Thứ Sáu, 12 tháng 10, 2018


NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
LUÔN LÀ NHÀ NƯỚC CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN – SỰ THẬT KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN
Khánh Anh

 Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, lập nên Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Đó là thành quả của cuộc đấu tranh đầy gian khổ, hy sinh của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân cả nước. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, mang bản chất giai cấp công nhân, đồng thời có tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc. Trong đó, bản chất giai cấp công nhân giữ vị trí cốt lõi, là hạt nhân chính trị sâu sắc, còn tính nhân dân và tính dân tộc giữ vị trí quan trọng trong các nhân tố cấu thành bản chất Nhà nước Việt Nam. Vì vậy, không thể nói “nhà nước tư bản hay nhà nước xã hội chủ nghĩa, chế độ tư bản hay chế độ xã hội chủ nghĩa cũng đều được”! Nói như vậy là thể hiện thái độ thờ ơ, “xúc phạm” sự hy sinh của các thế hệ đi trước trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; phủ nhận sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội đúng đắn của Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.
Từ khi ra đời đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ của mình, thể hiện bản chất tốt đẹp của một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân,  phục vụ lợi ích của dân tộc, đã quản lý đất nước, làm tròn trọng trách mà nhân dân giao phó, được lịch sử ghi nhận, nhân dân tin tưởng, thế giới ngưỡng mộ.
Về thực hiện chức năng đối nội
Trên lĩnh vực kinh tế, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, Việt Nam đạt những thành tựu quan trọng trong công cuộc đổi mới đất nước, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, phát triển; duy trì tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên (đạt ngưỡng thu nhập trung bình). Giai đoạn 2011-2015, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam tuy có chậm lại so với giai đoạn trước, nhưng vẫn đạt 5,9%/năm, là mức cao của khu vực và thế giới. Năm 2017, tăng trưởng kinh tế đạt 6,81%; thu nhập bình quân đầu người ước đạt khoảng 2.400 USD. Nhờ đó, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, diện mạo đất nước có nhiều thay đổi. Riêng năm 2018, theo báo cáo của Chính phủ tại phiên Họp báo thường kỳ tháng 8-2018, có 12/12 chỉ tiêu mà Quốc hội giao có thể đạt và vượt, trong đó 8 chỉ tiêu vượt, 4 chỉ tiêu đạt. Tăng trưởng GDP năm 2018 có khả năng hơn 6,7%, thu ngân sách vượt dự toán 3-5%. Cùng với đó, nợ công giảm, lạm phát dưới 4%; năng suất lao động tăng; bảo đảm sự phát triển của đất nước không chỉ tăng trưởng theo số lượng mà chất lượng cũng được nâng lên; niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước ngày càng được củng cố; uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng cao.
Trên lĩnh vực chính trị, Nhà nước ta đã đạt được thành tựu quan trọng về thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa và bảo đảm quyền con người, nhất là vấn đề quyền làm chủ của nhân dân, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân đã được xác lập và thực thi trên thực tế. Hiến pháp năm 2013 khẳng định nhất quán quan điểm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Đồng thời, thể hiện đầy đủ các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; xác định rõ trách nhiệm của Nhà nước đối với việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân theo Hiến pháp và pháp luật, v.v. Còn ở Mỹ, một đất nước mà các học giả tư sản thường ca ngợi là dân chủ, tự do nhất thế giới, nhưng có đầy rẫy sự vi phạm trắng trợn về quyền con người. Đơn cử như, quyền sống và đảm bảo an ninh cá nhân – quyền cơ bản nhất của con người - bị đe dọa. Mỗi năm ở Mỹ có khoảng 100.000 người bị trúng đạn, trong đó có khoảng 30.000 người thiệt mạng trong các vụ xả súng, mà Chính phủ Mỹ chưa có biện pháp hữu hiệu để kiểm soát. Việc kiểm soát, cấm bán súng cho cá nhân vẫn là chủ đề tranh cãi giữa các đảng phái, mà nguyên nhân là do lợi ích của các nhà tư sản sẽ bị ảnh hưởng nếu cấm bán súng cho cá nhân. Cùng với đó, nạn phân biệt chủng tộc diễn ra phổ biến; quyền của phụ nữ và trẻ em, nhất là phụ nữ gốc Phi chưa được đảm bảo, v.v. Điều đó cho thấy rõ tính ưu việt, bản chất dân chủ, nhân đạo và tiến bộ của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, của chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng, luôn hướng tới, đáp ứng tốt nhất các quyền chính đáng của con người, vì con người, được các quốc gia trên thế giới thừa nhận, đánh giá cao.
Trên lĩnh vực xã hội, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực xóa đói giảm nghèo, y tế, giáo dục, v.v. Tính theo chuẩn mới: đến năm 2017, tỷ lệ người nghèo giảm xuống còn 7%. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB), ngày 10-4-2018, với tiêu đề “Bước tiến mới: giảm nghèo và thịnh vượng chung tại Việt Nam” cho biết: “70% người dân Việt Nam đã an toàn về kinh tế, trong đó 13% thuộc tầng lớp trung lưu theo chuẩn thế giới”. Việt Nam đã hoàn thành việc phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2010 và  mầm non năm 2017. Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều tiến bộ, hệ thống cơ sở y tế được hình thành rộng khắp trong cả nước; số bác sĩ, số giường bệnh trên một vạn dân tăng nhanh. Chất lượng hệ thống dịch vụ y tế ngày càng được nâng cao. Việc thực hiện bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ được quan tâm, đạt kết quả cao. Hiện nay, tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội ở Việt Nam khóa XIV (nhiệm kỳ 2016 - 2021) là 26,72%, tăng so với hai khóa trước đó, cao hơn mức trung bình của thế giới (23,6%), giữ vị trí tương đối trong khu vực và lần đầu tiên Quốc hội Việt Nam có Chủ tịch Quốc hội là nữ. Các chính sách dân tộc, tự do tín ngưỡng tôn giáo ngày càng hoàn thiện được bảo đảm trong thực tiễn, v.v. Đó là điều đáng mừng. Bởi, đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay là đúng đắn, bảo đảm sự phát triển bền vững, mang lại công bằng cho người dân.
Về thực hiện chức năng đối ngoại
Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại, Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm của các tổ chức quốc tế, đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 187 nước; trong đó, 3 đối tác chiến lược toàn diện, 13 đối tác chiến lược và 11 đối tác toàn diện. Đồng thời, tham gia nhiều tổ chức quốc tế. Cho đến nay, Việt Nam là thành viên của 63 tổ chức quốc tế và có quan hệ với hơn 500 tổ chức phi chính phủ trên thế giới, điển hình như: Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên Hợp quốc (UNESCO), Diễn đàn hợp tác Á–Âu (ASEM), v.v. Việt Nam đã hoạt động tích cực với vai trò ngày càng tăng tại Liên hợp quốc (ủy viên Hội đồng Kinh tế và Xã hội Liên Hiệp Quốc (ECOSOC), ủy viên Hội đồng chấp hành Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP),...), phát huy vai trò thành viên tích cực của phong trào Không liên kết, Cộng đồng các nước có sử dụng tiếng Pháp, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), v.v. Điều đó, không chỉ khẳng định uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, mà còn góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tạo thuận lợi cho phát triển, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc.
Tuy nhiên, Nhà nước Việt Nam cũng thẳng thắn thừa nhận còn nhiều hạn chế trong quản lý xã hội, phát triển kinh tế, nhất là tình trạng tham nhũng trong một bộ phận cán bộ, công chức, làm ảnh hưởng xấu đến uy tín, niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Những tồn tại đó, hiện đang được Đảng, Nhà nước Việt Nam kiên quyết đấu tranh, khắc phục với quyết tâm chính trị cao và đã đạt được kết quả bước đầu quan trọng. Việc điều tra, đưa ra xét xử công khai các vụ án tham nhũng gần đây là một minh chứng. Qua đó, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.
Như vậy, cả về lý luận và thực tiễn sinh động trên đã khẳng định, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có đủ năng lực để quản lý, tổ chức, xây dựng đất nước phát triển; và chỉ có Nhà nước Vệt Nam xã hội chủ nghĩa mang bản chất giai cấp công nhân, thể hiện tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc mới đem lại dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh cho nhân dân, tất cả vì nhân dân phục vụ, chứ không thể là nhà nước nào khác.

