Thứ Sáu, 9 tháng 8, 2019

BÃI TƯ CHÍNH THUỘC CHỦ QUYỀN VÀ QUYỀN TÀI PHÁN CỦA VIỆT NAM



Việt Nam có chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển ở Biển Đông được xác định theo đúng các quy định của Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982), mà Việt Nam và các nước ở Biển Đông đều là thành viên. Do đó, mọi hoạt động của nước ngoài trên các vùng biển Việt Nam phải tuân thủ các quy định có liên quan của UNCLOS 1982 và pháp luật Việt Nam.
VI PHẠM QUYỀN CHỦ QUYỀN VÀ QUYỀN TÀI PHÁN CỦA VIỆT NAM
Ngày 19/7/2019, trả lời câu hỏi của phóng viên liên quan đến diễn biến ở khu vực Biển Đông, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng đã nhấn mạnh: “Trong những ngày qua, nhóm tàu khảo sát Hải Dương 08 của Trung Quốc đã có hành vi vi phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam ở khu vực phía Nam Biển Đông. Đây là vùng biển hoàn toàn của Việt Nam, được xác định theo đúng các quy định của UNCLOS 1982 mà Việt Nam và Trung Quốc đều là thành viên. Việt Nam đã tiếp xúc nhiều lần với phía Trung Quốc ở các kênh khác nhau, trao công hàm phản đối, kiên quyết yêu cầu chấm dứt ngay các hành vi vi phạm, rút toàn bộ tàu ra khỏi vùng biển Việt Nam; tôn trọng quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam vì quan hệ hai nước và ổn định, hòa bình ở khu vực”.
Nội dung được thể hiện trong tuyên bố nói trên là nghiêm túc, phản ánh đúng sự thật khách quan và được trình bày một cách rõ ràng, chặt chẽ.
Qua nghiên cứu, đối chiếu với những quy định của UNCLOS 1982, Luật Biển Việt Nam năm 2012, cũng như các tiền lệ pháp lý, đặc biệt là Phán quyết của Tòa trọng tài quốc tế The Hague năm 2016, khẳng định trên của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam có căn cứ pháp lý rõ ràng. Bởi vì, khu vực phía Nam Biển Đông được đề cập là khu vực bãi cạn Tư Chính, Vũng Mây, Quế Đường, Huyền Trân… ở cách đường cơ sở thẳng dùng để tính chiều rộng lãnh hải ven bờ lục địa Việt Nam công bố năm 1982 dưới 200 hải lý, thậm chí có khu vực ở cách đường bờ biển ven bờ lục địa đối diện cũng xấp xỉ khoảng trên dưới 200 hải lý. Chúng tôi chỉ nhấn mạnh đến khái niệm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý ở khu vực này; bởi vì còn có ranh giới ngoài của thềm lục địa có thể mở rộng ra đến 350 hải lý, nếu có hồ sơ chứng minh bờ ngoài của thềm lục địa kéo dài ra ngoài giới hạn 200 hải lý và được Tiểu ban ranh giới thềm lục địa của Liên hợp quốc chấp nhận.

Chủ quyền quốc gia trên biển
Quốc gia ven biển thực hiện chủ quyền của mình một cách tuyệt đối, đầy đủ, toàn vẹn ở trong vùng nội thủy và thực hiện chủ quyền một cách đầy đủ, toàn vẹn ở trong lãnh hải. Bởi vì, nội thủy được coi là bộ phận đất liền như ao hồ, sông suối, các vùng nước nằm trong đất liền. Lãnh hải cũng được coi là lãnh thổ biển của quốc gia ven biển. Tuy nhiên, tàu thuyền của các quốc gia khác được quyền “đi qua vô hại” trong lãnh hải của quốc gia ven biển, với những quy định kiểm soát chặt chẽ của quốc gia ven biển theo quy định của UNCLOS 1982. Vì vậy, chủ quyền của quốc gia ven biển được thực hiện ở trong lãnh hải của mình là “đầy đủ và toàn vẹn”, chứ không “tuyệt đối” như ở trong nội thủy.
Ranh giới ngoài của lãnh hải là biên giới quốc gia trên biển. Chủ quyền này được mở rộng đến vùng trời trên lãnh hải, cũng như đến đáy và lòng đất dưới đáy của lãnh hải. Mọi hoạt động của tự nhiên nhân hay pháp nhân của quốc gia khác, cũng như các phương tiện hoạt động trên biển của họ ở trong nội thủy, lãnh hải của quốc gia ven biển, mà không tuân thủ luật pháp của quốc gia ven biển, cũng như luật pháp quốc tế hiện hành, đều bị coi là hành động xâm phạm biên giới, lãnh thổ biển của quốc gia ven biển; quốc gia ven biển có quyền sử dụng mọi biện pháp, kể cả biện pháp quân sự để bảo vệ chủ quyền quốc gia trong phạm vi nội thủy và lãnh hải được xác lập theo đúng qui định của UNCLOS 1982.
Vì vậy, việc Việt Nam tiến hành thăm dò khai thác dầu khí, xây dựng các cụm dịch vụ mang tên DK là phù hợp với các quy định về quyền và nghĩa vụ của quốc gia ven biển theo Điều 60 (UNCLOS 1982) quy định về các đảo nhân tạo, thiết bị và công trình trong vùng đặc quyền kinh tế và Điều 80 quy định về các đảo nhân tạo, thiết bị và công trình ở thềm lục địa. Việt Nam có đặc quyền tiến hành xây dựng, cho phép và quy định việc xây dựng, khai thác và sử dụng đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình dùng vào mục đích được trù định ở Điều 56 của UNCLOS 1982 hoặc các mục đích kinh tế khác trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Việt Nam tuyên bố không cố ý biến các bãi ngầm ở thềm lục địa phía Nam thành đảo nổi và không ghép chúng vào quần đảo Trường Sa, đồng thời bác bỏ sự gán ghép này.
Trong khi đó, Trung Quốc xem bãi Tư Chính là một phần của quần đảo Nam Sa thuộc “chủ quyền bất khả xâm phạm” của Trung Quốc. Lập luận ngụy biện này hoàn toàn trái ngược với những quy định của UNCLOS 1982. Quan trọng hơn, phán quyết của Tòa Trọng tài quốc tế The Hague năm 2016 cũng đã bác bỏ lập luận này. Theo đó, các  bãi cạn Vành Khăn, Cỏ Mây, Cỏ Rong… là những rạn san hô, bãi cát ngầm ngập hoàn toàn dưới mặt nước biển được Tòa xác định  nằm trong vùng đặc quyền kinh tế theo đề nghị của Philippines.
Tuy nhiên, phán quyết của Tòa không giải quyết vấn đề chủ quyền hay phân định biển. Vậy, có thể hiểu rằng, riêng vấn đề chủ quyền đối với bãi cạn Vành Khăn, Cỏ Mây, Cỏ Rong… Tòa không ra phán quyết, mà các bên liên quan giải quyết về vấn đề chủ quyền lãnh thổ theo nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ. Lúc đó, các bên liên quan sẽ phải chứng minh bãi cạn Vành Khăn, Cỏ Mây, Cỏ Rong... về mặt địa chất, địa mạo là một phần của quần đảo Trường Sa hay chỉ là một bộ phận cấu thành thềm lục địa của một quốc gia ven biển liên quan  theo quy định của UNCLOS 1982.
Tất nhiên, khi bàn thảo về nội dung này, người ta không thể không đề cập đến quần đảo Trường Sa bao gồm những thực thể nào, phạm vi của nó đến đâu. Liên quan đến phạm vi quần đảo Trường Sa, hiện nay chưa có bên liên quan nào công bố chi tiết, chính thức. Nếu nghiêm túc dựa vào các quy định của UNCLOS, đối chiếu với trạng thái tự nhiên của chúng trên thực tế, với một thái độ thật sự cầu thị, thiện chí, khách quan, chắc chắn sẽ tìm ra được những đáp số chuẩn xác nhất. Bởi vì, phán quyết của Tòa trọng tài đã cung cấp và giải thích những khái niệm pháp lý rất chính xác và rõ ràng; có thể được xem như là một phụ lục của UNCLOS 1982, Từ đó, giúp cho chúng ta có căn cứ pháp lý để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong Biển Đông.
Quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia

Quyền chủ quyền là quyền riêng biệt của quốc gia được thực thi trong phạm vi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Đây là quyền có nguồn gốc chủ quyền , mang tính chất chủ quyền.

