10, tại Hà Nội, Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức tọa đàm với chủ đề “Quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam trong Biển Đông theo luật pháp quốc tế”.

Tại tọa đàm, các đại biểu đã phân tích những vấn đề liên quan đến các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam trong Biển Đông và làm rõ nội dung cơ bản của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1982. Các đại biểu khẳng định, Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý và bằng chứng lịch sử về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa theo quy định của luật pháp quốc tế. Bên cạnh đó, những bài học kinh nghiệm gìn giữ, bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong thời gian qua và các giải pháp nhằm thúc đẩy thực hiện UNCLOS 1982 cũng được các đại biểu đề cập. 
Các phát biểu tại tọa đàm cũng đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc, bảo vệ các lợi ích quốc gia trên biển. Đồng thời, góp phần giúp người dân và bạn bè quốc tế hiểu đúng về quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước ta trong việc giải quyết các vấn đề trên biển bằng biện pháp hòa bình, tuân thủ luật pháp quốc tế.

KHÔNG ĐỂ CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG, LÔI KÉO, KÍCH ĐỘNG



Thời gian qua, những sai phạm của một số cán bộ, đảng viên đã bị các thế lực thù địch lợi dụng, lôi kéo, kích động.
Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và âm mưu “diễn biến hòa bình” luôn có quan hệ chặt chẽ với nhau. Nhận diện và đấu tranh ngăn chặn, loại bỏ tình trạng này đã và đang là một nhiệm vụ cấp thiết.
Từ dự báo khoa học đến những hiện tượng nguy hiểm
Cách đây 6 năm, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam và một số cơ quan đồng tổ chức hội thảo khoa học về “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” (TDB, TCH). Hội thảo xác định, TDB, TCH có thể diễn ra 3 giai đoạn, ứng với 3 mức độ. Ở giai đoạn ban đầu, đối tượng thể hiện sự hoang mang, dao động về tư tưởng chính trị, hoài nghi về sự lãnh đạo của Đảng, về Chủ nghĩa Mác-Lênin; giai đoạn 2, đối tượng bắt đầu chủ động tiếp nhận những thông tin trái chiều, những luận điệu chống đối, hoặc lý luận phản động; giai đoạn 3, đối tượng hoàn toàn có tư tưởng phản động, chống đối. Tương ứng với đó sẽ là 3 kịch bản TDB, TCH: Một là, về chính trị. Hai là, từ kinh tế chuyển hóa về chính trị. Ba là, các phần tử biến chất liên kết lại, dùng “nội công, ngoại kích” tạo ra “cách mạng màu” theo kiểu “mùa xuân Ả-rập”.
Năm 2016, phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 4, khóa XII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (nay là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước) đã đề cập mối quan hệ nguy hiểm: “Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”.
Một dẫn chứng của hiện tượng trên chính là Trịnh Xuân Thanh. Theo thông tin kết luận từ cơ quan chức năng, Thanh có nhiều sai phạm từ lâu nhưng không bị xử lý vì có sự dung túng, bao che và còn liên tục được bổ nhiệm cao hơn, nên ngày càng lộng hành, coi thường kỷ cương, phép nước, coi thường những ý kiến góp ý của cấp trên, đồng đội. Với bản tính như vậy, khi bị xử lý, Thanh viết đơn xin ra khỏi Đảng, công khai tuyên bố không còn tin ở lãnh đạo Đảng, Nhà nước, trốn đi nước ngoài. Thanh đã tự biến mình từ một tội phạm tham nhũng trở thành kẻ tiếp tay cho các đối tượng phản động, cung cấp tài liệu (cả tài liệu mật) để chúng xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước.
