Thứ Tư, 19 tháng 12, 2018

KHI BÈ LŨ PHẢN ĐỘNG QUEN MIỆNG NÓI LÁO


Đó là những gì được thể hiện qua buổi hội luận về nhân quyền của Việt Tân nhân kỷ niệm 70 năm ngày Bản Tuyên ngôn nhân quyền ra đời.
Với thành phần tham gia bao gồm Đỗ Hoàng Điềm, Đặng Hữu Nam, Lê Công Định và Nguyễn Văn Hải (Hải điếu cày), những tên phản động này đã không ngừng tung hứng với nhau về những vấn đề bịa đặt mà chúng đưa ra đối với nhân quyền ở Việt Nam như: “Việt Nam không tôn trọng tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền”; “Đa số người dân VN không biết về quyền mà họ có thể có được được khi Việt Nam tham gia công ước quốc tế về nhân quyền”; “Không có điều nào trong công ước mà Việt Nam ký kết được thực hiện đặc biệt là tự do tôn giáo…”… Hay chúng còn dám khẳng định Luật pháp Việt Nam đều là luật rừng, cho rằng vấn đề nhân quyền ở Việt Nam là sự lừa bịp của nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam.
Thiết nghĩ, mọi phát ngôn của chúng đưa ra giống như suy nghĩ của những đứa trẻ vậy, thiếu căn cứ, áp đặt suy nghĩ chủ quan và đặc biệt là mang nặng sự định kiến, tư tưởng của những tên phản động. Thậm chí chúng còn bàn luận về phương pháp, cách thức lôi kéo để đưa số lượng người biểu tình trong nước tăng lên, làm thế nào để mở rộng tổ chức, tập hợp đấu tranh cho quyền làm chủ đất nước của nhân dân Việt Nam.
Xin thưa, Nhà nước Việt Nam là thành quả của Cách mạng nhân dân, là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, người dân Việt Nam đang sống trong độc lập, tự do, hạnh phúc và chúng tôi không hề mong muốn nền dân chủ tư bản mà “quý vị” vẫn mơ hồ, hãy thử nhìn vào cuộc biểu tình “ôn hòa” ở Pháp trong thời gian gần đây và cách mà Chính phủ Pháp xử lý, phải chăng đó là nền “dân chủ” mà “quý vị” cũng như các nhà “dân chủ” mong muốn cho người dân Việt Nam.
Nên chăng, hãy gọi những buổi hội luận của tổ chức phản động Việt Tân và đồng bọn là hội luận tung hứng, xuyên tạc của những kẻ đội bô dân chủ.
#mattrantncpd

https://ngheanthoibao.com/khi-be-lu-phan-dong-quen-mieng-noi-lao/

LINH MỤC ĐẶNG HỮU NAM – TIẾP TỤC CÔNG KHAI

TRỞ THÀNH TỘI ĐỒ CHỐNG PHÁ ĐẤT NƯỚC


Chúng tôi là những người nông dân không mấy quan tâm đến chính sự nhưng, trong thời gian gần đây trước những việc làm, lời nói của linh mục Đặng Hữu Nam tại giáo xứ Mỹ Khánh xã Khánh Thành làm cho mọi người dân chúng tôi hết sức bất bình đối với linh mục Nam.
Đặng Hữu Nam cái miệng luôn nói được Giáo Hoàng, giáo hội, thiên chúa giao cho cái quyền gìn giữ và phân phát những ân sũng của chúa, thế nhưng không làm tròn bổn phận của 01 vị chủ chăn mà suốt ngày có những lời lẽ, hành động xúc phạm đến vai trò lãnh đạo của Đảng, các vị Lãnh tụ, người dân. Trong quá trình được giao nhiệm vụ là chủ chăn vị linh mục đi đến đâu cũng thế, không lo việc truyền dạy giáo lý, giáo luật, chăm lo phát triển đời sống vật chất, tinh thần cho bà con giáo dân mà suốt ngày bày ra những chiêu trò nhằm phá hoại tình đoàn kết lương- giáo, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Đặc biệt trong thời gian quản nhiệm ở Quỳnh Lưu, lợi dụng vấn đề ô nhiểm mội trường biển tại các tỉnh miền trung linh mục Nam đã cấu kết với một số linh mục cực đoan trên địa bàn, một số đối tượng phản động, kích động, xúi dục, bắt ép bà con giáo dân tổ chức các cuộc tuần hành, rao giảng nói xấu Đảng, nhà nước, phủ nhận lịch sử của dân tộc ta… những việc làm sai trái vi phạm pháp luật trên đã làm cho mọi người dân Quỳnh Lưu cũng như nhân dân cả nước hết sức bất bình. Phẫn nộ trước những việc làm của linh mục Nam người dân Quỳnh Lưu đã phản đối, yêu cầu giáo phận Vinh cũng như các cấp chính quyền phải trục xuất ra khỏi địa bàn, yêu cầu không cho tiếp tục được đến làm chủ chăn tại các giaó xứ nữa…
Trước sức ép của người dân Giáo phận Vinh buộc phải điều chuyển về giáo xứ Mỹ Khánh xã khánh Thành với thành ý của Tòa Giám mục là cho LM Nam về vùng quê yên bình đang từng ngày thay gia đổi thịt, lương – giáo đoàn kết cùng nhau phát triển kinh tế – xã hội, tập trung phát động phong trào xây dựng nông thôn mới để cho LM Nam tu tâm, dưỡng tính, chăm lo bổn phận của một vị chủ chăn thế vậy mà, chứng nào, tật nấy vừa bước chân về đến Mỹ Khánh LM đã có những việc làm vi phạm pháp luật như: Vận động 2 hộ dân liền kề chuyển nhượng đất để mở rộng khuôn viên không thực hiện các thủ tục theo quy định của pháp luật. Nhà thờ vốn là nơi sinh hoạt văn hóa tôn giáo của bà con giáo dân và cũng là nơi để bà con lương dân chiêm ngưỡng những kiến trúc độc đáo, cảnh quan trong lành, sạch đẹp nhưng vị LM này lại xây dựng 2 cột bóng đèn cao áp cao khoản 15,16 mét, lắp đặt trên 20 Camera xung quanh để suốt ngày ngồi theo dõi, nếu không có những khuất tất thì làm như vậy để làm gì?. Nam còn cho lắp 3 loa công suất cực lớn mỗi lúc hành lễ mở nhac gây ồn ào mất ANTT trong dân, thường xuyên rao giảng trên loa phóng thanh kích động nói xấu Đảng, chính quyền, trong rao giảng LM luôn mồm cấm đoán không cho bà con giáo dân kết nạp vào hàng ngũ của Đảng, dùng các lời lẽ “Đảng là cái chó gì”…. Lập facebook tuyên truyền, kích động nói xấu cán bộ, đảng viên, một số công dân chia rẽ đoàn kết lương – giáo. Là một linh mục lẽ ra y phải biết được mỗi con người khi sinh ra lớn lên ngoài các yếu tố khác thì vấn đề tri thức đóng vai trò hết sức quan trọng, muốn có tri thức thì phải trau dồi học tập vậy mà LM cấm đoán không cho 3 cháu học sinh ở xóm Khánh Hòa đi thi học sinh giỏi cấp tỉnh, LM còn gọi điện lên mặt với thầy cô giáo trường Khánh Thành, chúng ta thử nghĩ xem LM này muốn cai trị chính sách ngu dân như thời Pháp thuộc hay lo sợ các cháu học giỏi sẽ phát hiện ra những việc làm sai trái của LM, những người thầy, người cô dạy dỗ ông chắc rất ân hận vì đã cố gắng hết sức để truyền thụ kiến thức cho một học trò giám qua cầu rút ván như Nam. Hoạt động xã hội là việc làm hết sức bình thường của các cán bộ cấp xóm, chi đoàn, chi hội thế mà LM bắt ép không cho bà con giáo dân tham gia, dọa dẫm nếu hoạt động xã hội thì không cho sinh hoạt tôn giáo, thử hỏi có đáng bập làm cha của con chiên như chúng tôi hay không.
Linh mục Nam còn cấm đoán không cho bà con giáo dân đóng góp kinh phí xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ dân sinh; lợi dụng vấn đề Quốc hội ban hành dự luật về An ninh mạng, luật đặc khu kinh tế, vấn đề Tòa án Nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử đối tượng Lê Đình Lượng về tội danh tổ chức hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân linh mục Nam đã tụ tập các linh mục, kích động một số bà con giáo dân băng rôn, khẩu hiệu xuống đường tuần hành, hiệp thông cầu nguyện làm ảnh hưởng đến An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, gây bức xúc trong dân, rất rất nhiều những việc làm sai trái của LM không kể hết. Là một công dân chúng tôi thiết nghĩ các ngành chức năng cần tập trung xử lý dứt điểm những việc làm vi phạm pháp luật của linh mục và chúng tôi cũng đề nghị mọi người dân, nhất là bà con nhân dân giáo xứ Mỹ Khánh chúng ta cần tỉnh táo không để bị kéo vào vòng xoáy tội lỗi kẻo có tội với nước với dân. Đề nghị mọi người hãy hành động bằng những lời nói, việc làm cụ thể để bài xích ngay vị linh mục này ra khỏi địa bàn Khánh Thành chúng ta, để làng quê êm đềm được quay trở lại, tình đoàn kết lương- giáo ngày một bền chặt hơn.
Tâm Đức Tâm

https://ngheanthoibao.com/linh-muc-dang-huu-nam-tiep-tuc-cong-khai-tro-thanh-toi-do-chong-pha-dat-nuoc/

TỔNG GIÁM MỤC VŨ VĂN THIÊN NÓI GÌ KHI VỀ

TOÀ TỔNG GIÁO PHẬN HÀ NỘI?