Thứ Ba, 25 tháng 9, 2018


LẬT TẨY CHIÊU TRÒ CỦA NHỮNG KẺ KÍCH ĐỘNG ĐÃ KÊU GỌI
CÁI GỌI LÀ “TỔNG BIỂU TÌNH”
Một vài đối tượng cực đoan, phản động ở nước ngoài, từ đầu tháng 8-2018 đến nay, trên nhiều trang web, mạng xã hội đã đưa ra cái gọi là phát động cuộc “Tổng biểu tình toàn quốc vào dịp 2-9”. Chúng hô hào, vu cáo rằng “Luật An ninh mạng, Luật Đặc khu và nhiều đạo luật là “hành dân”, “hại nước”… nên cần phải có một đợt “tổng biểu tình”. Chúng kêu gọi “ngày 2-9, cả nước xuống đường” và hướng dẫn các thủ đoạn như làm kẹt xe, tạo sự tê liệt toàn thành phố, thậm chí phá cầu, chiếm công sở, đốt xe cộ, Quốc kỳ, dùng gạch đá, bom xăng… Chúng đưa ra những mỹ từ như yêu nước, tự do, nhân quyền, hạnh phúc để kêu gọi người dân làm những việc như: Viết bài nói xấu Đảng, Nhà nước trên mạng xã hội; chia sẻ hình ảnh, clip sau khi tham gia.
Kêu gọi “tổng biểu tình” không phải là chiêu trò gì mới. Chúng đã nhiều lần sử dụng hình thức này để lôi kéo, kích động người dân song đều thất bại, chỉ lôi kéo được một số ít người nhẹ dạ, cả tin hoặc cực đoan tham gia. Những chiêu trò không mới này gắn với một thủ đoạn chống phá lâu dài, nhằm tạo ra những điểm nóng chính trị-xã hội, từng bước kích động, lôi kéo, gây rối, phá hoại hòng tạo cớ gây ra bạo loạn chính trị theo mô hình cách mạng đường phố, “cách mạng hoa nhài”…
Lôi kéo, kích động người dân vào dịp 2-9 vửa qua, các thế lực thù địch có ý đồ rất nham hiểm hòng tạo ra điểm nhấn sự kiện … Chúng cũng nhằm đúng vào dịp kỷ niệm Ngày Quốc khánh, Tết Độc lập để công phá vào những giá trị tinh thần, niềm tự hào lớn lao của đất nước, hòng phủ nhận ý nghĩa thiêng liêng của hòa bình, độc lập, tự do, làm mơ hồ nhận thức của thế hệ trẻ.
Nhưng chúng đã lầm. Dịp 2-9 hằng năm cũng là dịp cả đất nước, cả dân tộc hân hoan, náo nức mừng đón Tết Độc lập. Đó cũng là dịp thường có những ngày nghỉ dài, mỗi người, mỗi nhà có dịp đoàn tụ hoặc đi vui chơi, nghỉ dưỡng. Nhân dân Việt Nam đang được hưởng thụ những giá trị đích thực của hòa bình, tự do, độc lập mà Cách mạng Tháng Tám vĩ đại từ mùa Thu lịch sử 73 năm trước mang lại. Lịch sử đã sang trang, đất nước đã và đang đổi mới từng ngày. Dẫu vẫn còn không ít khó khăn và cả những bất cập, thách thức, hạn chế phải đẩy lùi, khắc phục, nhưng không thể phủ nhận được niềm tự hào, giá trị thực tiễn và tinh thần to lớn của Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2-9. Trong những ngày mùa Thu lịch sử này, thế hệ trẻ còn có dịp được nghe thế hệ cha anh mình, lớp người từ trong nô lệ đã vùng đứng lên năm xưa kể lại bao bài học phải khắc cốt ghi tâm. Đó là bài học về sự đoàn kết, bài học về chớp thời cơ cách mạng, bài học về niềm tin theo sự lãnh đạo của Đảng… Nhưng trong đó, có một bài học vô giá là bài học về sự đề cao cảnh giác, không một chút lơi lỏng để gìn giữ hòa bình, độc lập.
Cuối năm 1945 đầu năm 1946, chính quyền non trẻ ở vào thế “ngàn cân treo sợi tóc” và Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng bao lớp người tiền bối đã tỉnh táo, cảnh giác như thế nào để chèo lái con thuyền đất nước? Trong những ngày gian khó ấy, từng có không ít lời có cánh, những chiếc bánh vẽ được bày ra để lôi kéo, lừa phỉnh, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh và những nhà cách mạng tiền bối đã không mất cảnh giác, không đánh mất sự độc lập, tự chủ. Bài học đó nhắc nhở chúng ta ngày hôm nay phải biết trân trọng thành quả cách mạng của cha ông. Mỗi giây phút hòa bình, độc lập ngày hôm nay đã phải đánh đổi bằng máu xương, nước mắt của biết bao thế hệ, biết bao triệu người Việt Nam yêu nước. Chúng ta không mơ hồ, ảo tưởng để dễ dàng tin theo, nghe theo những lời dối gian, sàm bậy, dù chúng có núp dưới những cái mũ hoa hòe hoa sói lòe loẹt mang danh tiến bộ, thức thời! Bài học nổi tiếng mà V.I.Lênin từng đúc kết: “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nào nó biết tự vệ” vẫn còn nguyên giá trị với chúng ta.
Lời kêu gọi “tổng biểu tình” cùng với những hành vi tán phát thông tin, kích động lôi kéo người dân chính là hành vi vi phạm pháp luật, cần phải bị đẩy lùi và xử lý nghiêm minh. Đặc biệt, không gian mạng phải được gìn giữ, bảo vệ không để kẻ xấu lợi dụng, biến đó thành môi trường phá hoại sự yên bình của đất nước. Mỗi người dân, mỗi cư dân mạng cần kịp thời vạch trần, đấu tranh, tẩy chay và báo cáo kịp thời với cơ quan chức năng những thủ đoạn lôi kéo đó. Đối với các cơ quan pháp luật và chính quyền cơ sở, cần chủ động hơn, kiên quyết hơn để nhanh chóng phát hiện và xử lý nghiêm minh các đối tượng vi phạm; có phương án phòng ngừa, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, không để kẻ xấu thực hiện âm mưu biểu tình, gây rối và kích động phá hoại.
Q.C 504



TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH LÀ CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN Ở VIỆT NAM CHO NÊN Ở VIỆT NAM CHỈ CẦN HỌC TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH LÀ ĐỦ KHÔNG CẦN HỌC CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN
Đại Nguyễn
Chủ nghĩa Mác - Lênin là đỉnh cao của tư tưởng nhân loại; là thế giới quan, phương pháp luận khoa học và cách mạng, hệ tư tưởng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, của các đảng cộng sản và công nhân trên toàn thế giới trong đấu tranh xóa bỏ mọi áp bức, bóc lột, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hồ Chí Minh đi từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin. Đối với Người, đến với chủ nghĩa Mác - Lênin cũng có nghĩa là đến với con đường cách mạng vô sản. Từ đây, Người thực sự tìm thấy con đường cứu nước chân chính, triệt để và được đánh dấu bằng luận điểm nổi tiếng của Người: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”[1].
Đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng của Hồ Chí Minh có bước nhảy vọt lớn: kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản, kết hợp dân tộc với giai cấp, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội; nâng chủ nghĩa yêu nước lên một trình độ mới trên lập trường, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin. Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Chí Minh luôn khẳng định: Chủ nghĩa Mác - Lênin là chủ nghĩa chân chính nhất, khoa học nhất, cách mạng nhất, “muốn cách mạng thành công, phải đi theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và chủ nghĩa Lênin”. Đối với Người, chủ nghĩa Mác - Lênin là cơ sở thế giới quan, phương pháp luận khoa học để giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra. Người không bao giờ xa rời chủ nghĩa Mác - Lênin, Người luôn xem chủ nghĩa Mác – Lênin là cẩm nang thần kỳ, là ngọn đèn soi sáng, đồng thời với đó là kiên quyết chống chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa xét lại.
Như vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin là một nguồn gốc - nguồn gốc chủ yếu nhất, quyết định đến việc hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, là một bộ phận hữu cơ, nền tảng của tư tưởng Hồ Chí Minh. Không thể đặt tư tưởng Hồ Chí Minh ra ngoài hệ tư tưởng Mác - Lênin, hay nói cách khác, không thể tách tư tưởng Hồ Chí Minh khỏi nền tảng của nó là chủ nghĩa Mác - Lênin. Trong nhận thức cũng như hành động không thể nói tư tưởng Hồ Chí Minhchủ nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam, từ đó đưa ra lập luận sai trái rằng ở Việt Nam chỉ cần học tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ không cần học chủ nghĩa Mác – Lênin. Đây là một luận điểm hoàn toàn sai lầm, xuyên tạc bản chất, nguồn gốc, mục đích là nhằm xóa bỏ mối quan hệ giữa chủ nghĩa Mác – Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh, tiến tới hạ thấp vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh trong tương lai gần.
 Từ trước đến nay, đặc biệt Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thức IX của Đảng cũng đã ghi rõ: Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Xét về nguồn gốc quyết định, tư tưởng Hồ Chí Minh bắt nguồn từ chủ nghĩa Mác - Lênin, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh cũng là sự kế thừa, phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, nổi bật là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, cả phương Đông và phương Tây. Và cũng chính Hồ Chí Minh đã từng tỏ rõ thái độ của mình đối với việc học tập, tiếp thu những giá trị của các học thuyết trong lịch sử. Người nói: “Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêsu có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Giê-su, C. Mác, Tôn Dật Tiên chẳng phải đã có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn “mưu hạnh phúc cho loài người, mưu hạnh phúc cho xã hội…Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy”. Điều đó đã minh chứng tư tưởng Hồ Chí Minh là sự chắt lọc, hòa quyện, kế thừa những giá trị, hạt nhân hợp lý của các học thuyết và Người còn góp phần bổ sung, phát triển nhiều luận điểm mới, làm cho kho tàng lí luận thêm phong phú hơn.
Như vậy, chúng ta có thể khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh nằm trong hệ tư tưởng của Mác - Lênin, bắt nguồn chủ yếu từ chủ nghĩa Mác - Lênin, nhưng không hoàn toàn đồng nhất với chủ nghĩa Mác - Lênin, mà là sự tổng hòa, sự kết hợp giữa tinh hoa văn hóa truyền thống Việt Nam, tinh hoa văn hóa nhân loại phương Đông, phương Tây, đỉnh cao là chủ nghĩa Mác - Lênin. Do đó, không thể nói tư tưởng Hồ Chí Minh chínhchủ nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam.
Ngay sau khi tiếp cận được với chủ nghĩa Mác – Lênin (1920), trở thành một đảng viên của Đảng Cộng sản Pháp và của Quốc tế Cộng sản, Hồ Chí Minh đã vạch rõ sự khác nhau giữa thực tiễn của các nước tư bản phát triển ở châu Âu mà C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin đã chỉ ra với thực tiễn Việt Nam - một nước thuộc địa, nửa phong kiến, nông nghiệp, lạc hậu ở phương Đông. Do đó, theo Hồ Chí Minh cần phải có sự bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử phương Đông. Trong Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ gửi Quốc tế Cộng sản, Người viết: “Cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra giống như ở phương Tây... Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được”[2]. Điều này đã khẳng định chủ nghĩa Mác – Lênin không phải bất biến, khuôn mẫu để vận dụng một cách nguyên xi, giáo điều, mà theo Người cần thiết phải bổ sung những luận điểm mới trên cơ sở thực tiễn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước. Có như vậy thì mới làm cho chủ nghĩa Mác – Lênin thực sự phát triển và có giá trị ở tầm cao hơn, sáng tạo hơn gấp nhiều lần.
Chắc hẳn, chúng ta còn nhớ vào ngày 15 tháng 7 năm 1969, nghĩa là chỉ gần 2 tháng trước khi Người qua đời, trong bài trả lời phỏng vấn đồng chí Sác lơ Phuốc ni ơ, phóng viên Báo Nhân đạo (Pháp) về vai trò của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Về phần chúng tôi, chính là do cố gắng vận dụng… một cách sáng tạo, phù hợp với thực tế Việt Nam…mà giành được thắng lợi to lớn…Chúng tôi giành được thắng lợi đó là do nhiều yếu tố, nhưng cần phải nhấn mạnh rằng…trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là Chủ nghĩa Mác-Lênin”[3]. Điều đó đã minh chứng sát thực nhất cho việc nhận thức, vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin của Hồ Chí Minh ở Việt Nam là hoàn toàn có cơ sở căn cứ khoa học.
Việc tiếp thu, vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin của Hồ Chí Minh là cả quá trình gắn với hoạt động thực tiễn hoạt động cách mạng của Người. Người nhấn mạnh rằng, việc học tập, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, trước hết phải nắm vững “cái cốt lõi”, “linh hồn sống” của nó là phương pháp biện chứng; học tập “tinh thần, lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta”.
 Từ những vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận nhất quán của Hồ Chí Minh đối với chủ nghĩa Mác – Lênin đã thể hiện sâu sắc tư duy độc lập, tự chủ, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn quá trình cách mạng ở Việt nam. Người đã vận dụng linh hoạt chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam và đã đưa vào nhiều luận điểm mới, góp phần phát triển phong phú chủ nghĩa Mác – Lênin cho đến tận ngày nay. Vì vậy, cần phải nhận thức đúng các giá trị, tư tưởng, quan điểm của Người và đấu tranh với quan điển sai trái cho rằng: Tư tưởng Hồ Chí Minhchủ nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam. Đây là một luận điểm hoàn toàn sai lầm, nhằm xóa bỏ nguồn gốc tư tưởng Hồ Chí Minh, xóa bỏ mối quan hệ biện chứng giữa chủ nghĩa Mác – Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh, tiến tới hạ thấp vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như nền tảng tư tưởng của Đảng ta hiện nay./.