Quyền tài phán là hệ quả của chủ quyền và quyền chủ quyền, có tác dụng bổ trợ tạo ra môi trường để thực thi chủ quyền và quyền chủ quyền. Như vậy, quyền tài phán gắn bó chặt chẽ với lãnh thổ quốc gia. Tuy vậy, quyền tài phán cũng có thể thực thi ở nơi mà quốc gia đó không có chủ quyền. Chẳng hạn, quyền tài phán có thể được áp dụng trên tàu thuyền, phương tiện treo cờ của quốc gia đó khi chúng đang hoạt động trong các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền của quốc gia khác. Quyền tài phán theo nghĩa rộng bao gồm:

- Thẩm quyền đưa ra các quyết định, quy phạm;

- Thẩm quyền giám sát việc thực hiện;

- Thẩm quyền xét xử của tòa án đối với một lĩnh vực cụ thể; theo nghĩa hẹp đó là thẩm quyền pháp định của tòa án khi xét xử một người hay một việc.

Khi thực hiện các quyền thuộc chủ quyền và quyền tài phán của mình, quốc gia ven biển có nghĩa vụ tôn trọng quyền lợi của các quốc gia khác, không được có hành vi cản trở quyền tự do hàng hải và tự do hàng không của tàu thuyền và các phương tiện bay, quyền tự do đặt cáp và ống dẫn dầu ngầm; không được có hành vi phân biệt đối xử trong việc các quốc gia khác thực hiện các quyền được UNCLOS 1982 quy định.
CHỦ TRƯƠNG VÀ PHƯƠNG THỨC ỨNG XỬ CỦA VIỆT NAM
Khẳng định của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng nói trên cho thấy lập trường pháp lý và chủ trương chính trị của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, rõ ràng, thể hiện thiện chí của một quốc gia thành viên có trách nhiệm của UNCLOS 1982, khi trên thực tế, các lực lượng chấp pháp của Việt Nam phát hiện những hoạt động phi pháp của nhóm tàu Hải Dương 08.
Về đấu tranh ngoại giao, Việt Nam đã nhiều lần tiếp xúc với phía Trung Quốc ở các kênh khác nhau, trao công hàm phản đối, kiên quyết yêu cầu chấm dứt ngay các hành vi vi phạm, rút toàn bộ tàu ra khỏi vùng biển Việt Nam; tôn trọng quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam vì quan hệ hai nước và ổn định, hòa bình ở khu vực.
Căn cứ vào tính chất, mức độ và phạm vi xảy ra vi phạm và xuất phát từ thiện chí, tinh thần trách nhiệm của Việt Nam trước cộng đồng khu vực và quốc tế, Việt Nam đã cân nhắc một cách thận trọng trước khi áp dụng những hình thức đấu tranh chính trị, pháp lý, truyền thông thích hợp, khá mạnh mẽ và đúng thủ tục pháp lý hiện hành. Nội dung các văn kiện ngoại giao đã phản ánh đầy đủ lập trường nói trên của Việt Nam. Tuy nhiên, không nhất thiết phải được công bố công khai. Đó là một thực tế thông thường trong cách ứng xử giữa các quốc gia trong quan hệ quốc tế. Dù công bố hay không, giá trị pháp lý vẫn không thay đổi.
Về ứng xử của các lực lượng chấp pháp của Việt Nam tại hiện trường, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam cũng cho biết: “Các lực lượng chức năng trên biển của Việt Nam tiếp tục triển khai nhiều biện pháp phù hợp thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán một cách hòa bình, đúng pháp luật nhằm bảo vệ vùng biển Việt Nam”.
Trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa  được xác định phù hợp với quy định của UNCLOS 1982,  quốc gia ven biển có các quyền thuộc chủ quyền về việc thăm dò khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hoặc không sinh vật, của vùng nước bên trên đáy biển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như về những hoạt động khác nhằm thăm dò và khai thác vùng này vì mục đích kinh tế; Quyền tài phán theo đúng những quy định thích hợp của Công ước về việc: Lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình, nghiên cứu khoa học về biển; bảo vệ và gìn giữ môi trường biển; các quyền và các nghĩa vụ khác do Công ước quy định.
Điều 73, UNCLOS 1982, quy định:
Trong việc thực hiện các quyền thuộc chủ quyền về thăm dò, khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên sinh vật của vùng đặc quyền về kinh tế, quốc gia ven biển có thể thi hành mọi biện pháp cần thiết, kể cả việc khám xét, kiểm tra, bắt giữ và khởi tố tư pháp để bảo đảm việc tôn trọng các luật và quy định mà mình đã ban hành theo đúng Công ước.
Khi có một sự bảo lãnh hay một bảo đảm đầy đủ khác thì cần thả ngay chiếc tàu bị bắt và trả tự do ngay cho đoàn thủy thủ của chiếc tàu này.
Các chế tài do quốc gia ven biển trù định đối với những vụ vi phạm các luật và quy định về mặt đánh bắt trong vùng đặc quyền về kinh tế không được bao gồm hình phạt tống giam, trừ khi các quốc gia hữu quan có thỏa thuận khác, và không bao gồm một hình phạt thân thể nào khác.
Trong trường hợp bắt hay giữ một tàu thuyền nước ngoài, quốc gia ven biển thông báo ngay cho quốc gia mà tàu mang cờ biết, bằng các con đường thích hợp, các biện pháp được áp dụng cũng như các chế tài có thể sẽ được tuyên bố sau đó.
Các quốc gia khác, có biển và không có biển, có 3 quyền khi đi vào vùng 200 hải lý thuộc vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa của quốc gia ven biển, bao gồm: quyền tự do hàng hải, hàng không, quyền tự do đặt dây cáp, ống dẫn dầu ở đáy biển của vùng thềm lục địa. Tuy nhiên, nếu các quốc gia thực hiện những quyền này mà ảnh hưởng đến các hoạt động thăm dò khai thác, kinh tế hoặc nghiên cứu khoa học của quốc gia ven biển thì phải được sự cho phép của quốc gia ven biển. Nếu không được phép là vi phạm EEZ và thềm lục địa của quốc gia ven biển.
Hơn nữa, theo UNCLOS 1982, việc phát hiện và xử lý các sai phạm có khả năng xảy ra hay đã xảy ra trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, các lực lượng chấp pháp trên biển của quốc gia ven biển cũng phải tuân thủ các thủ tục pháp lý chặt chẽ, không được phép xử lý một cách tùy tiện, đặc biệt là hạn chế hoặc thậm chí nghiêm cấm việc sử dụng các biện pháp bằng sức mạnh để cưỡng bức, không qua xét xử của các cơ quan tư pháp…/.
TS. Trần Công Trục
_________________________________________________
Bài đăng TCTG số 8/2019


