Thứ Hai, 19 tháng 11, 2018

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC, BÔI ĐEN HÌNH ẢNH ĐẤT NƯỚC TRONG ĐỔI MỚI, HỘI NHẬP QUỐC TẾ


KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC, BÔI ĐEN HÌNH ẢNH ĐẤT NƯỚC
TRONG ĐỔI MỚI, HỘI NHẬP QUỐC TẾ

Hơn 30 năm qua kể từ khi Đảng và Nhà nước Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới (từ năm 1986 đến nay), nhìn tổng thể, công cuộc đổi mới của đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam đất nước đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, xã hội-nhất là sau cuộc khủng hoảng, sụp đổ của Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) Đông Âu (1985-1991). Từ tình trạng một quốc gia kém phát triển, lương thực không đủ… đến nay Việt Nam trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình; sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên: Chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao.
Thế nhưng lợi dụng internet, mạng xã hội (MXH) và những mặt tiêu cực trong xã hội chưa được khắc phục, một số kẻ đã tán phát luận điệu, xuyên tạc bản chất của xã hội XHCN, bôi đen hình ảnh của đất nước Việt Nam. Về tình hình trong nước, họ cường điệu những khó khăn trên lĩnh vực kinh tế, rằng “nền kinh tế Việt Nam đang đứng bên bờ vực thẳm”. Về cuộc đấu tranh chống tham nhũng họ viết: Đó chỉ là “cuộc đấu đá giữa nhóm tham nhũng mới với nhóm tham nhũng cũ”. Về chế độ xã hội họ viết: Ở Việt Nam “các quyền của người, nhất là quyền tự do ngôn luận, quyền “tự do internet, MXH” bị xâm phạm bởi Luật An ninh mạng…".
Tuy nhiên, nhìn từ thực tiễn có thể thấy, từ khi được hoàn toàn giải phóng đến nay, Việt Nam đã trải qua những thời kỳ đầy khó khăn, do cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Trong thời kỳ trước đổi mới (1975-1985), dân tộc Việt Nam đã phải đấu tranh với cuộc bao vây cấm vận nghiệt ngã của Mỹ (từ năm 1975 đến năm 1994). Trong thời kỳ này, Mỹ đã cản trở các tổ chức tài chính quốc tế và các nước cho Việt Nam vay tín dụng… Đến năm 1994, Mỹ mới tuyên bố bãi bỏ hoàn toàn cấm vận Việt Nam và bình thường hóa quan hệ với Việt Nam vào tháng 7-1995. Cũng trong thời kỳ 1975-1985, những sai lầm của mô hình xây dựng xã hội theo mô hình chủ nghĩa xã hội (CNXH) kiểu cũ khiến nền kinh tế đất nước trì trệ, đời sống của nhân dân gặp rất nhiều khó khăn. Là một quốc gia nông nghiệp, đất đai phì nhiêu, người dân cần cù, sáng tạo thế nhưng ở nhiều nơi đã xuất hiện tình trạng thiếu đói. Còn nhớ thời kỳ này, trong khi vết thương chiến tranh chưa được hàn gắn, thì dân tộc Việt Nam lại phải tiến hành hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.
Bước sang thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến nay), mở đầu là Đại hội VI (năm 1986), dựa trên đổi mới tư duy lý luận-chính trị và kinh tế, Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện đường lối chính sách xây dựng xã hội theo mô hình mới của CNXH. Về chính trị, đó là xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Trong mô hình này, các quyền bình đẳng về dân sự và chính trị được bảo đảm (về phương diện pháp lý). Về kinh tế đó là nền kinh tế thị trường, nhiều thành phần, cạnh tranh bình đẳng… theo định hướng XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Về đối ngoại, Việt Nam thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, với phương châm đa dạng hóa, đa phương hóa; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Như vậy có thể nói, trong mô hình mới của CNXH các quyền bình đẳng về chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội và văn hóa đã được bảo đảm.
Nét đặc sắc trong xây dựng xã hội theo mô hình mới của CHXH, đó là các quyền con người, quyền công dân được bảo đảm bằng pháp luật cũng như trên thực tế. Hiến pháp năm 2013 dành một chương (Chương II) quy định về đầy đủ về “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”. Những quy định về quyền con người tại chương này hoàn toàn tương thích với các công ước quốc tế về quyền con người, trong đó có những quyền được xem là “nhạy cảm” cũng đã được đưa vào văn kiện này. Thể chế hóa Hiến pháp năm 2013 và nội luật hóa các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã gia nhập, ký kết, Quốc hội Việt Nam vừa qua đã sửa và xây dựng nhiều đạo luật mới. Đó là Luật Báo chí (năm 2016), Luật Tiếp cận thông tin (năm 2013), Luật An ninh mạng (năm 2018)... Các quy định của những bộ luật trên đều nhằm bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự công cộng và quyền con người. Việt Nam hòa mạng internet toàn cầu khá sớm so với nhiều quốc gia trong khu vực-từ ngày 1-12-1997. Theo tổ chức nghiên cứu về MXH quốc tế-Next Web, hiện nay Việt Nam nằm trong “Top 10 quốc gia có nhiều người dùng Facebook nhất thế giới” với 64 triệu người, chiếm 3% tổng số tài khoản Facebook toàn cầu.
