Thứ Sáu, 24 tháng 8, 2018


Đặng Xương Hùng – một Bùi Tín thứ hai

Sau bài viết về Bùi Tín,nhiều người nhắn tin hỏi tôi liệu rằng hiện nay còn bao nhiêu những kẻ như Bùi Tín đang tồn tại. Xin trả lời là không phải ít, nhưng cái tên được nhắc đến nhiều nhất phải kể đến là Đặng Xương Hùng.
Về gốc gác tên này, tôi xin đưa ra một vài thông tin sau: Đặng Xương Hùng sinh ngày 13/9/1961, tại số nhà 172 Bà Triệu- Hà Nội.Sinh ra và lớn lên trong một gia đình căn bản, Đặng Xương Hùng đã được nhà nước cho hưởng quá nhiều đặc ân với 2 nhiệm kỳ công tác ở Đại sứ quán Việt Nam tại Campuchia, được Bộ Ngoại Giao cho đi học ở Đại học Victoria University, Wellington, Newzealand. Năm 2008, Xương Hùng được nhà nước tin cậy bổ nhiệm làm lãnh sự Ngoại giao tại Thụy Sĩ, một địa bàn được coi là có nhiều thuận lợi cho những người đi sứ. Cùng với Hùng, vợ và 2 đứa con Đặng Hùng Linh và Đặng Khánh Linh đều đã được nhà nước tạo điều kiện sang Thụy Sĩ theo chế độ ngoại giao, được nuôi và ăn học tại Thụy Sĩ bằng tiền thuế của nhân dân.
Thấy cuộc sống sung túc nơi xứ người, Hùng đã toan tính cho mình một cuộc sống riêng tại Thụy Sĩ. Có điều cái cách mà Hùng đánh đổi thì thật quá đau lòng với y và với các thành viên gia đình. Năm 2012, hết nhiệm kỳ Đại sứ tại Thụy sĩ, Hùng về nước và được bổ nhiệm làm vụ phó – Bộ Ngoại giao. Tuy nhiên Hùng vẫn thuê nhà tại Thụy Sĩ để vợ của mình ở lại chăm sóc hai con đang theo học tại Thụy Sĩ. Hùng bí mật bán nhà riêng tại số 6, ngách 4, Ngõ 295 Thụy Khuê, Hà Nội để mua căn nhà riêng tại Thụy Sĩ. Rồi sau đó y nói dối cơ quan là xin nghỉ phép rồi trốn sang Thụy Sĩ. Hết phép vẫn không thấy y đi làm, nhiều ngày sau đó cơ quan chủ quản là Bộ Ngoại giao mới biết rằng Hùng đã trốn sang Thụy Sĩ.
Căm phẫn nhất phải kể đến đoạn Hùng xin ở lại tị nạn. Để chứng minh mình là nạn nhân của chính quyền, Đặng Xương Hùng đã tìm cách xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền nhằm tìm kiếm cơ hội được tỵ nạn chính trị. Thậm chí, để thực hiện mục tiêu của mình, Đặng Xương Hùng còn bôi xấu chủ tịch Hồ Chí Minh: “Gần đây những bí mật của ông Hồ Chí Minh đã bị phơi bày. Ông Hồ Chí Minh đã bị nghi ngờ là một người Trung quốc, có tên là Hồ Tập Chương, do Quốc tế cộng sản dựng lên, thay thế cho Nguyễn Ái Quốc, người đã chết năm 1932.Mọi niềm tin đã bị đánh cắp. Tôi tuyên bố ra khỏi đảng.” Kể từ đó đến nay, Đặng Xương Hùng thường xuyên có những bài viết, lời nói xúc phạm, phỉ báng dân tộc, đất nước, vu cáo Việt Nam.
Bán anh em, bán bạn bè, bán cả lý tưởng của mình, chẳng biết còn lại gì cho Đặng Xương Hùng nơi đất khách quê người. Chỉ biết cũng giống như Bùi Tín, đến tận ngày hôm nay, Hùng vẫn phải mài lưng ra viết bài chống Cộng để hòng kiếm được vài đồng tiền nơi đất khách quê người.
Đối với y, một cái kết như của Bùi Tín chắc không xa!