Theo tin chính thức từ Toà tổng GP Hà Nội: “Chiều Chúa nhật 16/12/2018, vào lúc 17h57 Đức Tân Tổng Giám mục (TGM) Giuse Vũ Văn Thiên đã về tới Hà Nội trong không khí vui mừng của cộng đoàn dân Chúa. Mọi thành phần trong Tổng Giáo phận Hà Nội đã có mặt tại nhà thờ Chính Tòa chào đón Đấng chủ chăn mới của Địa phận.
Đón Đức TGM Giuse tại sân tháp nhà thờ Chính Tòa có Đức Hồng Y Phê-rô Nguyễn Văn Nhơn, cha Anton Nguyễn Văn Thắng, chính xứ giáo xứ Chính Tòa cùng cộng đoàn.
Tháp tùng Đức TGM Giuse từ Tòa Giám mục Hải Phòng có Đức Cha Lô-ren-xô Chu Văn Minh, quý cha trong Ban tư vấn, quý cha quản hạt, và đại diện các dòng tu và giáo dân. Cùng tháp tùng trong đoàn còn có quý cha và một số anh chị em giáo dân thuộc giáo phận Hải Phòng”.
Và với cuộc trở về hơn là tới này, bởi từ sau khi đi du học về từ Pháp thì Giám mục, nay là Tổng Giám mục Vũ Văn Thiên đã có gần 20 năm giảng dạy tại Đại Chủng viện Thánh Giuse Hà Nội với bộ môn thần học. Chính với sự gắn bó đó nên đấy cũng là lợi thế để khi trở về với cương vị cao hơn, vinh dự hơn ngài sẽ có nhiều hơn điều kiện để quản lý và phát triển Toà tổng giáo phận, kế thừa những điều mà người tiền nhiệm – Hồng y Nguyễn Văn Nhơn đã làm được trong suốt 8 năm qua.
Và với nhiều tiết mục trong nghi thức nhận toà nên tân Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Hà Nội Vũ Văn Thiên không có nhiều thời gian để phát biểu trước đông đảo chức sắc, giáo dân toà Tổng Giáo phận.
Theo tường thuật của trang Tổng GP Hà Nội: “Sau những giây phút cầu nguyện trước nhan Thiên Chúa, Đức TGM Giuse đã ngỏ lời với cộng đoàn hiện diện. Lời chào thân tình của Đức TGM Giuse đến mỗi thành phần dân Chúa đã khai mở những tâm tình đầu tiên của vị chủ chăn đối với đoàn chiên của mình.
Ngài bày tỏ sự cảm kích trước hình ảnh Đức Hồng Y Phê-rô chờ đón ngài dù ngoài trời giá rét; ngài bày tỏ lòng biết ơn với Đức cha Lô-ren-xô đã thân hành cùng ngài từ Hải Phòng về Hà Nội như là “vị trưởng đoàn đi đón cô dâu về nhà chồng mới” – ngài dí dỏm sánh ví. Đối với ngài, sự đón tiếp thịnh tình của cộng đoàn là dấu chỉ về lòng yêu mến, sự hiệp thông, và kỳ vọng của mọi người, và điều đó càng khiến ngài cảm thấy lo lắng vì không biết mình có đáp ứng được không. Nhưng ngài bày tỏ sự vững tin vì, ngay khi ngài bước chân tới cộng đoàn, những lời cầu nguyện của cộng đoàn đã vang lên để cầu nguyện cho ngài.
Tiếp đó, Đức TGM Giuse đã nói đến vẻ đẹp của một giáo hội hiệp thông và phẩm trật. Một cộng đoàn cần người lãnh đạo theo gương Chúa Giê-su, mẫu gương về sự phục vụ.
Trước khi ngắt lời, Đức TGM Giuse đã xin mọi thành phần dân Chúa hãy cầu nguyện cho ngài, giúp đỡ ngài trong sứ vụ phục vụ dân Chúa tại Tổng Giáo phận Hà Nội, để gìn giữ những gì tiền nhân đã để lại và cùng nhau thăng tiến, ngài quả quyết, “vì nếu không có sự cộng tác của mọi thành phần dân Chúa, thì dù giám mục có nỗ lực đến mấy, kết quả cũng chỉ là một con số không tròn trĩnh”.
Sau khi ban phép lành trên cộng đoàn, Đức TGM Giuse đã trở về Tòa Tổng Giám mục. Với sự hiện diện của Vị chủ chăn mới trong ngày Chúa nhật của niềm vui, Chúa nhật thứ III Mùa Vọng, niềm vui của cộng đoàn được hiện rõ trên nét mặt mỗi người. Niềm vui ấy đan hòa cùng những ánh sao lung linh trải dọc khắp đường đi chuẩn bị đón Giáng sinh về”.
Mặc dù chưa thực sự nói nhiều nhưng với màn ra mắt, TGM Vũ Văn Thiên đã truyền tải tới cộng đồng dân chúa Toà tổng GP những thông điệp. Đó cũng là những điều mà ông sẽ bắt đầu cho quãng thời gian mục vụ sắp tới của ông tại Toà tổng giáo phận.
Nổi bật hơn ca đó là việc ông mời gọi: “vì nếu không có sự cộng tác của mọi thành phần dân Chúa, thì dù giám mục có nỗ lực đến mấy, kết quả cũng chỉ là một con số không tròn trĩnh”.
Sự cộng tác trong một chừng mực nào đó là đức vâng lời, sự vâng phục. Đó là chìa khoá giúp cho Tân Tổng Giám mục có thể hoàn thành sứ vụ của mình. Nhưng ở một góc nhìn khác thì đấy cũng là lời nhắc nhở với những ai bất tuân, không xem trọng quyền năng của chủ chăn tối cao của Toà tổng Giáo phận. Và điều này càng trở nên đáng lưu tâm hơn khi mới đây trong tình trạng trống toà sau khi Hồng y Nguyễn Văn Nhơn được Giáo hoàng cho nghỉ mục vụ, cá nhân TGM Vũ Văn Thiên chưa nhậm chức thì 17 Linh mục của Toà tổng GP đã tự ý đến trụ sở tiếp công dân Quận Hoàn Kiếm để kiến nghị liên quan đơn kiến nghị khẩn cấp về khu đát 29, Nhà Chung, Hà Nội…
Và khi đã có sự mời gọi, nếu ai đó bất tuân thì với quyền năng của mình, tân TGM hoàn toàn có thể chiếu theo luật Giáo hội để xử lý thích đáng.
Theo Mõ làng

