Thứ Tư, 25 tháng 9, 2019

CẦN CÓ GIẢI PHÁP ĐỘT PHÁ TRONG ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG



Ngày 25-9, tại Hà Nội, Tạp chí Cộng sản và Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề: “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện mới-Những vấn đề lý luận và thực tiễn”.

72 tham luận gửi về ban tổ chức và các ý kiến tại hội thảo tập trung phân tích, nêu ra nhiều bài học kinh nghiệm trong lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và một số đảng ở nước ngoài. Các tham luận khẳng định: Để giữ vững và không ngừng nâng cao vai trò lãnh đạo sự nghiệp cách mạng dân tộc, khẳng định tính chính đáng, chính danh cầm quyền, trong suốt quá trình hình thành, phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo, góp phần tạo nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của dân tộc. Đó chính là sự đổi mới hệ thống phương pháp, hình thức, biện pháp, con đường mà Đảng sử dụng để lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn xã hội nhằm hiện thực hóa Cương lĩnh chính trị, đường lối, quan điểm của Đảng trong thực tiễn. Tuy nhiên, trước bối cảnh, nhân tố, điều kiện mới hiện nay và những năm tới, nhất là trong điều kiện mở rộng thực hành dân chủ XHCN, hoàn thiện thể chế nhà nước pháp quyền XHCN..., việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng tiếp tục được đặt ra với những yêu cầu mới, cấp thiết hơn trên tất cả các bình diện. Trên cơ sở đó, hội thảo đề xuất nhiều giải pháp vừa bảo đảm tính đồng bộ, vừa có tính chất đột phá nhằm tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra trong thời kỳ mới.Được biết, nội dung các tham luận tại hội thảo sẽ được tổng hợp, đóng góp vào việc xây dựng văn kiện Đại hội XIII của Đảng.

CHỦ ĐỘNG THAM GIA CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ



Ngày 25-9, Ban Kinh tế Trung ương thông tin: Bộ Chính trị thống nhất sẽ ban hành Nghị quyết về “Một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”.

Trước đó, để ban hành các chủ trương, chính sách lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện việc tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư của nước ta, Bộ Chính trị đã giao Ban Kinh tế Trung ương chủ trì, phối hợp cùng các bộ, ngành Trung ương, các cơ quan liên quan xây dựng Đề án “Chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”.
Đồng chí Nguyễn Văn Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương, là Trưởng Ban chỉ đạo xây dựng Đề án; đồng chí Cao Đức Phát, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó trưởng ban Thường trực Ban Kinh tế Trung ương là Tổ trưởng Tổ biên tập.
Bộ Chính trị đã họp và thông qua đề án, đồng thời thống nhất ban hành nghị quyết về nội dung này.
Tiếp tục thực hiện nhiệm vụ do Bộ Chính trị giao, Ban Kinh tế Trung ương sẽ phối hợp với các cơ quan hữu quan chủ trì chỉ đạo chuyên môn tổ chức Diễn đàn cấp cao và Triển lãm quốc tế về Công nghiệp 4.0-Industry 4.0 Summit 2019 vào ngày 2 và 3-10 tới tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Hà Nội. Các đơn vị chủ trì tổ chức triển khai là Hội Tự động hóa Việt Nam, Hội Truyền thông số Việt Nam, Tập đoàn IEC.
Sự kiện được tổ chức nhằm công bố các chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước về tham gia cuộc CMCN 4.0; tạo cơ hội cho trao đổi, tiếp nhận các ý kiến của chuyên gia trong nước và quốc tế về các chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho triển khai có hiệu quả cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 tại Việt Nam; triển lãm, giới thiệu các thành tựu, giải pháp công nghệ của cách mạng công nghiệp 4.0 cho các ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội của Việt Nam; kết nối kinh doanh và xúc tiến đầu tư trong các lĩnh vực của cách mạng công nghiệp 4.0 giữa các nhà đầu tư quốc tế với cộng đồng doanh nghiệp và đại diện của 63 tỉnh, thành phố tại Việt Nam.
Phiên diễn đàn cấp cao, một trong những hoạt động chính của sự kiện, sẽ do lãnh đạo Đảng, Quốc hội, Chính phủ đồng chủ trì với quy mô khoảng 1500 đại biểu trong nước và quốc tế. Ngoài ra, tại sự kiện này, Ban tổ chức cũng tổ chức 5 cuộc hội thảo chuyên đề, 1 cuộc triển lãm công nghệ hiện đại với sự giam gia của khoảng 100 doanh nghiệp hàng đầu trong nước và quốc tế, 1 phiên kết nối đầu tư kinh doanh. Dự kiến sẽ có khoảng 4000 đại biểu là lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương, các đại sứ quán, các hiệp hội và doanh nghiệp trong nước, quốc tế tham dự các sự kiện trong khuôn khổ diễn đàn.

CẦN CÓ GIẢI PHÁP ĐỘT PHÁ TRONG ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG



Ngày 25-9, tại Hà Nội, Tạp chí Cộng sản và Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề: “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện mới-Những vấn đề lý luận và thực tiễn”.

72 tham luận gửi về ban tổ chức và các ý kiến tại hội thảo tập trung phân tích, nêu ra nhiều bài học kinh nghiệm trong lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và một số đảng ở nước ngoài. Các tham luận khẳng định: Để giữ vững và không ngừng nâng cao vai trò lãnh đạo sự nghiệp cách mạng dân tộc, khẳng định tính chính đáng, chính danh cầm quyền, trong suốt quá trình hình thành, phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo, góp phần tạo nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của dân tộc. Đó chính là sự đổi mới hệ thống phương pháp, hình thức, biện pháp, con đường mà Đảng sử dụng để lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn xã hội nhằm hiện thực hóa Cương lĩnh chính trị, đường lối, quan điểm của Đảng trong thực tiễn. Tuy nhiên, trước bối cảnh, nhân tố, điều kiện mới hiện nay và những năm tới, nhất là trong điều kiện mở rộng thực hành dân chủ XHCN, hoàn thiện thể chế nhà nước pháp quyền XHCN..., việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng tiếp tục được đặt ra với những yêu cầu mới, cấp thiết hơn trên tất cả các bình diện. Trên cơ sở đó, hội thảo đề xuất nhiều giải pháp vừa bảo đảm tính đồng bộ, vừa có tính chất đột phá nhằm tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra trong thời kỳ mới.
Được biết, nội dung các tham luận tại hội thảo sẽ được tổng hợp, đóng góp vào việc xây dựng văn kiện Đại hội XIII của Đảng.

