Thứ Tư, 15 tháng 5, 2019

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG


I. Bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh
Điều 4, Hiến pháp năm 2013 đã xác định, Đảng Cộng sản Việt Nam “lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng”. Thế nhưng, các thế lực thù địch tìm mọi cách ra sức phê phán, bác bỏ chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Vì thế, làm rõ bản chất khoa học, cách mạng để không thể xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng là vấn đề vừa cơ bản lâu dài, vừa cấp thiết hiện nay.
Thực tiễn đã chứng tỏ, bất cứ một đảng chính trị nào cũng phải có hệ tư tưởng dẫn dắt, nếu không đảng đó chỉ là tổ chức ô hợp. Điều này đã được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”1. Do vậy, từ Đường cách mệnh do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và Luận cương chính trị do Hội nghị Trung ương tháng 10-1930 thông qua cho đến nay, Đảng ta đều khẳng định chủ nghĩa Mác – Lê-nin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng của mình.
Chính vì bản chất khoa học và cách mạng, nên chủ nghĩa Mác – Lê-nin ngay từ khi ra đời cho đến nay luôn bị các thế lực thù địch điên cuồng chống phá. Bất chấp điều đó, những người có lương tri trên thế giới vẫn khẳng định bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Thật vậy, tuần báo Giải phóng (tiếng nói của hàng vạn chiến sĩ cách mạng các nước Mỹ - Latinh, trụ sở tại Thụy Điển), ngày 07-7-1995 cho rằng, “chủ nghĩa Mác được phân tích một cách khoa học và cơ bản vẫn là lý luận xã hội có hiệu lực trước tình hình thế giới hiện nay” và rằng, “chủ nghĩa xã hội là câu trả lời duy nhất có giá trị để giải quyết những vấn đề của xã hội hiện tại trong khuôn khổ của chủ nghĩa tư bản”2. Đại hội Mác quốc tế họp ở Pa-ri (Pháp) từ ngày 27 đến ngày 30-9-1995, nhân kỷ niệm 100 năm chủ nghĩa Mác3, với 500 đại biểu của gần 100 viện nghiên cứu, tạp chí mác-xít và 30 trường đại học từ 22 nước trên thế giới đến dự đã đánh giá: “tư tưởng của Mác vẫn giữ nguyên tầm quan trọng của nó trong thế giới đương đại… gương mặt của Mác vẫn là biểu tượng phủ nhận trật tự đang thống trị4. Theo thăm dò của tờ Tạp chí Spiegel (Đức), với hơn 50% số người dân Đức cho rằng, “sự phê phán của C. Mác đối với chủ nghĩa tư bản ngày nay vẫn giữ nguyên giá trị”; hơn 56% cho rằng, “chủ nghĩa xã hội là một tư tưởng hay nhưng thực hành tồi”; giới trẻ còn tỏ sự đồng tình cao hơn nữa với C. Mác. Nhà tỷ phú đầu cơ chứng khoán G. Sô-rốt đã viết: “C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã cho một phân tích rất tốt về hệ thống tư bản từ cách đây 150 năm”. Chính tờ The New Yorker (Mỹ) cho rằng, các nhà kinh tế học hiện đại trong quá trình giải quyết các vấn đề đặt ra, đang “bước theo dấu chân của C. Mác mà họ không biết”. Bởi theo Tạp chí Newsweek (Mỹ), C. Mác “đã mổ xẻ cái hệ thống trục lợi này tốt hơn ai hết... như thể C. Mác đã đội mồ đứng dậy!”5.