Năm 2018, xảy ra vụ một cán bộ bị truy nã do liên quan đến vụ án buôn bán hàng giả đã bỏ trốn ra nước ngoài, xin tị nạn chính trị, thậm chí gọi điện cho đài phản động VOA “kêu cứu”, vu khống Đảng, Nhà nước, quân đội. Trường hợp Đặng Xương Hùng, cựu cán bộ ngoại giao ở Thụy Sĩ cũng vì bất mãn mà xin tị nạn chính trị tại Thụy Sĩ. Nhà chức trách nước ngoài từ chối vì lý do nêu ra để xin tị nạn của Hùng không thuyết phục. Thế là Hùng tuyên bố ra khỏi Đảng, xuyên tạc, nói xấu Đảng, Nhà nước để chứng minh mình là “nạn nhân” của chế độ.
Không để hình ảnh quân đội bị lợi dụng, xuyên tạc
Đối tượng Lê Văn Thương từng là thượng úy nhưng do vi phạm kỷ luật, bị cho ra quân. Khi về địa phương, Thương mở cửa hàng gỗ mỹ nghệ vì có hoa tay trong lĩnh vực này. Lẽ ra Thương có thể trở thành người dân làm ăn lương thiện nhưng Thương thường xuyên lên mạng giao du với các đối tượng phản động như Đào Minh Quân, Lisa Phạm… Chúng đã kích động khiến Thương ngộ nhận mình là “quân oan” nên dần dần Thương đã đi theo con đường chống phá đất nước và trốn ra nước ngoài. Thương đã bị cơ quan công an khởi tố, truy nã về tội “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo Điều 109 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Với trường hợp một cán bộ cao cấp quân đội nghỉ hưu có lời nói, việc làm sai trái gây bức xúc trong dư luận vừa qua, đáng buồn là người này cũng đã có nhiều việc làm tiếp tay cho các thế lực thù địch chống phá Đảng, Nhà nước, quân đội. Lợi dụng hình ảnh sĩ quan cao cấp và các danh hiệu, nhiều tổ chức núp bóng viện nghiên cứu, tổ chức xã hội dân sự, dưới vỏ bọc yêu nước, bảo vệ chủ quyền biển, đảo đã lôi kéo những cựu quan chức tham gia hoạt động cùng với nhiều thành phần bất mãn, cơ hội chính trị. Trao đổi với phóng viên Báo Quân đội nhân dân, TS Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ cho biết, ông cũng được mời nhưng kiên quyết không dự vì ông thừa biết bộ mặt thật của những tổ chức đó. Ông cũng không thể ngồi chung bàn với những đối tượng mà từ lâu nghe đến tên người ta đã biết họ chỉ gắn với giới "dân chủ cuội", được các đài, báo phản động đăng tải.
Nguyên nhân của những sự việc trên đều một phần liên quan tới bệnh công thần, kiêu ngạo, đến chủ nghĩa cá nhân, xa rời tổ chức, coi thường kỷ luật Đảng, kỷ cương phép nước. Họ không ý thức được trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của mình, đòi hỏi thái quá ở tổ chức, tự cao, tự đại... nên đã nảy sinh bất mãn, tiêu cực, để rồi bị các thế lực thù địch lợi dụng, lôi kéo, kích động. Trên thực tế, lớp lớp thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội và các cựu chiến binh, cựu quân nhân vẫn tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân; luôn giữ gìn và phát huy truyền thống cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ. Một vài người như trên chỉ là cá biệt, "con sâu làm rầu nồi canh".
Xử lý nghiêm minh để lấy lại và củng cố niềm tin
Sinh thời, trong bài viết đăng trên Báo Cứu quốc ngày 17-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Người làm tướng có mưu trí bao giờ cũng lo lắng đến lợi, đến hại. Lo đến lợi mới có đủ tin tưởng làm trọn được nhiệm vụ. Lo đến hại mới tìm mưu kế để giải trừ được gian nguy”.
Ngẫm lời Bác, soi vào một số hiện tượng vừa qua, có người chỉ vì hư danh, ngộ nhận đã tiếp tay cho thế lực xấu, thù địch như vậy, quả thực đau lòng. Xưa nay, người lính nghỉ hưu về với đời thường, nhất là những cán bộ cao cấp phải là chỗ dựa của cấp ủy, chính quyền cơ sở, là cây cao bóng cả đối với thế hệ trẻ. Nhưng thật đáng trách, có người đã mắc sai lầm, phải trả giá rất đắt cho sinh mệnh chính trị, tên tuổi và danh dự của mình. Hậu quả để lại không chỉ với bản thân họ mà còn hết sức nặng nề đối với gia đình, con cháu, bạn bè, đồng đội.