Trên lĩnh vực kinh tế, hình ảnh đất nước, cuộc sống của nhân dân đã được nâng cao đáng kể. Triển khai Chương trình 135 về phát triển kinh tế-xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc ít người, miền núi, vùng sâu, vùng xa… cho đến nay các xã, cụm dân cư đã có đủ cơ sở xã hội thiết yếu, như: Điện, đường giao thông, trường học, trạm y tế. Tỷ lệ hộ đói, nghèo giảm nhanh, luôn đạt và vượt mục tiêu đề ra qua các giai đoạn, hoàn thành và vượt mức mục tiêu Thiên niên kỷ về giảm nghèo trước 10 năm… Giai đoạn 1992-1998, tỷ lệ đói nghèo ở Việt Nam bình quân mỗi năm giảm 2-3%. Đến hết năm 2010, tỷ lệ hộ nghèo của Việt Nam là 9,45%, vượt mục tiêu đề ra là 10%. Chính phủ Việt Nam đã xây dựng Định hướng giảm nghèo giai đoạn 2011-2020 với mục tiêu giảm số hộ nghèo còn 4-5% vào năm 2020. Theo đánh giá của Liên hợp quốc, Việt Nam đã giảm được một nửa tỷ lệ đói nghèo trong hơn một thập kỷ và là một trong những quốc gia đạt tốc độ giảm đói nghèo nhanh nhất thế giới.
Về cuộc đấu tranh chống tham nhũng, có thể nói chưa nhiệm kỳ nào Đảng Cộng sản Việt Nam triển khai một chiến lược bài bản, quy mô như hiện nay. Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam trong cuộc đấu tranh này là “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ” và “phải làm đến cùng”; là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị.
Trong quan hệ quốc tế, vị thế quốc tế của Việt Nam được nâng cao vượt bậc. Cho đến nay Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với 13 quốc gia; Việt Nam cũng đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Ấn Độ, Nga, Trung Quốc. Với Hoa Kỳ, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác toàn diện. Trong thời kỳ đổi mới Việt Nam tham gia vào nhiều cơ quan quan trọng của tổ chức quốc tế rộng lớn: (1) Là Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an nhiệm kỳ 2008-2009; (2) thành viên Hội đồng Kinh tế-xã hội nhiệm kỳ 2016-2018; (3) Việt Nam được bầu vào Hội đồng Nhân quyền (nhiệm kỳ 2014-2016)… Ngày 25-5-2018 vừa qua, trong cuộc họp của Nhóm châu Á-Thái Bình Dương tại Liên hợp quốc, các nước trong khu vực đã nhất trí thông qua đề cử Việt Nam là ứng cử viên duy nhất của nhóm vào vị trí Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an (nhiệm kỳ 2020-2021-tại cuộc bầu cử sẽ được tổ chức vào tháng 6-2019).
Là thành viên có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế, Việt Nam đã và đang tham gia vào lực lượng Gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. "Từ năm 2014, Việt Nam đã cử các sĩ quan tham gia các phái bộ gìn giữ hòa bình ở Cộng hòa Trung Phi và ở Nam Sudan. Mới đây, ngày 25-6-2018, Cục Hỗ trợ thực địa Liên hợp quốc đã công bố kết quả thanh sát địa điểm huấn luyện gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc tại các nước thuộc ASEAN, theo đó Việt Nam cùng với 3 nước là Campuchia, Indonesia, Thái Lan được chọn làm địa điểm huấn luyện gìn giữ hòa bình quốc tế luân phiên. Việt Nam cũng đang nỗ lực để triển khai Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 1 tại Nam Sudan”[1].
Đi theo con đường của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, dân tộc Việt Nam không chỉ đã giành được quyền con người mà còn có những đóng góp to lớn trên lĩnh vực này từ tư tưởng lý luận cho đến thực tiễn. Công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế là một thời kỳ phát triển vượt bậc của Việt Nam về các phương diện, trong đó có quyền con người. Các quyền con người đều có những bước bảo đảm cao hơn, vị thế của dân tộc, đất nước được nâng cao hơn; được cộng đồng quốc tế trân trọng ghi nhận.
TIẾN BẮC