NGĂN CHẶN SỰ THA HÓA CỦA CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY



Trong lịch sử phát triển của nhân loại, bất cứ đảng chính trị nào muốn tồn tại, phát triển và được đông đảo quần chúng ủng hộ thì phải có một hệ tư tưởng làm kim chỉ nam để xây dựng cương lĩnh, đường lối của mình. Hệ tư tưởng mà đảng xây dựng hoặc lựa chọn không chỉ giải quyết lợi ích của đảng mà còn phải thỏa mãn được nhu cầu, lợi ích căn bản của đông đảo quần chúng nhân dân.
1. Sau khi có cương lĩnh, đường lối đúng, các đảng chính trị phải tuyên truyền, vận động, thuyết phục để vừa mở rộng tổ chức của mình, vừa tập hợp lôi kéo quần chúng theo đảng làm cách mạng. Toàn bộ các hoạt động đó gọi là công tác tư tưởng. Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, công tác tư tưởng là toàn bộ các hoạt động nhằm bổ sung, phát triển, hoàn thiện, truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và tập hợp, phát động phong trào hành động cách mạng của quần chúng thực hiện mục tiêu, lý tưởng của Đảng. 
Khi chưa giành được chính quyền, đảng viên của Đảng trong điều kiện hoạt động bí mật vẫn tìm mọi biện pháp vận động, thuyết phục nhân dân đứng lên làm cách mạng. Đảng viên cũng chính là cán bộ tư tưởng, từ nhân dân mà ra, cùng sống và tranh đấu với nhân dân, hóa thân vào nhân dân để làm công tác tuyên truyền, vận động. Họ là những người có niềm tin cháy bỏng vào mục tiêu, lý tưởng của Đảng, có tinh thần dũng cảm, sẵn sàng vượt qua mọi hiểm nguy để gây dựng cơ đồ cách mạng. Dù bị giam cầm trong xà lim, đứng trước vành móng ngựa của tòa án thực dân hay bị đưa ra pháp trường, họ vẫn giữ vững niềm tin, khảng khái, hiên ngang bảo vệ lý tưởng của mình. Vì vậy, tấm gương và tiếng nói của họ có sức thuyết phục, lan tỏa rộng rãi, truyền cảm hứng cách mạng cho hàng triệu quần chúng.
Tuy không được đào tạo bài bản về lý luận, về kỹ năng tuyên truyền, vận động nhưng vì sinh mạng của chính mình và của Đảng, cán bộ tư tưởng luôn khiêm nhường, tự đặt vị thế của mình thấp hơn đối tượng. Với mỗi đối tượng, họ phải cân nhắc, lựa chọn kỹ càng, tìm cách tiếp cận, khi có được sự cảm thông, tin cậy rồi mới tuyên truyền, vận động cách mạng. Trong sự kiểm soát gắt gao của kẻ thù, không có thời gian và điều kiện để thuyết giảng những vấn đề lý luận cao siêu, dài dòng, cán bộ tư tưởng phải lựa chọn những nội dung gần gũi, thiết thực nhất và diễn đạt sao cho dễ hiểu, ngắn gọn phù hợp với trình độ của quần chúng. Do đó, cách thức tuyên truyền, vận động cũng vô cùng linh hoạt, tùy vào từng đối tượng, hoàn cảnh cụ thể mà sử dụng cho phù hợp. Để gây dựng được một cơ sở cách mạng, cán bộ tư tưởng phải rất kiên trì, nhẫn nại, tìm mọi cách vận động, thuyết phục cho đến khi quần chúng hiểu, tin và đi theo cách mạng mới thôi. Nếu quần chúng chưa hiểu, chưa tin, chưa theo cách mạng cũng có nghĩa công tác tư tưởng đã thất bại. Vì vậy, hiệu quả cuối cùng của công tác tư tưởng được đo đếm một cách rất cụ thể ở số người được giác ngộ, số cơ sở được gây dựng, số tiền bạc, vũ khí đóng góp cho cách mạng và cuối cùng là phong trào hành động cách mạng của quần chúng do Đảng lãnh đạo.
Mặc dù trong điều kiện vô cùng khó khăn, thiếu thốn như vậy, nhưng bằng niềm tin và nhiệt huyết cách mạng, cộng với sự thông minh, sáng tạo của cán bộ tư tưởng, chỉ với hơn năm nghìn đảng viên, Đảng ta vẫn tập hợp được toàn dân tộc vùng lên làm cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công và trở thành đảng cầm quyền trên cả nước sau năm 1975.
2. Từ khi Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, công tác tư tưởng bước sang một thời kỳ mới với rất nhiều thuận lợi. Tuy nhiên cũng từ đây, công tác tư tưởng phải  đối mặt với nguy cơ tha hóa, tự đánh mất bản chất của chính mình.
Sự tha hóa về mục tiêu và hiệu quả của công tác tư tưởng
Công tác tư tưởng có rất nhiều hoạt động, nhiều nội dung và phương thức tiến hành nhưng đều hướng vào xây dựng niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Niềm tin không chỉ hình thành từ uy tín mà còn từ quyền lực, tài sản của chủ thể. Khi cầm quyền, chủ thể công tác tư tưởng dễ ỷ lại quyền lực, đề cao các biện pháp tổ chức hành chính và biện pháp kinh tế, coi nhẹ giáo dục, thuyết phục.
Nếu không nhận thức rõ niềm tin là cái đích cuối cùng của công tác tư tưởng, sẽ biến phương tiện thành mục tiêu, biến hình thức thành hiệu quả. Người ta sẽ lấy số buổi học nghị quyết, số giờ phát sóng, phát hình, số panô, áp phích, khẩu hiệu, sách, báo đã xuất bản, số buổi mít tinh, kỷ niệm… là tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác tư tưởng. Do có nguồn lực lớn, Đảng có điều kiện lập ra bộ máy và đội ngũ cán bộ tư tưởng, hệ thống trường đảng, cơ quan báo chí, báo cáo viên từ trung ương đến cơ sở. Các cơ quan này hoạt động nhờ nguồn kinh phí từ ngân sách, không có động lực cạnh tranh, nếu xa rời mục tiêu xây dựng và củng cố niềm tin sẽ là căn nguyên sinh ra “bệnh hình thức”, “bệnh thành tích” và lãng phí trong công tác tư tưởng.
Sự tha hóa mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng công tác tư tưởng
Khi Đảng cầm quyền, mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng công tác tư tưởng cũng sẽ thay đổi. Giữa người có chức quyền với người dân nhất định sẽ có khoảng cách. Bên cạnh đó, sự tha hóa của quyền lực cũng sản sinh ra những cán bộ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực làm cho hình ảnh của cán bộ tư tưởng trở nên méo mó, đánh mất sự thiện cảm của người dân. Đây là một vấn đề vô cùng hệ trọng, bởi sức thuyết phục của công tác tư tưởng không chỉ ở sự hấp dẫn của mục tiêu, lý tưởng mà quan trọng nhất là ở sự nêu gương của cán bộ tư tưởng.
Ở đỉnh cao quyền lực, Đảng sẽ dễ áp đặt công tác tư tưởng bao trùm lên toàn xã hội, coi công tác tư tưởng trong nội bộ Đảng cũng giống như công tác tư tưởng đối với các giai tầng khác trong xã hội. Điều này sẽ làm mất tính hấp dẫn của nội dung, tính đa dạng của hình thức, phương pháp, dễ tạo ra thái độ phản ứng tiêu cực từ phía người dân vì phải nghe, phải đọc những điều họ không có nhu cầu. Công tác tư tưởng vốn dĩ phải đi trước thực tiễn nhưng do có nhiều cơ quan, tổ chức, nhiều binh chủng, lực lượng tiến hành, qua nhiều tầng nấc trung gian nếu không có sự chỉ đạo, quản lý tập trung, thông suốt sẽ trở nên chồng chéo, phân tán, chậm chạp, biến thành các hoạt động hành chính, khuôn mẫu, tách ra khỏi đời sống nhân dân.
Khi Đảng cầm quyền, cán bộ tư tưởng đồng thời cũng là cán bộ trong hệ thống chính trị, trở thành người có chức, có quyền. Vốn sống trong lòng nhân dân, được nhân dân bao bọc, nuôi nấng, chở che nên tiếng nói của họ luôn đồng điệu với tiếng nói của người dân. Giờ đây, quyền lực rất dễ biến cán bộ tư tưởng thành những công chức hách dịch, quan liêu, xa cách với nhân dân, không còn gần gũi, thấu hiểu được tâm tư, nguyện vọng của người dân. Như vậy, từ chỗ phải lắng nghe, chia sẻ, thuyết phục đối tượng, công tác tư tưởng rất dễ biến thành tuyên truyền một chiều, áp đặt, không xuất phát từ nhu cầu và lợi ích thiết thực của nhân dân.
Sự tha hóa về nội dung công tác tư tưởng
Trong quá trình đấu tranh giành chính quyền, nội dung công tác tư tưởng tập trung vạch trần bộ mặt xấu xa của giai cấp thống trị, nỗi thống khổ của người dân bị  áp bức, bóc lột và viễn cảnh về một chế độ xã hội mới tốt đẹp. Khi trở thành đảng cầm quyền, nội dung tuyên truyền, giáo dục thay đổi từ “chống” sang “xây” nên sẽ tập trung tuyên truyền về thành tựu trong quá khứ, cái hay, cái đẹp, cái ưu việt của chế độ mới. Công tác tư tưởng sẽ dễ trở thành tuyên truyền một chiều, bưng bít thông tin vì không ai muốn tự làm mất đi hình ảnh của mình trong công chúng. Mặt khác, công tác tư tưởng giờ đây không chỉ xây dựng niềm tin vào Đảng, vào chế độ mà còn phải chăm lo xây dựng đời sống tinh thần của xã hội, vì vậy, nội dung tuyên truyền, giáo dục chính trị vốn khô khan, trừu tượng dễ bị coi nhẹ và chịu sự cạnh tranh quyết liệt của các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giải trí đơn thuần. Để được lòng dân, công tác tư tưởng dễ sa vào chủ nghĩa thực dụng, mị dân vì những mục tiêu trước mắt với những ngôn từ hoa mỹ.