Trung tướng Nguyễn Quốc Thước khi trao đổi với phóng viên đã tâm sự: "Thời ở chiến trường đánh Mỹ, kẻ thù thâm độc từng tung tin tôi-trung đoàn trưởng đầu hàng để gây hoang mang cho bộ đội. Thế mà nay, chính người là cán bộ nghỉ hưu của ta lại tung tin sai lệch về Đảng, về Nhà nước, quân đội thì nguy hiểm nào bằng". Thượng tướng, Anh hùng LLVT nhân dân Võ Tiến Trung cũng hết sức bức xúc và lo lắng khi một vị tướng đứng tên biên soạn cuốn sách có nhiều nội dung sai sự thật, trở thành miếng mồi “vô giá” cho các thế lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc; thậm chí chúng còn tài trợ để xuất bản ở nước ngoài trong khi cơ quan chức năng của quân đội khẳng định nó sai quá nhiều, không đủ điều kiện để xuất bản.
Xuyên tạc, bịa đặt về quân đội, ảnh hưởng đến nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc là điều không thể chấp nhận, càng không thể chấp nhận khi đất nước đang đứng trước những khó khăn, thách thức. Trên thực tế, từng có người đã bị xử lý bởi thông tin bịa đặt về quân đội. Trước đây, có tờ báo đăng tải chuyện sĩ quan cấp tá tên Vũ Văn Nhồng ở một khu tập thể kinh doanh cà phê và chiếu phim sex gây mất an ninh trật tự, vị sĩ quan ấy đã bắn chết hai đứa con vì chúng dâm loạn khi xem phim. Thông tin ấy thực ra không có thật, bịa đặt trắng trợn khiến dư luận dậy sóng, cả khu tập thể quân đội bức xúc vì sự bịa đặt vu khống, bôi nhọ danh dự, uy tín của quân đội. Người dân đã viết đơn khởi kiện ra tòa án quân sự. Nhà báo viết bài sai sự thật đã phải ra tòa, bị xử 6 tháng tù treo. Thiết nghĩ, đó là bài học đắt giá vẫn còn nguyên tính thời sự.
Hiện nay, chúng ta phải luôn đề cao cảnh giác trước nguy cơ các thế lực thù địch lợi dụng, lôi kéo cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, chiến sĩ LLVT, trong đó có cả sĩ quan cao cấp nghỉ hưu. Vừa qua, hầu hết những trường hợp TDB, TCH bị chúng lôi kéo đều là những người đã nghỉ hưu, ra quân, có mâu thuẫn, vướng mắc, nảy sinh bất mãn nên bị lợi dụng. Nhưng cũng có trường hợp chúng khai thác triệt để bệnh công thần, háo danh. Lại có trường hợp chúng lợi dụng cá tính bộc trực, thẳng thắn, lôi kéo cán bộ tham gia dưới cái mũ đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, nhân danh lòng yêu nước, bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Có trường hợp chúng lợi dụng cán bộ thiếu thông tin, cán bộ bị bệnh tật, tâm lý không bình thường để kích động.
Để đẩy lùi hiện tượng trên, cùng với việc giữ mình, tự soi, tự sửa của từng cán bộ, đảng viên, kiên quyết không sai phạm, nếu có sai phạm phải kịp thời khắc phục, không để các thế lực thù địch và kẻ xấu lợi dụng, lôi kéo, kích động thì vai trò tổ chức đảng, đoàn thể các cấp, vai trò công tác bảo vệ chính trị nội bộ, công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên, trong đó có cả đảng viên nghỉ hưu hết sức quan trọng. Chúng ta phải dựa vào sức mạnh cộng đồng của cấp ủy đảng, đoàn thể, nhân dân nhằm giáo dục, thuyết phục, động viên người vi phạm nhìn ra khuyết điểm để sửa chữa khắc phục và đấu tranh, không để kẻ xấu làm hỏng cán bộ. Tuy nhiên, với những người cố tình vi phạm, coi thường tổ chức đảng, đoàn thể, coi thường đồng chí đồng đội và nhân dân, cố tình đi ngược, phá hoại lợi ích của đất nước và nhân dân thì cần phải kiên quyết xử lý.