[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tâp 1, NXB. CTQG – ST, H.2011, tr. 9.
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tâp 1, NXB. CTQG – ST, H.2011, tr. 509.
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tâp 15, NXB. CTQG – ST, H.2011, tr. 589 -590.


PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM CHO RẰNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
CHỈ LÀ SỰ RẬP KHUÔN MÁY MÓC CÁC QUAN ĐIỂM
CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN
                                                                                                   Đại Nguyễn
Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa của dân tộc Việt Nam, Người đã có nhiều cống hiến kiệt xuất vào kho tàng tư tưởng – lí luận của dân tộc và nhân loại. Với mỗi người dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là biểu tượng sáng ngời về đạo đức cách mạng, tấm gương hi sinh, hiến dâng trọn đời cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc; Người còn để lại cho các thế hệ mai sau một di sản tinh thần vô cùng quý báu, đó là tư tưởng của Người. Vậy nhưng trong thời gian gần đây lại xuất hiện một số quan điểm, luận điệu sai trái cho rằng: Không có tư tưởng Hồ Chí Minh, có chăng thì tư tưởng Hồ Chí Minh chẳng quan cũng chỉ là sự sao chép chủ nghĩa Mác - Lênin một cách dập khuôn máy móc; hoặc chỉ là sự khéo tưởng tượng của Đảng Cộng sản Việt Nam mà thôi. Trước những luận điệu xuyên tạc như vậy, mỗi người dân Việt Nam nói chung, mỗi cán bộ, đảng viên nói riêng cần có nhận thức đúng, nắm chắc cơ sở, quan điểm, tư tưởng, cũng như những sáng tạo to lớn của Người để đập tan những hành động sai trái chống phá hiện nay của các thế lực thù địch.
Xét về tư duy, quá trình nhận thức của Đảng, ngay từ rất sớm Đảng ta đã nhìn nhận, đánh giá và chỉ ra sự cần thiết phải học tập, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh và khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là Di sản và tài sản vô cùng to lớn và có giá trị bền vững, lâu dài đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 18/2/1995 của Bộ Chính trị khóa VII khẳng định: “Trong khi giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin trên nhiều vấn đề quan trọng, đặc biệt là lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội ở các nước thuộc địa và phụ thuộc”. Đến Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI cũng chỉ rõ:  “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta”. Điều đó đã minh chứng tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là sự sao chép nguyên xi hay tiếp thu cứng nhắc, giáo điều, sách vở, rập khuôn máy móc. Người tiếp thu trên cơ sở những giá trị với một thế giới quan, phương pháp luận khoa học, để làm cơ sở luận cứ của quá trình cách mạng. Bên cạnh đó Người còn đưa thêm vào nhiều nội dung, luận điểm mới, sáng tạo góp phần phát triển phong phú thêm Chủ nghĩa Mác – Lênin trong điều kiện, hoàn cảnh mới.
Đặc biệt, Hồ Chí Minh đã tiếp nhận những bài học sâu sắc từ Lênin và Cách mạng Tháng Mười Nga nhưng Người không rập khuôn, sao chép máy móc, mà tiếp thu cái tinh thần của Chủ nghĩa Mác – Lênin. Qua luận cương của Lênin, Hồ Chí Minh đã thấy được cái cần thiết cho dân tộc Việt Nam – con đường giải phóng dân tộc. Từ nhu cầu thực tiễn của cách mạng Việt Nam, từ những hiểu biết sâu sắc văn hóa phương Đông, văn hóa Pháp, Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển Chủ nghĩa Mác – Lênin, Người cho rằng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở các thuộc địa không hoàn toàn phụ thuộc vào cách mạng ở chính quốc”, nhân dân thuộc địa có thể đứng lên tự giải phóng chính mình, cuộc cách mạng có thể thắng lợi trước ở một nước thuộc địa… Hồ Chí Minh xem chủ nghĩa Mác – Lênin như là một kim chỉ nam, như cẩm nang cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc và luôn nhấn mạnh rằng cần phải vận dụng sáng tạo “cẩm nang thần kỳ” đó.
Từ phương pháp tiếp cận đúng đắn, khoa học, cách mạng trong kế thừa và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, đồng thời bám sát thực tiễn Việt Nam và thế giới, Hồ Chí Minh đã có những luận điểm sáng tạo góp phần làm phong phú thêm chủ nghĩa Mác – Lênin trong vấn đề cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ dân chủ mới và con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở một nước thuộc địa nửa phong kiến, kinh tế nghèo nàn, lạc hậu. Thể hiện:
Một là, luận điểm về chủ nghĩa thực dân và vấn đề giải phóng dân tộc. Bằng những tác phẩm “Bản chất chế độ thực dân Pháp” (1925) và “Đây công lý của thực dân Pháp ở Đông Dương”, Hồ Chí Minh đã vạch trần bản chất, quy luật vận động, địa vị lịch sử, những thủ đoạn bóc lột, đàn áp, tàn sát dã man của chủ nghĩa thực dân Pháp đối với các dân tộc thuộc địa; nêu rõ những nguyện vọng khát khao được giải phóng và những cuộc đấu tranh của các dân tộc thuộc địa. Sự phân tích về chủ nghĩa thực dân của Hồ Chí Minh đã vượt hẳn những gì mà những nhà lí luận mácxít đề cập đến. Người đã nêu lên những luận điểm sáng tạo: Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa quan hệ chặt chẽ với cách mạng chính quốc, nhưng không hoàn toàn phụ thuộc vào cách mạng chính quốc. Nhân dân các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc “có thể chủ động đứng lên, đem sức ta mà giải phóng cho ta”, giành thắng lợi trước cách mạng chính quốc và qua đó, thúc đẩy cách mạng chính quốc phát triển.