KHÔNG ĐỂ NHỮNG KẺ CƠ HỘI, LƯƠN LẸO CHUI VÀO BỘ MÁY CÔNG QUYỀN



Không ngẫu nhiên mà người đứng đầu Đảng và Nhà nước ta đã ví những kẻ cơ hội chính trị như những “con lươn, con chạch”. Vì nói đến “con lươn, con chạch”, người ta hay liên tưởng đến những kẻ ra luồn vào cúi, sống lươn lẹo, uốn éo, thoắt ẩn thoắt hiện, khó nắm bắt như loài lươn, loài chạch. Một trong những biểu hiện tinh vi nhất của những kẻ cơ hội chính trị như “con lươn, con chạch” là thái độ “sống giả” để tạo ra uy tín giả vì mục đích háo danh, vụ lợi.
Một trong những nội dung rất quan trọng trong công tác chuẩn bị đại hội ở các tổ chức đảng là việc chuẩn bị nhân sự. Đại hội có thành công hay không, phụ thuộc một phần rất quan trọng vào công tác chuẩn bị, quy hoạch, sàng lọc nhân sự có chặt chẽ, chu đáo, chính xác hay không. Thời gian gần đây, Trung ương Đảng đã ban hành nhiều chỉ thị yêu cầu tổ chức đảng các cấp cần phải làm thật tốt công tác chuẩn bị nhân sự ngay trước thềm đại hội. Một trong những nội dung các chỉ thị đề ra là các cấp ủy đương nhiệm phải chủ động sàng lọc, không để lọt vào cấp ủy khóa mới những kẻ cơ hội chính trị, lập trường thiếu vững vàng, thiếu quyết đoán, không có khí khái, không dám làm, không dám chịu trách nhiệm.
Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 30-5-2019 của Bộ Chính trị “Về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng” nêu rõ: “Kiên quyết sàng lọc, không để lọt vào cấp ủy khóa mới những người bản lĩnh chính trị không vững vàng, bè phái, cơ hội, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh”.
Kết luận số 55-KL/TW ngày 15-8-2019 của Ban Bí thư “Về việc tiếp tục chấn chỉnh công tác cán bộ để chuẩn bị tốt nhân sự đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XIII của Đảng”, trong đó cảnh báo một số nơi cấp ủy viên, ủy viên thường vụ, người đứng đầu cấp ủy còn đủ điều kiện tái cử có hiện tượng giữ mình, né tránh, ngại va chạm; đồng thời yêu cầu không đưa vào cấp ủy khóa mới những người có biểu hiện “thiếu tích cực trong công tác, sợ trách nhiệm, dĩ hòa vi quý”.
Trước đó (tháng 11-2018), chủ trì cuộc họp Ban chỉ đạo xây dựng quy hoạch cán bộ cấp chiến lược nhiệm kỳ 2021-2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Dứt khoát không đưa vào quy hoạch nhiệm kỳ mới những người có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, mất đoàn kết, gây rối nội bộ, tham nhũng tiêu cực, cơ hội chính trị như “con lươn, con chạch”.
Không ngẫu nhiên mà người đứng đầu Đảng và Nhà nước ta ví những kẻ cơ hội chính trị như những “con lươn, con chạch”. Một trong những biểu hiện tinh vi nhất của những kẻ cơ hội chính trị như “con lươn, con chạch” là thái độ “sống giả” để tạo ra uy tín giả vì mục đích háo danh, vụ lợi. 
Theo Từ điển tiếng Việt giải thích, “giả” không chỉ có nghĩa “không phải là thật”, mà “giả” còn bao hàm nhiều nghĩa như: Giống vật gì nhưng không phải mang bản chất của vật ấy; làm ra để thay thế một vật nào đó; làm giống như thật; bắt chước sự thật.
Chung quy lại, giả đối lập với thật, là lợi dụng cái thật để làm y như thật nhằm che mắt, lừa dối thiên hạ vì mục đích hẹp hòi, nhỏ nhoi, không chính đáng. Ví như làm và bán hàng giả để kiếm lợi nhuận bất chính. Học hành giả nhằm nâng “khống” kiến thức với động cơ tiến thân không lành mạnh. Chứng chỉ giả nhằm hợp lý hóa trình độ nào đó hay “đánh bóng” lý lịch cá nhân hòng vụ lợi.
Thật ra, cái giả nào cũng đáng quan ngại. Nhưng thời nay, có một thứ giả đáng quan ngại hơn chính là tình trạng “sống giả”. “Sống giả” không chỉ có nghĩa là sống không thật lòng mình, mà đó là kiểu cách sống bằng mọi giá để lấy lòng, mua chuộc người khác. Ở nhiều cơ quan, đơn vị, tổ chức hiện nay, “sống giả” được khoác lên bộ mặt không ít người. Những người “sống giả” có đặc điểm chung là, với cấp trên cái gì cũng phải, cũng đúng, cũng hay; với thủ trưởng thì bao giờ cũng nhẹ nhàng, mềm mỏng, nhũn nhặn “một dạ hai vâng”; với mọi người thì “mười lăm cũng ừ, mười tư cũng gật”, “gió chiều nào che chiều ấy”, “thấy xôi khen xôi ngọt, thấy thịt bảo thịt bùi”, lúc nào cũng ứng xử theo kiểu dĩ hòa vi quý để cố gắng không làm mất lòng, phật ý ai cả.