[1] - “Việt Nam chủ động phát huy vai trò tích cực tại Kỳ họp cấp cao Đại hội đồng LHQ” Báo Tin tức, TTXVN - 24-9-2018.
http://www.qdnd.vn/chong-dien-bien-hoa-binh/thanh-tuu-nhan-quyen-viet-nam/khong-the-xuyen-tac-boi-den-hinh-anh-dat-nuoc-trong-doi-moi-hoi-nhap-quoc-te-554854

CHÚ TRỌNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC


CHÚ TRỌNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC

Nhà giáo là nhân tố quyết định thành công của quá trình đổi mới giáo dục. Vì vậy, trong mọi thời kỳ, việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên luôn được ngành giáo dục xác định là nhiệm vụ trọng tâm. Thời điểm hiện nay, khi chương trình giáo dục phổ thông mới sắp được triển khai thì việc chuẩn bị tốt mọi mặt đội ngũ nhà giáo (ĐNNG) càng đóng vai trò tiên quyết.
Coi trọng chất lượng đội ngũ nhà giáo
Tính đến tháng 8-2018, cả nước có 1.161.143 giáo viên mầm non, phổ thông (công lập 1.089.837, ngoài công lập 71.306). Về cơ bản, ĐNNG và cán bộ quản lý giáo dục (QLGD) ở tất cả cấp học đã đạt chuẩn và trên chuẩn trình độ đào tạo. Đây là tiền đề để Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đề xuất nâng chuẩn trình độ đào tạo cho giáo viên trong Luật Giáo dục (sửa đổi). Hầu hết cán bộ quản lý, giáo viên có lòng yêu nghề, có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp tốt, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, có ý chí vươn lên, tích cực học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Năng lực sư phạm của phần lớn nhà giáo được nâng lên, đáp ứng được yêu cầu đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục.
Bộ GD&ĐT đã trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2025. Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để quản lý và phát triển đội ngũ cán bộ QLGD, giáo viên, nhân viên theo Luật Viên chức, góp phần phát triển và tạo động lực cho ĐNNG và cán bộ QLGD. 
ĐNNG và cán bộ QLGD đã tăng mạnh về số lượng, chất lượng và ngày càng đồng bộ về cơ cấu trong 5 năm qua, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục của đất nước. Sự bất hợp lý trong cơ cấu ĐNNG theo cấp, bậc học, theo chuyên môn, ngành nghề và vùng miền ở những năm đầu thực hiện nghị quyết đã dần được khắc phục.
Công tác bồi dưỡng nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên theo các yêu cầu của chuẩn nghề nghiệp được các địa phương quan tâm triển khai thông qua các hình thức khác nhau. Một số địa phương thực hiện nhiều giải pháp liên kết với các cơ sở uy tín ở nước ngoài trong công tác bồi dưỡng đội ngũ; tổ chức các hoạt động sinh hoạt chuyên môn, bồi dưỡng giáo viên thông qua nghiên cứu bài học. Công tác bồi dưỡng thường xuyên cho đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên mầm non, phổ thông được chú trọng, nhiều sở GD&ĐT đã tích cực chủ động phối hợp tốt với các cơ sở đào tạo giáo viên trong công tác xây dựng kế hoạch và bồi dưỡng đội ngũ; công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên ở nước ngoài tiếp tục được quan tâm đầu tư thông qua các đề án đào tạo bằng ngân sách Nhà nước, học bổng hiệp định và các chương trình học bổng khác, trong đó, hầu hết số tiến sĩ này là giảng viên các trường đại học, cao đẳng, đóng góp quan trọng trong nâng cao chất lượng giảng viên của Việt Nam.
Bộ cũng đã trình Thủ tướng Chính phủ đề án nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục đại học và các trường cao đẳng sư phạm đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT giai đoạn 2018-2030; đã ban hành văn bản quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên và chuẩn hiệu trưởng theo định hướng cập nhật, đáp ứng yêu cầu của GD&ĐT trong giai đoạn mới; xây dựng khung năng lực giáo viên phổ thông các môn học đặc thù; xây dựng chuẩn nghề nghiệp giảng viên sư phạm; xây dựng tiêu chuẩn và quy trình lựa chọn giảng viên sư phạm chủ chốt, giáo viên và cán bộ quản lý trường phổ thông cốt cán; xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý với trường sư phạm và trường phổ thông trong bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ QLGD; nghiên cứu những vấn đề cần thiết để đề xuất sửa đổi các nội dung về nhà giáo trong quá trình sửa đổi Luật Giáo dục và Luật Giáo dục đại học; rà soát, sửa đổi, bổ sung chương trình bồi dưỡng thường xuyên giáo viên, cán bộ QLGD các cấp học mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông theo chuẩn.
Bộ GD&ĐT thường xuyên rà soát mạng lưới, quy mô và phương thức đào tạo của các cơ sở đào tạo giáo viên; triển khai chương trình phát triển các trường sư phạm để nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục phổ thông; khảo sát nhu cầu sử dụng giáo viên của các địa phương làm căn cứ xác định chỉ tiêu các ngành đào tạo giáo viên, nâng cao chất lượng đầu vào đối với ngành sư phạm. Các trường sư phạm đổi mới chương trình đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông và xây dựng mới 50 chương trình đào tạo. Các trường, khoa sư phạm là đơn vị chủ đạo trong công tác đào tạo và bồi dưỡng giáo viên và cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cho các ngành nghề khác.
Tiếp tục bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ nhà giáo đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
Triển khai nhiệm vụ và giải pháp về phát triển ĐNNG đáp ứng yêu cầu đổi mới GD&ĐT được đặt ra trong Nghị quyết số 29 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT, trước mắt và lâu dài, Bộ GD&ĐT sẽ tập trung vào một số nhiệm vụ cụ thể.
Xây dựng, hoàn thiện chính sách, chế độ đối với ĐNNG và cán bộ QLDG. Xây dựng, ban hành chuẩn nghề nghiệp theo tinh thần tiếp cận năng lực; phê duyệt đề án nâng cao năng lực giảng viên. Đồng thời xây dựng quy hoạch tổng thể và tiêu chuẩn trường sư phạm hiện đại, năng động, tự chủ; kiểm định, xếp hạng và sắp xếp lại mạng lưới các trường sư phạm. Đổi mới hoạt động đào tạo giáo viên dựa theo chuẩn đầu ra cho sinh viên sư phạm gắn với chuẩn nghề nghiệp.
Triển khai Dự án “Chương trình phát triển các trường sư phạm để nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục phổ thông” đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Ban hành các chương trình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý trường phổ thông thống nhất trong cả nước. Xây dựng hệ thống tập huấn, bồi dưỡng giáo viên qua mạng; tổ chức tập huấn, bồi dưỡng giáo viên kết hợp hai hình thức trực tiếp và qua mạng.
Chỉ đạo địa phương quán triệt tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6, khóa XII trong việc tuyển dụng, sử dụng giáo viên; xác định số giáo viên thừa, thiếu từng cấp học, môn học; thực hiện tốt việc đánh giá, xếp loại giáo viên và thực hiện tinh giản biên chế đối với giáo viên, cán bộ quản lý theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức.
Xây dựng và thực hiện các chính sách tạo động lực cho giáo viên và giáo sinh: Xây dựng các quy định gắn kết hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học của giảng viên sư phạm; điều chỉnh, bổ sung các quy chế thực hành nghiệp vụ sư phạm, quy chế thực tập sư phạm của sinh viên sư phạm; nghiên cứu chính sách hỗ trợ sinh viên sư phạm trong thời gian học và sau khi ra trường; nghiên cứu, rà soát và đề xuất chế độ, chính sách tuyển dụng, sử dụng, lương, phụ cấp và thu nhập của giáo viên,...
Phát triển và nâng cao chất lượng ĐNNG là nhiệm vụ xuyên suốt, bởi giáo viên là nhân tố quyết định thành công của quá trình đổi mới giáo dục. Thực tiễn cho thấy, nếu được quan tâm, tạo điều kiện tốt về thu nhập, đời sống, được trân trọng những cống hiến nghề nghiệp, chất lượng giáo viên, hiệu quả giáo dục sẽ được tăng lên. Trách nhiệm của ngành giáo dục là cùng toàn xã hội tạo ra điều kiện, môi trường tốt nhất cho giáo viên được phát triển và cống hiến.
TS NGUYỄN HỮU ĐỘ, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
http://www.qdnd.vn/van-hoa-giao-duc/giao-duc/chu-trong-nang-cao-chat-luong-doi-ngu-giao-vien-dap-ung-yeu-cau-doi-moi-giao-duc-554925