Thực tế đã chứng minh, chính chủ nghĩa tư bản dù ở phương Đông hay phương Tây cũng đã và đang vận dụng chủ nghĩa Mác – Lê-nin nhằm điều chỉnh, thích nghi để tồn tại, làm cho nó giảm bớt các khuyết tật, khiến cho một số người ngộ nhận rằng, chủ nghĩa tư bản là “hình mẫu” các nước cần “noi theo”. Nhưng không, những gì C. Mác phân tích về chủ nghĩa tư bản vẫn còn nguyên giá trị. Điều đó được chứng tỏ qua kết quả bình chọn nhà tư tưởng thiên niên kỷ thứ hai của Trường Đại học Cambrit (Anh) công bố năm 1999. Theo đó, C. Mác đứng đầu, đứng thứ hai là A. Anhxtanh - các nhà khoa học lớn của nhân loại. Trường Đại học Tổng hợp Yale (một trường đại học danh tiếng của Mỹ), năm 2011 đã lựa chọn xuất bản cuốn sách Tại sao Mác đúng? của Tery Eagleton (giáo sư Trường Đại học Tổng hợp Lancaste, Vương quốc Anh) đã gây nhiều chú ý của công luận. Tác giả cuốn sách không chấp nhận định kiến cho rằng: “chủ nghĩa Mác đã chết và không cần phải nhắc đến nữa”, nên đã lựa chọn 10 vấn đề phổ biến nhất mà người ta phê phán C. Mác để phân tích, lý giải, đưa ra những minh chứng phản bác. Ngay trong Lời nói đầu cuốn sách, tác giả đã khẳng định: “Chủ nghĩa Mác, từ bao lâu nay vẫn là sự phê phán phong phú nhất về mặt lý luận, không khoan nhượng nhất về mặt chính trị đối với hệ thống tư bản chủ nghĩa…”6. Điều đó một lần nữa khẳng định vai trò không thể phủ nhận của C. Mác đối với nhân loại.
Một số người cho rằng, chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, chứng tỏ chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã lỗi thời, nên Đảng Cộng sản Việt Nam không thể cứ kiên định với lý thuyết lạc hậu (!). Xin nhắc lại kết quả thăm dò của Tạp chí Spiegel (Đức) với hơn 56% số người được hỏi đã cho rằng “chủ nghĩa xã hội là một tư tưởng hay nhưng thực hành tồi”. Như vậy, người ta đã không phủ nhận lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, mà phê phán những người áp dụng lý luận ấy một cách máy móc, giáo điều. Vì thế, dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu. Mặc dù vậy, nhưng không thể phủ nhận thành tựu của chủ nghĩa cộng sản Xô-viết. A. Dinôviép (người tự nhận không phải môn đệ của chủ nghĩa Mác – Lê-nin) từng chống nhà nước Xô-viết và phải ngồi tù thời còn Liên Xô, sau sống lưu vong ở Mỹ, trước sự sụp đổ của Liên Xô đã cho rằng: “Những thành tựu thời đại chủ nghĩa cộng sản Xô-viết do V.I. Lê-nin mở đầu đã thấm vào máu thịt của loài người… Nhờ có cuộc cách mạng vô sản và tất cả những gì gắn với cuộc cách mạng đó mà nhân loại đã được cứu thoát khỏi sự thụt lùi đáng sợ nhất, thoát khỏi sự suy tàn, thoái hóa”7.
Ở nước ta, cho đến nay, chưa có ai đi nhiều, học hỏi, tiếp thu nhiều tinh hoa văn hóa nhân loại như Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Với khả năng thiên bẩm và sự trải nghiệm của bản thân, Người đã khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lê-nin”8. Vì thế, Hồ Chí Minh không ngừng nghiên cứu, vận dụng, sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Tư tưởng của Người đã trở thành tài sản tinh thần quý báu của Đảng và của dân tộc. Vì vậy, từ Đại hội VII đến nay, Đảng ta đã có sự bổ sung, khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động,…”9. Đại hội IX của Đảng làm rõ nội hàm: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại… Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”10. Trên thực tế, Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lê-nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước và Hồ Chí Minh là hiện thân trọn vẹn nhất cho sự kết hợp đó, là tiêu biểu sáng ngời cho sự kết hợp giai cấp và dân tộc, dân tộc và quốc tế, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Thế nhưng, có người lại cho rằng, Hồ Chí Minh là “người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa”, “nhà dân tộc chủ nghĩa chứ không phải nhà mác-xít”. Từ đó, họ tập trung phủ nhận giá trị lý luận, thực tiễn, khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh và những đóng góp to lớn của Người đối với dân tộc và phong trào cách mạng thế giới. Một số luận điệu khác lại đề cao, tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận vai trò của chủ nghĩa Mác – Lê-nin đối với cách mạng Việt Nam.
Việc hạ thấp hoặc tuyệt đối hóa vai trò tư tưởng Hồ Chí Minh như trên đều nhằm đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, thực chất là phủ định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tiến tới phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng.