Sự tha hóa về phương thức tiến hành công tác tư tưởng
Trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền, trạng thái tâm lý của quần chúng có ảnh hưởng trực tiếp đến phong trào cách mạng. Sự nghi ngờ, lo lắng, chần chừ của quần chúng quyết định đến thành bại của mỗi cuộc đấu tranh. Nhưng tâm trạng bức xúc, bất bình của dân chúng lại là điều kiện thuận lợi cho vận động cách mạng. Trong thời kỳ xây dựng đất nước, Đảng cầm quyền nếu tư tưởng chủ quan, thụ động, coi thường dư luận xã hội, không chủ động đối phó với những diễn biến bất thường trong tâm trạng nhân dân sẽ đánh mất sức mạnh của mình.
Do cán bộ tư tưởng cũng là người có chức, quyền nên dễ có thái độ nôn nóng, thiếu kiên nhẫn, ỷ vào sức mạnh của tổ chức, của quyền lực, từ đó biến việc vận động, thuyết phục, chia sẻ, dẫn dắt thành mệnh lệnh, giáo huấn, dạy dỗ, chỉ bảo đối tượng. Sự khắc nghiệt của chiến tranh khiến công tác tư tưởng vốn rất linh hoạt và vô cùng hiệu quả thì trong thời bình rất dễ biến thành những hình thức nhàm chán, khuôn mẫu, biến đội ngũ cán bộ tư tưởng thành những công chức hành chính thụ động, chờ chỉ đạo của cấp trên. Điều quan trọng lúc này là các cấp ủy đảng phải nhận thức cho được sự biến đổi khách quan của công tác tư tưởng trong điều kiện mới, từ đó tạo điều kiện cho công tác tư tưởng phát triển theo chiều hướng tích cực và ngăn chặn sự biến đổi theo chiều hướng tiêu cực.
3. Để ngăn chặn sự tha hóa của công tác tư tưởng cần thực hiện một số biện pháp cơ bản sau đây:
Một là, mở đợt tuyên truyền, giáo dục sâu rộng trong toàn Đảng để mọi cán bộ, đảng viên nhận thức đúng đắn về bản chất của công tác tư tưởng. Trên cơ sở đó, nghiên cứu tìm tòi mọi biện pháp để công tác tư tưởng trở về đúng bản chất ban đầu của nó cả về mục tiêu, nội dung và phương thức tiến hành. Trong đó, cần xác định mục tiêu của công tác tư tưởng ở bất cứ đâu, trong bất cứ điều kiện hoàn cảnh nào cũng đều phải hướng tới xây dựng và củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi của  sự nghiệp cách mạng.
Hai là, đổi mới tư duy về công tác tư tưởng trong điều kiện đảng cầm quyền. Khi chưa giành được chính quyền, Đảng với dân là một, nhưng hiện nay, Đảng là một bộ phận trong bộ máy quyền lực nên trở thành một đối trọng trong mối quan hệ với nhân dân. Để khắc phục sự xa dân, áp đặt, giáo huấn, chỉ bảo của người có quyền lực, công tác tư tưởng cần trở lại bản chất ban đầu là vận động, thuyết phục và nêu gương.  Tư duy đột phá hiện nay là cần chuyển công tác tư tưởng từ tuyên truyền là chủ yếu sang truyền thông chính trị và quan hệ công chúng. Điều này có nghĩa phải biến việc học tập, quán triệt, thi hành… thành trao đổi, chia sẻ, thuyết phục, giữ gìn hình ảnh của Đảng trong mắt nhân dân. Tất nhiên, trong quá trình truyền thông chính trị và quan hệ công chúng, có việc, có nội dung, trong những khâu, những hoàn cảnh, nhiệm vụ nhất định phải lấy tuyên truyền, giáo dục là chính, nhưng dù là truyền thông hay tuyên truyền, công tác tư tưởng vẫn phải coi trọng đối tượng, giải quyết hài hòa lợi ích của Đảng với lợi ích của nhân dân.
Ba là, cần phân biệt đối tượng công tác tư tưởng trong Đảng và trong xã hội. Công tác tư tưởng trong nội bộ Đảng phải đặt ra yêu cầu cao, coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục để đảng viên thật sự là những người tiên phong về chính trị, nhưng cần phải tăng cường chia sẻ, đối thoại hai chiều để tạo sự đồng thuận từ trên xuống dưới. Đối với nhân dân, Đảng cần chọn lọc những nội dung thực sự cần thiết, gắn với lợi ích cụ thể của người dân, tập trung vào mục tiêu truyền thông để nhân dân hiểu về Đảng, tin vào Đảng và thấy được lợi ích của mình nếu thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, khắc phục tình trạng tuyên truyền quá nặng về lý luận, chính trị, dài dòng, khô cứng.
Đối với chính quyền cần chuyển công tác thông tin, tuyên truyền thành truyền thông chính sách và quan hệ công chúng. Trong đó, hoạt động tuyên truyền, thông tin như lâu nay phải trở thành hoạt động truyền thông nhằm huy động đông đảo nhân dân tham gia vào tất cả các khâu của chu trình chính sách. Truyền thông phải bám sát đời sống, phát hiện, nhận diện vấn đề chính sách; huy động người dân tham gia vào xây dựng chính sách; tuyên truyền, vận động, thuyết phục nhân dân thực hiện chính sách và phản hồi ý kiến, đánh giá của người dân để duy trì, hoàn thiện chính sách. Quan hệ công chúng có nhiều việc phải làm, trong đó có truyền thông nhà nước để thông tin về các hoạt động của chính phủ, giữ gìn hình ảnh của lãnh đạo, truyền thông hình ảnh quốc gia ra thế giới, xử lý khủng hoảng truyền thông…
Bốn là, kiện toàn tổ chức bộ máy và xây dựng đội ngũ cán bộ tư tưởng tương xứng với vai trò đặc biệt quan trọng của công tác tư tưởng. Ngay từ khi ra đời, Đảng đã sớm thành lập Bộ Tuyên truyền để chỉ đạo và tiến hành công tác tuyên truyền, cổ động. Sau này, do tinh giản bộ máy tổ chức và biên chế, cơ quan này hợp nhất với nhiều bộ phận khác khiến cho bộ máy vừa nặng nề, vừa phải ôm đồm nhiều việc khác, làm lu mờ vị trí, vai trò cũng như tính năng động của công tác tư tưởng.
Về bộ máy công tác tư tưởng, cần tách các bộ phận tiến hành công tác tư tưởng thành một cơ quan độc lập để thực hiện trọn gói, đồng bộ các khâu của quy trình công tác tư tưởng và bám sát thực tiễn luôn luôn biến động của cuộc sống. Cơ quan này chịu trách nhiệm về toàn bộ các công việc liên quan đến tình hình tư tưởng trong Đảng và xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa Đảng với chính quyền và nhân dân.
Trong điều kiện hiện nay, phải quy hoạch, lựa chọn đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tư tưởng một cách bài bản, có tầm nhìn chiến lược. Cần ban hành cơ chế tuyển chọn cho được những cán bộ tư tưởng thực sự tiêu biểu về lý luận chính trị, thuần thục các kỹ năng truyền thông, vận động hiện đại. Vấn đề quan trọng nhất là, cán bộ tư tưởng phải có niềm tin, tâm huyết, trong sáng, mẫu mực, có sức hút đối với đông đảo công chúng cả ở đời thường và các diễn đàn mạng xã hội.
Năm là, đổi mới nội dung và phương thức tiến hành, lấy mục tiêu niềm tin và đồng thuận xã hội là kết quả cuối cùng của công tác tư tưởng. Cần khắc phục cho được những nội dung khô cứng, dài dòng, những việc làm mang tính khoa trương hình thức, cách làm qua loa chiếu lệ, đối phó hoặc chạy theo thành tích đơn thuần. Khuyến khích cán bộ tư tưởng nắm chắc mục tiêu, từ đó sử dụng linh hoạt mọi phương pháp, hình thức để đạt hiệu quả cuối cùng. Có như vậy mới khơi dậy được sự sáng tạo, say mê, nhiệt huyết của cán bộ tư tưởng, nhất là cán bộ tư tưởng ở cơ sở vốn rất gần gũi với đối tượng và sự biến động nhanh chóng của thực tiễn cuộc sống.
Để khắc phục “bệnh hình thức”, đối phó, chủ quan, lãng phí, hiệu quả công tác tư tưởng phải được đánh giá bằng sự thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của đối tượng, trên cơ sở đó, kiên quyết loại bỏ hoặc cải tiến các hình thức, phương tiện cũ kỹ lạc hậu, không mang lại hiệu quả thiết thực.
Sự nghiệp đổi mới của Việt Nam bắt đầu từ đổi mới kinh tế đã diễn ra được hơn 30 năm và đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Hiện nay, quá trình đổi mới kinh tế đang diễn ra đồng bộ với đổi mới về chính trị. Trong quá trình đổi mới về chính trị nhất thiết phải đổi mới về công tác tư tưởng./.
TS. Lương Ngọc Vĩnh
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
(Bài đăng trên TCTG số 8/2019)


VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỐI NGOẠI VÀO CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI QUÂN SỰ, QUỐC PHÒNG CỦA VIỆT NAM



Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại là một bộ phận trong hệ thống tư tưởng của Người, là di sản quý báu đối với toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Trong bối cảnh tình hình khu vực, thế giới có nhiều biến động nhanh chóng và khó lường như hiện nay, việc tiếp tục nghiên cứu, vận dụng tư tưởng đó của Người vào công tác đối ngoại, trong đó có đối ngoại quân sự, quốc phòng là việc làm hết sức cần thiết.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại là hệ thống quan điểm về các vấn đề quốc tế, chiến lược, sách lược cách mạng Việt Nam trong quan hệ quốc tế. Các tư tưởng, nguyên tắc và phương châm chỉ đạo đó được thể hiện trong các giai đoạn cách mạng và là nền tảng cho mọi thắng lợi của ngoại giao Việt Nam suốt 74 năm qua với nhiều bài học kinh nghiệm quý báu. Cụ thể là:
Độc lập tự chủ, tự lực, tự cường. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Ta có mạnh thì họ mới chịu đếm xỉa đến. Ta yếu thì ta chỉ là một khí cụ trong tay của kẻ khác, dẫu kẻ ấy có thể là bạn đồng minh của ta vậy”(1). Thực hiện quan điểm này, chính sách đối ngoại của Việt Nam đã góp phần thực hiện mục tiêu cao nhất của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, được thể hiện cô đọng trong câu nói mang giá trị trong mọi thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Mục tiêu cao cả này xuyên suốt quá trình đấu tranh cách mạng trước đây và công cuộc đổi mới hiện nay của nước ta.
Huy động sức mạnh tổng hợp, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Độc lập tự chủ, tự lực, tự cường gắn liền với đoàn kết và hợp tác quốc tế là tư tưởng chủ đạo trong chính sách kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Cái gốc, cái điểm mấu chốt về chính trị, quân sự, kinh tế, nội chính, ngoại giao của ta là tự lực cánh sinh”(2). Người cũng khẳng định: “Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to, tiếng mới lớn”(3). Trong thời đại ngày nay, sức mạnh dân tộc của chúng ta thể hiện trước hết qua thế và lực của đất nước có được sau hơn 30 năm đổi mới; là sức mạnh tổng hợp, bao gồm sức mạnh vật chất, tinh thần của dân tộc; các giá trị lịch sử, truyền thống, văn hóa, tinh thần yêu nước, tinh thần lao động cần cù và ý chí vươn lên của con người Việt Nam... Sức mạnh thời đại là các “dòng chảy chính” của thế giới và khu vực, là cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, xu thế toàn cầu hóa và liên kết khu vực, xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển, quá trình dịch chuyển cán cân lực lượng, đổi mới mô hình tăng trưởng.
Ngoại giao nhân văn, luôn nêu cao chính nghĩa, hữu nghị, đoàn kết và hợp tác với các dân tộc khác. Ngoại giao Việt Nam giành thắng lợi bằng chính nghĩa, lẽ phải, đạo lý và tính nhân văn, luôn nêu cao chính nghĩa “đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”, đấu tranh vì lợi ích của dân tộc mình nhưng cũng vì lợi ích chung của nhân loại tiến bộ. Với mục tiêu chính nghĩa, từ hoàn cảnh phải đối phó với nhiều đối thủ cùng một lúc, chúng ta luôn theo đuổi phương châm “thêm bạn, bớt thù”, “...làm cho nước mình ít kẻ thù và nhiều bạn đồng minh hơn hết”(4). Tư tưởng Hồ Chí Minh đã nhân lên truyền thống nhân văn sâu sắc của nền ngoại giao Việt Nam hiện đại, phù hợp với khát vọng hòa bình, tự do, công lý của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới.
Dĩ bất biến ứng vạn biến. Truyền thống đấu tranh ngoại giao của cha ông ta đã hình thành một phương cách ứng xử kiên trì về nguyên tắc, song linh hoạt, mềm mỏng, khéo léo về sách lược. Thực hiện công tác đối ngoại để phục vụ sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Kiên quyết giữ vững độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình mở rộng, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế. Tăng cường nội lực để bảo đảm cho công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế thành công; nắm vững những nguyên tắc và vấn đề cơ bản của thông lệ quốc tế. Hội nhập quốc tế trên cơ sở phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực; hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm, hội nhập quốc tế trên các lĩnh vực khác từng bước được mở rộng và tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế quốc tế; nghiêm chỉnh tuân thủ các cam kết quốc tế đi đôi với chủ động, tích cực tham gia xây dựng, thực hiện các chuẩn mực chung bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc. Giải quyết một cách thỏa đáng mối quan hệ giữa hội nhập quốc tế và giữ vững độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia, dân tộc.
Nắm vững thời cơ, giành thắng lợi từng bước. Lịch sử các cuộc đấu tranh với các đối thủ mạnh hơn mình gấp nhiều lần của dân tộc ta đã hình thành nên nghệ thuật giành thắng lợi từng bước, kết hợp giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, giữa đánh và đàm. Đó chính là tư tưởng “lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh”, vận dụng tổng hợp sức mạnh quân sự, chính trị và ngoại giao. 
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại quân sự, quốc phòng
Là một bộ phận của lĩnh vực đối ngoại, đối ngoại quân sự, quốc phòng Việt Nam trên thực tế đã được Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh gây dựng từ những năm 20 của thế kỷ XX. Điều này cho thấy, đối ngoại quân sự, quốc phòng Việt Nam được hình thành từ trước khi Đảng và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Đó là nét đặc trưng hết sức độc đáo của đối ngoại quân sự, quốc phòng Việt Nam, thể hiện rõ tính dự báo, tính vượt trước trong tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh.
Sau khi hình thành, công tác đối ngoại quân sự, quốc phòng từng bước được tôi luyện, trưởng thành trong thực tiễn đấu tranh của cách mạng Việt Nam. Nổi bật là tháng 3-1949, chấp hành chỉ thị của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, một số đơn vị bộ đội Việt Nam đã cùng Quân Giải phóng nhân dân Trung Hoa mở chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn, giúp bạn truy quét Quốc dân Đảng, giải phóng khu Ung - Long - Khâm. Đối với cách mạng Lào và Cam-pu-chia, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở bộ đội ta “giúp bạn là tự giúp mình”. Nhờ đó, tình đoàn kết liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung của ba nước Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia không ngừng được vun đắp, nhân lên gấp bội; từ chỗ yếu trở thành mạnh, đã mạnh càng mạnh hơn, góp phần đưa cách mạng của mỗi nước đi đến thắng lợi hoàn toàn.
Dưới ánh sáng tư tưởng đối ngoại của Người và để đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, các đơn vị đối ngoại quân sự, quốc phòng chuyên trách của ta từng bước được thành lập. Từ cuối năm 1960 cho đến khi nước nhà thống nhất, thực hiện chủ trương đối ngoại chung của Đảng, trực tiếp là sự chỉ đạo của Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương), lực lượng đối ngoại toàn quân đã đồng thời tổ chức triển khai nhiều nhiệm vụ lớn, như quản lý, giải quyết mọi công tác có liên quan với nước ngoài, tiếp nhận sự giúp đỡ của quốc tế, bảo đảm phục vụ các chuyên gia và tùy viên quân sự nước ngoài tại Việt Nam; tham gia củng cố liên minh chiến đấu với lực lượng vũ trang cách mạng Lào, Cam-pu-chia; giới thiệu với bạn bè quốc tế kinh nghiệm về xây dựng lực lượng, đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang và nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân; tham gia hoạt động đối ngoại quân sự trong thành phần Ủy ban Liên hợp quân sự bốn bên về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Thực hiện các nhiệm vụ đó, trong điều kiện hết sức khắc nghiệt của cuộc chiến tranh, cán bộ đối ngoại luôn thể hiện bản lĩnh vững vàng, chủ động khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đi đến thắng lợi hoàn toàn. Đại thắng mùa Xuân 1975 là mốc son lịch sử, đánh dấu kỷ nguyên mới của dân tộc - kỷ nguyên độc lập, tự do, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Sau năm 1975, trong bối cảnh đất nước phải đương đầu với cuộc chiến xâm lược để bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Tây Nam, phía Bắc, cùng chính sách thù địch, cấm vận của Mỹ và các nước phương Tây, các lực lượng đối ngoại đã chủ động tham mưu cho Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng nhiều chủ trương, giải pháp quan trọng, nhằm giảm thiểu sự chi phối trong chính sách bao vây, cấm vận của Mỹ đối với cách mạng Việt Nam; hạn chế tác động tiêu cực trước sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu; giúp nhân dân Cam-pu-chia thoát khỏi thảm họa diệt chủng; đồng thời, từng bước mở rộng quan hệ với quân đội các nước, nhất là việc thúc đẩy tiến trình bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và Mỹ.