Lê Dung Anh
Nguồn: http://ngheanthoibao.com/dang-xuong-hung-mot-bui-tin-thu-hai/


PHONG CÁCH TÔN ĐỨC THẮNG
Phong cách Tôn Đức Thắng được hình thành và hoàn thiện từ tinh hoa dân tộc mà cốt lõi là văn hóa Nam Bộ với quá trình tu dưỡng, hoạt động trong phong trào công nhân, đặc biệt là chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin, lý tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh. Phong cách Tôn Đức Thắng là tài sản tinh thần to lớn, quý giá của Đảng và dân tộc ta, góp phần vào thành công của sự nghiệp cách mạng.
1. Chất Nam Bộ  với phong cách Tôn Đức Thắng
Truyền thống văn hóa, lịch sử của Long Xuyên nói riêng, Nam Bộ nói chung đã hun đúc lòng yêu nước và tinh thần cộng sản cho người thanh niên Tôn Đức Thắng. Nam Bộ là vùng đất mới, vùng cửa sông giáp biển tạo nên những đặc thù. Trong quá trình khai phá vùng đất mới hoang vu hiểm trở, con người đồng bằng sông Cửu Long rũ bỏ được tư tưởng bảo thủ để sống thực tế hơn, rộng lượng hơn trong sinh hoạt và giao tiếp xã hội. Lấy hiệu quả làm thước đo, họ ít lý thuyết kiểu giáo điều mà kiên cường, khí phách hiên ngang, dũng cảm, tự lập; linh hoạt ứng phó, dám thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh, thích nghi nhanh, dám nghĩ dám làm. Tinh thần anh dũng “trọng nghĩa khinh tài”, nghĩa khí trở thành tập tục, nếp sống, triết lý sống: “Kiến nghĩa ninh cam bất dũng vi”(1) (việc nghĩa phải làm không kể thành bại). Một trong những đặc điểm nổi trội của chất người Nam Bộ là vì nghĩa. Nghĩa là lẽ phải, điều phải, điều phải làm, không kể điều ấy lợi hay hại cho ta. Nghĩa là đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng, vì đại nghĩa mà dám hy sinh cá nhân cho đất nước(2). Tinh thần quật khởi mang hào khí, dấu ấn Nam Bộ biểu lộ một thái độ hiên ngang, có ý thức xả thân vì nghĩa khí. Nhờ đó mà nhân dân đồng bằng sông Cửu Long giữ được tinh thần quật khởi mang dấu ấn Nam Bộ. Những địa danh Cao Lãnh, Mười tám thôn Vườn Trầu, Đồng Tháp, U Minh, Củ Chi, Hòn Đất, v.v.. là những thành đồng, vách sắt, vừa ghi lại những sự tích oai hùng của dân tộc, vừa qua đó toát lên khí phách hiên ngang, bất khuất của con người đồng bằng sông Cửu Long. Lòng yêu nước, tinh thần anh dũng, bất khuất “thà chết được tự do hơn sống làm nô lệ” kiểu Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Thủ khoa Huân cùng hàng trăm cuộc khởi nghĩa đã đắp bồi lòng yêu nước thương dân, một cơ sở hình thành phong cách Tôn Đức Thắng.
Tuổi học trò, Tôn Đức Thắng (thường gọi Hai Thắng) là một thiếu niên thông minh, thích nghe thơ văn và chuyện lịch sử. Thầy Năm Khách (Nguyễn Thượng Khách) thường kể cho Hai Thắng nghe những câu chuyện về tấm gương yêu nước, như: Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân, Đốc Bình Kiều, Thiên Hộ Dương… Thầy còn đọc thơ của các chiến sĩ trong nhóm Đông kinh Nghĩa thục cho Thắng nghe. Một trong những đức tính quý của trò Hai Thắng trong những giờ học là nêu nhiều câu hỏi liên quan đến người Pháp có mặt ở Việt Nam, việc người Pháp giết người, thu thuế, bắt dân mình đi xâu. Có những câu hỏi chung, như: nước Pháp ở tận đâu? Họ có bị nước khác đến cai trị như nước mình không? Họ có làm ruộng, làm thợ như nước mình không? Qua những câu hỏi, thầy Năm Khách nhận xét Hai Thắng là một học trò không chỉ hiếu học mà còn thông minh. Cách hỏi cho thấy trò Thắng bước đầu có suy nghĩ độc lập về thời cuộc, về cái đúng, cái sai. Từ đó, thầy Năm Khách tiếp tục bồi dưỡng Hai Thắng bằng cách cho mượn và hướng dẫn những sách cần đọc. Lòng say mê học tập, ham hiểu biết của Hai Thắng mỗi ngày được nung nấu thêm, bộc lộ dần tính cách riêng.