Thực tiễn cho thấy, do kiên định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã đề ra đường lối lãnh đạo đúng đắn, đưa cách mạng Việt Nam giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Chúng ta đã đánh thắng hai đế quốc sừng sỏ là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ và giành những thành tựu to lớn trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế, đưa vị thế của Việt Nam ngày một nâng cao trên trường quốc tế. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mọi đường lối, chính sách đều hướng tới phục vụ con người, bảo đảm quyền con người ngày một tốt hơn. Vì thế, Việt Nam đã đạt được một số thành tựu nổi bật trong bảo đảm quyền con người, trong đó có việc thông qua Hiến pháp năm 2013 (dành hẳn Chương 2 đề cập về “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân). Nhiều năm liền, Việt Nam duy trì được mức độ tăng trưởng kinh tế cao (trên 6%), làm cho thu nhập bình quân đầu người liên tục tăng, năm 2018 đạt 2.590 USD, đứng đầu nhóm nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình thấp. Trong đó, thu nhập của hộ nghèo tăng từ 15% đến 20% giai đoạn 2014 - 2018; cuối năm 2018, tỷ lệ hộ nghèo bình quân cả nước còn 5,35% (giảm 1,35% so với cuối năm 2017); tỷ lệ nghèo đa chiều giảm từ 9,88% năm 2015 xuống còn 7,69% năm 2017. Đến cuối năm 2017, cả nước có 99,4% số xã có đường ô tô tới trung tâm xã, 100% số xã và 97,8% số thôn được điện lưới quốc gia bao phủ; 99,7% số xã có trường tiểu học, trường mẫu giáo; cả 63 tỉnh, thành đều đạt phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi và phổ cập giáo dục tiểu học; 99,5% số xã có trạm y tế; 60,8% số xã có chợ; 58,6% số xã có nhà văn hóa, v.v. Về bình đẳng giới, tỷ lệ phụ nữ làm chủ cơ sở kinh doanh chiếm 31,6%, tỷ lệ phụ nữ tham gia Quốc hội nhiệm kỳ 2016 - 2021 đạt 26,72%, cao hơn bình quân của thế giới (23,6%). Việc bảo đảm các quyền dân sự, chính trị cũng đạt nhiều thành tựu, trong đó có bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền tự do báo chí, tự do internet; năm 2018, có 64/97 triệu người sử dụng internet (65,98%), 58/97 triệu tài khoản facebook (59,79%), v.v. Ðời sống tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng phát triển phong phú với hơn 95% dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo và hàng trăm lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo diễn ra hằng năm. Vì thế, báo chí thế giới có nhiều đánh giá tích cực về Việt Nam, như: “Điều kỳ diệu Việt Nam”, “Việt Nam - ngôi sao đang nổi trên bản đồ kinh tế thế giới”, “Việt Nam - điểm sáng kinh tế thế giới”,… được coi là “tấm gương với nhiều nước đang phát triển trên thế giới”. Đánh giá về nguyên nhân để Việt Nam đạt thành tựu to lớn đó, các chuyên gia, học giả quốc tế đều thống nhất khẳng định: sự ổn định về chính trị là nhân tố quan trọng để Việt Nam thu hút giới kinh doanh, đầu tư trên thế giới. Điều đó chỉ có được dưới sự lãnh đạo của Đảng được dẫn dắt bởi chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Từ luận giải trên cho thấy, bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò của hệ tư tưởng này đối với cách mạng Việt Nam. Điều đó đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu, vận dụng và phát triển những nguyên lý lý luận ấy, làm cho nó mãi mãi xanh tươi và khẳng định tính đúng đắn trong thực tiễn.
NGUYỄN PHÚ HƯNG
_________
1 - Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 2, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 289.
2 - Tạp chí Cộng sản, số 01, 01-1996, tr. 57.
3 - Những người khởi xướng tính mốc chủ nghĩa Mác bắt đầu từ khi Ph. Ăng-ghen qua đời năm 1895.
4 - Tạp chí Cộng sản, số 9, 5-1996, tr. 31.
5 - Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 25-4-2014.
6 - http:// triethoc.edu.vn/vi/chuyen-de-triet-hoc/ truong-phai-triet-hoc/chu-nghia-marx/tai-sao-marx-dung (Lời nói đầu).
7 - A. Dinôviép - Người vĩ đại của thế kỷ XX, Thông tin những vấn đề lý luận, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, số 9 (5-2004).
8 - Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 2, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 289.
9 - ĐCSVN - Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 51 (tháng 6 đến tháng 12-1991), Nxb CTQG, H. 2007, tr. 147.