Hai là, khi phân tích xã hội các nước thuộc địa, Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng quan điểm giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác – Lênin một cách sáng tạo. Người tìm thấy con đường duy nhất đúng đắn cho dân tộc, đó là: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”[1]. Theo Hồ Chí Minh, ở Việt Nam cũng như các nước phương Đông, do trình độ sản xuất chưa phát triển nên sự phân hóa giai cấp và đấu tranh giai cấp không giống như ở các nước phương Tây. Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của sự phát triển đất nước”[2]; gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, đặt cách mạng Việt Nam vào quỹ đạo cách mạng vô sản thế giới, nghĩa là Người đã quốc tế hóa những vấn đề của cách mạng nước ta.
Ba là, về chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Hồ Chí Minh khẳng định: Sau khi cơ bản hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ, chúng ta nhất định phải quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Chỉ có xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta mới thực sự giải phóng được dân tộc, xã hội và con người. Đặc điểm lớn nhất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là “từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”[3]. Điều này thực sự là một sáng tạo lớn, có vai trò quan trọng trong thúc đẩy, phát triển kinh tế xã hội của đất nước mà lí luận chủ nghĩa Mác – Lênin chưa có điều kiện chỉ ra.
Bốn là, về Đảng và về công tác xây dựng Đảng. Với một đất nước thuộc địa nửa phong kiến, nông dân chiếm đa số dân cư như Việt Nam, Hồ Chí Minh đã xác định quy luật hình thành của Đảng là “kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước, bản chất của Đảng trong điều kiện một nước nông nghiệp lạc hậu – Đảng là của giai cấp, đồng thời của dân tộc và của nhân dân. Trong khi lí luận chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ ra qui luật hình thành Đảng Cộng sản trên cơ sở hai yếu tố: chủ nghĩa Mác – Lênin và phong trào công nhân.
Năm là, Hồ Chí Minh đã có những cống hiến sáng tạo về tư tưởng quân sự, đặt nền móng cho sự hình thành học thuyết quân sự cách mạng Việt Nam thời hiện đại. Xuất phát từ nhiệm vụ cơ bản, hàng đầu của cách mạng Việt Nam là đánh đổ đế quốc, phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân, ngay từ đầu, Người đã xác định: Phải giành chính quyền bằng bạo lực cách mạng, bằng khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng nếu kẻ thù ngoan cố, không chịu hạ vũ khí. Những tư tưởng quân sự của Người đến nay vẫn còn nguyên giá trị và tiếp tục là cơ sở để Đảng ta xây dựng và phát triển quân đội ta ngày càng vững mạnh, xứng đáng là quân đội của dân, do dân và vì dân.
Sáu là, Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, sau khi cách mạng vô sản thắng lợi, giai cấp vô sản sẽ thiết lập nên nền chuyên chính vô sản. Ở Hồ Chí Minh đã hình thành và phát triển một hệ thống các quan điểm sáng tạo về Nhà nước kiểu mới ở Việt Nam. Người đã vận dụng sáng tạo quan điểm đó vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, một cuộc cách mạng từ giải phóng dân tộc mà phát triển lên. Vì vậy, trong chánh cương vắn tắt (1930), Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Thiết lập chính phủ công nông binh, tổ chức ra quân đội công nông. Tại Hội nghị TW8 (5/1941), Người đề ra chủ trương thành lập “một nước Việt Nam dân chủ mới ấy không phải thuộc quyền riêng một giai cấp nào, mà của chung toàn thể dân tộc”.
Bảy là, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh luôn giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp. Hồ Chí Minh đã có các quan điểm sáng tạo về chiến lược đại đoàn kết dân tộc theo phương châm: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công”. Đường lối của cách mạng Việt Nam là đi từ giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội, kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Động lực cơ bản của toàn bộ sự nghiệp cách mạng đó là đại đoàn kết toàn dân trên nền tảng liên minh công nhân, nông dân, trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Những luận điểm trên đây là những sáng tạo nổi bật trong hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo của Chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; đồng thời cũng là cơ sở khoa học để đấu tranh chống lại với các quan điểm sai trái cho rằng: không có tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam, hoặc có thì cũng chỉ là sự rập khuôn, máy móc, giáo điều, tiếp thu nguyên bản, sao chép của chủ nghĩa Mác – Lênin...
Hiện nay, Đảng và Nhân dân ta đều thống nhất và khẳng định nhất quán: Cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta, nhân dân ta, là cơ sở dẫn đường, chỉ lối cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản vô giá mà Người đã để lại cho dân tộc Việt Nam, Người là tấm gương đạo đức trong sáng, mẫu mực, cao đẹp, kết tinh những giá trị truyền thống của dân tộc, của nhân loại và thời đại. Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là niềm vinh dự và tự hào đối với mỗi người dân Việt Nam hiện nay nói chung và mỗi cán bộ, đảng viên nói riêng./.