Nhưng còn có một thứ “sống giả” tinh vi hơn, đấy là một số người ứng xử đến mức “siêu khéo”, luôn sử dụng những “lời có cánh”, những mỹ từ để khen ngợi người này, vuốt ve người khác, biết tận dụng thời cơ để cung kính cấp trên, chiều chuộng cấp dưới, “cưng nựng” đồng nghiệp. Cái sự “sống giả” này thấy rõ nhất ở một số người đang trong thời điểm chuẩn bị quy hoạch, chuẩn bị lấy phiếu tín nhiệm, chuẩn bị bầu cử, chuẩn bị đại hội, chuẩn bị bổ nhiệm chức vụ mới.
Những người “sống giả” không dễ phát hiện như hàng giả, chứng chỉ giả, bằng cấp giả. Vì đó là những con người bằng xương bằng thịt hẳn hoi, đôi khi được “khoác” trên mình bằng diện mạo bóng bẩy hào hoa, nhưng họ nhũn nhặn thể hiện “cử chỉ giả” để làm xiêu lòng người khác. Ví như nụ cười họ tươi tắn, rực rỡ như những đóa hoa đang nở; giọng mềm như tơ lụa, lời ngọt như mía lùi, ánh mắt lại biết “đung đưa” đúng lúc, đúng chỗ và như có ma lực thôi miên vào từng đối tượng giao tiếp, ứng xử. Những người “sống giả” thường biết diễn giỏi, nói hay, lợi dụng tình cảm chân thành, hồn hậu của mọi người nhằm mua chuộc nhân tâm.
Như vậy, “sống giả” cũng là một trong những hình thức tạo dựng uy tín giả cho cán bộ, đảng viên, một triệu chứng không thể xem thường trong bộ máy công quyền. Vì thực tế đã có những người tiến thân không phải do tài năng, đức độ, mà đi lên bằng cái “môi mỏng, lưỡi mềm” siêu đẳng của họ. Họ hiếm khi gây mất lòng ai, nhưng do tài cán có hạn, lại chỉ khư khư giữ mình vì ngại đụng chạm, ngại va vấp, ngại khuyết điểm, thế nên những người này thường không có chính kiến rõ ràng, không có tính quyết đoán, không dám chịu trách nhiệm, nên không góp phần tạo ra động lực thúc đẩy, nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc cho tập thể, cho bộ máy.
“Sống giả” thực chất là cách sống chủ yếu chỉ vì lợi ích của mình mà không vì tập thể, vì mọi người, do đó, ảnh hưởng không nhỏ đến sự vận động, phát triển lành mạnh của tổ chức, cơ quan, đơn vị. Đấy là chưa kể có những người “sống giả” đến mức như một “diễn viên có hạng” trong giao tiếp ứng xử, họ sẵn sàng đổi màu như con tắc kè để mua vui người này, lấy lòng người khác nhằm mục tiêu tối thượng là “tăng phiếu, lên ghế” cho bản thân mình!
“Sống giả” đâu đó vẫn hiện diện hằng ngày trên những khuôn mặt thật, song, nó lại được bao bọc tinh vi bởi những cái mặt nạ bóng bẩy hào hoa bên ngoài, thế nên nó rất dễ làm mập mờ, lẫn lộn ranh giới tốt-xấu, đúng-sai, hay-dở trong nội bộ và gây khó khăn thêm cho việc nhận định, đánh giá chuẩn mực nhân cách cán bộ, đảng viên.
Châm ngôn có câu: “Lộng giả thành chân”, nó vừa có nghĩa “bỡn quá hóa thật”, vừa mang hàm ý những cái giả để lâu ngày nếu không được vạch mặt chỉ tên để uốn nắn, chấn chỉnh và loại trừ khỏi cuộc sống thì sẽ đến lúc người ta tin đó là sự thật. Nếu tổ chức, cơ quan, đơn vị nào đó mà cứ để cho tình trạng “sống giả” nhởn nhơ thì không chỉ làm tổn thương những nhân cách trung thực, phương hại những phẩm giá chân chính mà còn làm thui chột những cán bộ, đảng viên có động cơ phấn đấu lành mạnh.
Hiện nay, các địa phương, các cơ quan, đơn vị đang khẩn trương, tích cực chuẩn bị các bước quy hoạch nhân sự chuẩn bị Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2020-2025 tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Vì vậy, cấp ủy, ban thường vụ, người đứng đầu cấp ủy và các cơ quan chức năng giúp việc càng phải sớm nhận diện, phát hiện, thẩm định, sàng lọc chặt chẽ ngay từ đầu để ngăn chặn không cho những kẻ cơ hội như “con lươn, con chạch”, “sống giả” chui vào vị trí lãnh đạo các cấp. Làm được như vậy, chúng ta sẽ góp phần làm trong sạch đội ngũ cán bộ lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng ngang tầm nhiệm vụ.