CẦN TRÁNH NHỮNG NHẬN THỨC SAI LỆCH TỪ VIỆC KỶ LUẬT ÔNG CHU HẢO


CẦN TRÁNH NHỮNG NHẬN THỨC SAI LỆCH TỪ VIỆC KỶ LUẬT ÔNG CHU HẢO
Những ngày qua, không gian mạng lan truyền những luồng tư tưởng khác nhau về việc UBKT Trung ương kết luận và thi hành kỷ luật ông Chu Hảo vì đã vi phạm rất nghiêm trọng nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng, vi phạm tư cách, tiêu chuẩn đảng viên và quy định những điều đảng viên không được làm; có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Những bình luận đa chiều được các tài khoản facebook tán phát trên mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động đã lợi dụng việc này để xuyên tạc, đả phá chế độ. Do đó, cần nhận diện vấn đề một cách khách quan trên những điểm căn bản sau:
Thứ nhất, việc thi hành kỷ luật Đảng, kịp thời đưa ra khỏi Đảng những người không đủ tiêu chuẩn là yêu cầu khách quan.
Trong 8 nguyên tắc xây dựng Đảng, có nguyên tắc: Đảng kết nạp những người ưu tú của giai cấp công nhân, nhân dân lao động vào Đảng, kịp thời đưa những người không đủ tiêu chuẩn đảng viên ra khỏi Đảng.
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, Đảng Cộng sản Việt Nam thẳng thắn nhìn vào sự thật khách quan, đánh giá đúng và kiên quyết khắc phục những yếu kém, hạn chế, khuyết điểm để làm tròn “sứ mệnh”. 
Luôn đòi hỏi duy trì, thực hiện nghiêm kỷ luật Đảng, kịp thời đưa ra khỏi Đảng những người không đủ tiêu chuẩn đảng viên là việc làm tất yếu.
Thứ hai, việc kỷ luật ông Chu Hảo và nhận diện “hiệu ứng Chu Hảo”.
Trước hết, quyết định kỷ luật đảng viên Chu Hảo căn cứ vào Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, căn cứ vào kết luận của cơ quan chức năng về sai phạm của ông Chu Hảo. Từ năm 2005, ông Chu Hảo nghỉ hưu (không còn là Thứ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ) và chuyển sang công tác ở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. 
Với cương vị là Tổng Biên tập, Giám đốc Nhà xuất bản Tri thức, ông đã lựa chọn, biên tập, xuất bản nhiều cuốn sách có nội dung sai phạm, trái quan điểm, chủ trương đường lối của Đảng. 
Đặc biệt, từ năm 2009 đến năm 2018, ông Chu Hảo tiếp tục xuất bản những cuốn sách có nội dung vi phạm, trong đó có 2 cuốn nội dung vi phạm về chính trị, tư tưởng bị cấm phát hành; 17 cuốn sách sai phạm ở mức độ ít nghiêm trọng và 5 cuốn không được phép tái bản. 
Bên cạnh đó, việc nói, viết và làm theo Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, Nghị quyết, chỉ thị của Đảng và pháp luật của Nhà nước, đồng chí Chu Hảo có biểu hiện vi phạm nghiêm trọng. 
Đại diện lãnh đạo Ban Tuyên giáo Trung ương đã mời ông Chu Hảo đến làm việc, trao đổi, phân tích, làm rõ và yêu cầu chấm dứt vi phạm nhưng ông vẫn tiếp tục vi phạm, tiếp tục sáng lập, tham gia các hội, nhóm, diễn đàn, câu lạc bộ và các tổ chức khác và có các hoạt động để truyền bá, tư tưởng quan điểm sai trái của mình.
Ông Chu Hảo mắc phải những sai phạm có hệ thống, kéo dài, thể hiện tư cách đạo đức cách mạng của người đảng viên xuống cấp, không giữ được lập trường tư tưởng chính trị, rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. 
Theo UBKT Trung ương, vi phạm của ông Chu Hảo là rất nghiêm trọng, diễn ra trong thời gian dài, ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức Đảng, tác động xấu tới tư tưởng xã hội. Do đó, căn cứ quy định của Đảng về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm, UBKT Trung ương quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng đối với ông Chu Hảo.
Description: https://creatives.sascdn.com/diff/2060/a384128/banner_640x90.jpg