Trước những hiện tượng công thần, kiêu ngạo, bị kẻ xấu lôi kéo phá hoại vừa qua, chúng ta càng thấm thía chủ trương, quan điểm của Đảng về việc phải xử lý, cách chức, thu hồi danh hiệu cả với những cán bộ nghỉ hưu gần đây. Ban đầu, từng có ý kiến cho rằng cách làm đó không hiệu quả nhưng Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng vẫn khẳng định đây là việc làm cần thiết, mang tính giáo dục cao, rất thấm thía đối với người bị xử lý. Quy định 102-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về xử lý đảng viên vi phạm kỷ luật cũng đã nêu rõ thời hiệu kỷ luật lên tới 10 năm đối với những hành vi vi phạm đến mức phải kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức và sẽ không áp dụng thời hiệu xử lý kỷ luật Đảng đối với những hành vi vi phạm đến mức phải khai trừ; vi phạm về chính trị nội bộ; về an ninh, quốc phòng, đối ngoại có xâm hại đến lợi ích quốc gia... Về lâu dài, chúng ta cũng cần nghiên cứu kinh nghiệm của các nước trên thế giới, như ở Đức, công chức hưu mắc sai phạm có thể phải chịu hình thức xử lý là giảm lương hưu hay truất lương hưu vĩnh viễn.
Chúng ta đồng tình và tiếp tục thực hiện chủ trương của Đảng trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, như lời phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị lần thứ 11, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII mới đây, sau khi nhắc lại việc phải kỷ luật hơn 70 cán bộ cao cấp thuộc diện Trung ương quản lý: “Thật đau xót, nhưng không thể không làm, không có cách nào khác! Tất cả là vì sự nghiệp chung của Đảng, của đất nước, của nhân dân. Đây là bài học sâu sắc, bài học đắt giá cho tất cả chúng ta”. “… Bất cứ trường hợp nào mà vi phạm kỷ luật, chúng ta phải xử lý nghiêm minh, làm nghiêm từ trên xuống dưới để giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng, để lấy lại và củng cố niềm tin và tình thương yêu, quý trọng của nhân dân!”.
CÔNG MINH - NGUYÊN MINH

Thứ Sáu, 11 tháng 10, 2019

LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC QUY ĐỊNH KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC TRONG CÔNG TÁC CÁN BỘ CỦA ĐẢNG



Ngày 23-9-2019, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng ký ban hành Quy định số 205-QĐ/TW về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền. Định này là phương thức, giải pháp để kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền, là bước cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị về xây dựng Đảng.
Tuy nhiên, lợi dụng việc này, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động lại gia tăng xuyên tạc, chống phá. Trong công cuộc đổi mới đặt ra rất nhiều nhiệm vụ quan trọng, nặng nề về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Những nhiệm vụ đó đòi hỏi Ðảng phải không ngừng bổ sung, phát triển Cương lĩnh, đường lối, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Ðảng. Nhà nước phải hoàn thiện thể chế, pháp luật theo hướng xây dựng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị.
Cán bộ, đảng viên, công chức, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý phải có đủ phẩm chất, đạo đức, trí tuệ, uy tín và năng lực mới có thể hoàn thành trách nhiệm và quyền hạn được giao. Thực thi quyền lực và kiểm soát quyền lực một cách đúng đắn, không chỉ phòng ngừa tiêu cực, lạm quyền trong công tác cán bộ mà còn bảo đảm cho sự lãnh đạo, quản lý vận hành có hiệu lực, hiệu quả.
Trước yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, Đảng ban hành Quy định kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền là hết sức cần thiết nhằm nâng cao năng lực của Đảng cầm quyền, xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh.