MUỐN NGĂN CHẶN KẺ CƠ HỘI, CẦN BẢO ĐẢM DÂN CHỦ, KHÁCH QUAN, MINH BẠCH TRONG CÔNG TÁC NHÂN SỰ



Muốn phòng ngừa tận gốc những kẻ cơ hội, lươn lẹo chui vào vị trí lãnh đạo và bộ máy công quyền, cần phải chú trọng thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về công tác cán bộ, trước hết cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cấp ủy các cấp phải bảo đảm tính dân chủ, công khai, khách quan, minh bạch trong công tác chuẩn bị nhân sự đại hội đảng trong nhiệm kỳ tới.
Đây là ý kiến bao trùm trong nhiều ý kiến hồi âm của cán bộ, đảng viên và người dân sau khi bài viết “Không để những kẻ cơ hội, lươn lẹo chui vào bộ máy công quyền” đăng trên Báo Quân đội nhân dân ngày 12-9-2019.Trước đây, khi cách mạng còn trong trứng nước, thời kỳ Đảng mới ra đời, vào những năm 30 của thế kỷ trước, những kẻ cơ hội chính trị nổi lên như một thế lực chống phá Đảng quyết liệt từ bên trong, nhưng chúng ta đã sớm nhận diện, phát hiện, phê phán đến cùng, đấu tranh quyết liệt và đã loại chúng ra khỏi đời sống chính trị. Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay, những kẻ cơ hội chính trị mà người đứng đầu Đảng và Nhà nước ta ví như “con lươn, con chạch” không dễ nhận diện, vạch mặt chỉ tên một cách chính xác, vì những đối tượng này thường có những lời nói, cử chỉ, hành vi rất tinh vi, nếu ai không tỉnh táo thì dễ bị họ lấy lòng, mua chuộc. Để phòng ngừa, ngăn chặn những kẻ cơ hội chui vào cấp ủy khóa mới và bộ máy công quyền, các cấp ủy, tổ chức đảng phải thực hiện đầy đủ, tuân thủ nghiêm túc, chấp hành triệt để các chỉ thị, quy định của Đảng về công tác cán bộ.
Bấy lâu nay vấn đề khó khăn nhất và cũng là khâu yếu nhất vẫn là việc đánh giá, nhận xét cán bộ. Nếu ban thường vụ, cấp ủy, cá nhân người đứng đầu cấp ủy tâm không trong, dạ không sáng, bản lĩnh không vững vàng, lại bị chi phối bởi những mối quan hệ thiếu lành mạnh thì những kẻ cơ hội có nhiều điều kiện được quy hoạch, bổ nhiệm, đề bạt ở những vị trí công tác thuận lợi. Tôi nhớ một câu nói của cố Tổng Bí thư Lê Duẩn, đại ý: Lơ là, mất cảnh giác với những kẻ cơ hội cũng là một tội ác đối với Đảng, với nước, với dân. Do vậy, tôi đề nghị các cấp ủy, ban thường vụ, người đứng đầu cấp ủy các cấp phải hết sức tỉnh táo với những đối tượng “nói hay, diễn giỏi, hùng biện khéo” và tìm mọi cách “vòng vèo” để lọt vào cấp ủy khóa mới với động cơ háo danh, vụ lợi.
TS Quản Minh Cường, Cục trưởng Cục Bảo vệ chính trị nội bộ (Ban Tổ chức Trung ương): Đề cao vai trò của cơ quan bảo vệ chính trị nội bộ để góp phần “sàng lọc” những kẻ cơ hội
Cùng với việc đề phòng sai lầm về chủ trương, đường lối, việc đấu tranh phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội chính trị và vi phạm nguyên tắc tổ chức, kỷ luật Đảng là cực kỳ quan trọng. Trước thềm đại hội đảng các cấp, cần phải đề cao trách nhiệm của cấp ủy và người đứng đầu cấp ủy cơ sở trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ, gắn công tác bảo vệ chính trị nội bộ với công tác xây dựng Đảng, đặc biệt là công tác xây dựng Đảng về tổ chức, cán bộ.
Trên cơ sở Quy định số 126-QĐ/TW ngày 28-2-2018 của Bộ Chính trị “Một số vấn đề về bảo vệ chính trị nội bộ Đảng”, các cấp ủy, tổ chức đảng và cơ quan bảo vệ chính trị nội bộ các cấp tiến hành rà soát, thẩm tra, thẩm định, kết luận rõ tiêu chuẩn chính trị đối với cán bộ thuộc thẩm quyền. Công tác thẩm định phải bảo đảm chặt chẽ, đúng quy trình. Bảo đảm tất cả các trường hợp cán bộ, đảng viên được giới thiệu vào cấp ủy khóa mới đều phải được thẩm định và kết luận về tiêu chuẩn chính trị; kiên quyết không để sót, lọt những trường hợp cán bộ không bảo đảm tiêu chuẩn chính trị, đạo đức nhưng lại được đề bạt, bổ nhiệm vào những vị trí lãnh đạo, quản lý. Các nhân sự phải bảo đảm đủ tiêu chuẩn nêu tại Quy định số 89-QĐ/TW ngày 4-8-2017 của Bộ Chính trị khóa XII. Bản thân mỗi nhân sự khi được giới thiệu vào cấp ủy khóa mới phải có lập trường, quan điểm, bản lĩnh chính trị vững vàng, không dao động trong bất cứ tình huống nào, không tham nhũng, quan liêu, cơ hội, vụ lợi; kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, bè phái, lợi ích nhóm, nói không đi đôi với làm.
Đại tá, PGS, TS Lê Duy Chương, Học viện Chính trị: Tăng cường trách nhiệm chính trị của người đứng đầu cấp ủy