Cuối những năm 80 của thế kỷ XX, nhu cầu mở rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác quốc tế của ta ngày càng lớn, không chỉ trong lĩnh vực quân sự, mà còn trong lĩnh vực quốc phòng. Kế thừa tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh, dưới ánh sáng đường lối Đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, lực lượng đối ngoại toàn quân đã quán triệt sâu sắc đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; từ đó, xây dựng sự thống nhất về nhận thức và hành động trong quan hệ, đánh giá, xử lý tình hình; đồng thời, tích cực tham mưu và chủ động tổ chức thực hiện các hoạt động đối ngoại quốc phòng trong tình hình mới.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại vào công tác đối ngoại quân sự, quốc phòng của Việt Nam hiện nay
Quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Nghị quyết số 806-NQ/QUTW, ngày 31-12-2013, của Quân ủy Trung ương, về “Hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo”, đồng thời, cụ thể hóa quan điểm, đường lối đối ngoại của Đảng trong Chiến lược Quốc phòng Việt Nam, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia và các chiến lược khác, Quân ủy Trung ương tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Đề án Hội nhập quốc tế về quốc phòng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, đưa công tác này ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất, hiệu quả, bảo đảm cho quan hệ quốc phòng thực sự là một trụ cột trong quan hệ quốc tế, gắn kết chặt chẽ, tạo điều kiện thuận lợi cho hội nhập quốc tế và đối ngoại trên các lĩnh vực khác, nhằm thực hiện kế sách “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” bằng biện pháp hòa bình. 
Thực hiện chủ trương đó của Đảng, Bộ Quốc phòng đã cụ thể hóa và thiết lập quan hệ hợp tác quốc phòng với trên 80 nước và nhiều tổ chức quốc tế. Đáng chú ý, Quân đội nhân dân Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, được Liên hợp quốc, chính phủ và nhân dân nước sở tại đánh giá cao. Những kết quả đó là minh chứng sinh động cho phương châm: Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; làm cho bạn bè quốc tế ngày càng hiểu, tin tưởng và ủng hộ sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Điều đó, một mặt, tạo thuận lợi lớn bảo đảm cho chúng ta tranh thủ được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc; mặt khác, qua hơn 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, chúng ta đúc rút được nhiều bài học, nhận dạng được những điểm yếu và hướng giải quyết. Tình hình chính trị - xã hội trong nước được duy trì ổn định. Vị thế quốc tế của đất nước được nâng cao. 
Ngày nay, trên thế giới, mặc dù xu thế chủ đạo là hòa bình, độc lập, dân chủ, hợp tác và phát triển, nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn, biến động. Cạnh tranh chiến lược, tranh chấp tài nguyên, chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo, xung đột vũ trang cục bộ,... vẫn diễn ra gay gắt. Xung đột nội bộ trong một số quốc gia xảy ra dưới nhiều dạng thức, như khủng bố, lật đổ, ly khai, tôn giáo, sắc tộc... Tính nghiêm trọng của các thách thức này rất đáng lo ngại khi tư duy đề cao sức mạnh, coi sử dụng vũ lực như một giải pháp vẫn còn tồn tại. Đặc biệt, trên thế giới xuất hiện nhiều loại hình chiến tranh mới, như chiến tranh mạng, chiến tranh công nghệ cao... 
Không chỉ vậy, khu vực châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục có nhiều chuyển dịch, biến động lớn, diễn biến phức tạp. Đây là khu vực có xu hướng trở thành trung tâm kinh tế - chính trị quan trọng hàng đầu thế giới. Cạnh tranh giữa các nước lớn ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương sẽ ngày càng gay gắt nhưng không phá vỡ hợp tác tại từng thời điểm và lĩnh vực nhất định. Đoàn kết, hội nhập quốc tế trong khu vực tiếp tục sôi động, trong khi hội nhập chính trị - an ninh sẽ có những bước tiến mới. Các “điểm nóng” ở khu vực khó có thể được giải quyết một cách triệt để, vẫn tiềm ẩn những nguy cơ bùng nổ và va chạm, gây bất ổn cho tình hình khu vực. Điều này đòi hỏi mỗi nước phải có chiến lược đấu tranh hợp lý mà trong đó, đối ngoại quân sự, quốc phòng và sức mạnh quân sự luôn có vai trò trọng yếu. 
Do vậy, công tác đối ngoại quân sự, quốc phòng đảm nhận nhiệm vụ hết sức nặng nề, đòi hỏi phải tiếp tục tăng cường, nâng cao hiệu quả nhằm phục vụ đắc lực mục tiêu “... bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Mở rộng và đưa vào chiều sâu các quan hệ đối ngoại; tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, thực hiện hiệu quả hội nhập quốc tế trong điều kiện mới, tiếp tục nâng cao vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế”(5). 
Để thực hiện chủ trương trên đòi hỏi “kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại; tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh”, “có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa...”. Đồng thời, coi trọng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại vào thực tiễn hoạt động đối ngoại quân sự, quốc phòng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Cụ thể là:
Thứ nhất, nghiên cứu kỹ tình hình quốc tế, khu vực, nắm chắc vai trò quốc tế của các cường quốc; nhận rõ sự tác động, chi phối của các cường quốc, các trung tâm quyền lực lớn đối với quốc phòng, an ninh của Việt Nam, từ đó, tham mưu cho Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng những chủ trương, đối sách đối ngoại quốc phòng đúng đắn.
Thứ hai, trong lãnh đạo, tổ chức các hoạt động đối ngoại quốc phòng, dù trong hoàn cảnh, điều kiện nào cũng phải quán triệt nguyên tắc độc lập, tự chủ, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Độc lập nghĩa là chúng tôi điều khiển lấy mọi việc của chúng tôi, không có sự can thiệp ở ngoài vào”.
Thứ ba, luôn xác định Việt Nam là một bộ phận của thế giới, từ đó, tích cực, chủ động hội nhập quốc tế về quốc phòng, nhưng hội nhập có lựa chọn, từng bước chắc chắn, thiết thực và bảo đảm sử dụng hiệu quả các nguồn lực.
Thứ tư, tỉnh táo, kiên định với những vấn đề mang tính nguyên tắc nhưng khôn khéo, mềm dẻo, linh hoạt trong ứng xử, xử lý các quan hệ. Khi giải quyết một vấn đề cụ thể, đòi hỏi cán bộ đối ngoại phải “vừa nhìn thấy cây, vừa nhìn thấy rừng” và “làm gì cũng vì lợi ích dân tộc mà làm”, tránh việc chỉ thấy lợi ích trước mắt, không thấy lợi ích lâu dài, chỉ thấy cái lợi mà không thấy cái hại.
Tóm lại, trong tổ chức thực hiện công tác đối ngoại quốc phòng cần quán triệt và thực hiện nghiêm túc các quan điểm chỉ đạo có tính nguyên tắc trong đường lối đối ngoại của Đảng, đó là: giữ vững độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa; với phương châm “tích cực, chủ động, linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả”, “vừa hợp tác, vừa đấu tranh”. Xử lý đúng đắn mối quan hệ chiến lược giữa an ninh sinh tồn và an ninh phát triển. Tăng cường các biện pháp xây dựng lòng tin chiến lược, hiểu biết lẫn nhau, “thêm bạn, bớt thù”; kiên trì giải quyết các bất đồng và xung đột bằng các biện pháp hòa bình, trên tinh thần tôn trọng luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc. Đẩy mạnh quan hệ song phương, ưu tiên với các nước láng giềng, các nước trong khu vực; đồng thời, chủ động tham gia các hoạt động đa phương về quốc phòng - an ninh khu vực và quốc tế, phù hợp với luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc, với lợi ích của quốc gia, dân tộc./.
-------------------------------------------------------
(1) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 7, tr. 112
(2) Bộ Ngoại giao: Bác Hồ và hoạt động ngoại giao - Một vài kỷ niệm về Bác, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr. 119
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 4, tr. 147
(4) Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 8, tr. 27
(5) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 433
Đặng Công Thành
Khoa Tư tưởng Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