https://ngheanthoibao.com/tong-giam-muc-vu-van-thien-noi-gi-khi-ve-toa-tong-giao-phan-ha-noi/
TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU HÓA ĐẾN AN NINH VĂN HÓA VÀ ỨNG PHÓ CỦA VIỆT NAM
Toàn cầu hóa đã và đang diễn ra mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến nhiều lĩnh vực, như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh..., đặt các quốc gia trên thế giới trước những thời cơ và thách thức to lớn. Trong bối cảnh đó, việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc, đấu tranh chống khuynh hướng đồng hóa về văn hóa trên cơ sở bảo đảm an ninh quốc gia, an ninh văn hóa đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển toàn diện và bền vững của mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam.
Tác động của toàn cầu hóa đến an ninh văn hóa hiện nay
Khái niệm “toàn cầu hóa” xuất hiện từ những năm 60 thế kỷ XX với nhiều cách hiểu, trong đó theo cách hiểu phổ biến nhất, “toàn cầu hóa là một tình trạng xã hội có những mối liên kết trên phạm vi khắp hành tinh về kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội, môi trường và các luồng phân lưu làm thu hẹp các khoảng không gian và lu mờ các đường biên giới quốc gia. Ở một phương diện khác, toàn cầu hóa là sự thay đổi xã hội, sự liên thông ngày càng tăng giữa các xã hội và các yếu tố của nó do quá trình đan xen văn hóa kết hợp với sự gia tăng bùng nổ của giao thông và các công nghệ truyền thông góp phần thúc đẩy kinh tế quốc tế và giao lưu văn hóa”(1). Toàn cầu hóa chính là quá trình gia tăng mối quan hệ ràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, dân tộc, các chủ thể của quá trình này. Toàn cầu hóa mang tính tất yếu (do sự phát triển của lực lượng sản xuất, của kinh tế thị trường, của các tập đoàn xuyên quốc gia...), diễn ra với tốc độ nhanh, nhiều tầng nấc, tác động đa chiều. 
Trước tiên, quá trình toàn cầu hóa liên quan tới sự xuất hiện và nhân rộng của các mạng lưới liên kết ở cấp độ toàn cầu, thách thức các đường biên giới địa lý, văn hóa, kinh tế, chính trị truyền thống. Sự phát triển của khoa học - công nghệ trên nhiều lĩnh vực, trong đó có truyền thông (cả truyền thông đại chúng và truyền thông xã hội) đã khiến cho thông tin được truyền tải nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu. Sự ra đời của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới hiện nay đã thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa, thu hút các nước tham gia, vừa hợp tác, vừa cạnh tranh (thậm chí đấu tranh với nhau), đặt mỗi quốc gia, nhất là những nước đang phát triển, trước những thời cơ và cả những thách thức to lớn. 
Ở khía cạnh tích cực, toàn cầu hóa cùng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tạo ra những thay đổi to lớn trong phương thức sản xuất, tiêu dùng, lối sống, văn hóa..., đem lại những lợi ích khổng lồ về sản xuất, tiêu thụ, thông tin, tri thức..., giúp các nước có cơ hội tranh thủ vốn, công nghệ, thị trường, kinh nghiệm quản lý, góp phần phát triển sức sản xuất, thúc đẩy sự phát triển kinh tế, thương mại toàn cầu. Tham gia toàn cầu hóa, các quốc gia còn có cơ hội phát triển trên nhiều lĩnh vực, trong đó có văn hóa thông qua quá trình mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế về văn hóa, làm cho con người xích lại gần nhau hơn và tăng khả năng giải quyết một số vấn đề chung của toàn cầu. 
Toàn cầu hóa giúp các dân tộc có điều kiện nhìn nhận lại chính mình khi so sánh, đối chiếu với văn hóa nhân loại. Thông qua giao lưu, hợp tác quốc tế, các lĩnh vực của đời sống văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc có cơ hội được đối sánh với văn hóa nước ngoài để bộc lộ những ưu điểm hay những mặt còn hạn chế; qua đó các chủ thể văn hóa dân tộc có thể tiến hành tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và thực hiện quá trình tiếp biến văn hóa... Đặc biệt hiện nay, với sự hỗ trợ đắc lực của các phương tiện truyền thông và sự bùng nổ của các ngành công nghiệp sáng tạo, toàn cầu hóa trên lĩnh vực văn hóa đã và đang mở ra nhiều cơ hội mới cho sự học hỏi, hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, chia sẻ giá trị văn hóa, để văn hóa các dân tộc có thể được quảng bá rộng rãi ra nước ngoài và hiện diện trên bản đồ văn hóa thế giới. Như vậy, giao lưu văn hóa tích cực trong điều kiện bùng nổ của cách mạng khoa học - công nghệ sẽ làm thay đổi nhận thức của con người về vấn đề dân tộc và bản sắc, sẽ tạo ra các bản sắc văn hóa đa tầng và mềm dẻo. “Các nền văn hóa chủng tộc và địa phương (dân tộc thiểu số) vốn đã phải chịu những bất lợi thiệt thòi, bất bình đẳng về kinh tế, chính trị hay văn hóa trong khuôn khổ nhà nước - dân tộc sẽ có điều kiện để giao lưu bình đẳng trong một sân chơi với những luật lệ chung. Các giá trị văn hóa cổ truyền của họ cũng sẽ được nhìn nhận và sáng tạo lại qua quá trình giao lưu với các nền văn hóa khác trên thế giới”(2). 
Tuy nhiên, toàn cầu hóa hiện nay có những diễn biến, phát triển mới cùng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã thúc đẩy quá trình hình thành xã hội thông tin và kinh tế tri thức; đẩy nhanh cuộc chạy đua gay gắt về kinh tế và khoa học - công nghệ, tạo điều kiện cho “chiến tranh mềm”, “chiến tranh thông tin” phát triển; khoảng cách giữa các nước giàu và nước nghèo ngày càng lớn, các thách thức an ninh phi truyền thống tiếp tục gia tăng... tác động sâu sắc đến an ninh quốc gia, khu vực và thế giới. Với văn hóa, toàn cầu hóa đang đe dọa đến bản sắc văn hóa của các dân tộc - vốn là những giá trị cần được duy trì nhằm bảo vệ sự đa dạng của nền văn hóa thế giới. Trong quá trình toàn cầu hóa, số ít nước lớn có mưu đồ bá quyền văn hóa đã tìm cách phổ biến các giá trị văn hóa, ngôn ngữ, phong tục tập quán ra khắp thế giới thông qua các ngành công nghiệp văn hóa, như điện ảnh, âm nhạc, thời trang... với công cụ hỗ trợ đắc lực là sức mạnh truyền thông, dần dần làm biến đổi thói quen tiêu dùng và sinh hoạt của người dân các dân tộc trên khắp thế giới, đưa ra chủ thuyết “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, nhằm gây ảnh hưởng, can thiệp vào các quốc gia có chủ quyền, trong đó có vấn đề “xâm lăng” văn hóa dưới cái gọi là bảo vệ “quyền văn hóa”.
Nhờ sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ, trong đó có lĩnh vực thông tin và truyền thông, các sản phẩm văn hóa ở những nước phát triển có sức mạnh và khả năng bành trướng khắp toàn cầu, tấn công dữ dội văn hóa các nước đang phát triển. Tính chất đa dạng, phong phú của các nền văn hóa dân tộc có nguy cơ bị thay thế bằng một nền văn hóa đơn nhất, “đồng dạng”, nghèo nàn, dẫn đến nguy cơ “đồng phục văn hóa”. Bên cạnh đó, trật tự thông tin trên thế giới đang có sự bất bình đẳng. Các tập đoàn truyền thông đa phương tiện của một số nước có tiềm lực chiếm ưu thế về phương tiện và hạ tầng kỹ thuật chi phối hầu hết nguồn thông tin trên thế giới. Thực tế cho thấy, các nước giàu có khả năng sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm văn hóa của mình đến khắp các nước trên thế giới; trong khi đó, các nước nghèo, các nước đang phát triển không có (hoặc rất ít) khả năng làm điều đó. Không chỉ thế, ngôn ngữ - yếu tố quan trọng nhất của văn hóa, cũng gặp không ít thách thức trong quá trình toàn cầu hóa khi hiện nay tiếng Anh trở thành ngôn ngữ giao tiếp quốc tế. Nhờ ưu thế của việc sử dụng tiếng Anh cũng như các phương tiện thông tin và truyền thông, văn hóa của các nước lớn nhanh chóng được phổ biến trên khắp thế giới, tấn công vào giới trẻ ở các nước chậm phát triển và đang phát triển, dễ dẫn đến sự “đứt gãy” truyền thống và tập quán giữa các thế hệ, dần dần làm phai nhạt các giá trị văn hóa dân tộc. 
Tác động của toàn cầu hóa đến an ninh văn hóa Việt Nam
Khi tham gia toàn cầu hóa, Việt Nam có được những cơ hội lớn để phát triển văn hóa, các hoạt động hợp tác quốc tế về văn hóa ngày càng được đẩy mạnh. Việc tham gia ngày càng sâu rộng vào các cơ chế hợp tác đa phương và tăng cường hợp tác song phương trong lĩnh vực văn hóa giúp nước ta củng cố được một mạng lưới quốc tế về hợp tác văn hóa cả về bề rộng lẫn chiều sâu với các phương thức đa dạng, các loại hình hợp tác phong phú bằng việc thiết lập quan hệ văn hóa với khoảng 60 quốc gia trên thế giới. Nhờ đó nước ta có điều kiện tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để góp phần làm đa dạng, phong phú hơn các giá trị văn hóa dân tộc; học hỏi kinh nghiệm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Nhân dân ta có thêm điều kiện thuận lợi để học tập nếp sống năng động, sự chủ động, sáng tạo, ý thức tự lập, tôn trọng pháp luật, đề cao tinh thần dân chủ, công bằng; tiếp thu những giá trị văn học nghệ thuật mang đậm tính nhân văn và hiện đại. Giới nghệ sĩ và những người làm sáng tạo nghệ thuật có cơ hội được cọ xát, giao lưu, tạo nguồn cảm hứng từ những giá trị văn hóa bên ngoài, làm giàu có thêm các sản phẩm sáng tạo. Đặc biệt, thông qua giao lưu, hợp tác quốc tế về văn hóa, Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi và cơ hội để tham gia “sân chơi” rộng lớn toàn cầu về nội dung và hình thức; đa dạng hóa các sản phẩm văn hóa trên tất cả các loại hình nghệ thuật, như nghệ thuật biểu diễn, nghệ thuật truyền thống, điện ảnh, di sản văn hóa, mỹ thuật, nhiếp ảnh, trưng bày triển lãm, thư viện, văn học...; qua đó góp phần thực hiện được “Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa tại Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”, nâng cao sức cạnh tranh văn hóa dân tộc. Bên cạnh đó, nền văn hóa Việt Nam với bề dày mấy nghìn năm lịch sử có nhiều cơ hội được giới thiệu với quốc tế bằng các phương cách và hình thức khác nhau, góp phần quảng bá vẻ đẹp của đất nước và giá trị con người Việt Nam với tình yêu Tổ quốc, yêu độc lập, tự do, sự cần cù, siêng năng, lòng khoan dung, yêu chuộng hòa bình,... đến với bạn bè năm châu. Chính những giá trị đó cũng góp phần làm nên sự đa dạng văn hóa thế giới.
Tuy nhiên, trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay, nguy cơ đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc là mối lo chung của nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam, khi một số nước phát triển đang muốn áp đặt các giá trị văn hóa của họ đối với toàn thế giới. Toàn cầu hóa về văn hóa được tiếp sức bởi mạng xã hội, in-tơ-nét, di chuyển lao động, di cư xuyên biên giới, du học, truyền giáo... đang thúc đẩy mạnh mẽ xu hướng giao lưu văn hóa và mở rộng ảnh hưởng văn hóa giữa các quốc gia, dân tộc. Bên cạnh những mặt tích cực, xu hướng này đã, đang và sẽ làm cho đời sống văn hóa nước ta, đặc biệt là các giá trị văn hóa truyền thống biến đổi nhanh chóng, tạo áp lực rất lớn đối với việc duy trì bản sắc văn hóa dân tộc. Nhiều mặt phản văn hóa đã dễ dàng vượt qua biên giới quốc gia để thâm nhập vào nước ta, tạo ra trong một bộ phận xã hội trào lưu “cách tân”, xem nhẹ và quay lưng lại với các giá trị truyền thống. 