Các cấp ủy, tổ chức đảng cần phải quán triệt, nắm chắc và thực hiện nghiêm túc Kết luận số 55-KL/TW ngày 15-8-2019 của Ban Bí thư “Về việc tiếp tục chấn chỉnh công tác cán bộ để chuẩn bị tốt nhân sự đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XIII của Đảng”, qua đó góp phần sàng lọc, phòng ngừa, ngăn chặn những kẻ cơ hội chính trị lọt vào cấp ủy khóa mới. Các cấp ủy viên, ủy viên thường vụ, đặc biệt là người đứng đầu cấp ủy có vai trò hết sức quan trọng trong triển khai thực hiện Kết luận 55 của Ban Bí thư. Vì thực tế cho thấy, những kẻ cơ hội, giả tạo, lươn lẹo thường tìm mọi cách lấy lòng người đứng đầu cấp ủy để hy vọng “ba năm phấn đấu không bằng một giờ cơ cấu”.
Bên cạnh đó, cần phát huy vai trò của các đoàn thể quần chúng trong việc tích cực tham gia công tác xây dựng Đảng thông qua góp ý, phê bình để người đứng đầu có đủ thông tin và sáng suốt trong quá trình chuẩn bị nhân sự cho đại hội đảng các cấp. Từng cấp ủy đều phải giám sát người đứng đầu, kiên quyết không đề xuất, quyết định những nhân sự không bảo đảm tiêu chuẩn về độ tuổi, uy tín, phẩm chất, năng lực; những nhân sự vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, gây mất đoàn kết, thiếu tích cực trong công tác, sợ trách nhiệm, dĩ hòa vi quý, không có dũng khí đấu tranh bảo vệ người tốt, lẽ phải trong tổ chức, cơ quan, đơn vị.
Ông Nguyễn Thanh Xuân, Phó chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Yên Bái: Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc giám sát cán bộ, đảng viên
Tôi thấy những vấn đề mà Báo Quân đội nhân dân nêu ra trong bài viết “Không để những kẻ cơ hội, lươn lẹo chui vào bộ máy công quyền” là phản ánh đúng tình hình thực tiễn hiện nay. Người dân thường có câu cửa miệng “Nói vậy nhưng không phải vậy” nhằm ám chỉ, phê bình những cán bộ, đảng viên chỉ biết nói hay, nói dẻo, nói đúng như nghị quyết, chỉ thị của Đảng, nhưng làm không đến nơi đến chốn, thậm chí nói một đằng làm một nẻo. Đây cũng là một biểu hiện đáng quan tâm của những kẻ thực dụng, cơ hội chính trị thời nay.
Muốn phòng ngừa, ngăn chặn được những đối tượng này lọt vào cấp ủy khóa mới, theo tôi ngoài việc làm tốt công tác giáo dục, nâng cao đạo đức, ý thức tự trọng, đức tính liêm sỉ cho cán bộ, đảng viên, chúng ta cần coi trọng, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) và các đoàn thể chính trị-xã hội trong việc giám sát cán bộ, đảng viên. Việc làm này dựa trên cơ sở Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12-12-2013 của Bộ Chính trị về việc MTTQ Việt Nam và các đoàn thể chính trị-xã hội tham gia giám sát và phản biện xã hội; Quyết định số 218-QĐ/TW ngày 12-12-2013 của Bộ Chính trị về việc MTTQ Việt Nam, các đoàn thể chính trị-xã hội và nhân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Thông qua việc giám sát cán bộ, đảng viên, MTTQ sẽ tập hợp ý kiến các của thành viên mặt trận về những ưu điểm, khuyết điểm của cán bộ, nhất là cán bộ được quy hoạch giới thiệu vào cấp ủy khóa mới, từ đó cấp ủy đương nhiệm có thêm kênh thông tin tham khảo quan trọng để đánh giá trung thực, khách quan, công tâm về phẩm chất, năng lực, uy tín của cán bộ; đồng thời góp phần phòng ngừa được những trường hợp nhân sự không đủ tiêu chuẩn lọt vào nhiệm kỳ khóa tới.
Thượng tá Nguyễn Hồng Sơn, Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy, Trường Sĩ quan Chính trị: Bảo đảm dân chủ, công tâm, khách quan, minh bạch khi đánh giá cán bộ
Để phòng, chống và ngăn chặn những kẻ cơ hội chính trị, lươn lẹo chui vào bộ máy công quyền, công tác chuẩn bị nhân sự của các cấp ủy, tổ chức đảng phải thực hiện theo đúng điều lệ, quy chế, quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Các cấp ủy, ban thường vụ, người đứng đầu cấp ủy các cấp cần quán triệt sâu sắc Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 30-5-2019 của Bộ Chính trị “Về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng” và Kết luận số 55-KL/TW ngày 15-8-2019 của Ban Bí thư.
Một trong việc cần làm nghiêm túc hiện nay là đánh giá cán bộ phải chặt chẽ, thực chất, dân chủ, khách quan, minh bạch, đánh giá đa chiều, đánh giá từ trên xuống, từ dưới lên, đánh giá trong nội bộ, đánh giá trong quần chúng ở nơi cán bộ, đảng viên công tác và nơi đảng viên, cán bộ cư trú. Các cấp ủy, tổ chức đảng phải thực hiện đầy đủ, nghiêm túc quy trình chuẩn bị nhân sự theo 5 bước đã được Đảng ta quy định rất cụ thể, rõ ràng; đồng thời cần đề cao trách nhiệm và sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan kiểm tra, nội chính, tổ chức… trong việc tham mưu, thẩm định, đánh giá, sàng lọc nhân sự vào cấp ủy khóa mới, kiên quyết loại trừ ngay những kẻ cơ hội chính trị từ bước 1 trong quy trình chuẩn bị nhân sự. Có “đầu vào” tốt chúng ta mới hy vọng có đội ngũ cấp ủy viên và cán bộ lãnh đạo khóa mới thật sự vững vàng về chính trị, trong sáng về đạo đức, giàu nhiệt huyết, trách nhiệm, tinh thần cống hiến vì nước, vì dân.