BẢO ĐẢM AN NINH BIỂN, ĐẢO ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG KINH TẾ - XÃ HỘI ĐẤT NƯỚC



Việt Nam đang đứng trước những thách thức gay gắt về bảo vệ an ninh, chủ quyền biển, đảo; về khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường biển; về tình trạng ô nhiễm môi trường biển… Vì vậy, việc bảo vệ an ninh biển, đảo, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu là nhiệm vụ thường xuyên, trọng yếu của Đảng, Nhà nước và của toàn dân.
Quan điểm của Đảng về bảo đảm an ninh, bảo vệ chủ quyền biển, đảo, phát triển kinh tế biển trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Trên năm trăm năm trước, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã xác định: “Biển Đông vạn dặm giang tay giữ/Đất Việt muôn năm vững trị bình”. Giữ được biển là yên được nước. Dựa trên hình thể của nước ta, dựa trên chiều dài lịch sử giữ nước, chống ngoại xâm nên Trạng Trình đã viết nên những dòng có tính kinh điển như vậy. Quả thực, lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc khẳng định giữ được biển có vai trò then chốt trong sự phát triển của đất nước.
Biển Đông là một biển lớn, đứng thứ hai thế giới sau biển San Hô ở phía Đông Ô-xtrây-li-a. Chiều dài của Biển Đông khoảng 3.000km, chiều ngang nơi hẹp nhất từ Mũi Cà Mau đến đảo Borneô thuộc In-đô-nê-xi-a gần 1.000km; diện tích khoảng 3.447.106km2, gấp 1,5 lần Địa Trung Hải. Trong biển có hai vịnh lớn là vịnh Bắc Bộ ở phía Bắc (diện tích khoảng 150.000km2) và vịnh Thái Lan ở phía Nam (462.000km2).
Biển Đông có con đường hàng hải tấp nập thứ hai trên thế giới, nhiều eo biển thông ra Thái Bình Dương, kết nối với Ấn Độ Dương qua eo biển Malacca, là đường thủy huyết mạch nối các quốc gia nằm ở Đông Á, Thái Bình Dương với Trung Cận Đông, châu Phi và châu Âu.
Là quốc gia ven biển, nằm trên phía Tây của Biển Đông, Việt Nam có bờ biển dài trên 3.260km, có diện tích các vùng lãnh hải thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán trên 1 triệu ki-lô-mét vuông, gấp 3 lần lãnh thổ, với 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và trên 3.000 đảo và quần đảo khác. Diện tích biển của Việt Nam chiếm 29% diện tích Biển Đông. Bình quân 100km2 đất liền có 1km đường bờ biển, trong khi tỷ lệ này của thế giới là 600km2/1km. Cứ khoảng 1km2 đất liền thì có gần 4km2 vùng lãnh hải và đặc quyền kinh tế. Tỷ lệ này gấp khoảng 1,6 lần so với mức trung bình của thế giới. Việt Nam có trên 50% dân số sống ở 28 tỉnh, thành phố ven biển. Nhiều khu vực bờ biển, cũng như các đảo ở nước ta có vị trí địa lý rất trọng yếu đối với phát triển kinh tế và an ninh, quốc phòng. 
Bảo đảm an ninh biển, đảo nhằm khai thác những tiềm năng to lớn của biển là đòi hỏi khách quan của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhiệm vụ này càng trở nên cấp bách trong thế kỷ XXI khi mà tình hình Biển Đông đang ngày càng nóng lên trước những toan tính của một số quốc gia trên thế giới.
Nhận rõ tầm quan trọng của việc bảo vệ an ninh và phát triển kinh tế biển, trong những năm qua Đảng ta đã có những quyết sách mang tầm chiến lược. Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 6-5-1993, của Bộ Chính trị, về một số nhiệm vụ phát triển kinh tế biển đã xác định, xuất phát từ yêu cầu và điều kiện khách quan của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, “trở thành một nước mạnh về kinh tế biển” phải là một mục tiêu chiến lược của quốc gia. 
Chỉ thị số 20-CT/TW, ngày 22-9-1997, của Bộ Chính trị, về đẩy mạnh phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa cụ thể hóa thêm một bước về mục tiêu trên: "Vùng biển, hải đảo và ven biển là địa bàn chiến lược, có vị trí quyết định đối với sự phát triển của đất nước ta; là tiềm năng và thế mạnh quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. 
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI nêu rõ: “Phát triển mạnh kinh tế biển tương xứng với vị thế và tiềm năng biển của nước ta, gắn với phát triển kinh tế biển với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền vùng biển. Phát triển nhanh một số khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển, ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp năng lượng, đóng tàu, xi-măng... Phát triển cảng biển, dịch vụ cảng và vận tải biển, sông - biển; phát triển các đội tàu, công nghiệp đóng mới và sửa chữa tàu biển, phát triển kinh tế đảo phù hợp với vị trí tiềm năng và lợi thế của từng đảo”(1). 
Đại hội XII của Đảng xác định nội dung phát triển kinh tế biển: “Phát triển mạnh kinh tế biển nhằm tăng cường tiềm lực kinh tế quốc gia và bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Chú trọng phát triển các ngành công nghiệp dầu khí, đánh bắt xa bờ và hậu cần nghề cá, kinh tế hàng hải (kinh doanh dịch vụ cảng biển, đóng và sửa chữa tàu biển, vận tải biển), du lịch biển, đảo. Có cơ chế tạo bước đột phá về tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế biển, thu hút mạnh hơn mọi nguồn lực đầu tư để phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, khai thác tài nguyên biển, đảo một cách bền vững. Tập trung đầu tư, nâng cao hiệu quả hoạt động các khu vực kinh tế ven biển”(2). 
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2045 khẳng định: “Thống nhất tư tưởng, nhận thức về vị trí, vai trò và tầm quan trọng đặc biệt của biển đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Biển là bộ phận cấu thành chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, là không gian sinh tồn, cửa ngõ giao lưu quốc tế, gắn bó mật thiết với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(3).
Nội dung chiến lược bảo đảm an ninh biển, đảo của Việt Nam được xác định tại Nghị quyết 09-NQ/TW, ngày 9-02-2007, Về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, đó là: Phát huy sức mạnh tổng hợp, giữ vững độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải, vùng trời Tổ quốc. Kết hợp chặt chẽ các hình thức, biện pháp đấu tranh chính trị, ngoại giao, pháp lý, kinh tế, quốc phòng trong quản lý vùng trời, bảo vệ biển, đảo của Tổ quốc gắn với thế trận an ninh nhân dân. Xây dựng lực lượng vũ trang, nòng cốt là hải quân, không quân, cảnh sát biển, biên phòng, dân quân tự vệ biển mạnh, làm chỗ dựa vững chắc cho ngư dân và các thành phần kinh tế sản xuất và khai thác tài nguyên biển. Sớm xây dựng chính sách đặc biệt để thu hút và khuyến khích mạnh mẽ nhân dân ra đảo định cư lâu dài và làm ăn dài ngày trên biển, phát triển kinh tế kết hợp làm nhiệm vụ bảo vệ vùng biển của Tổ quốc. 