Mặt trái của toàn cầu hóa về kinh tế và việc phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay là làm nảy sinh tư tưởng thực dụng, vụ lợi, chạy theo lợi ích vật chất, không từ bỏ thủ đoạn nào để kiếm tiền; làm xuất hiện xu hướng thương mại hóa mọi thứ, trong đó có thương mại hóa các sản phẩm văn hóa tinh thần, biến văn hóa trở thành mục tiêu trục lợi; đi kèm đó là không ít các hiện tượng tiêu cực trong xã hội, làm suy thoái đạo đức xã hội. Bên cạnh đó, vấn đề “lợi ích nhóm” với những thủ đoạn tinh vi đã lũng đoạn, làm méo mó chính sách, gây mất công bằng trong xã hội, đe dọa lợi ích toàn dân cũng như lợi ích quốc gia, làm băng hoại các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, đe dọa sự an toàn văn hóa của cá nhân và cộng đồng, có thể gây ra những rạn nứt văn hóa trong xã hội. Các thế lực thù địch tận dụng toàn cầu hóa và quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam hòng thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, phá hoại văn hóa - tư tưởng bằng cách truyền bá, phổ biến các loại tư tưởng, các sản phẩm văn hóa phản động, độc hại, lấn át các giá trị văn hóa dân tộc; khai thác và phát triển tâm lý hưởng lạc vật chất tầm thường, đánh vào thị hiếu thấp kém của một bộ phận dân chúng và cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị, làm thay đổi quan niệm của họ về giá trị văn hóa truyền thống; gieo rắc và khuyến khích các tệ nạn xã hội phát triển nhằm từng bước hủy hoại sức sống văn hóa dân tộc; tạo mâu thuẫn xã hội, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm họ dần xa rời, phủ nhận các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ cũng là “đồng minh” của “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa.
Thực tế trên cho thấy, Việt Nam đang đứng trước nguy cơ không chỉ tụt hậu trong sự phát triển công nghiệp văn hóa, đánh mất thị trường tiêu thụ mà còn bỏ lỡ cơ hội tạo dựng “sức mạnh mềm” (được thể hiện ở sức hấp dẫn, lan tỏa từ các giá trị văn hóa của quốc gia dân tộc) vốn được coi là nhân tố cơ bản để phát triển bền vững và nâng cao sức cạnh tranh quốc gia. Trước những đổi thay khó lường của tình hình thế giới trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đấu tranh chống khuynh hướng đồng hóa về văn hóa, đồng thời chọn lọc, tiếp thu các giá trị tinh hoa văn hóa của nhân loại đang trở nên bức thiết hơn bao giờ hết đối với nước ta, đòi hỏi các giải pháp đồng bộ, phù hợp với thực tiễn.
Một số giải pháp góp phần bảo đảm an ninh văn hóa Việt Nam hiện nay
Cần thống nhất quan điểm bảo đảm an ninh văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa là phát huy vai trò của văn hóa với sự phát triển bền vững của đất nước mà nội dung cốt lõi là xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng, do toàn dân làm chủ thể dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Đây là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng. Trên cơ sở quan điểm đó, chúng ta cần chủ động triển khai thực hiện đồng bộ các biện pháp bảo đảm an ninh văn hóa: 
Một là, xây dựng ý thức tự giác, tích cực, chủ động thường trực của mỗi người Việt Nam về bảo vệ an ninh văn hóa của quốc gia. Thông qua các biện pháp tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức của các cấp ủy, chính quyền (trong đó có cán bộ quản lý và cán bộ công tác trong lĩnh vực văn hóa) và toàn dân về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của văn hóa, an ninh văn hóa đối với sự phát triển bền vững của đất nước và sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Bồi dưỡng lòng yêu nước, khơi dậy tinh thần tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm của mỗi công dân trong giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ an ninh văn hóa. Đưa nội dung giáo dục về tri thức văn hóa, an ninh văn hóa vào nội dung thường trực trên các phương tiện thông tin truyền thông, lồng ghép vào những môn học trong các chương trình giáo dục học sinh phổ thông và bồi dưỡng cán bộ quản lý. Tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức chính trị, tư tưởng, truyền thống, các giá trị văn hóa dân tộc, đạo đức, bản lĩnh, lối sống lành mạnh, lý tưởng sống cống hiến trong đối tượng thanh niên, sinh viên, học sinh để thế hệ tương lai của đất nước đủ sức đề kháng, có khả năng “tự vệ” trước những tác động tiêu cực từ những trào lưu, tư tưởng, văn hóa, lối sống trái thuần phong mỹ tục của dân tộc, những âm mưu và hoạt động của các thế lực thù địch, những cám dỗ tầm thường của cuộc sống hiện đại...
Hai là, tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa, nhất là an ninh văn hóa. Tiếp tục rà soát, sửa đổi, ban hành mới các văn bản pháp luật, tạo hành lang pháp lý nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý trong các hoạt động văn hóa, văn nghệ cho phù hợp với thực tiễn phát triển của đất nước và với cam kết quốc tế trong bối cảnh hội nhập; đặc biệt là thể chế bảo đảm an ninh văn hóa từ an ninh mạng, xuất bản, xuất - nhập khẩu các sản phẩm công nghiệp văn hóa, giáo trình, tài liệu; các hoạt động sáng tác, phê bình văn học - nghệ thuật; các hoạt động quảng cáo, quảng bá, giao lưu văn hóa. Tổ chức tốt công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật và các quy định của Nhà nước về hoạt động và dịch vụ văn hóa. Bảo vệ vững chắc an ninh chính trị nội bộ, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan văn hóa, văn nghệ. Đẩy mạnh các hoạt động bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và các giá trị tốt đẹp của văn hóa các dân tộc Việt Nam.
Ba là, đầu tư phát triển và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, những thành quả của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong việc thành lập hệ thống cảnh báo an ninh quốc gia, trong đó có an ninh văn hóa; dự báo và ứng phó hiệu quả trước các thủ đoạn, hoạt động xâm nhập của “chủ nghĩa đế quốc văn hóa”, bảo đảm an toàn văn hóa, an toàn thông tin trước các mối đe dọa từ bên ngoài. Xây dựng chiến lược quản lý tài nguyên thông tin, quản lý tên miền và dữ liệu điện tử; xây dựng quy chế phối hợp giữa cơ quan quản lý với các doanh nghiệp dịch vụ mạng để triển khai các giải pháp quản lý, bảo đảm an toàn, an ninh thông tin mạng. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan phát thanh, truyền hình, báo chí, xuất bản, văn hóa, nghệ thuật, đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí, xây dựng nếp sống văn minh, văn hóa trong xã hội cũng như công tác quản lý các hoạt động hợp tác quốc tế về văn hóa, nghệ thuật. Tăng cường sự phối hợp liên ngành trong việc quản lý thị trường văn hóa phẩm; quản lý việc sử dụng dịch vụ in-tơ-nét và thông tin điện tử trên in-tơ-nét tại Việt Nam; chú trọng quản lý hiệu quả hoạt động nhập khẩu những sản phẩm văn hóa có nội dung tốt, có giá trị về nghệ thuật; đồng thời không để báo chí, phim ảnh và các sản phẩm văn hóa phản động, đồi trụy thâm nhập vào nước ta. 
Bốn là, gắn kết văn hóa với chính trị, kinh tế nhằm tạo sức mạnh tổng hợp; gắn công tác văn hóa với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các cấp, các ngành và địa phương; lồng ghép hoạt động bảo đảm an ninh văn hóa trong triển khai chiến lược phát triển văn hóa, chiến lược phát triển du lịch Việt Nam, nhằm tạo tính cộng hưởng trong mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương. Triển khai thực hiện “Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa tại Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”, nâng cao sức cạnh tranh văn hóa; từng bước hình thành thị trường quốc tế cho các loại hình văn hóa, nghệ thuật Việt Nam. Tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác kinh tế, xúc tiến đầu tư nước ngoài trên lĩnh vực văn hóa, thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam. Phối hợp tổ chức các sự kiện, chương trình hoạt động văn hóa - nghệ thuật có lồng ghép với các chương trình giới thiệu về ẩm thực Việt Nam, quảng bá hợp tác về đầu tư, thương mại, du lịch, thể thao... ở quy mô quốc gia và quốc tế nhằm thúc đẩy công tác truyền thông quốc tế, giới thiệu, quảng bá văn hóa, đất nước, con người Việt Nam. 
Năm là, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, với sự tham gia tích cực, có hiệu quả của các cơ quan, ban, ngành chức năng, các tổ chức xã hội, đoàn thể quần chúng trong việc xây dựng văn hóa và bảo đảm an ninh văn hóa. Xác định và đề cao vai trò của nhân dân với tư cách vừa là chủ thể, vừa là đối tượng hưởng thụ văn hóa. Tạo mọi cơ chế, điều kiện để nhân dân được tiếp nhận thông tin và sản phẩm văn hóa lành mạnh để giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa Việt Nam trong gia đình, trong sinh hoạt cộng đồng và quảng bá, giới thiệu bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ra nước ngoài. Gắn kết các hoạt động ngoại giao văn hóa với công tác về cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài để tăng cường nguồn lực cho hoạt động văn hóa cả trong và ngoài nước. Đẩy mạnh xã hội hóa công tác xây dựng văn hóa, bảo đảm an ninh văn hóa. Tạo điều kiện thu hút và khuyến khích các tổ chức phi chính phủ, các hiệp hội, các doanh nghiệp và nghệ sĩ tự do tham gia các hoạt động văn hóa nhằm đa dạng hóa các nguồn lực vật chất cho các hoạt động quảng bá, phát triển văn hóa Việt Nam. Xây dựng hệ thống doanh nghiệp văn hóa mạnh; gắn kết chặt chẽ giữa một số thương hiệu hàng hóa có chất lượng của Việt Nam với các yếu tố văn hóa đặc sắc của đất nước.
Sáu là, tăng cường các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho công tác văn hóa và bảo đảm an ninh văn hóa. Thường xuyên tổ chức các lớp nâng cao trình độ, nghiệp vụ, nhất là trình độ ngoại ngữ, tin học và kiến thức về văn hóa và vấn đề bảo đảm an ninh văn hóa cho đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa, cán bộ quản lý trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao nhận thức chính trị, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ chỉ đạo, quản lý báo chí, xuất bản, cán bộ, biên tập viên, phóng viên; bồi dưỡng kiến thức về văn hóa và ngoại giao văn hóa cho các cán bộ làm công tác đối ngoại, cán bộ công tác tại các cơ quan đại diện của Việt Nam, các trung tâm văn hóa/nhà văn hóa của Việt Nam ở nước ngoài.
Bảy là, kiên quyết đấu tranh phòng, chống văn hóa độc hại, sự áp đặt về văn hóa của các cường quốc, chống âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa. Quán triệt phương châm cơ bản trong bảo vệ an ninh văn hóa là coi trọng chủ động phòng ngừa, giữ vững bên trong là chính; mặt khác, phải đấu tranh, ngăn ngừa kịp thời các hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch. Định hướng, động viên văn nghệ sĩ nêu cao trách nhiệm công dân, chống các biểu hiện ảo tưởng, mơ hồ, hữu khuynh, mất cảnh giác, tiếp tay cho các thế lực thù địch chống phá chế độ trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa.
Tám là, đẩy mạnh các hoạt động hợp tác, giao lưu, trao đổi kinh nghiệm quốc tế về công tác bảo đảm an ninh văn hóa trong bối cảnh mới, như công tác bảo tồn di sản; đào tạo nguồn nhân lực văn hóa, nghệ thuật; quản lý văn hóa, xây dựng chính sách văn hóa quốc gia; kinh nghiệm phát triển công nghiệp văn hóa, bảo vệ bản quyền các tác phẩm văn hóa, nghệ thuật; hệ thống cảnh báo an ninh quốc gia (trong đó có an ninh văn hóa), quản lý các loại hình thông tin trên in-tơ-nét; phối hợp xử lý những vi phạm trong phạm vi cung cấp dịch vụ xuyên quốc gia phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế. Chủ động, tích cực tham gia các cơ chế hợp tác chống tội phạm xuyên quốc gia và đối phó với các thách thức an ninh phi truyền thống, trong đó có an ninh văn hóa; góp phần xây dựng môi trường hòa bình, hữu nghị, hợp tác lâu dài và phát triển toàn diện, bền vững giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và thế giới./.
-------------------------------------------
(1)   Xem Nguyễn Ngọc Thiện: “Việt Nam chủ động và tích cực hội nhập quốc tế về văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa”, Tạp chí Cộng sản số 901 (11-2017), tr. 25
(2) Xem http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2015/34471/Toan-cau-hoa-tu-goc-nhin-van-hoa.aspx
Đinh Hương Giang
Tạp chí Cộng sản