Đảng có trường tồn, giữ được niềm tin của nhân dân khi và chỉ khi Đảng trong sạch, vững mạnh, đủ năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu. Đảng Cộng sản Việt Nam phải tuân thủ và thực hiện đúng những nguyên lý cơ bản về xây dựng Đảng; trong đó, quy luật đào thải đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam phải thực hiện nghiêm kỷ luật Đảng, kịp thời xử lý những đảng viên vi phạm kỷ luật.
Từ việc kỷ luật ông Chu Hảo, những ngày qua, trên không gian mạng có nhiều ý kiến bình luận trái chiều, các thế lực thù địch, phản động tán phát nhiều bài viết có nội dung chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam. Hiện tượng này được gọi là “hiệu ứng Chu Hảo”.
Từ “hiệu ứng Chu Hảo” cho thấy: (1) Một số ý kiến bày tỏ quan điểm trái chiều, kiến nghị UBKT Trung ương xem xét lại quyết định kỷ luật ông Chu Hảo và những đảng viên tuyên bố “bỏ Đảng” để ủng hộ Chu Hảo thì đây là những trường hợp suy thoái về tư tưởng chính trị, không giữ được phẩm chất cách mạng của người đảng viên, đang từng bước từ bỏ lập trường đúng đắn, rơi vào ngả nghiêng, dao động, biến chất. 
Những con người này đều không xứng đáng là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. (2) Những thông tin của các thế lực thù địch, phản động tán phát trên không gian mạng có liên quan đến ông Chu Hảo đều nhằm mục đích chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam, xuyên tạc, bóp méo sự thật, kích động gây mất đoàn kết nội bộ Đảng.
Thứ ba, sự thật về chuyện hai đảng viên là quân nhân tuyên bố “bỏ Đảng” để ủng hộ Chu Hảo.
Từ sự kiện này, trên mạng xã hội facebook đã xuất hiện thông tin về việc tuyên bố “bỏ Đảng” của hai đảng viên là quân nhân gồm: Nguyễn Hữu Hiếu và Trần Nam. Cụ thể về hai trường hợp này như sau:
Nguyễn Hữu Hiếu, sinh năm 1990, quê ở Thiệu Tân, Thiệu Hóa, Thanh Hóa; trú quán: Nghĩa Thành, Châu Đức, Bà Rịa - Vùng Tàu; vào Đảng ngày 30-10-2011. Trước khi bị kỷ luật và bị loại ra khỏi quân đội là Trung úy, Trung đội trưởng, Trung đoàn 152 Quân khu 9. 
Quá trình công tác, Hiếu hoàn thành nhiệm vụ thấp, năm 2016 là đảng viên không hoàn thành nhiệm vụ, có biểu hiện dao động tư tưởng, không yên tâm công tác, tham gia một số hội nhóm trên mạng có tư tưởng trái với đường lối, quan điểm của Đảng; tham gia chia sẻ, tán phát các tài liệu có nội dung chống phá Đảng, nhà nước. Đơn vị quản lý đã nhiều lần gặp gỡ, giáo dục, động viên, nhưng Hiếu không có sự thay đổi.
Ngày 16-8-2017, Nguyễn Hữu Hiếu đã bị kỷ luật cảnh cáo về Đảng và chính quyền. Quyết định kỷ luật của Đảng ủy Trung đoàn 152 nêu rõ: “Đồng chí Hiếu có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đã đăng bài phát tán trên mạng xã hội trái với quan điểm của Đảng, nhà nước, quân đội. Mặc dù đã được các cấp giáo dục, kiểm điểm nhưng đồng chí Hiếu không có ý thức chấp hành, vẫn tiếp tục sai phạm, đăng tải, chia sẻ với động cơ bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng, nhà nước. Hành vi vi phạm của đồng chí Hiếu là rất nghiêm trọng, trái với đường lối, chủ trương của Đảng, nhà nước, gây ảnh hưởng đến phẩm chất truyền thống, hình ảnh bộ đội Cụ Hồ của đơn vị”. 
Ngày 15-9-2017, Nguyễn Hữu Hiếu viết đơn xin phục viên và được tổ chức giải quyết cho ra quân đúng thủ tục quy định.
Trần Nam, sinh năm 1960, quê quán: Trung Nguyên, Yên Lạc, Vĩnh Phúc; trú tại phường Lộc Tiến, TP. Bảo Lộc, Lâm Đồng; vào Đảng năm 1999. Tháng 10-1997, Trần Nam là Giám đốc Xí nghiệp sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng, Công ty Lâm Viên (Học viện Lục quân); từ năm 2001-2008, là Phó Giám đốc Công ty Lâm Viên. 
Từ năm 2011-2015, là trợ lý Ban Tham mưu kế hoạch, Phòng Hậu cần (Học viện Lục quân). Từ tháng 6-2015 Nam nghỉ chờ hưu với cấp bậc Trung tá quân nhân chuyên nghiệp, đến tháng 6-2016, Nam nghỉ hưu. 
Thời gian gần đây, Trần Nam đăng tải và chia sẻ trên trang facebook cá nhân nhiều nội dung từ những trang phản động, có thông tin xấu độc, xuyên tạc, nói xấu Chủ tịch Hồ Chí Minh, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, nói xấu Đảng, nhà nước.
Như vậy, cả hai trường hợp Nguyễn Hữu Hiếu và Trần Nam đã không còn công tác trong QĐND Việt Nam nữa. Thời điểm hai trường hợp này tán phát thông tin có nội dung “bỏ Đảng” đã không còn là đảng viên trong Đảng bộ Quân đội. 
Do đó, những thông tin trên mạng xã hội facebook về hai trường hợp trên là không đúng sự thật. Việc tán phát thông tin đó chỉ là chiêu trò chống phá của các thế lực thù địch, phản động nhằm thực hiện âm mưu phi chính trị hóa lực lượng vũ trang; tung tin sai lệch, kích động tư tưởng “bỏ Đảng”.
Từ “hiệu ứng Chu Hảo”, các đơn vị cơ sở trong lực lượng vũ trang cần làm tốt một số nội dung sau: (1) Thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, định hướng nhận diện “hiệu ứng Chu Hảo”, phân biệt đúng, sai, thực hiện thắng lợi công tác đấu tranh tư tưởng, lý luận trên không gian mạng trong giai đoạn hiện nay. 
(2) Làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, thực hiện khoa học, hiệu quả việc quản lý các mối quan hệ xã hội của cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm những trường hợp có biểu hiện vi phạm các quy định của Đảng, pháp luật Nhà nước, kỷ luật của lực lượng vũ trang. 
(3) Các tổ chức cơ sở Đảng duy trì, thực hiện nghiêm chế độ quy định, nhất là công tác kiểm tra, giám sát; kịp thời giáo dục, kỷ luật những đảng viên vi phạm những điều đảng viên không được làm. (4) Làm tốt công tác phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương trong việc nắm bắt thông tin những đảng viên là cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang đã nghỉ hưu, ra quân và những đảng viên thuộc đơn vị tham gia sinh hoạt hai chiều tại chi bộ, Đảng bộ địa phương.
Thực tiễn lịch sử đã chứng minh: “Tất cả những đảng cách mạng đã bị tiêu vong cho đến nay, đều bị tiêu vong vì tự cao tự đại, vì không biết nhìn rõ cái gì tạo nên sức mạnh của mình và vì sợ sệt không dám nói lên những nhược điểm của mình”. (V.I. Lênin: Toàn tập, Sđd, t. 45, tr. 141). 
Vì vậy, một đảng “công khai thừa nhận sai lầm, tìm ra nguyên nhân sai lầm, phân tích hoàn cảnh đã đẻ ra sai lầm, nghiên cứu cẩn thận những biện pháp để sửa chữa sai lầm ấy, đó là dấu hiệu chứng tỏ một đảng nghiêm túc, đó là đảng làm tròn những nghĩa vụ của mình” (V.I. Lênin: Toàn tập, Sđd, t. 41, tr. 51). 
Do đó, đòi hỏi tất yếu khách quan trong mọi giai đoạn cách mạng là thực hiện thắng lợi công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; những vi phạm của cán bộ, đảng viên, tổ chức Đảng cần phải xử lý nghiêm túc, kịp thời, đưa ra khỏi Đảng những con người không còn đủ tư cách của người đảng viên để Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh. 
Trong vấn đề này luôn đòi hỏi sự nhận thức đúng đắn “không có vùng cấm”, “không ai đứng trên, đứng ngoài pháp luật”, “tất cả đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng”.
Theo Công an Nhân dân