Lợi dụng Quy định này, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động lập tức “diễn biến”, xuyên tạc trên các phương tiện truyền thông quốc tế, blog hải ngoại, mạng xã hội.
Đài Á châu tự do và nhiều trang mạng chống phá đăng tải loạt bài với mục đích chính trị, hướng lái cách mạng Việt Nam rằng “Bỏ độc quyền lãnh đạo mới có thể chấm dứt nạn đảng viên tha hóa”, họ hà hơi tiếp sức cho nhiều phần tử phản động lưu vong, cơ hội chính trị trong nước thể hiện quan điểm xuyên tạc rằng: Hiến pháp đã thể hiện mầm mống và bắt đầu của sự suy thoái, đó là Điều 4 khi cho phép đảng lãnh đạo độc quyền và tuyệt đối.
Và bản thân bất kể những cái gì độc quyền sẽ trở nên lạm quyền và lạm quyền thì tất yếu sẽ dẫn đến sự suy thoái. Họ cũng quy kết, sự độc quyền quá lâu, thiếu minh bạch trong một thời gian dài nên dẫn tới tình trạng phổ biến là tha hóa đạo đức của cán bộ lãnh đạo.
Rồi cho rằng, đây là vấn đề mang tính bản chất của chế độ, vì không có đối trọng quyền lực, không có giám sát, kiểm soát một cách độc lập, khách quan thì chắc chắn sẽ dẫn đến sự lạm quyền và tha hóa. Hay Quy định này là cơ hội để thanh trừng nội bộ, loại trừ phe nhóm, để hủy diệt đối với những người có khả năng tranh giành quyền lực… Để kết thúc, họ kết luận “Trong Đại hội XIII sắp tới, nếu không tỉnh ngộ và có những thay đổi về đường lối (cách mạng vô sản, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội) thì Việt Nam cứ trượt dài theo con đường cũ, ngày càng mất niềm tin, rối loạn xã hội ngày càng tăng”.
Khi nghiên cứu về vấn đề kiểm soát quyền lực có thể thấy, mặc dù còn có nhiều quan điểm khác nhau về phương pháp, cách thức, tính chất được quy định trong hệ thống pháp luật của các quốc gia, nhưng nhiều học giả quốc tế và trong nước đều thống nhất cho rằng kiểm soát quyền lực nhà nước đóng vai trò quan trọng và là tất yếu. Không quốc gia nào có thể phát triển nhanh, ổn định và bền vững nếu quyền lực nhà nước không được kiểm soát và đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Tuy nhiên, trên thực tế, tình trạng lạm quyền, tha hóa quyền lực vẫn luôn tiềm ẩn và thường xuyên xảy ra ở bất kỳ quốc gia nào cho dù thể chế chính trị có khác nhau.
Trong một hội thảo quốc tế về kiểm soát quyền lực và phòng chống tham nhũng (của Viện Nghiên cứu lập pháp - Quốc hội), bà Eleanor Valentine, chuyên về xây dựng và phát triển năng lực Nghị viện Hoa Kỳ cho biết, ngay cả ở Mỹ cũng luôn nỗ lực phòng chống tham nhũng, đây là nhiệm vụ phải được thực hiện một cách toàn diện và tổng thể, bắt đầu từ những bước phòng ngừa và tăng cường giám sát là vô cùng quan trọng. Chính phủ có vai trò quan trọng trong việc đề xuất, soạn thảo và hướng dẫn thi hành luật như ở Việt Nam.
Hay trong công trình nghiên cứu và cuốn sách “Quyền lực chính trị và kiểm soát dân chủ ở Anh”, nhà nghiên cứu - học giả Stuart Weir và David Beetham rút ra kết luận, trong hệ thống chính trị ở Vương quốc Anh, kiểm soát quyền lực là phương thức tốt để đảm bảo chuẩn mực của nền dân chủ xã hội…
Nói như thế để thấy, kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, phòng ngừa, ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật, xa rời chuẩn mực của cán bộ, công chức là vấn đề được hầu hết các quốc gia quan tâm và có thiết chế quy định.