CẦN NHẬN THỨC THẤU ĐÁO VỀ KẾT HỢP PHÁT TRIỂN KINH TẾ VỚI CỦNG CỐ QUỐC PHÒNG, AN NINH



Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế-xã hội (KH-XH), với củng cố quốc phòng, an ninh (gọi tắt là kết hợp kinh tế với quốc phòng) là quan điểm, chủ trương của Đảng ta và đã triển khai thực hiện qua nhiều kỳ đại hội.
Quan điểm này xuất phát từ truyền thống dựng nước phải đi đôi với giữ nước của dân tộc Việt Nam đã hình thành từ hàng nghìn năm qua và được trao truyền từ thời đại này sang thời đại khác, từ thế hệ này qua thế hệ khác. Chính từ sự kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng đã giúp cho đất nước ta luôn ổn định về chính trị, giữ vững độc lập, chủ quyền, bảo đảm tốt trật tự an toàn xã hội, không ngừng mở rộng các quan hệ đối ngoại... Đó là cơ sở để đưa nước ta từ một nước lạc hậu, kém phát triển, trở thành một nước đang phát triển, với mức thu nhập trung bình như hiện nay.
Những năm gần đây, với sự nỗ lực của các cấp, các ngành, các địa phương, sự tham mưu đúng, trúng của các cơ quan, đơn vị thuộc LLVT, công tác kết hợp kinh tế với quốc phòng từ cấp vĩ mô đến vi mô đã thu được những kết quả rất đáng khích lệ. Qua tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc cho thấy: Việc kết hợp kinh tế với quốc phòng đã được nhiều bộ, ngành, địa phương chú trọng thực hiện. Ở các bộ, ngành đã nhận thức rõ công tác quốc phòng không phải là chỉ riêng LLVT tiến hành, nên đã có những đóng góp tích cực từ việc tham mưu với Đảng, Nhà nước hoạch định chính sách, đường lối, cho đến trực tiếp phối hợp với các cơ quan, đơn vị thuộc LLVT triển khai thực hiện các dự án, đề án về kết hợp kinh tế với quốc phòng trên khắp các vùng miền, biên giới, hải đảo. Do đó thế trận phòng thủ trên bộ, trên không, trên biển không ngừng được củng cố, góp phần giữ vững chủ quyền an ninh biên giới quốc gia, giữ vững không phận và chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.
Đối với các địa phương, nhận thức của đội ngũ cán bộ chủ trì cũng đã có những chuyển biến tích cực. Hệ thống văn bản lãnh đạo, chỉ đạo việc phát triển kinh tế gắn với củng cố quốc phòng, an ninh đã được ban hành có tính thường kỳ. Nhiều địa phương đã cố định một tỷ lệ ngân sách, bố trí diện tích tự nhiên để xây dựng các công trình quân sự, quốc phòng, xây dựng căn cứ chiến đấu trong khu vực phòng thủ. Tổng hợp tất cả các yếu tố lại chúng ta có thể thấy, hệ thống khu vực phòng thủ trên địa bàn cả nước đang dần được hình thành và có sự liên kết khá vững chắc cả trên bộ, trên không, trên biển; tiềm lực quân sự trong khu vực phòng thủ đang được tăng cường, có thể đáp ứng được yêu cầu tác chiến khi có chiến tranh xảy ra.
Tuy nhiên, nhìn vào thực tế cũng thấy nổi lên một số vấn đề, đó là vẫn còn một số người cho rằng hiện nay chỉ cần tập trung phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập là được, còn chiến tranh chưa xảy ra nên chưa cần đầu tư nhiều nguồn lực vào công tác quốc phòng. Nguyên nhân dẫn đến nhận thức sai lệch này là do hiểu không đúng về vai trò, mối quan hệ của kinh tế đối với quốc phòng, quốc phòng đối với kinh tế trong một quốc gia độc lập, thống nhất có chủ quyền. Do đó họ muốn tách rời quan hệ kinh tế với quan hệ quốc phòng, tách rời việc tạo tiềm lực kinh tế với tạo tiềm lực quốc phòng. Một phần nữa là do tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, cho rằng đã làm kinh tế thì chỉ quan tâm đến lợi nhuận, lợi ích cá nhân hoặc lợi ích cục bộ. Chính từ nhận thức trên đã dẫn đến những hiện tượng, hành vi có tác động xấu tới việc kết hợp kinh tế với quốc phòng trong thực tiễn, đó là:
Trước hết, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư phát triển KT-XH ở một số địa phương đã có những dấu hiệu chỉ quan tâm đến lợi ích trước mắt, lợi ích cục bộ của ngành mình, địa phương mình hoặc của một nhóm người; không chú trọng đến tính liên kết, đồng bộ trong phát triển của các lĩnh vực, vùng miền. Điều này một phần xuất phát từ cái gọi là “tư duy nhiệm kỳ” đang tồn tại trong một số cán bộ. Việc làm đó đã khiến nguồn lực đầu tư đổ dồn vào chỗ có thể sinh lợi, còn các nơi khác thì không, kể cả vùng trọng điểm về quốc phòng, an ninh. Hệ lụy của nó là tạo ra sự mất cân đối về nguồn lực giữa các vùng miền, nới rộng khoảng cách giàu nghèo, làm ảnh hưởng đến việc xây dựng thế trận quốc phòng, thế trận lòng dân. Việc ban hành văn bản nhằm vào lợi ích cục bộ là một hiện tượng rất đáng báo động, bởi đây cũng là gốc rễ sinh ra sự thiếu công bằng trong xã hội, là một phần nguyên nhân của hiện tượng khiếu nại, tố cáo vượt cấp, và điều nguy hại là nó sẽ gây ra những hệ lụy rất khó khắc phục trong thực tiễn.
Thứ hai là, hiện nay đang tồn tại hiện tượng cố tình làm sai các hướng dẫn, chỉ đạo của cơ quan chức năng và cơ quan cấp trên trong lĩnh vực kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh. Có những địa phương, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, mặc dù đã được cơ quan chức năng hướng dẫn kỹ càng, đầy đủ trước khi thực hiện các dự án, đề án, nhưng trong tổ chức thực hiện đã cố tình làm sai, làm trái. Vấn đề này thể hiện rất rõ trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, lĩnh vực khai thác du lịch, khoáng sản... Có khá nhiều công trình sai phép, trái phép về độ cao, về phạm vi, diện tích xây dựng, hoặc vị trí, quy mô xây dựng không đúng quy hoạch... Vì vậy, nhiều công trình khi xây dựng lên đã uy hiếp sự an toàn của mục tiêu cần bảo vệ (công trình số 8B phố Lê Trực, Ba Đình, Hà Nội là một điển hình và công trình này