[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 3, NXB. CTQG – ST, H.2011, tr.1.
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 1, NXB. CTQG – ST, H.2011, tr.511.
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 12, NXB. CTQG – ST, H.2011, tr.411.

Chủ Nhật, 23 tháng 9, 2018


“CUỘC CÁCH MẠNG” CHƯA TỪNG CÓ TRONG TIỀN LỆ

(ĐCSVN) – Công cuộc tinh giản biên chế gắn liền với tinh thần là gọn đầu mối, rõ trách nhiệm và nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy hành chính sẽ động chạm đến quyền lợi và tâm tư của không ít người. Để thực hiện có chất lượng và thành công thì việc “dùng người” làm sao cho hiệu quả phải được coi là giải pháp "đột phá" đặc biệt quan trọng.
Thông điệp lớn từ hành động cụ thể
“Tinh giản biên chế” là cụm từ được nói đi nói lại quá nhiều, và đây cũng là yếu tố cốt lõi để thực hiện cải cách hành chính hiệu quả. Tuy nhiên, qua một thời gian dài thực hiện vẫn không mang lại kết quả tích cực cho bộ máy hành chính nhà nước, thậm chí lại đi theo con đường ngược lại là chúng ta quyết giảm nhưng nó lại cứ… tăng.
Và chính lý do này đã ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động của bộ máy hành chính, tạo ra sức ỳ, khó kiểm soát cùng áp lực chi ngân sách đang là bài toán “đau đầu” nhiều cơ quan.
Đây cũng chính là một trong những lý do dẫn đến có sự chồng chéo, đùn đẩy trách nhiệm lẫn nhau ở nhiều cơ quan, địa phương; dẫn đến tình trạng người làm việc không tốt cũng không sao, không làm cũng không sao, kéo theo sức ỳ, dẫn đến có ý kiến cho rằng, "1/3 cán bộ, công chức sáng cắp ô đi, tối cắp ô về”. Đó là chưa nói đến tình trạng “cả nhà làm quan”; con ông, cháu cha; thân hữu, cánh hẩu… Vì vậy, việc tìm ra nguyên nhân cùng những giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả bộ máy hành chính thực sự là vấn đề cấp bách.
Thực hiện vấn đề cấp bách này, hiện các bộ, ngành và địa phương trên cả nước đã và đang quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 39-NQ/TƯ ngày 17/4/2015 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “Về việc tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức”; Nghị quyết số 18-NQ/TƯ ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”.
Được coi là “Cuộc cách mạng về tổ chức”, chưa từng có trong tiền lệ, thời gian gần đây, Bộ Công an khi triển khai thực hiện Nghị định số 01 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy đã giảm 6 Tổng cục, gần 60 đơn vị cấp Cục, gần 300 đơn vị cấp phòng. Ở công an địa phương, sau khi sáp nhập 20 đơn vị cảnh sát phòng cháy chữa cháy vào công an tỉnh, thành phố và tinh gọn tổ chức sẽ giảm hơn 500 đơn vị cấp phòng và gần 1.000 đơn vị cấp đội. Nếu tính trên toàn quốc thì có khoảng 800 đơn vị cấp phòng sẽ bị cắt giảm, trực tiếp tác động đến vị trí của 300-400 đồng chí mang quân hàm cấp tướng, cấp tá công an đang tại vị. Và như vậy có người làm trưởng sẽ phải làm phó, có người làm Tổng cục trưởng sẽ phải làm Cục trưởng, còn các Phó tổng cục trưởng cũng phải làm cục phó hoặc điều động nhận nhiệm vụ khác, tương tự như cấp trưởng, phó phòng cũng vậy… Đây có thể nói là quyết tâm chính trị rất lớn, rất đáng ghi nhận của toàn ngành.
Sau Bộ Công an, Bộ Công thương cũng vừa phát đi thông tin về việc thành lập Tổng cục Quản lý thị trường (QLTT) để tinh gọn bộ máy. Cụ thể, tại Trung ương, tinh giản từ 11 đơn vị xuống còn 6 đơn vị (giảm 45,5%). Tại địa phương, lực lượng QLTT cấp tỉnh theo lộ trình đến hết năm 2019 sẽ tinh giản từ 63 đơn vị xuống còn 44 đơn vị thông qua phương án sắp xếp lại một số Cục QLTT cấp tỉnh thành Cục QLTT liên tỉnh. Theo đó, sắp xếp 38 Cục QLTT tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xuống còn 19 Cục QLTT liên tỉnh. Đối với lực lượng QLTT cấp huyện sẽ tiến hành tinh giản tổ chức bộ máy theo lộ trình sắp xếp lại các đội QLTT cấp huyện thành các Đội QLTT liên huyện theo mục tiêu giảm 305 đội, giảm 45% từ năm 2018 – 2020. Việc tinh giản được thực hiện có hiệu lực từ ngày 12/10/2018.
Rồi Bộ Tài chính vừa ban hành Chỉ thị triển khai kế hoạch của Bộ trưởng Tài chính về sắp xếp, sáp nhập chi cục thuế quận, huyện, thị xã, thành phố thành Chi cục thuế khu vực trực thuộc Cục thuế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với mục tiêu tiến tới sẽ sáp nhập 50% chi cục thuế. Bộ Nội vụ cũng chuẩn bị các phương án tham mưu cho Quốc hội sáp nhập hàng trăm xã, hàng chục huyện không đạt các tiêu chí quy định để thu gọn đầu mối… Chính những việc làm cụ thể của các bộ, ngành, địa phương đã mang đến một thông điệp lớn “Có đi mới tới”.