Do vậy không thể nói, sự tha hóa của cán bộ, đảng viên là bản chất của thể chế chính trị ở Việt Nam, việc ban hành Quy định kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền là cơ hội để thanh trừng nội bộ, loại trừ phe nhóm, để hủy diệt đối với những người có khả năng tranh giành quyền lực… như những quy kết xuyên tạc, ác ý của những phần tử nói trên.
Ở một phương diện khác, thực tiễn đã chứng minh, người ta không thể nói ở các nước đa đảng thì đảm bảo vấn đề dân chủ, nhân quyền hơn ở các nước có một đảng (như ở Việt Nam) lãnh đạo; ngược lại cũng không thể khẳng định ở các quốc gia có một đảng duy nhất lãnh đạo lại dân chủ, đảm bảo vấn đề quyền con người hơn ở các nước đa đảng. Vấn đề dân chủ, nhân quyền, thể chế chính trị một đảng hay đa đảng, nhất nguyên hay đa nguyên ở mỗi nước là tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của mỗi quốc gia.
Ở Việt Nam, điều kiện lịch sử, văn hóa, chính trị, xã hội và thực tiễn lịch sử dân tộc, con đường cách mạng vô sản, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn của lịch sử, của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của dân tộc Việt Nam. Đây là con đường cách mạng chân chính, tiến bộ, phù hợp với quy luật phát triển khách quan, đáp ứng được yêu cầu mong mỏi của nhân dân.
Hơn nữa, Đảng là đội quân tiên phong của giai cấp công - nông, tầng lớp trí thức, Đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của dân tộc và nhân dân, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Do vậy việc Hiến định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội trong Điều 4 - Hiến pháp 2013 là hiển nhiên, phù hợp với tư cách là một đảng chính trị cầm quyền và phù hợp với thông lệ quốc tế.
Bên cạnh đó không thể phủ nhận, dưới tác động mặt trái của cơ chế thị trường, một số cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, sa vào chủ nghĩa cá nhân, bị cám dỗ bởi lợi ích vật chất, không làm tròn trách nhiệm bổn phận của mình trước Đảng, trước dân; việc đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ còn nể nang, cục bộ; một số cơ chế chính sách đề bạt, bổ nhiệm chưa công bằng, chưa đầy đủ…
Để đáp ứng yêu của thời kỳ cách mạng mới, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, việc hoàn thiện chủ trương, đường lối, quy định nói chung và ban hành Quy định kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ theo hướng hoàn thiện, bổ sung, cụ thể hóa các Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư để xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh là hoạt động bình thường, cần thiết, đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Nói như thế để thấy, các luận điệu trên là suy diễn, xuyên tạc của những đối tượng cơ hội, phản động, có nhiều hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam, đi ngược lại với lợi ích của dân tộc, nhân dân, của Đảng, Nhà nước. Vậy âm mưu, thủ đoạn của chúng là gì?
Một là, mục đích của họ là xóa bỏ Điều 4 – Hiến pháp 2013 quy định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội, hoạt động trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật. Từ đó lật đổ sự lãnh đạo của Đảng với nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Cương lĩnh, chủ trương, đường lối của Đảng.
Hai là, cổ xúy, thúc đẩy từ bỏ con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa, hướng lái theo con đường tư bản chủ nghĩa, theo hướng đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, “xã hội dân sự” ở Việt Nam. Ba là, tạo cớ diễn biến tình hình chính trị ở nước ta, cố tình xuyên tạc công tác cán bộ theo kiểu “tung hỏa mù”, “khuấy nước đục, ngư ông đắc lợi” để tạo ra nhận thức sai lệch trước thềm Đại hội XIII của Đảng.
Từ đó tạo ra sự hoang mang, dao động, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào thể chế chính trị, vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong nội bộ.
Đây là âm mưu diễn biến hòa bình với thủ đoạn tinh vi, thâm độc. Cán bộ, đảng viên, nhân dân cần tỉnh táo, cảnh giác, đấu tranh làm thất bại âm mưu nguy hiểm này.

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...