đang bị UBND TP Hà Nội yêu cầu tháo dỡ, bảo đảm đúng so với thiết kế và giấy phép xây dựng). Trong thực hiện, vì lợi ích kinh tế nên có những địa phương đã cấp phép cho các doanh nghiệp xây dựng và khai thác dịch vụ du lịch vào các vị trí quan trọng trong thế trận phòng thủ ở địa phương. Có những khu du lịch chiếm cứ toàn bộ một dải bờ biển, hoặc chiếm toàn bộ khu vực có thể tạo nên trận địa phòng ngự tại một điểm cao, sau đó xây dựng các công trình, phá vỡ địa hình tự nhiên, làm ảnh hưởng tới kế hoạch tác chiến phòng thủ của địa phương, trong đó khu lịch sinh thái biển Tiên Sa thuộc bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng có thể gọi là một ví dụ điển hình. Rất may là khu resort này đã bị cơ quan chức năng và chính quyền địa phương đình chỉ thi công. Trong cả nước còn có khá nhiều dự án xây dựng, khai thác khoáng sản trái phép, hoặc sai phép, xuất phát từ lợi ích của một nhóm người, nhưng lại làm phương hại đến lợi ích của cộng đồng và lợi ích quốc gia, làm ảnh hưởng tới khả năng cơ động lực lượng, làm sai lệch kết cấu của thế trận phòng thủ, không đúng quan điểm kết hợp kinh tế với quốc phòng của Đảng.
Thứ ba là, có hiện tượng cán bộ nhận thức lơ mơ cả về lý luận và thực tiễn đối với quan điểm kết hợp kinh tế với quốc phòng. Do đó khi thực hiện nhiệm vụ đã không thể làm tròn trách nhiệm, hoặc không biết mình làm sai. Nguyên nhân của hiện tượng này là do cán bộ không chịu học tập, nghiên cứu về chủ trương, đường lối của Đảng trong lĩnh vực kết hợp kinh tế với quốc phòng, nên không hiểu được căn nguyên, gốc rễ vấn đề, làm việc theo cảm tính, thiếu căn cứ lý luận và không phù hợp với thực tiễn. Một phần khác là do các thế lực thù địch lôi kéo, gây nhiễu loạn thông tin, khiến cho một số cán bộ không phân biệt được lợi và hại, chỉ nhìn một chiều, nên khi hoạch định chính sách, triển khai chính sách phát triển KT-XH, hoặc giám sát thực hiện... đều dễ mắc sai lầm, tiến hành các dự án, đề án theo kiểu đơn lẻ, thiển cận, thiếu sự quan sát, gắn kết có tính tổng quan giữa phát triển KT-XH với củng cố quốc phòng, an ninh.
Trong nhân dân thì còn một bộ phận thiếu hiểu biết về pháp luật, cộng với lòng tham nên thừa lúc công tác quản lý còn lỏng lẻo, đã cố ý lấn chiếm các khu vực quân sự, quốc phòng, biến đất quốc phòng thành đất của riêng mình. Vì vậy nhiều khu đất đã được quy hoạch thành khu vực xây dựng công trình quân sự, phục vụ sự nghiệp quốc phòng, nhưng một bộ phận người dân đã xâm phạm, canh tác hoặc xây dựng các công trình trong khu vực lấn chiếm. Khi Nhà nước thu hồi thì tỏ thái độ chống đối, chây ỳ, không chịu di dời trả lại mặt bằng cho Nhà nước, khiến cho việc giải phóng mặt bằng trở nên phức tạp. Bên cạnh đó đã xuất hiện một số đối tượng có kiến thức về luật pháp, nhưng lại vào hùa với cái sai hòng trục lợi nên đã hướng lái người dân “cố thủ” trên các khu vực đã lấn chiếm để đòi hỏi quyền lợi. Việc lấn chiếm đất quốc phòng ở khu vực sân bay Miếu Môn hiện nay là một ví dụ điển hình.
Khắc phục hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong lĩnh vực kết hợp kinh tế với quốc phòng là việc bắt buộc phải làm. Cần phải làm cho mọi cán bộ và nhân dân hiểu rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của việc kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, từ đó xác định rõ trách nhiệm, bổn phận của mình trong thực hiện chủ trương trên. Vì vậy, phải tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, nêu bật các điển hình tích cực, đồng thời cũng chỉ rõ các hành vi tiêu cực trong lĩnh vực này. Các cơ quan chức năng cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm cho hệ thống văn bản này luôn thống nhất với quan điểm, đường lối của Đảng, tạo cơ sở vững chắc và tính chặt chẽ trong hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ kết hợp kinh tế với quốc phòng. Các văn bản trước khi ban hành phải được rà soát, loại bỏ mọi kẽ hở có thể tạo ra lợi ích cục bộ cho một ngành, hoặc một nhóm người. Công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các dự án, đề án phát triển KT-XH cần được tiến hành nghiêm túc, liên tục, từ khâu xét duyệt cho đến lúc triển khai thực hiện và hoàn thành, tất cả các khâu, các bước phải luôn gắn kết với yếu tố bảo đảm quốc phòng, an ninh. Mọi hành vi sai trái, đi ngược lại quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước đều phải bị nghiêm trị theo đúng quy định của pháp luật.
Trên thế giới hiện nay, hầu hết các cường quốc về kinh tế thì đều là các cường quốc về quân sự, quốc phòng, điều đó chứng tỏ kinh tế và quốc phòng là hai thực thể không thể tách rời. Việc Đảng ta đề ra và kiên quyết, kiên trì với quan điểm kết hợp giữa phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh là phù hợp cả về mặt lý luận và thực tiễn khách quan. Kinh tế không phát triển thì không có nguồn lực cho quốc phòng vững mạnh, ngược lại quốc phòng không vững chắc thì không có chỗ dựa cho KT-XH phát triển. Cha ông chúng ta từ xa xưa đã dạy “Thái bình nên gắng sức/Non nước vững nghìn thu”, “giữ nước từ khi nước chưa nguy”... Ngày nay, Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”, “xây dựng phải đi đôi với bảo vệ”... Đó chính là những khái quát ở tầm mức cao về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong thời đại ngày nay mà cụ thể hóa nó chính là kết hợp kinh tế với quốc phòng. Do vậy, không có lý do gì để quan niệm phát triển kinh tế không gắn kết với quốc phòng, an ninh tồn tại trong tư duy, nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân Việt Nam.