http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2018/53448/Tac-dong-cua-toan-cau-hoa-den-an-ninh-van-hoa-va.aspx
VĂN HÓA DOANH NGHIỆP VÀ VĂN HÓA DOANH NHÂN VỚI SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA ĐẤT NƯỚC

Văn hóa kinh doanh hay cụ thể hơn là văn hóa doanh nghiệp và văn hóa doanh nhân chính là thành tố hết sức quan trọng bảo đảm cho sự phát triển liên tục và bền vững của đất nước. Có thể thấy nhiều doanh nghiệp và doanh nhân ở nước ta hiện nay chưa xây dựng được một thương hiệu đủ uy tín và bản sắc văn hóa riêng để có đủ khả năng chinh phục khách hàng nên nhiệm vụ xây dựng văn hóa doanh nghiệp và văn hóa doanh nhân càng trở nên cấp thiết.
1- Trong thời đại ngày nay, xét đến cùng, tất cả các quốc gia, dù lớn hay nhỏ, để tránh tụt hậu, muốn tiến thật xa và muốn phát triển bền vững, thì ngoài việc phải có một nền khoa học và công nghệ phát triển ở trình độ hiện đại, một nền chính trị - xã hội ổn định, một nguồn nhân lực dồi dào được đào tạo với chất lượng cao, còn phải tạo dựng được cho mình một nền tảng văn hóa tiến bộ, nhân văn và phải đặt mình nằm trong quỹ đạo của văn hóa.
Cho dù có nhiều cách hiểu khác nhau về văn hóa, song có thể thấy văn hóa chính là những giá trị vật chất và giá trị tinh thần được con người sáng tạo ra, được cộng đồng người tích lũy và truyền đạt lại qua nhiều thế hệ để làm nên bản sắc riêng của một cộng đồng người và của cả dân tộc. Chính vì vậy, văn hóa đóng vai trò là động lực thúc đẩy mạnh mẽ từng con người và cả xã hội ở tất cả mọi lĩnh vực hoạt động vì mục tiêu phát triển.
Trong các lĩnh vực hoạt động kinh tế đương đại, văn hóa kinh doanh chính là thành tố hết sức quan trọng bảo đảm cho sự phát triển liên tục và bền vững của các nền kinh tế thuộc mọi quốc gia, bất kể nền kinh tế đó ở dưới thể chế chính trị nào. Đặc biệt, ngày nay, văn hóa kinh doanh là nền tảng không thể thiếu trong cuộc cạnh tranh hết sức khốc liệt giữa các ngành nghề kinh doanh, giữa các quốc gia không chỉ để gìn giữ lâu dài những thị trường truyền thống vốn có và ổn định đã gây dựng được từ trước mà còn quan trọng hơn là để xâm nhập và chiếm lĩnh những thị trường mới, nhất là những thị trường đầy tiềm năng nhưng lại đòi hỏi cao, thậm chí rất cao, về mọi mặt và được xem là khó tính. Do vậy, văn hóa doanh nghiệp và văn hóa doanh nhân chính là xương sống của văn hóa kinh doanh của một đất nước.
Nước ta mới bước vào con đường phát triển kinh tế thị trường chưa được bao lâu cho nên nhiều doanh nghiệp và doanh nhân chưa xây dựng được cho mình một thương hiệu đủ uy tín và bản sắc văn hóa riêng có đủ khả năng chinh phục khách hàng. Vì vậy, còn rất nhiều điều mà những doanh nhân và doanh nghiệp thuộc tất cả các loại hình của nước ta cần phải ra sức rút kinh nghiệm và nhanh chóng học hỏi một cách hết sức khôn ngoan từ những đồng nghiệp của các nước ở trình độ phát triển cao để từ đó từng bước gây dựng văn hóa kinh doanh và thương hiệu mang bản sắc riêng của mình. 
Vào những thế kỷ trước, khi chủ nghĩa tư bản mới bắt đầu ra đời và phát triển, các doanh nhân là các nhà tư bản, buộc phải tìm mọi cách để thu lợi nhuận tối đa bất chấp đạo lý và luật pháp. Như T.J. Dun-ning (1799 - 1873), nhà hoạt động công đoàn và nhà chính luận người Anh, đã đúc kết hết sức chính xác, cực kỳ sâu sắc và được C. Mác dẫn lại trong bộ Tư bản: “Tư bản sợ tình trạng không có lợi nhuận hoặc lợi nhuận quá ít, cũng như giới tự nhiên sợ chân không. Với một lợi nhuận thích đáng thì tư bản trở nên can đảm. Được bảo đảm 10 phần trăm lợi nhuận thì người ta có thể dùng tư bản vào đâu cũng được; được 20 phần trăm thì nó hoạt bát hẳn lên; được 50 phần trăm thì nó trở nên thật sự táo bạo; được 100 phần trăm thì nó chà đạp lên mọi luật lệ của loài người; được 300 phần trăm thì không còn tội ác nào là nó không dám phạm, dù có nguy cơ bị treo cổ” (1). 
Nói cách khác, trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản còn sơ khai (hay đôi khi người ta còn gọi là chủ nghĩa tư bản man rợ) thì văn hóa kinh doanh của doanh nghiệp và doanh nhân tư bản chưa đóng vai trò quá quan trọng; cái quan trọng nhất đối với họ lúc bấy giờ chính là lợi nhuận, là tìm kiếm lợi nhuận tối đa, bất chấp cả luật pháp lẫn đạo lý đúng như T.J. Dun-ning đã đúc kết.
Cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, nhất là cùng với quá trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ từ thế kỷ XX đến nay, khi thị trường trở thành thị trường toàn cầu đối với mọi thứ hàng hóa, mọi khoản đầu tư thì sự cạnh tranh trong thương mại, dịch vụ và kinh doanh thế giới ngày càng trở nên khốc liệt hơn nhưng cũng phần nào đó sòng phẳng hơn và công bằng hơn. Kiểu sản xuất, kinh doanh, làm hàng giả, hàng nhái, hàng kém phẩm chất, buôn bán chộp giật, trốn thuế, chuyển giá, lừa đảo trong phạm vi một nước và cả trên phạm vi thế giới tuy vẫn chưa mất hẳn nhưng không còn có thể ngang nhiên lộng hành như trước đây nữa do luật pháp của các quốc gia và quốc tế ngày một chặt chẽ hơn, sự trừng phạt nghiêm khắc hơn và sự thực thi luật pháp cũng ngày một kiên quyết hơn. 
Bên cạnh các giá trị kinh tế vốn là giá trị cơ bản thì những thước đo mang tính chất nhân văn, các giá trị nhân bản, các giá trị văn hóa truyền thống độc đáo, sự tôn trọng phong tục, tập quán, sức khỏe con người và tôn trọng giới tự nhiên, tránh sự tàn phá và hủy hoại thiên nhiên thể hiện trong các hàng hóa đem ra thị trường, ngày càng được coi là những tiêu chuẩn cơ bản nhất cho sự lựa chọn của khách hàng tiêu dùng ở nhiều nước, nhất là ở những nước phát triển trình độ cao. Đó cũng chính là thước đo văn hóa của sự tiến bộ xã hội thể hiện trong sản xuất và kinh doanh thời hiện đại. 
Nguyên Tổng Giám đốc Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), F.M. Za-ra-go-ra, từng có nhận định rất đáng chú ý là khi các mục tiêu tăng trưởng kinh tế được đặt ra mà không tính đến môi trường văn hóa thì kết quả thu được sẽ rất khập khiễng, mất cân đối, cả về mặt kinh tế và văn hóa, đồng thời tiềm năng sáng tạo của mỗi dân tộc cũng sẽ bị suy giảm đi rất nhiều. Bởi vì, văn hóa trang bị cho người ta sự hiểu biết vừa đủ sâu, vừa đủ rộng về tất cả các mặt từ tri thức về thiên nhiên cho đến tâm lý, phong tục tập quán, tình cảm của con người, đặc biệt là tầm tư duy kích thích óc sáng tạo.
Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà sự sùng bái tuyệt đối các giá trị vật chất đơn thuần của xu hướng văn hóa tiêu dùng ngự trị tại một số nước suốt nhiều năm trong thế kỷ XX đang dần dần và từng bước bị xu hướng hưởng thụ tìm đến các sắc thái văn hóa và giá trị văn hóa thay thế. Đây là xu hướng tiến bộ của nền văn minh đương đại và cũng là của cả tương lai nữa. Cần phải thừa nhận rằng, chưa bao giờ văn minh vật chất lại có sự giao thoa mạnh mẽ và nhanh chóng với văn minh tinh thần trong sản xuất và văn hóa kinh doanh như hiện nay. Nói cách khác, muốn thành công trong sản xuất và kinh doanh hiện nay; muốn chiến thắng trong cuộc cạnh tranh khốc liệt trên phạm vi cả quốc gia lẫn quốc tế; muốn phát triển bền vững thì doanh nghiệp và doanh nhân trong các lĩnh vực khác nhau phải cùng cả nước tạo dựng được văn hóa kinh doanh phù hợp với xu thế của thời đại những vẫn mang bản sắc độc đáo của dân tộc mình.
2- Không thể tách văn hóa kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp và văn hóa doanh nhân ra khỏi nền văn hóa chung của dân tộc một cách máy móc, bởi vì, nền văn hóa chung của tất cả các dân tộc đều có bao chứa trong nó tất cả các bộ phận hợp thành ấy. Dù là văn hóa kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp hay văn hóa doanh nhân thì cũng đều phản ánh các hoạt động kinh doanh, đồng thời cũng phản ánh sự gắn kết của cái lợi với các giá trị mà từ xưa đến nay tất cả các dân tộc đều tôn sùng và hướng tới, đó là cái chân, cái thiện và cái mỹ vốn là những giá trị cốt lõi của bất cứ một nền văn hóa nào đã từng tồn tại suốt nhiều thế kỷ và hiện nay đang tồn tại trong lịch sử của nhân loại. 