10 - ĐCSVN - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H. 2001, tr. 83-84.
http://tapchiqptd.vn/vi/phong-chong-dbhb-tu-dien-bien-tu-chuyen-hoa/khong-the-xuyen-tac-nen-tang-tu-tuong-cua-dang/13669.html

DI CHÚC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH ĐỊNH HƯỚNG CHO CÁCH MẠNG VIỆT NAM CẢ HÔM QUA, HÔM NAY VÀ CHO CẢ NGÀY MAI ​



Bản Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau nửa thế kỷ, càng sáng tỏ giá trị lịch sử và tầm nhìn thời đại, tầm nhìn xa trông rộng của một bậc thiên tài. Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh soi đường, định hướng cho cách mạng Việt Nam hôm qua, hôm nay và cho cả mai sau. Di chúc bất hủ của Người là chỉ dẫn, là lời dạy, là ngọn đuốc soi đường cho đất nước ta vững bước đi lên, phát triển bền vững.
Di chúc là tâm nguyện, là ý chí, niềm tin, là tình cảm và trách nhiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Tổ quốc, với nhân dân, với sự nghiệp cách mạng.
Là người cách mạng, là người mácxít, là người thấu hiểu quy luật khách quan của tự nhiên, của xã hội, của con người, trong Di chúc, Bác Hồ đã nhận thức và đón nhận quy luật của cuộc sống một cách chủ động, bằng phong thái ung dung tự tại, chuẩn bị cho việc ra đi bằng những lời tâm huyết dặn lại, Bác viết: "Tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột".
Mở đầu Di chúc với ý chí phi thường, niềm tin son sắt, tinh thần lạc quan cách mạng, trách nhiệm với Tổ quốc, với nhân dân của Người thể hiện sâu sắc ở dự báo rất đúng về thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ và về sự thống nhất đất nước. Người khẳng định: "Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn". Đây là dự báo của một thiên tài, biết trước sự việc như Hồ Chí Minh. Người cũng nêu những công việc Người dự định làm sau đó. Người viết: "Tôi có ý định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp hai miền Nam Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ và chiến sĩ anh hùng, thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thiếu niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta…".
Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là công trình bất hủ về xây dựng Đảng cầm quyền.
Là Người sáng lập, rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng Đảng. Người cho rằng sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trong công tác xây dựng Đảng, thì vấn đề đoàn kết thống nhất trong Đảng là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất, là sự vận động và phát triển theo đúng quy luật của Đảng. Đoàn kết thống nhất trong Đảng là cơ sở để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Đảng lãnh đạo, Đảng cầm quyền mà không đoàn kết thống nhất thì sự nghiệp cách mạng của dân tộc không thể thắng lợi.
Xây dựng và giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là nền tảng cho mọi thành công. Đoàn kết thống nhất không chỉ là vấn đề sinh tử của từng tổ chức Đảng các cấp, mà còn là sinh mệnh của toàn Đảng, là vấn đề sống còn của cách mạng.
Trong bản Di chúc, vốn được Người dành nhiều tâm huyết để hoàn thành, ngay từ năm 1965, Người đã viết: “TRƯỚC HẾT NÓI VỀ ĐẢNG” và Người cũng khẳng định sức mạnh to lớn của đoàn kết qua thực tiễn cách mạng nước ta: “Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và dân tộc ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình". Như vậy có thể thấy, đoàn kết thống nhất trong Đảng không chỉ là mối quan tâm lớn hàng đầu của Người mà còn là sự trăn trở khi Người nghĩ về cả mai sau.
Vì sao Chủ tịch Hồ Chí Minh lại luôn nhấn mạnh vai trò, ý nghĩa quan trọng của đoàn kết thống nhất. Người không chỉ nêu ra yêu cầu phải đoàn kết trong Đảng mà Người còn chỉ rõ sự đoàn kết ấy phải là đoàn kết nhất trí, đoàn kết thống nhất, đó không phải là đoàn kết giả tạo, hình thức, nó phải thể hiện cả ở tư tưởng, cả trong hành động. Tư tưởng và hành động phải thống nhất. Không thể bề ngoài là đoàn kết nhưng những khi cần ra một quyết định, ban hành một quyết sách thì không có được sự thống nhất hay khi cần thì liên minh nhau lại nhân danh đoàn kết, khi không cần thì tìm cách cản trở công việc của nhau. Trong tư tưởng của Người, đoàn kết phải là đoàn kết thống nhất, trước sau như một, tức là phải dựa trên nền tảng đường lối, quan điểm của Đảng và vì lợi ích của cách mạng, của nhân dân, của tập thể. Người luôn nhấn mạnh: Đảng tuy có nhiều đảng viên, song khi tiến hành nhiệm vụ cách mạng thì chỉ như một người, trong Đảng không cho phép có tình trạng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”.