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN ĐƯỢC MỐI QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM - CUBA


 Thời gian qua, các thế lực thù địch bên ngoài, cả một số người trẻ tuổi trong nước thông qua mạng xã hội tìm cách phủ nhận mối quan hệ giữa hai đất nước anh em Việt Nam-Cuba. Họ tìm cách gây chia rẽ, mất đoàn kết giữa hai dân tộc, phủ nhận vai trò và sự giúp đỡ chí tình của nhân dân Cuba trong kháng chiến cứu nước và trong xây dựng đất nước của nhân dân Việt Nam; cũng như sự giúp đỡ về vật chất, tinh thần mà nhân dân Việt Nam đã dành cho Cuba.
Đó là những luận điệu thù địch nhằm xuyên tạc lịch sử, phá vỡ mối quan hệ gắn bó bền chặt giữa hai dân tộc vốn được Nhà nước và nhân dân hai nước gìn giữ, vun đắp bấy lâu nay.
"Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu mình", câu nói bất hủ của Chủ tịch Cuba Fidel Castro đã in sâu vào trái tim các thế hệ người Việt Nam, thể hiện sâu sắc tình anh em, tình đồng chí keo sơn giữa Việt Nam-Cuba trong những năm tháng chiến tranh ác liệt và trong công cuộc xây dựng, đổi mới đất nước hiện nay. Quan hệ đoàn kết, anh em giữa Việt Nam và Cuba do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Fidel Castro đặt nền móng được thúc đẩy ngày càng phát triển lớn mạnh không ngừng. Ngay sau ngày cách mạng Cuba thành công (1-1-1959), Cộng hòa Cuba là quốc gia Mỹ Latin đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ với Việt Nam (2-12-1960), đồng thời công nhận Phái đoàn đại diện thường trú của Mặt trận (7-1962) và thành lập Ủy ban toàn quốc đoàn kết với miền Nam Việt Nam (25-9-1963); công nhận về mặt ngoại giao Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (20-12-1965) và cũng là nước đầu tiên cử Đại sứ bên cạnh Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng (3-1969). Những năm thập niên 1970 của thế kỷ trước, trong thời kỳ gian khổ nhất cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam, dù cuộc sống còn khó khăn, song Đảng, Nhà nước và nhân dân Cuba luôn đồng hành, chắt chiu dành cho Việt Nam sự ủng hộ lớn nhất cả về vật chất lẫn tinh thần; đã bán hàng vạn tấn đường lấy ngoại tệ gửi cho Mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam đánh Mỹ; gửi nhiều kỹ sư, công nhân, bác sĩ và nhân viên y tế cùng thuốc men, dụng cụ y tế giúp chữa trị cho người dân Việt Nam. 
Trong chuyến thăm chính thức Việt Nam lần đầu tiên vào tháng 9-1973, bất chấp tình hình nguy hiểm, Chủ tịch Fidel Castro đã đến tận khu giải phóng Quảng Trị. Thay mặt nhân dân Cuba, Chủ tịch Fidel Castro tặng Việt Nam 5 công trình kinh tế-xã hội (KT-XH) có giá trị vật chất rất lớn, gồm: Khách sạn Thắng Lợi, Trại bò giống Ba Vì, tuyến đường Sơn Tây-Xuân Mai (Hà Nội), Bệnh viện Việt Nam-Cuba (Đồng Hới, Quảng Bình), Xí nghiệp gà Lương Mỹ(1). Trong đó, việc đưa Bệnh viện Việt Nam-Cuba hiện đại nhất lúc bấy giờ vào hoạt động mở ra chặng đường mới trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân. Trong suốt thập niên 1980-1990, dù phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, đặc biệt là chống lại chính sách bao vây, cấm vận của Mỹ, Cuba tiếp tục viện trợ thuốc men, vacxin, lương thực cho Việt Nam.
Đáp lại tình cảm to lớn của nhân dân Cuba đã dành cho Việt Nam, khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Ðông Âu sụp đổ, Mỹ siết chặt cấm vận, Cuba đã phải đương đầu với muôn vàn khó khăn, trong hoàn cảnh đó, Việt Nam đã dành cho đất nước anh em Cuba sự ủng hộ hết lòng, đã gửi gạo, quần áo, đồ dùng học tập và nhiều mặt hàng tiêu dùng thiết yếu sang giúp nhân dân Cuba. Từ đó đến nay, Việt Nam tiếp tục viện trợ lương thực, thực phẩm, máy móc và trang thiết bị giúp nước bạn, đồng thời tích cực vận động các quốc gia trên thế giới kêu gọi Mỹ bỏ bao vây cấm vận Cuba.
Những năm qua, Việt Nam và Cuba đã thúc đẩy mạnh mẽ hợp tác kinh tế song phương trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là nông nghiệp, dầu khí, viễn thông, giáo dục và y tế… Việt Nam hiện là đối tác thương mại lớn thứ hai của Cuba tại khu vực châu Á và châu Đại Dương. Tổng kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam-Cuba năm 2018 đạt mức gần 350 triệu USD và có khả năng tăng hơn nữa bởi trong chuyến thăm chính thức Việt Nam của Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Cuba Miguel Mario Diáz Canel hồi tháng 11-2018, hai bên đã ký nhiều văn bản, thỏa thuận hợp tác, tạo căn cứ pháp lý cho hợp tác kinh doanh trước mắt cũng như lâu dài. Trong đó, Hiệp định Thương mại mới giữa Việt Nam và Cuba khi được ký kết sẽ đưa quan hệ kinh tế, thương mại giữa hai nước lên ngang tầm quan hệ chính trị đặc biệt sẵn có, tạo cơ sở để nâng kim ngạch thương mại hai chiều lên 500 triệu USD trong vòng 5 năm tới. Phía Cuba cũng chủ động đề xuất doanh nghiệp Việt Nam tham gia đầu tư vào các lĩnh vực tiềm năng, như: Công nghiệp, du lịch, công nghệ sinh học và các lĩnh vực ưu tiên phát triển tại Đặc khu phát triển kinh tế Mariel (ZEDM) và lĩnh vực mới như sản xuất vaccine, dược phẩm. Trong hành trình xúc tiến đầu tư vào ZEDM, Cuba đã chọn Việt Nam là đối tác đầu tiên được cấp phép đầu tư 100% vốn nước ngoài để phát triển khu công nghiệp được khởi công vào tháng 11-2018.
Về quan hệ chính trị, ngoại giao, hai nước luôn nỗ lực duy trì, phát triển quan hệ song phương ngày càng tốt đẹp, gắn bó mật thiết với sự tin cậy cao, thể hiện qua việc thường xuyên trao đổi đoàn ở các cấp trên tất cả các kênh Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội cũng như giao lưu nhân dân, nhất là cơ chế hợp tác liên chính phủ giữa hai nước; nhất quán ủng hộ lẫn nhau trên các diễn đàn quốc tế, nhất là tại Liên hợp quốc. Trong chuyến thăm cấp Nhà nước tới Cuba vào tháng 3-2018, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (nay là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước) đã khẳng định: Với nhân dân Việt Nam, hai tiếng Cuba đồng nghĩa với biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng, khí phách hiên ngang, ý chí quật cường, niềm tin mãnh liệt vào lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Quan hệ Việt Nam-Cuba là quan hệ anh em, đồng chí thân thiết, chân thành, trong sáng và đã trải qua một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ ở mỗi nước, đã được thử thách, rèn luyện qua hơn nửa thế kỷ đến ngày nay và đang tiếp tục phát triển tốt đẹp, trở thành biểu tượng của thời đại. 
Gần 60 năm qua, dù tình hình thế giới và khu vực có những biến đổi sâu sắc, với những diễn biến phức tạp, khó lường; song Đảng, Nhà nước, nhân dân hai nước luôn kiên trì và quyết tâm đưa mối quan hệ hợp tác lên tầm cao mới nhằm kế thừa, phát huy mạnh mẽ truyền thống tốt đẹp mà hai dân tộc đã dày công vun đắp, phấn đấu đưa quan hệ giữa hai nước trở thành mối quan hệ đặc biệt, không có tiền lệ, là hình mẫu của quan hệ quốc tế(2). Với đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây", Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam mãi ghi nhớ tình cảm sâu đậm, sự giúp đỡ vô giá mà nhân dân Cuba đã dành cho nhân dân Việt Nam, đồng thời luôn coi việc đoàn kết, ủng hộ và hợp tác với Cuba là mệnh lệnh của trái tim, là chủ trương nhất quán không bao giờ thay đổi. Thực tiễn những năm qua đã chứng minh rằng, chủ trương đó luôn được bảo đảm thực hiện với tinh thần và trách nhiệm cao nhất. Đó cũng là minh chứng sinh động nhất đập tan mọi luận điệu xuyên tạc mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước, phủ nhận vai trò, sự giúp đỡ của nhân dân Cuba với Việt Nam và tình cảm đặc biệt mà nhân dân Việt Nam dành cho đất nước Cuba anh em trong xây dựng và phát triển đất nước những năm qua và trong thời gian tới. 
Quan hệ đoàn kết, hữu nghị giữa Việt Nam và Cuba do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Fidel Castro đặt nền móng mãi mãi là biểu tượng bất diệt của chủ nghĩa quốc tế trong sáng, vô tư và thủy chung, là niềm tự hào của các thế hệ sau này của nhân dân hai nước. Được xây dựng, vun đắp từ tình cảm, trí tuệ và sức lực của hai dân tộc, được thử thách qua những năm tháng khó khăn nhất của lịch sử, quan hệ Việt Nam-Cuba trở thành tài sản vô giá và nguồn cổ vũ lớn lao cho sự nghiệp cách mạng ở mỗi nước; là nhân tố quan trọng góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở hai quốc gia.    
(1),(2). Nguyễn Văn Toàn, Việt Nam-Cuba: Hình mẫu của quan hệ quốc tế, Thế giới & Việt Nam online, ngày 31-12-2016a



Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...