Khi xét mối quan hệ giữa các khái niệm văn hóa kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp và văn hóa doanh nhân chúng ta thấy rằng, tuy chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau song không phải chúng hoàn toàn là đồng nhất. Văn hóa doanh nghiệp và văn hóa doanh nhân không phải là cái gì khác hơn mà chính là một bộ phận của văn hóa kinh doanh; là văn hóa kinh doanh của một doanh nghiệp, của một chủ thể tiến hành kinh doanh. Rõ ràng là mức độ rộng hay hẹp trong nội hàm của các khái niệm này có sự khác nhau. Chính mức độ rộng hay hẹp trong nội hàm của các khái niệm ấy cho thấy rõ các khái niệm văn hóa doanh nghiệp và văn hóa doanh nhân có phần nội hàm của khái niệm rộng hơn là văn hóa kinh doanh. 
Điều đó có nghĩa rằng, một đất nước muốn xây dựng nền văn hóa kinh doanh mang bản sắc riêng của đất nước mình thì, trước hết, các doanh nghiệp và các doanh nhân phải tự mình ý thức được rằng, cần tự mình tạo dựng cho chính mình những nét văn hóa riêng, bằng cách vừa kế thừa, chọn lọc những tinh hoa từ văn hóa dân tộc nói chung, và văn hóa kinh doanh lâu đời của dân tộc nói riêng; vừa từ sự học hỏi và đúc rút kinh nghiệm hữu ích, cả thành công lẫn chưa thật thành công, thậm chí cả thất bại, trong văn hóa kinh doanh hiện đại của các nước trên thế giới. 
3- Muốn kinh doanh thành công trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, nhất là khi cuộc cách mạng kỹ thuật số hay cuộc cách mạng công nghệ số (mà nhiều người thường gọi là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư), đang tiến triển rất nhanh thì các doanh nghiệp và doanh nhân của nước ta cần tạo dựng cho mình văn hóa kinh doanh đáp ứng được rất nhiều đòi hỏi cao. 
Trong cuộc cách mạng kỹ thuật số hay cuộc cách mạng công nghệ số này đòi hỏi các doanh nhân phải có văn hóa tư duy cao không những chỉ để sáng tạo, để tổ chức sản xuất, kinh doanh và quản trị doanh nghiệp một cách tốt nhất mà cả trong cách nắm bắt thời cơ thuận lợi, cách ứng xử nhanh nhạy, có trách nhiệm, kịp thời trước những biến động bất lợi, khó lường của thời cuộc chính trị thế giới, của những tiến bộ mang tính bước ngoặt trong khoa học và công nghệ mà từ xưa đến nay nhân loại chưa từng ngờ tới.
Có thể nói, chưa bao giờ các doanh nghiệp và doanh nhân nước ta có nhiều cơ hội như hiện nay; song cũng phải ý thức được rằng, chưa bao giờ họ lại phải đối mặt với nhiều thách thức và rủi ro đến như thế. Bởi vì, chỉ cần một sáng chế hay một phát minh mới nào đó đã có thể đưa họ lên một nấc thang thành đạt mới cao hơn nhưng cũng có thể làm cho họ thất bại thảm hại và đẩy họ xuống tận đáy nếu như họ không nắm bắt được đầy đủ thông tin liên quan, không bắt nhịp kịp được những sáng chế hay phát minh công nghệ của thời đại công nghệ số đó. 
Tuy nhiên, cần phải hiểu rõ rằng, một mình doanh nhân dù có tài năng đến mức độ nào chăng nữa cũng không thể tự mình có thể nắm bắt được tất cả những thay đổi mang tính bước ngoặt đó. Chính cách tư duy, tầm nhìn xa, óc tổ chức và tinh thần dám mạo hiểm của doanh nhân có thể giúp họ tập hợp, thu nạp, chọn lọc được những bộ óc thông minh và sáng tạo các loại, cả ở trong và ngoài nước, về với mình, trợ giúp cho mình tổ chức thực hiện các bước đi đúng đắn (có khi táo bạo) để thành công và giành được phần thắng trong cạnh tranh ngày càng khốc liệt. 
Không kém phần quan trọng trong văn hóa doanh nghiệp và văn hóa doanh nhân là trách nhiệm xã hội của doanh nhân và doanh nghiệp. Văn hóa kinh doanh đòi hỏi trách nhiệm này không những phải được thấm vào tư duy của người kinh doanh mà còn phải thể hiện trong các sản phẩm mà họ đưa ra thị trường, nhất là những sản phẩm liên quan đến sức khỏe của con người, đặc biệt là đến sức khỏe của các thế hệ trẻ. Ở đây cái lợi phải hài hòa với cái chân; nếu chỉ quan tâm đến cái lợi thì có thể gây ra những tai họa khôn lường cho cả con người và môi trường sống. Chính văn hóa đạo đức và trách nhiệm xã hội của các doanh nhân là biểu hiện tập trung và cao nhất của văn hóa kinh doanh. Bởi vậy, có thể nói, văn hóa đạo đức có thể sẽ nâng họ lên thang bậc cao nhất nhưng việc thiếu văn hóa đạo đức cũng có thể đẩy họ xuống vực sâu, đến phá sản hoặc vào cảnh tù tội một khi luật pháp phát hiện ra những việc làm sai trái thiếu văn hóa của họ. 
Trên thế giới và cả ở nước ta đã có không ít những tấm gương tày liếp về sự làm ăn gian dối, lừa lọc bị vạch trần, bị phá sản, bị pháp luật trừng trị đích đáng. Nạn giả mạo giấy tờ, giả mạo nhãn mác sản phẩm, đặc biệt giả mạo chất lượng sản phẩm đã bị phạt nặng, trong số đó có không ít công ty hoặc tập đoàn công nghệ nổi tiếng thế giới. Từ xưa đến nay, có không ít những người kinh doanh thiếu đạo đức nhưng không bị phát hiện hoặc nếu bị phát hiện thì mức độ lan truyền cũng không rộng rãi nên ít người biết. Điều này sẽ rất khác trong thời đại chúng ta. Trong thời đại truyền thông phát triển rộng rãi và phổ biến như hiện nay nếu kinh doanh thiếu đạo đức, kém văn hóa mà bị phát hiện thì sẽ tự chuốc lấy tai họa vào thân cực kỳ nhanh chóng và mức độ lan truyền của tai họa ấy sẽ vô cùng nặng nề. 
Bên cạnh đó, trong kinh doanh hiện đại mà doanh nghiệp và doanh nhân không tôn trọng luật chơi, cả ở trong nước và cả ở nước ngoài, thì không tránh khỏi tình trạng bị cô lập, bị đào thải khỏi thị trường. Tôn trọng luật chơi, tôn trọng pháp luật các nước sở tại cũng có nghĩa là tự mình tôn trọng chữ tín trong mọi lĩnh vực sản xuất và kinh doanh. Tạo được chữ tín trên thương trường, nhất là thương trường thế giới, đã khó nhưng để giữ được lâu dài chữ tín vì sự phát triển bền vững thì cũng không dễ nếu như các doanh nghiệp và doanh nhân không thường xuyên tự mình vun đắp nó, cũng như nếu luật pháp không được tôn trọng và các cơ quan công quyền thực thi pháp luật đứng ngoài cuộc. Do vậy, kinh doanh trên thị trường quốc tế thời nay, để giữ được quốc thể và các thương hiệu quốc gia thì ngoài sự tự giác của chủ thể kinh doanh, của các doanh nghiệp và doanh nhân cũng rất cần sự kiểm tra của các cơ quan pháp luật vừa để tránh việc mất bạn hàng, vừa để tránh sự kiện tụng rất tốn kém của các đối tác ở tầm quốc tế có sức cạnh tranh quyết liệt và sức mạnh kinh tế vượt trội. 
Tạo được chữ tín và giữ được chữ tín trong kinh doanh, giữ được đạo đức trong kinh doanh hay rộng hơn là xây dựng được văn hóa kinh doanh và văn hóa doanh nhân, trước hết là trách nhiệm của các doanh nghiệp và doanh nhân, song các cơ quan công quyền của Nhà nước và cả dư luận của xã hội cũng có vai trò không nhỏ. 
Muốn vươn ra thế giới, muốn không thất bại trong kinh doanh toàn cầu thì còn một điều vô cùng quan trọng khác đòi hỏi các doanh nghiệp và doanh nhân của ta cần phải thấu hiểu sâu sắc bản sắc văn hóa, phong tục, tập quán, tâm lý người tiêu dùng và văn hóa kinh doanh của những khu vực, những vùng đất mà mình muốn chiếm lĩnh. 
Tóm lại, văn hóa kinh doanh, hay cụ thể hơn là văn hóa doanh nghiệp và văn hóa doanh nhân, chính là thành tố hết sức quan trọng bảo đảm cho sự phát triển liên tục và bền vững của đất nước. Xây dựng văn hóa doanh nghiệp và văn hóa doanh nhân là một quá trình, không chỉ là nhiệm vụ của riêng doanh nghiệp và doanh nhân mà còn là nhiệm vụ mang tầm quốc gia, là nhiệm vụ của toàn xã hội./.
----------------------------------------------------
(1) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, t. 23, tr. 1056
GS, TS. Nguyễn Trọng Chuẩn,Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam

http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2018/53519/Van-hoa-doanh-nghiep-va-van-hoa-doanh-nhan-voi-su-phat.aspx
TRÁNH CẦU TOÀN, NÓNG VỘI TRONG
CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT SỐ 18, 19

Ngày 18-12, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã họp, cho ý kiến về kết quả 5 đoàn của Ban Bí thư kiểm tra việc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 18, 19 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII và Kết luận số 64 của Ban Chấp hành Trung ương Khóa XI. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng chủ trì phiên họp.
Thực hiện chương trình kiểm tra năm 2018, Ban Bí thư đã cử 5 đoàn kiểm tra tại 15 cấp ủy và tổ chức đảng về việc quán triệt, triển khai Nghị quyết số 18 về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Nghị quyết số 19 về đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng, hiệu quả của các đơn vị sự nghiệp công lập, gắn với Kết luận số 64 của Ban Chấp hành Trung ương Khóa XI về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở.
Báo cáo tổng hợp kết quả kiểm tra của 5 đoàn cho thấy, các cấp ủy, tổ chức đảng hoan nghênh Nghị quyết số 18, 19 của Trung ương, cho rằng việc ban hành 2 nghị quyết này là đúng đắn, kịp thời và đã nghiêm túc quán triệt, triển khai thực hiện gắn với Kết luận số 64, tạo chuyển biến trong nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên, nhân dân. 
Sau một năm thực hiện, các cấp ủy, tổ chức đảng đã thí điểm thực hiện một số mô hình tổ chức bộ máy, cán bộ kiêm nhiệm chức danh; sắp xếp, kiện toàn một số tổ chức và đầu mối bên trong hệ thống chính trị và đơn vị sự nghiệp công lập, giảm được nhiều đơn vị trung gian, bước đầu khắc phục tình trạng trùng lặp, chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực quản lý…
Các cấp ủy, tổ chức đảng đã quyết liệt vào cuộc triển khai thực hiện nghị quyết và đã đạt được những kết quả bước đầu trong việc giảm biên chế, giảm đầu mối tổ chức.
Hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập cơ bản đã được quy hoạch, hướng tới tinh gọn, có cơ cấu hợp lý, việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp công lập và chủ trương xã hội hóa cung ứng dịch vụ công đã có tác dụng tích cực…
Công tác xây dựng đề án vị trí việc làm, tinh giản biên chế được quan tâm và đạt nhiều kết quả khả quan. Một số địa phương, đơn vị đã xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ, khuyến khích đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức nghỉ hưu trước thời hạn bảo đảm lợi ích cá nhân và lợi ích chung, tạo thuận lợi trong quá trình thực hiện giảm biên chế.
Công tác kiểm tra, giám sát triển khai thực hiện nghị quyết được quan tâm, kịp thời phản biện, khắc phục những tồn tại, hạn chế trong quá trình tổ chức thực hiện.
Tuy vậy, việc quán triệt, thực hiện Nghị quyết ở một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa quyết liệt; một số bộ, ngành Trung ương chưa kịp thời ban hành các văn bản hướng dẫn tổ chức thực hiện, chậm rà soát bổ sung, hoàn thiện một số quy định liên quan đến tổ chức bộ máy. Vì vậy, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật liên quan chưa đồng bộ, thống nhất, chưa phù hợp thực tiễn, việc thực hiện các nghị quyết, kết luận còn khó khăn, vướng mắc.
Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối, việc kiện toàn tổ chức bộ máy gắn với tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức còn nhiều hạn chế.
Kết quả tinh giản biên chế về tổng thể chưa đạt chỉ tiêu, yêu cầu đề ra, việc giảm số lượng cấp phó triển khai còn chậm.
Tại các đơn vị sự nghiệp công lập, việc sắp xếp, bố trí viên chức theo vị trí chuyên môn, nghiệp vụ ở nhiều đơn vị chưa đạt tỷ lệ đề ra; việc giảm đầu mối còn chậm, nhất là lĩnh vực y tế, giáo dục; công tác phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương chưa chặt chẽ.
Nguyên nhân do một số cấp ủy, người đứng đầu chưa quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, giám sát; một số cơ quan chưa chủ động tham mưu đề xuất giải pháp, lộ trình thực hiện; còn tâm lý ngại va chạm, nể nang, có tư tưởng chờ cấp trên chỉ đạo mới làm… Ngược lại, cũng có nơi làm quá mạnh, nóng vội, nếu không tính toán cẩn thận có thể dẫn đến nhập vào rồi lại tách ra.
Về giải pháp sắp tới, các ý kiến thống nhất cho rằng, 15 cấp ủy, tổ chức đảng được kiểm tra cần phát huy ưu điểm, nghiêm túc rút kinh nghiệm về những hạn chế, tồn tại đã chỉ ra sau kiểm tra; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp một cách đồng bộ, toàn diện, có trọng tâm trọng điểm với lộ trình phù hợp; tăng cường nắm bắt, xử lý kịp thời diễn biến tâm tư của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; kịp thời phát hiện mô hình mới, cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả; đồng thời chấn chỉnh những tồn tại, hạn chế, thiếu sót.
Các ý kiến cho rằng, cần tiếp tục rà soát chức năng, nhiệm vụ; sắp xếp lại đầu mối bên trong, tinh gọn đầu mối, nhất là khối văn phòng, phục vụ; không để các đơn vị trung gian; không có phòng trong cục; giảm cấp phó; đồng thời ứng dụng công nghệ thông tin; tinh giản biên chế đi đôi với cơ cấu lại; xây dựng vị trí việc làm. Tuy vậy, không thể làm đồng đều ở tất cả các địa phương, lĩnh vực, nhất là lĩnh vực y tế, giáo dục, ở thành phố khác miền núi (đường sá xa xôi đi lại khó khăn mà sáp nhập trường học, các cháu sẽ bỏ học…).
Kết luận phiên họp, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhất trí với các ý kiến phát biểu trước đó, đánh giá cao ý nghĩa của việc ban hành các Nghị quyết và kết quả đạt được theo báo cáo của 5 đoàn kiểm tra.
Nhìn chung, các cấp ủy, tổ chức đảng triển khai thực hiện các Nghị quyết, Kết luận đúng kế hoạch, kịp thời. Báo cáo kết quả của 5 đoàn kiểm tra đã tổng hợp tình hình, nêu các kiến nghị, đề xuất để Ban Bí thư cho ý kiến chỉ đạo, tháo gỡ khó khăn vướng mắc, làm tốt hơn trong thời gian tới.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ: Tinh gọn bộ máy, biên chế là việc khó, nhạy cảm, phức tạp, nên phải có thời gian để thực hiện. Việc kiểm tra bước đầu có tính chất thúc đẩy công việc, tạo chuyển biến trong nhận thức, hành động khẩn trương, quyết liệt, cho một số kết quả cụ thể, qua đó phát hiện một số vấn đề vướng mắc cần tháo gỡ, uốn nắn để làm tốt hơn.
Qua kiểm tra ở 15 cấp ủy, tổ chức đảng cho thấy có những việc còn đúng trong thực tế, có những việc cần điều chỉnh uốn nắn. Việc quán triệt nghị quyết, nâng cao nhận thức cần tiếp tục làm tốt hơn, ban hành các văn bản hướng dẫn, quy định cụ thể, cần thiết, tháo gỡ vướng mắc…
Thực tế đã bộc lộ hai khuynh hướng: cầu toàn và nóng vội; cần tránh hai khuynh hướng này trong quá trình chỉ đạo thực hiện, phải làm chắc chắn, bài bản, hiệu quả cụ thể, không để xảy ra lộn xộn.
Cần tiếp tục rà soát chức năng, nhiệm vụ các cơ quan, đơn vị, giảm trung gian, giảm biến chế, giảm cấp phó…; đồng thời tính toán giải quyết, cán bộ dôi dư thì đi đâu? sáp nhập thì cơ sở vật chất thế nào? Tinh thần là cái gì đã chín, đã rõ thì làm, cái gì khó khăn, vướng mắc thì tiếp tục tháo gỡ, giải quyết.
Ban Bí thư đã thống nhất ra Thông báo kết luận về kết quả kiểm tra ở 15 cấp ủy, tổ chức đảng, trong đó nêu rõ những vấn đề trọng tâm, trọng điểm, những vấn đề nổi cộm cần giải quyết, từ đó rút kinh nghiệm chung, lưu ý cảnh báo cho các địa phương khác.
Ban Bí thư giao cho Ban Tổ chức Trung ương tiếp tục làm đầu mối, chủ trì phối hợp với các cơ quan chức năng, theo dõi, đôn đốc, tham mưu, đề xuất việc sửa đổi, bổ sung các quy định có liên quan đến quá trình tổ chức thực hiện các Nghị quyết./.
Theo: TTXVN