Tình hình hiện nay ở Biển Đông diễn biến phức tạp do những toan tính của các thế lực bên ngoài, gây cản trở cho việc bảo về chủ quyền biển, đảo và phát triển các ngành kinh tế biển của nước ta. Vì vậy, củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân… Kết hợp chặt chẽ kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng, an ninh và quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, chú trọng vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo. Xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân… Bảo đảm an ninh biển, đảo chính là bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích dân tộc, lợi ích quốc gia. Bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển, đảo, bao gồm: nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam, được xác định theo Hiến pháp và pháp luật nước ta, các điều ước quốc tế về biên giới và lãnh thổ mà Việt Nam tham gia; phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982.
Xây dựng thế trận lòng dân, kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế để bảo đảm vững chắc an ninh, chủ quyền biển, đảo
Phát triển kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế để bảo đảm vững chắc an ninh, chủ quyền biển, đảo sẽ phát huy được sức mạnh của từng lĩnh vực. Sự kết hợp này tạo thành sức mạnh tổng hợp, quy tụ mọi nguồn lực nhằm hoàn thành thắng lợi mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đất nước.
Quán triệt quan điểm đó, để bảo đảm tốt an ninh, chủ quyền biển, đảo, cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau:
Một là, phát triển mạnh mẽ, vững chắc kinh tế - xã hội vùng ven biển, hải đảo, làm cứ điểm phát triển toàn diện kinh tế biển. Đầu tư thích đáng cho các ngành kinh tế biển có thế mạnh, như khai thác, chế biến dầu khí, hệ thống cảng và dịch vụ vận tải biển, đánh bắt xa bờ, nuôi trồng, chế biến thủy, hải sản, du lịch biển, đảo,... Xây dựng các trung tâm dịch vụ có khả năng hỗ trợ mạnh mẽ cho khai thác kinh tế biển, tập trung phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và quốc phòng, an ninh biển. Tăng cường nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ, đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong việc khai thác hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên biển. Xây dựng các cơ sở hậu cần nghề cá, tránh trú bão, hỗ trợ ngư dân khai thác hải sản xa bờ và hoạt động dài ngày trên biển. Tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích người dân định cư lâu dài trên các đảo. Tăng cường công tác cứu hộ, cứu nạn và bảo đảm an ninh, an toàn trên biển, đảo. 
Hai là, kết hợp chặt chẽ giữa thúc đẩy nhanh quá trình dân sự hóa các vùng biển, đảo để xây dựng thế trận lòng dân trên biển vững mạnh, đủ khả năng bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển. Dân sự hóa các vùng biển, đảo, tổ chức dân cư, tổ chức sản xuất nhằm khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên trên biển, đồng thời cũng là tiền đề để xây dựng, củng cố và phát huy lực lượng tại chỗ phục vụ chiến lược quốc phòng - an ninh trên biển. Khuyến khích nhân dân định cư ổn định và làm ăn dài ngày trên biển. 
Kết hợp hài hòa giữa các lợi ích kinh tế với yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh trong xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, kết cấu hạ tầng tại các vùng kinh tế ven biển. Gắn kết giữa phát triển kinh tế với nâng cao khả năng phòng thủ vùng biển. Phát huy hiệu quả tối đa các công trình, cơ sở vật chất kỹ thuật “lưỡng dụng” cho mục đích kinh tế và quốc phòng, an ninh. 
Gắn kết chặt chẽ các vùng kinh tế trọng điểm biển với các vùng kinh tế ven biển. Bảo đảm các vùng kinh tế ven biển là hậu cứ vững chắc cho vùng kinh tế biển, kịp thời ứng phó với những tình huống phức tạp phát sinh trên vùng kinh tế biển. Xây dựng các khu quốc phòng - kinh tế tại các đảo, quần đảo, vùng biển, tạo thành những căn cứ vững chắc để bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển, thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của nước ta. 
Ba là, xây dựng lực lượng quân đội nhân dân, công an nhân dân vững mạnh đáp ứng yêu cầu bảo đảm an ninh biển, đảo. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước. Hiện đại hóa, nâng cao sức chiến đấu của hải quân, không quân, bộ đội biên phòng, cảnh sát biển, những binh chủng hợp thành các quân đoàn, quân khu ven biển và hải đảo. Tăng cường và nâng cao hiệu quả hoạt động của các lực lượng thực thi pháp luật trên biển. Xây dựng lực lượng vũ trang thành chỗ dựa vững chắc cho những lực lượng dân sự làm kinh tế biển.
Xây dựng lực lượng công an nhân dân bảo đảm đủ sức là lực lượng nòng cốt trong bảo vệ an ninh chính trị, kinh tế, trật tự, an toàn xã hội vùng biển, hải đảo và các vùng ven biển. Bảo đảm an ninh, trật tự là điều kiện để phát triển kinh tế, nâng cao năng lực quốc phòng. Điều này lại càng cần thiết trong điều kiện biển và hải đảo, nơi gắn liền với công tác bảo vệ sự toàn vẹn biên giới, lãnh thổ. Trình độ bảo đảm an ninh, an toàn xã hội thể hiện trình độ, năng lực làm chủ vùng biển quốc gia. Theo đó, lực lượng công an nhân dân cần được xây dựng để đủ sức làm tốt các nhiệm vụ sau:
- Xây dựng lực lượng cảnh sát biển làm nòng cốt bảo đảm thực thi pháp luật trên biển.
- Bảo vệ hoạt động kinh tế biển, tính mạng người dân, tài sản của Nhà nước và nhân dân trên biển. Bảo đảm an toàn giao thông đường biển và ven bờ. Bảo vệ môi trường, kịp thời xử lý các hành vi làm tổn hại đến môi trường biển.
- Xử lý các tranh chấp lợi ích giữa các tổ chức hoặc cá nhân trong sản xuất, khai thác biển.
- Tham gia phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai. Thực thi công tác cứu hộ, cứu nạn trên biển.
- Bảo đảm an ninh quốc gia trên biển, kịp thời ngăn chặn, xử lý các phương tiện xâm nhập đất liền nhằm các mục tiêu chính trị và các hành vi vi phạm pháp luật khác.
Bốn là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền về bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong nước và cộng đồng quốc tế. Đây là một nhiệm vụ thường xuyên của cả hệ thống chính trị. Cần thông tin đầy đủ, kịp thời các chủ trương của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực liên quan tới biển, đảo đến nhân dân trong nước và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, cộng đồng quốc tế. Tuyên truyền rộng rãi các dữ liệu khoa học đã kết luận về tiềm năng biển, quy hoạch phát triển kinh tế biển; các tài liệu lịch sử - pháp lý thuyết phục, khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán đối với các vùng biển, đảo nước ta trên cơ sở Luật Biển Việt Nam và Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982; thúc đẩy việc thực hiện Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và thông qua Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC).
Năm là, tăng cường đấu tranh trên trường quốc tế nhằm điều chỉnh, giải quyết những mâu thuẫn, tranh chấp về quyền lợi giữa các quốc gia có biển, trước hết là liên quan đến Biển Đông dưới các hình thức pháp lý tương ứng (các công ước, tuyên bố chung, hiệp định, luật,…)./.
-------------------------------------
(1). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr 122
(2). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr 95
(3). Văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2018, tr 72, 73.
PGS, TS. Nguyễn Thị Hải Vân
Học viện Chính trị Công an nhân dân



Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...