Thứ Bảy, 17 tháng 11, 2018

QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ NHÂN DÂN TRONG VAI TRÒ NGƯỜI CHỦ QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC


QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ NHÂN DÂN

 TRONG VAI TRÒ NGƯỜI CHỦ QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC

 

Trên cơ sở kế thừa những ưu điểm của loại hình thể chế cộng hòa nói chung, vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về thể chế chính trị, kết hợp với thực tiễn của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã xây dựng nên mô hình thể chế chính trị Việt Nam dân chủ cộng hòa. Trong đó, tất cả nhân dân yêu nước Việt Nam là chủ thể quyền lực của nhà nước; nhà nước kiểu mới được xây dựng ở Việt Nam là nhà nước mang tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn thể dân tộc trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước.
Cùng với quá trình ra đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã tìm ra mô hình thể chế chính trị phù hợp với thực tiễn của Việt Nam sau ngày đất nước độc lập. Tư tưởng của Người về thể chế chính trị dân chủ cộng hòa dần được hình thành. Hội nghị Trung ương 8 (5-1941), dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc, đã khẳng định sau khi Việt Nam giành được độc lập sẽ lập ra chính phủ dân chủ cộng hòa. Trong bản Hiến pháp năm 1946, tại chương I quy định về Chính thể đã viết: nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa.
Hồ Chí Minh ngay từ rất sớm đã phản đối sự chuyên quyền, độc đoán trong cách thức tổ chức quyền lực của thực dân Pháp. Đứng đầu Liên bang Đông Dương là một viên chức cao cấp người Pháp giữ chức danh toàn quyền Đông Dương. Chức danh này do Tổng thống Pháp bổ nhiệm. “Toàn quyền Đông Dương nắm toàn bộ các quyền lập pháp, lập quy, hành pháp, tư pháp ở Đông Dương”(1). Trong những tác phẩm tố cáo tội ác của thực dân Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Như ở tất cả các tỉnh, một tỉnh Bắc kỳ cũng có một vị công sứ Pháp... Ông ta là Chủ tịch tỉnh, đốc lý, chánh án, mõ tòa, chủ thầu. Ông kiêm tất cả mọi quyền hành: tư pháp, thuế vụ, sinh mệnh và tài sản của người bản xứ, việc bầu cử những người cầm quyền bản xứ, quyền lợi của công chức... Ông ta biết bắt giữ, tống giam và kết án một cách độc đoán những người An Nam để thu thuế họ...”(2).
Khát khao về một nền độc lập của dân tộc cùng mô hình nhà nước đoạn tuyệt với sự chuyên quyền, độc đoán đã tồn tại trước đó ở Việt Nam là cơ sở quan trọng để Hồ Chí Minh hướng tới mô hình thể chế chính trị cộng hòa cho Việt Nam sau khi đất nước độc lập. Bởi đó là thể chế xác định chủ thể quyền lực thuộc về số đông.
Trải qua một thời gian dài phát triển, các nước tư bản đã đạt được một số thành tựu liên quan đến vấn đề tổ chức bộ máy quyền lực nhà nước và vấn đề con người. Những giá trị tiến bộ của thể chế chính trị cộng hòa không thể phủ nhận. Đó là thể chế chính trị khẳng định quyền lực nhà nước thuộc về số đông. Hầu hết hiến pháp của các quốc gia theo thể chế chính trị cộng hòa đều khẳng định nguyên tắc bầu cử phổ thông, tức là chế độ bầu cử được mở rộng cho tất cả công dân.
Pháp và Mỹ là hai quốc gia tư bản đại diện cho hai mô hình thể chế chính trị cộng hòa đại nghị và cộng hòa tổng thống. Quyền con người đã được ghi trong Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chủng quốc Hòa Kỳ năm 1776 và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791. Sự tuyên bố về các quyền con người, trong đó có quyền chính trị trong cách mạng tư sản và trong xã hội tư bản chủ nghĩa không chỉ dừng ở phạm vi các tuyên ngôn, mà còn được quy định trong văn bản có hiệu lực pháp lý tối cao, đó là hiến pháp. Nhân dân có quyền tham gia vào công việc nhà nước, có quyền bầu ra nguyên thủ quốc gia, cùng những người đứng đầu các cơ quan quyền lực nhà nước.
Tuy nhiên, nghiên cứu kỹ Hiến pháp tư sản sẽ có những quy định thể hiện sự dân chủ mang tính điều kiện. Hiến pháp năm 1791 của Pháp quy định chế độ bầu cử đã chia công dân thành hai loại tích cực và tiêu cực theo giá trị tài sản mà họ có. “Những người không có tài sản, quần chúng lao động bị coi là công dân tiêu cực. Quyền bầu cử chỉ dành cho các công dân tích cực là những người từ 25 tuổi trở lên, không làm thuê cho ai, có tên trong danh sách vệ quốc quân và phải nộp một khoản thuế trực thu ít nhất là ba ngày lương”(3). Những điều kiện do Hiến pháp quy định đã làm cho hàng triệu người lao động không có quyền bầu cử. Vì vậy, cuộc bầu cử Quốc hội năm 1791, ở Pháp chỉ có 4 triệu 28 vạn người là công dân tích cực trên tổng số 26 triệu dân được tham gia(4).
Hay như C.Mác đã nhận xét về các Nghị sĩ được bầu trong Hạ viện Anh vào thế kỷ XIX: “Hạ nghị viện trước đây, xét về trình độ trí tuệ chung ở dưới mức bình thường. Nghị viện này, một mặt chủ yếu gồm những quý tộc tỉnh lẻ và con cái của những đại địa chủ, mặt khác cũng gồm cả những chủ ngân hàng, những giám đốc công ty đường sắt, những chủ xưởng bia và những kẻ khác mới phất lên, trong đó cũng có một số nhà hoạt động chính trị, luật gia, giáo sư... Nghị viện khóa này ở một mức độ phi lý còn lớn hơn so với Nghị viện khóa trước, chỉ tuyệt đối đại diện cho bọn đại sở hữu ruộng đất và cho túi tiền”(5).