Đảng là tổ chức chính trị cao nhất của Nhân dân, của dân tộc, các đảng viên đều tham gia tổ chức một cách tự giác, tự nguyện, việc giữ vững và thực hiện nghiêm minh các nguyên tắc của Đảng không chỉ là nguyện vọng của nhân dân mà còn là trách nhiệm của mỗi đảng viên. Người coi nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản và quan trọng, trong từng tổ chức Đảng phải thực hành dân chủ, mở rộng dân chủ, “Phải thực sự mở rộng dân chủ để tất cả đảng viên bày tỏ hết ý kiến của mình”(1), mọi ý kiến, suy nghĩ của mỗi đảng viên đều phải được bày tỏ, được lắng nghe; mọi quyết định quan trọng đều phải được bàn bạc, thảo luận một cách dân chủ. Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm túc tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Đoàn kết thống nhất trong Đảng đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải thật thà tự phê bình và phê bình, đây chính là một hình thức rèn luyện đảng viên để xây dựng, chỉnh đốn Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh. Bởi theo Người: “Chỉ có đảng chân chính cách mạng và chính quyền thật dân chủ mới dám mạnh dạn tự phê bình, hoan nghênh phê bình và kiên quyết sửa chữa. Do tự phê bình và phê bình… mà chúng ta đoàn kết càng chặt chẽ”(2). Đây cũng là quy luật phát triển của Đảng, tự phê bình và phê bình là để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ, để công việc được hiệu quả hơn, để đoàn kết và thống nhất trong nội bộ. Để thực hiện đoàn kết thống nhất trong Đảng, Hồ Chí Minh yêu cầu phải thực hiện các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng, đặc biệt là nguyên tắc dân chủ, nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Trong Di chúc, Người căn dặn “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng.
Để có sự đoàn kết thật sự, không chỉ cần thực hiện nguyên tắc, bản lĩnh, lý trí mà còn rất cần tình thương yêu, sự đồng cảm và chia sẻ với nhau. Năm 1966, Người bổ sung vào bản Di chúc cụm từ “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Để có sự đoàn kết thống nhất thực sự thì bên cạnh tinh thần, lý trí, trong mỗi cán bộ, đảng viên phải có tình thương yêu đồng chí, có lòng nhân ái, nhân hậu. Trong thực hành công việc không chỉ là đặt ra yêu cầu hoàn thành công việc mà còn phải có sự cảm thông, chia sẻ, giúp đỡ nhau cùng hoàn thành công việc. Vì vậy, để duy trì và bồi đắp đoàn kết thống nhất thì từng tổ chức Đảng bên cạnh việc phải chú trọng giáo dục ý thức trách nhiệm, còn phải thường xuyên bồi dưỡng tình thân ái, tình thương yêu cảm thông chia sẻ, tình đồng chí.
Trong điều kiện Đảng cầm quyền, Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng yếu tố đạo đức trong Đảng, chống lại các căn bệnh “quan liêu”, “tham nhũng, lãng phí”, “xa dân”. Theo Người, Đảng cầm quyền có nhiệm vụ to lớn là lãnh đạo nhân dân xây dựng xã hội mới, tiến hành “một cuộc chiến đấu khổng lồ”, xóa đi những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, xây dựng những cái mới mẻ, tốt tươi. Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn với 4 chữ "thật": “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.
Sự đoàn kết thống nhất trước hết phải được xây dựng trong Đảng, được thể hiện trong Đảng. Mỗi đảng viên, nhất là đảng viên giữ trọng trách lãnh đạo phải cương quyết chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội trong chính bản thân mình trước những tác động từ bên ngoài. Bởi như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rút ra: chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội chính là căn nguyên của mất đoàn kết thống nhất trong Đảng.
Nhìn lại chặng đường đã qua với không ít giai đoạn rất phức tạp, nhưng Ban Chấp hành Trung ương mà hạt nhân là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn vững vàng, luôn đoàn kết thống nhất.