Dùng người – giải pháp “đột phá” đặc biệt quan trọng
Trong lúc nhiều địa phương, đơn vị đang băn khoăn, lúng túng trong việc tinh giản biên chế, sắp xếp lại bộ máy, vậy tại sao Bộ Công an và một số địa phương lại làm được? Và một số cơ quan, bộ ngành đã vạch ra kế hoạch rõ ràng để thực hiện?
Nguyên Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tổ chức Trung ương Lê Quang Thưởng nhận định, việc sắp xếp bộ máy lần này của Bộ Công an là phù hợp với chủ trương chung của Trung ương về tinh gọn bộ máy trong toàn hệ thống chính trị và yêu cầu thực tế của ngành. Từ các nghị quyết Trung ương, Bộ Công an đã trực tiếp xây dựng đề án và thông qua Bộ Chính trị. Việc Đảng ủy Công an Trung ương chủ động nghiên cứu, tiên phong cắt giảm, sáp nhập mạnh mẽ nhất các đơn vị trong ngành, hướng tới bộ máy tinh gọn, chuyên nghiệp thể hiện quyết tâm rất cao.
Thiếu tướng Lương Tam Quang, Chánh Văn phòng, người phát ngôn của Bộ Công an khẳng định: "Đây là một cuộc cách mạng tinh giản bộ máy, thực hiện theo đúng chủ trương nghị quyết của Đảng". Cùng với quyết tâm tinh gọn, cũng cần ghi nhận những kết quả công tác của lực lượng Công an trong xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng, đã xử lý nhiều cán bộ vi phạm pháp luật, bảo đảm nguyên tắc" không có vùng cấm, không có ngoại lệ".
Hà Nội cũng là địa phương được Trung ương đánh giá cao trong công tác tinh giản biên chế và sắp xếp lại hoạt động của các tổ chức, đơn vị hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập. Trưởng Ban Tổ chức Thành ủy Hà Nội Vũ Đức Bảo khẳng định, bài học thành công được rút ra là lãnh đạo từ thành phố xuống cơ sở đã có cách làm khoa học, bài bản, thấu tình đạt lý theo phương châm “5 rõ”: Rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời gian và rõ kết quả; kết hợp làm tốt công tác tuyên truyền đã tạo nên đồng thuận cao, giúp vượt trở ngại để đạt hiệu quả.
Nói như thế không có nghĩa là trong quá trình thực hiện, các đơn vị không gặp khó khăn mà ngược lại, cùng với khó khăn còn có cả những vướng mắc, bất cập nảy sinh cần sự chung tay góp sức của các cấp, các ngành, bởi vì nhiệm vụ tinh giản biên chế động chạm đến lợi ích con người. Bất cứ một sự phân công chưa hợp lý nào cũng có thể khiến người trong cuộc giảm nhiệt huyết và khả năng đóng góp cho tập thể. Chưa kể, tư tưởng cá nhân nếu không nhận thức đúng, nhận thức đủ về sự thay đổi trong sắp xếp tổ chức để tự điều chỉnh mình theo kịp đòi hỏi thực tiễn, thì chính tâm tư riêng sẽ ngáng trở hành động mỗi người, bởi trong quá trình thực hiện còn có cả sự hy sinh sự nghiệp cá nhân của không ít người. Nhưng nếu không “đi” thì làm sao mà “đến”?
Từ câu chuyện tinh giản biên chế, sắp xếp bộ máy theo hướng tinh gọn, hiệu quả của các đơn vị nêu trên cho thấy: Nếu nơi nào thật sự muốn tinh giản biên chế chắc chắn sẽ có biện pháp và sẽ thực hiện được. Không những thế, khi áp dụng các giải pháp phân loại, sàng lọc để loại ra khỏi bộ máy những biên chế không cần thiết, làm cho đội ngũ cán bộ, công chức chất lượng hơn, tinh thông hơn thì những người ở lại chắc chắn sẽ làm việc tốt hơn. Hơn nữa, trong điều kiện hiện nay, việc tinh giản này sẽ có lợi về nhiều mặt. Nó không đơn thuần là giảm về số lượng cán bộ, công chức, giảm chi phí hành chính, giảm ngân sách nhà nước mà là làm cho cơ cấu, số lượng, chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là chất lượng chuyên môn, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp ngày một nâng cao.
Điều quan trọng nữa trong việc cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, tinh giản biên chế là chắc chắn chúng ta dần khắc phục được tình trạng bất cập trong tuyển dụng, quản lý cán bộ là “có vào mà không có ra, có lên mà không có xuống”
Muốn thế, cùng với thực hiện quyết liệt một loạt các giải pháp mà Đảng, Chính phủ đã đề ra như: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, đánh giá đúng năng lực cán bộ, công chức, đẩy mạnh phân cấp phân quyền, xác định rõ vị trí việc làm…, thì nhiều người cho rằng, sự công tâm, trách nhiệm, gương mẫu của người đứng đầu là không thể thiếu. Hay nói cách khác là việc “dùng người” làm sao cho hiệu quả phải được coi là giải pháp "đột phá" đặc biệt quan trọng.
Như dòng sông chảy ra biển lớn, với sự quyết tâm không lùi bước, chúng ta tin chắc công cuộc tinh giản biên chế gắn liền với sắp xếp lại tổ chức, bộ máy sẽ dành được nhiều kết quả. Đó cũng chính là đòi hỏi của sự phát triển đất nước trong thời gian tới./.
Thu Hà
http://www.cpv.org.vn/xay-dung-dang/-cuoc-cach-mang-chua-tung-co-trong-tien-le-498067.html