Thậm chí, cả thời gian sau này, trong quy định của nhiều nước tư bản vẫn có điều kiện hạn chế dân chủ. “Hay ở Mỹ trước năm 1920, ở Pháp trước năm 1944, ở Italia trước năm 1945, ở Thụy Sĩ trước năm 1972, phụ nữ không được đi bầu cử. Ở Niu Di Lân hiện nay, một cá nhân có thể có nhiều phiếu bầu cử, phụ thuộc vào số tiền họ có: dưới 1000 bảng Anh được 1 phiếu; từ 1000 đến 2000 bảng được 2 phiếu; trên 3000 bảng có 3 phiếu(6). Tại nước Mỹ, thời gian sau này, tổng thống Mỹ Bill Clinton đã định bãi bỏ điều luật mà theo đó để được tham gia bầu cử người ta phải trải qua kiểm tra xem đã thoát nạn mù chữ hay chưa.
Như vậy, quyền lực nhà nước được xác định trong thể chế cộng hòa ở các nước tư bản thuộc về số đông, nhưng số đông này không bao gồm nhân dân lao động, những người thuộc giai cấp vô sản, mà là những người hữu sản.
Năm 1871, trong cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại giai cấp tư sản tại Pháp, công xã Pari ra đời. Tuy tồn tại không lâu, chỉ vỏn vẹn trong 72 ngày, nhưng đây được coi là mô hình tổ chức nhà nước đầu tiên của giai cấp vô sản trên thế giới. Nhân dân lao động tự thành lập ra Hội đồng công xã Pari, là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Thành viên của Hội đồng bao gồm những ủy viên do nhân dân lao động bầu ra theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu.
Khi còn sống, C.Mác đã rất chăm chú theo dõi và rút ra bài học kinh nghiệm của công xã để phác họa mô hình nhà nước sẽ được xây dựng sau khi cách mạng vô sản thành công. Đến Lênin, ông đã xây dựng mô hình chính phủ công - nông - binh, một nhà nước mà quyền lực thuộc về bộ phận giai cấp vô sản, những người lao động chiếm số đông trong xã hội sau cuộc Cách mạng Tháng Mười năm 1917.
Các Xôviết được xây dựng theo nguyên tắc đại diện cho giai cấp công nhân, nông dân và binh lính. Tầng lớp tư sản, địa chủ không được tham gia vào công việc nhà nước, hay nói cách khác bị tước các quyền chính trị như bầu cử, ứng cử.
Mô hình chính quyền Xôviết được thành lập trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về thể chế chính trị, đồng thời căn cứ vào thực tiễn của nước Nga thời điểm đó. Tất cả quyền lực nhà nước tập trung vào trong tay các Xôviết của giai cấp công nhân, nông dân và binh sĩ. Các Xôviết tối cao và Xôviết địa phương thành lập ra các ủy ban chấp hành các cấp. Ủy ban chấp hành các cấp là cơ quan thừa hành của Xô viết và chịu trách nhiệm trước các Xôviết.
Như vậy, chủ thể quyền lực nhà nước trong thể chế cộng hòa Xôviết đó là công nhân, nông dân, binh lính, là những giai cấp, tầng lớp lao động bị tư bản bóc lột.
Năm 1920, khi đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin, Hồ Chí Minh đã xác định con đường cứu nước của Việt Nam phải đi theo con đường cách mạng vô sản. Mô hình nhà nước theo quan điểm lúc đầu của Hồ Chí Minh cũng là mô hình cộng hòa Xô Viết. Trong Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào tháng 2-1930, đã khẳng định sau khi đánh đuổi thực dân Pháp sẽ lập ra chính phủ công - nông - binh ở Việt Nam.
Nhưng từ thực tiễn của Việt Nam, Người có sự chuyển biến mạnh mẽ trong tư tưởng về mô hình nhà nước dành cho Việt Nam. Cuộc cách mạng ở Nga và cách mạng Việt Nam khác nhau về tính chất, đặc điểm. Cách mạng Tháng Mười Nga mang tính chất của một cuộc nội chiến. Trong khi cách mạng Việt Nam vừa mang tính giai cấp, vừa mang tính dân tộc. Sự khác nhau này chi phối đến nhiều vấn đề trong cuộc cách mạng và chi phối đến sự khác nhau trong việc quan niệm đối tượng nào là lực lượng cách mạng, là chủ thể quyền lực nhà nước.
Hội nghị Trung ương 8 (5-1941) đã chủ trương thay thế chính phủ công - nông - binh bằng chính phủ nhân dân. Hội nghị nêu rõ sau khi đánh đuổi Pháp - Nhật sẽ thành lập chính quyền. “Chính quyền cách mạng của nước dân chủ mới ấy không phải thuộc quyền riêng của một giai cấp nào mà của chung toàn thể dân tộc, chỉ trừ có bọn tay sai của đế quốc Pháp - Nhật và những bọn phản quốc, những bọn thù, không được giữ chính quyền, còn ai là người dân sống trên dải đất Việt Nam thảy đều được một phần tham gia giữ chính quyền, phải có một phần nhiệm vụ giữ lấy và bảo vệ chính quyền ấy”(7).
Ngay từ năm 1930, khi soạn ra Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Nguyễn Ái Quốc xác định lực lượng cách mạng là tất cả người dân Việt Nam yêu nước trên nền tảng liên minh công nông. Nhưng chủ thể của chính quyền chỉ là công nhân, nông dân và binh lính. Đến năm 1941, Hồ Chí Minh vẫn giữ quan điểm về lực lượng cách mạng Việt Nam, nhưng Người đã có bước phát triển trong tư tưởng: lực lượng cách mạng trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc sẽ chính là chủ thể quyền lực nhà nước sau ngày độc lập. Từ chỗ, quan niệm “nhân dân” là những lực lượng có sức mạnh to lớn nhất, đến chỗ quan niệm đó là lực lượng có quyền lực to lớn nhất là bước tiến trong tư tưởng Hồ Chí Minh về việc xác định chủ thể quyền lực nhà nước.