Thấm nhuần tư tưởng và thực hiện Di chúc của Người, những năm qua, Đảng ta luôn coi trọng, giữ gìn và phát huy đoàn kết thống nhất. Nhờ đó, Đảng đã quy tụ và phát huy được sức mạnh toàn dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp để hoàn thành nhiệm vụ lãnh đạo đất nước mà Nhân dân đã tin tưởng giao phó. Trong nhiều kỳ đại hội Đảng, vấn đề đoàn kết thống nhất đều được nghiêm túc đặt ra, được xem xét, đánh giá một cách toàn diện và sâu sắc.
Trong Di chúc, ngay sau khi nói về Đảng, là Người nói về đoàn viên và thanh niên. Người viết: "ĐOÀN VIÊN và THANH NIÊN ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ". Người căn dặn: "Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa "hồng" vừa "chuyên".
Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết".
50 năm qua, Đảng ta đã quan tâm bồi dưỡng, đào tạo các thế hệ đoàn viên, thanh niên. Nhiều đoàn viên, thanh niên đã thực sự trở thành người kế tục xứng đáng sự nghiệp cách mạng của lớp cha, anh đi trước. Nhiều người đã trở thành cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn giỏi; trở thành những trí thức tài năng, những công nhân, những nông dân sản xuất giỏi, những doanh nhân thành đạt… Đảng ta chủ trương xây dựng Đoàn vững mạnh là xây dựng Đảng trước một bước. Tầm nhìn xa của Hồ Chí Minh về xây dựng lớp lớp người kế tục sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng của nhân dân là hết sức tài tình. Người luôn thể hiện sự tin tưởng vào thế hệ trẻ, thế hệ tương lai của đất nước. Suốt đời mình, Người luôn dành sự quan tâm, sự chăm lo đặc biệt cho thanh niên, thiếu niên và nhi đồng. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa việc chăm lo đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ như tâm nguyện của Người trong Di chúc là một việc cực kỳ quan trọng của Đảng, của nhân dân ta.
Nói về nhân dân lao động, trong Di chúc, Người viết: "NHÂN DÂN LAO ĐỘNG ta ở miền xuôi cũng như miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều năm chiến tranh.
Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng".
Suốt cuộc đời của Người là chăm lo cho đời sống của nhân dân. Trong Di chúc, Người căn dặn: "Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân".
Khi viết VỀ VIỆC RIÊNG, Người tâm niệm: "Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa".
Ngay cả việc ra đi của Người, Người vẫn còn lo cho nhân dân, khi Người căn dặn: "Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân".
Nhân dân luôn trong trái tim của Người, tất cả vì nhân dân, dành cho nhân dân. Người viết: "Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng".
Cả cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh là phấn đấu, hy sinh cho dân tộc, cho nhân dân; là phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Người mong muốn và có niềm tin mãnh liệt vào sự tất thắng của sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, của dân tộc, của nhân dân ta. Đoạn cuối cùng của bản Di chúc lịch sử, thiêng liêng, Người viết: "Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới". "Một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh" phải chăng là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã định hướng cho một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tương lai hay đây chính là đặc trưng cơ bản nhất của một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Bản Di chúc thiêng liêng, lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta không dài, cô đọng, súc tích, giản dị, dễ hiểu; nhưng trong đó hàm chứa những tư tưởng vĩ đại, lớn lao của Người định hướng cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, của nhân dân Việt Nam cả hôm qua, cả hôm nay và cả mai sau.
Sau 50 năm thực hiện Di chúc của Người, chúng ta càng thấy rõ hơn tầm nhìn chiến lược, tư tưởng thiên tài của Bác ngay từ cách đây trên nửa thế kỷ đã, đang và sẽ vẫn là ngọn đuốc soi đường, định hướng cho cách mạng Việt Nam. Sau 50 năm thực hiện Di chúc thiêng liêng của Người, chúng ta soi xét vào từng lời dặn của Bác, chúng ta tự hào đã làm được nhiều việc, chúng ta trân trọng những thành quả đã đạt được; nhưng chúng ta cũng rất buồn, thậm chí đau lòng về những thiếu sót, hạn chế, thậm chí những tiêu cực đang diễn ra trong xã hội, ngay trong Đảng vẫn còn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, suy thoái về đạo đức lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên.
Bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế, trước những tác động của kinh tế thị trường, một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ cấp cao có xu hướng chạy theo chủ nghĩa cá nhân; một số tổ chức Đảng có biểu hiện mất đoàn kết nội bộ, chưa tôn trọng và thực hiện chưa đúng nguyên tắc tập trung dân chủ. Việc tự phê bình và phê bình có nơi trở nên hình thức, có nơi bị lợi dụng để đấu đá, hạ bệ lẫn nhau. Bên cạnh đó, những biểu hiện cơ hội chủ nghĩa, “lợi ích nhóm”, tính cục bộ địa phương có nơi đã xuất hiện và phá hoại sự đoàn kết thống nhất trong Đảng.
Những năm gần đây, Đảng ta đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu đối với việc giữ vững sự đoàn kết thống nhất trong tổ chức Đảng và trong các cơ quan, đơn vị. Tuy nhiên, thực tế là ở nhiều nơi, chính người đứng đầu chịu trách nhiệm trước cấp ủy cấp trên và cấp mình về sự đoàn kết thống nhất nội bộ lại chưa thực sự gương mẫu, chưa thấm nhuần ý thức xây dựng khối đoàn kết thống nhất trong nội bộ. Chính vì vậy, việc lựa chọn người đứng đầu có đủ phẩm chất, năng lực, có vai trò tiền phong, gương mẫu là rất quan trọng. Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền phải thực sự công bằng, công tâm trong xử lý công việc, phải thực sự là trung tâm quy tụ, đoàn kết của tổ chức Đảng, của tập thể cơ quan, đơn vị.
Thực tế cho thấy, đoàn kết thống nhất trong cán bộ lãnh đạo ở cấp càng cao thì tác động, ảnh hưởng đối với Đảng càng mạnh, sức lan tỏa ra xã hội càng lớn. Ngược lại, những người nắm trọng trách lãnh đạo, nhất là ở cấp cao nếu không có ý thức đoàn kết thống nhất thì không những gây nguy hại mà còn tạo ra những nguy cơ lớn, khó lường cho toàn Đảng.
Trong thời điểm đất nước đang đứng trước những thời cơ vận hội mới nhưng cũng đầy những thử thách lớn lao, những thành tựu toàn Đảng, toàn dân đạt được qua gần 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước chính là kết quả của sự đoàn kết thống nhất của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, là minh chứng khẳng định sự trưởng thành và vững mạnh của Đảng. Tuy nhiên, trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biến phức tạp, khó lường, bên cạnh những thành tựu đạt được, chúng ta vẫn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, phức tạp. Các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách, bằng nhiều âm mưu thâm độc, xảo quyệt, kích động chia rẽ nội bộ, gây mất đoàn kết trong Đảng. Chính vì vậy, tăng cường đoàn kết và thống nhất trong Đảng từ Trung ương đến cơ sở là điều tất yếu và cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.
Giờ đây, đoàn kết thống nhất trong Đảng càng phải được xem là một chiến lược lâu dài đối với sự nghiệp cách mạng. Là Đảng duy nhất cầm quyền, Đảng ta càng phải xây dựng, củng cố sự đoàn kết thống nhất, có như vậy thì hệ thống chính trị, các tầng lớp nhân dân, các dân tộc mới đoàn kết xung quanh Đảng. Đoàn kết của Đảng chính là tấm gương cho cả hệ thống chính trị và là nhân tố quyết định bảo đảm đoàn kết dân tộc.
Đặc biệt, trước thềm Đại hội XIII của Đảng, khi chúng ta đang đứng trước thời điểm phải lựa chọn những người xứng đáng, vừa có tài, vừa có đức để đảm nhận những trọng trách lãnh đạo đất nước, thì hơn bao giờ hết, chúng ta càng phải phát huy truyền thống đoàn kết thống nhất. Đây là trách nhiệm lớn, mà trước hết là của tập thể, cá nhân lãnh đạo từ Trung ương đến từng cơ sở. Mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ giữ trọng trách lãnh đạo từ cấp cao đến cấp cơ sở phải thực sự thực hiện nghiêm lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc: “Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”.
-------------------------
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.118.
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.223.