Thứ Bảy, 22 tháng 9, 2018


SỰ VU CÁO TRẮNG TRỢN CHẾ ĐỘ TIẾN BỘ
Ở VIỆT NAM CỦA VŨ ĐÔNG HÀ
                                                                Trần Trí Nam
Ngày 16/9/2018, trang facebook danlambao đăng tải bài viết “Thức” của bloger Vũ Đông Hà viết tặng Trần Huỳnh Duy Thức (tù nhân chính trị). Thoạt nghe tiêu đề bài viết không ít người lầm tưởng bloger này hướng đến những giá trị cao quý của cuộc sống mà ông ta trải nghiệm. Song điều mà ông ta nói đến mới thật giả dối và trắng trợn. Bởi lẽ, Vũ Đông Hà đã suy diễn câu chuyện về cánh bướm ở Brazil có thể gây bão ở Texas, Mỹ, từ đó bloger này vu cáo chế độ ở Việt Nam là sự tù ngục cho ai đấu tranh đòi tự do, dân chủ. Về bản chất, Vũ Đông Hà đã lợi dụng diễn đàn trên facebook và trang blog của danlambao để nói xấu chế độ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đang xây dựng. Đây là sự vu cáo trắng trợn thành quả của hơn 73 năm tranh đấu từ khi Việt Nam giành được độc lập đến nay.
Rõ ràng Trần Huỳnh Duy Thức đã vi phạm pháp luật Việt Nam, và đã bị cơ quan chức năng ở Việt Nam truy tố, xét xử và công khai trước công luận. Vậy nhưng, Vũ Đông Hà lại cổ súy cho tấm gương của Trần Huỳnh Duy Thức – một kẻ chống đối lại Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam. Thử hỏi, nếu không có con đường cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng do Người sáng lập lãnh đạo nhân dân ta kiên trì đấu tranh giành được độc lập dân tộc, bảo vệ nền độc lập dân tộc và xây dựng chế độ tiến bộ như hiện nay, thì liệu Nhân dân Việt Nam có thoát ra chế độ lệ thuộc? Và sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hơn 30 năm qua đã giành được những thành tựu to lớn, đưa Việt Nam vào nhóm nước có thu nhập trung bình; người dân Việt Nam hiện nay được hưởng mọi thành quả của sự tiến bộ mà chế độ mới tạo ra. Điều này, chắc Vũ Đông Hà và các bloger trên danlambao không thể phủ nhận được. Do đó, dù Vũ Đông Hà và trang facebook danlambao, blog danlambao có cố tình phủ nhận và xuyên tạc, vu cáo chế độ tiến bộ ở Việt Nam, song chắc chắn sẽ chẳng ai tin, vì nó thật bỉ ổi và hoàn toàn đi ngược lại với thực tiễn của lịch sử./.


            DÃ TÂM CỦA TƯ NGHÈO SẼ BỊ THỰC TIỄN PHỦ NHẬN
                                                                Trần Trí Nam
Ngày 20/9/2018, trang facebook danlambao đăng tải bài viết “Súng anh Trọng” của bloger Tư nghèo. Đây là bài viết hết sức phản động và trơ tráo, vi phạm nghiêm trọng pháp luật Việt Nam và cần lên án, bác bỏ cũng như có biện pháp xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật. Trong bài viết, ông ta sử dụng cách châm biếm để nói xấu hình ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Về bản chất, Tư nghèo với dã tâm của một kẻ chống đối chế độ, dùng trang mạng của danlambao để hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Rõ ràng Tư nghèo đã vi phạm Luật số 24/2018/QH14 do Quốc hội Việt Nam ban hành ngày 12/6/2018 về Luật An ninh mạng. Không chỉ vậy, bloger này còn bộc lộ dã tâm của kẻ mất gốc để chống phá sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam. Đây có phải là trách nhiệm một con người được sinh ra ở Việt Nam? Chắc chắn là Tư nghèo sinh ra ở Việt Nam nhưng chỉ là kẻ lười nhác, ăn bám vào sự hỗ trợ của người khác nên dựng ra câu chuyện phiếm mà không một người dân nào ở Việt Nam có lương tri, trách nhiệm có thể chấp nhận được. Bởi vì, ở Việt Nam, mọi người dân đều biết ơn công lao trời biển của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, và sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam những năm gần đây mang dấu ấn sâu sắc của Đảng Cộng sản Việt Nam mà đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Điều này, chắc Tư nghèo và các bloger trên danlambao không thể phủ nhận được. Do đó, dù Tư nghèo và trang facebook danlambao, blog danlambao có cố tình phủ nhận và vu cáo, hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh và các lãnh tụ Đảng ở Việt Nam, thì chắc chắn sẽ chẳng ai tin, vì nó hoàn toàn vô lý và đi ngược lại với thực tiễn của lịch sử./.

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...