Chủ thể quyền lực là toàn thể nhân dân trong nước, không phân biệt họ là bộ phận có tài sản hay không có tài sản. Khi họ đã đấu tranh vì độc lập dân tộc, khi họ đã cố gắng, nỗ lực vì sự phát triển chung của đất nước thì họ hoàn toàn có quyền làm chủ đất nước. Nhà nước phải đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân, làm việc vì lợi ích của nhân dân. Quan niệm nhân dân là những ai được thể hiện rất rõ trong tác phẩm Thường thức chính trị (1953) của Hồ Chí Minh. Người viết: Nhân dân và quốc dân khác nhau. Nhân dân là bốn giai cấp công, nông, tiểu tư sản, tư sản dân tộc và những phần tử yêu nước khác. Đó là nền tảng của quốc dân. Những bọn phản động chưa đến nỗi bị xử tử, vẫn là quốc dân. Nhưng chúng không được ở trong địa vị nhân dân, không được hưởng quyền lợi như nhân dân. Chúng không có quyền tuyển cử, ứng cử; không có quyền tổ chức tuyên truyền, v.v.. Song, chúng cần phải làm tròn nghĩa vụ, như phục tùng trật tự, tuân theo pháp luật của nhân dân. Đối với nhân dân, thì công cụ của nhà nước dân chủ mới - (Chính phủ, pháp luật, công an, quân đội...) - là để giữ gìn quyền lợi của nhân dân. Đối với bọn phản động thì những tổ chức ấy là để bắt buộc chúng phải làm tròn mọi nghĩa vụ(8).
Quan điểm này giúp cách mạng Việt Nam huy động được cao nhất sức mạnh của dân tộc trong cuộc đấu tranh chống lại thực dân Pháp và phát xít Nhật để giành độc lập. Chính phủ nhân dân được thành lập, chủ thể quyền lực của nhà nước Việt Nam được mở rộng đến mức cao nhất: đó là toàn thể nhân dân Việt Nam. Tiêu chí để khẳng định ai là nhân dân Việt Nam đó là “tinh thần yêu nước”. Thời kỳ Việt Nam bị thực dân Pháp cai trị, “tinh thần yêu nước” rất dễ nhận biết, đó là những con người không phân biệt giai cấp, đảng phái có tinh thần chống thực dân Pháp, muốn đem lại độc lập dân tộc thực sự cho đất nước Việt Nam. Bên cạnh đó, có những bộ phận là người Việt Nam nhưng tự loại mình ra khỏi nhân dân, ra khỏi dân tộc, chấp nhận làm tay sai cho thực dân Pháp, đứng ngoài cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
Nhà nước Việt Nam ra đời năm 1945 là nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á. Bản Tuyên ngôn Độc lập đã tuyên bố với toàn thể nhân dân trong nước và trên thế giới, Việt Nam là quốc gia độc lập, thể chế chính trị của Việt Nam là dân chủ cộng hòa. Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ thể quyền lực trong nước là toàn thể nhân dân được thể chế hóa một cách mạnh mẽ trong bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946, đặc biệt trong quy định về quyền bầu cử của công dân Việt Nam. Công dân Việt Nam khi đến tuổi trưởng thành (18 tuổi trở lên) đều có quyền bầu cử. Không có bất kỳ điều kiện giới hạn nào, kể cả những trường hợp không biết đọc, biết viết. Tinh thần này tiếp tục được duy trì trong bản Hiến pháp 1959 và kế thừa trong các bản Hiến pháp sau này của Việt Nam.
Nhà nước kiểu mới được xây dựng ở Việt Nam là nhà nước mang “tính nhân dân”, “tính dân tộc”, bao gồm không chỉ bộ phận giai cấp vô sản mà còn cả những người dân Việt Nam yêu nước, phấn đấu vì mục tiêu chung của dân tộc. Ở điểm này, Hồ Chí Minh đã phát triển một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin.
Học thuyết Mác - Lênin không phải là lời giải sẵn có cho mọi vấn đề của tất cả các cuộc cách mạng, trong đó có cách mạng Việt Nam. Tất cả nhân dân yêu nước Việt Nam là chủ thể quyền lực trong nước. Đó là yếu tố cơ bản xác định thể chế chính trị Việt Nam là thể chế chính trị dân chủ cộng hòa, hay có thể gọi là thể chế chính trị cộng hòa dân chủ nhân dân. Nó không giống thể chế cộng hòa ở các nước tư bản, cũng không giống thể chế cộng hòa Xôviết.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ thể quyền lực nhà nước, người ta thấy có sự kết hợp linh hoạt, sáng tạo giữa lý luận và thực tiễn. Kế thừa những ưu điểm của các mô hình thể chế cộng hòa trên thế giới, dựa trên đặc thù của lịch sử Việt Nam cùng tài năng, trí tuệ cá nhân, Hồ Chí Minh đã đưa ra quan điểm riêng về chủ thể quyền lực nhà nước phù hợp với thực tiễn Việt Nam, phát huy được sức mạnh tổng hợp của dân tộc Việt Nam. Sự sáng tạo này góp phần làm phong phú thêm lý thuyết về các loại hình thể chế chính trị cộng hòa trên thế giới.
___________________
Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 8-2018
(1) Đinh Xuân Lâm, Dương Lan Hải (chủ biên): Nghiên cứu Việt Nam, một số vấn đề lịch sử kinh tế - xã hội - văn hóa, Nxb Thế giới, Hà Nội, 1998, tr.70.
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.48.
(3), (4) Văn phòng Quốc hội: Quá trình hình thành, phát triển và vai trò của Quốc hội trong sự nghiệp đổi mới, Kỷ yếu hội thảo, Hà Nội, 2001, tr.218, 219.
(5) C.Mác, Ph. Ăngghen: Toàn tập, t.18, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.669.
(6) Nguyễn Đăng Dung, Bùi Ngọc Sơn: Thể chế chính trị, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.99-100.
(7) ĐCSVN: Văn kiện Đảng toàn tập, t.7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.114.
(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.8 (1953-1954), Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.264.
ThS Nguyễn Thị Lan Phương
Đại học Thương mại
http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/nguyen-cuu-ly-luan/item/2714-quan-diem-cua-ho-chi-minh-ve-nhan-dan-trong-vai-tro-nguoi-chu-quyen-luc-nha-nuoc.html


Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...