http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Thoi_su/2018/53514/Tranh-cau-toan-nong-voi-trong-chi-dao-thuc-hien-Nghi-quyet.aspx
THÀNH TỰU NỔI BẬT CỦA VIỆT NAM VỀ NHÂN QUYỀN
                                                                   An Nhiên
Ngày 10/12 hàng năm được tôn vinh là ngày nhân quyền quốc tế. Ngày này được chọn là do vào ngày 10 tháng 12 năm 1948 Liên Hợp Quốc công bố Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền. Vào ngày này bà Eleanor Roosevelt, nguyên Đệ nhất phu nhân Hoa Kỳ, đã đại diện Liên Hợp Quốc tuyên đọc bản Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền lịch sử tại Paris, Pháp. Bản Tuyên ngôn này là nền tảng cho Bộ luật Nhân quyền Quốc tế, bao gồm hai công ước cơ bản về quyền con người cùng được Liên Hiệp Quốc thông qua vào năm 1966 là Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị và Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa.
           Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã nỗ lực và đạt nhiều thành tựu trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người, thực hiện các khuyến nghị quốc tế về nhân quyền. Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán từ lời nói đến hành động, thống nhất tuyệt đối chủ trương tôn trọng và bảo vệ quyền con người.
Đầu tiên phải kể đến sự hoàn thiện về hệ thống pháp luật nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các bản Hiến pháp trước đó đã thể hiện rõ chủ trương, chính sách tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quan điểm này được thể hiện qua từng Điều, khoản quy định trong Hiến pháp. Đây là cơ sở quan trọng, là nguyên tắc để xây dựng các văn bản luật và các quy định khác.
Thoát khỏi sự tàn phá khốc liệt của chiến tranh, Việt Nam đã trở thành một quốc gia hòa bình, độc lập, được cộng đồng quốc tế ghi nhận là một trong những nước tiên phong và là điểm sáng về thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ về xóa đói giảm nghèo, thực hiện an sinh, công bằng và tiến bộ xã hội. Phát triển bền vững đi đôi với tôn chỉ bảo đảm quyền con người, luôn đặt vấn đề nhân quyền lên hàng đầu khi đưa ra bất cứ chủ trương, chính sách nào.
Việt Nam cũng là một trong những quốc gia nỗ lực bảo đảm quyền tự do thông tin, tự do ngôn luận cho người dân. Hiện nay, tất cả các ban, bộ, ngành, đoàn thể từ trung ương đến địa phương, các giai cấp, tầng lớp, các hội nghề nghiệp, các giới, các thành phần “nam, phụ, lão, ấu” trong xã hội đều có tờ báo, tạp chí, bản tin của mình. Nếu mỗi công dân Việt Nam tham gia sinh hoạt, hoạt động ở tổ chức nào thì đều có ấn phẩm báo chí của tổ chức đó bảo đảm quyền được thông tin của mình. Internet mới vào Việt Nam từ cuối năm 1997, chỉ trong vòng 20 năm, nhờ chính sách phát triển thông thoáng, Việt Nam hiện có hơn 60% người dân sử dụng internet, xếp thứ 16 thế giới về số lượng người dùng mạng thông tin toàn cầu này.
Việt Nam là một trong các quốc gia thúc đẩy hợp tác quốc tế về bảo vệ nhân quyền. Trong bất cứ các buổi hội thảo, hội nghị quốc tế, lãnh đạo Việt Nam luôn đưa ra nhiều sáng kiến, nhiều phương hướng giúp bảo vệ quyền con người trên toàn thế giới. Nhân quyền và môi trường sống luôn là hai vấn đề được Đảng và Nhà nước Việt Nam quan tâm hàng đầu.
Từ một nước nghèo vươn lên sau hậu quả của chiến tranh, Việt Nam từng bước lớn mạnh khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế, có nhiều đóng góp quan trọng trong việc duy trì, bảo vệ quyền con người trên toàn thế giới và từng được bầu là thành viên của Hội đồng nhân quyền Liên Hợp quốc. Trong những năm tiếp theo, Việt Nam tiếp tục phát huy vai trò, vị thế của mình trong việc bảo vệ quyền con người, tiếp tục đóng góp vào sự nghiệp chung của toàn nhân loại.


Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...