 PGS.TS. VŨ VĂN PHÚC
 Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học các cơ quan Trung ương
Ban Tuyên giáo Trung ương

SỰ THẬT BỊ CHE DẤU, XUYÊN TẠC BẤY LÂU NAY KHIẾN NHIỀU NGƯỜI VIỆT Ở HẢI NGOẠI HIỂU LẦM TÌNH HÌNH ĐẤT NƯỚC



Tháng 4-2014, trong đoàn người Việt ở nước ngoài trên truyến tàu thăm Trường Sa do các cơ quan chức năng liên quan tổ chức, có một người thường đi đầu trong các cuộc biểu tình phản đối Việt Nam của người gốc Việt ở Mỹ, tên là David Nguyễn Văn, thường gọi là “Đức đầu bạc”.
Trước, trong và sau chuyến đi, trên internet xuất hiện một số video clip phỏng vấn David Nguyễn, trong đó ông nói đi để xác minh sự thật và từ sự thật đã chứng kiến, ông nói: “Tôi đã biết những gì tôi được truyền đạt trước đây về Trường Sa đều là thông tin bịa đặt của những người muốn bóp méo sự thật về Việt Nam”, “những việc làm của tôi đều không trung thực”, “các em trẻ đáng tuổi con cháu tôi, hy sinh tất cả ra tuyến đầu, một người như tôi không làm được điều đó mà còn chống lại, nên tôi xấu hổ và suy nghĩ lại”. Tới tháng 10-2014, sự kiện ông David Nguyễn tuyên bố: “rửa tay, gác kiếm” đã rất thu hút sự chú ý của cộng đồng người Mỹ gốc Việt.
Sau 5 năm vắng bóng, ngày 24-4-2019, ông David Nguyễn xuất hiện trong bộ phim tài liệu đặc biệt “Hai nửa thế giới” phát trên VTV1 và kể lại con đường đưa ông đến Mỹ, trở thành người đi đầu trong nhiều cuộc biểu tình chống Việt Nam, suy nghĩ của ông sau những lần về Việt Nam. Rồi ông nhận ra đất nước đã thay đổi và tự thấy nếu “muốn đóng góp phải đóng góp cho đất nước, chứ không phải để đóng góp cho hải ngoại”, nên ông không thể “tiếp tục con đường 30 chống đối Nhà nước, con đường đó làm cho tôi mất đi cả tuổi trẻ”. Qua bộ phim “Hai nửa thế giới”, cùng với bốn người Mỹ gốc Việt khác là Kiều Linh Caroline Valverde, Vũ Văn Lê, Hoàng Duy Hùng, Nguyễn Thanh Tú, ông David Nguyễn bày tỏ suy nghĩ, tấm lòng chân thành của mình với đất nước, bày tỏ mong mỏi được đóng góp xây dựng quê hương.
5 năm trước, khi khẳng định sẽ không dính dáng đến “cộng đồng người Việt quốc gia ở Houston”, ông David Nguyễn còn nói rằng: “Sẽ có nhiều người rửa tay, gác kiếm như tôi”, và điều đó ngày càng được chứng minh. Vì đến nay, trò chửi bới, dọa nạt, biểu tình, ngăn cản làm ăn buôn bán, tổ chức ám sát… của số kẻ chống cộng cực đoan trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt không còn làm ai sợ hãi nữa, nhiều người đã lộ diện để vạch trần bản chất xấu xa của họ. Trong khi John McBride, cựu nhân viên FBI, sắm mũ cối có gắn sao vàng công khai đội trên đầu đi lại giữa nơi vốn được gọi là sào huyệt của người Mỹ gốc Việt chống cộng, thì David Lee lại phát trực tiếp (livestream) nhiều video clip chỉ rõ những kẻ chống cộng là ai, mưu đồ của họ là gì, và vừa qua ông nói: “Hôm nay ngày 1-5-2019, tôi tuyên bố ủng hộ Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đất nước để tiến lên… Tôi buông cái “quốc gia” đó vì 44 năm qua rồi, tôi chỉ thấy nó ngày càng tệ bạc, không ra gì. Tôi không mất thì giờ vô bổ theo cái “chính nghĩa quốc gia”… Tôi bỏ cuộc vì không chấp nhận hành động của những người chống cộng côn đồ. Bất kỳ cá nhân, đoàn thể chống cộng nào chửi bới, đặc biệt là chửi bới dân tôi ở Việt Nam, tôi sẽ công khai chửi lại. Đừng có mang “cờ vàng” ra lòe tôi… Như vậy đã xuất hiện để trực diện đấu tranh với “băng đảng giẻ vàng”, và xu hướng này thấy sự cáo chung của “băng đảng giẻ vàng” đã điểm!
Nguồn: Thời nay

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...