Sau khi học xong bậc tiểu học ở Long Xuyên, vừa không có điều kiện học tiếp bậc trung học, vừa do ngọn lửa yêu nước thôi thúc, Hai Thắng đã quyết định đi tìm con đường mới theo tiếng gọi của trái tim mình, mà sau này lịch sử đã chứng minh đó là “phương hướng tốt, hợp thời đại”(3). Nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng nhận xét “Tôn Đức Thắng lên Sài Gòn không phải hoàn toàn chỉ với hành trang của một nông dân giống như một nông dân Nọc Nạn hay Càng Long. Đã có một cái gì đó chớm nở trong đầu Tôn Đức Thắng”(4).
“Cái gì đó” mà Trần Bạch Đằng nói tới là khi Tôn Đức Thắng chào đời nước ta bắt đầu nô lệ nước ngoài. Còn riêng An Giang, cảnh tượng đau lòng diễn ra sớm hơn, từ 1867, tức 21 năm trước khi Cù lao Ông Hổ sản sinh ra nhân vật sau này trở thành tiêu biểu cho tinh thần bất khuất Việt Nam.
“Cái gì đó” là chuyện khởi nghĩa Bãi Thưa ngay trên quê hương An Giang, chuyện Mười tám thôn Vườn Trầu, chuyện Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám.
“Cái gì đó” là ta hiểu Tôn Đức Thắng từ góc độ một người dân miền châu thổ sông Cửu Long tuổi thành niên trùng khớp với những năm đầu thế kỷ XX - nhiệt tâm yêu nước trước bao ngã rẽ và là nhiệt tâm yêu nước của một con người không xuất thân từ vọng tộc thế gia hay từ sĩ phu, một thanh niên con nhà không giàu mà không phải thuộc tầng lớp bần cố nông. “Tôn Đức Thắng, trên ý nghĩa ấy, đại diện được cho số đông nhân dân Nam Bộ, những tầng lớp mà hành động xuất phát từ nhận định của bản thân qua quan sát và tự hòa lẫn vào cuộc sống khi chủ nghĩa thực dân đã đứng vững và khi văn minh công nghiệp lần hồi chiếm lĩnh các điểm mấu chốt trên mặt bằng chính trị, kinh tế, xã hội ở Nam Bộ Việt Nam”(5).
“Cái gì đó” chính là Cù lao Ông Hổ sát thành phố Long Xuyên, không xa Chợ Mới, không xa Cù lao Giêng. Cù lao Ông Hổ nơi Tôn Đức Thắng sinh ra được thiên nhiêu ban cho nhiều ưu đãi nhưng cũng không ít khắc nghiệt, thử thách. Vì vậy, người dân cù lao chịu thương, chịu khó, hiền lành nhưng cũng rất táo bạo, dũng cảm, đoàn kết với một lối sống nhân ái, phóng khoáng. Tức là những yếu tố tác động từ bên ngoài vào nhân dân một vùng sớm khai phá nhờ phù sa đắp bồi và các cù lao phì nhiêu, thuận lợi giao thông, là địa bàn sớm sản xuất hàng hóa từ những sản vật nông nghiệp; là nơi văn hóa phương Tây, qua đạo Thiên Chúa - thâm nhập vào.
Tư chất thông minh, ham học, cứng cỏi, thích bênh vực kẻ yếu ngày càng bộc lộ rõ nét trong con người Hai Thắng khi học ở Trường tiểu học Long Xuyên và trong “địa ngục trần gian” Côn Đảo. Hình ảnh hiên ngang, bất khuất của người tù khổ sai Tôn Đức Thắng trong Hầm xay lúa ở ngục tù Côn Đảo thể hiện phong cách sống, phong cách chiến đấu. Đó mãi mãi là bản anh hùng ca của người cộng sản trước quân thù. Nguyễn Duy Trinh, người bạn tù với Tôn Đức Thắng kể: “Tôi mến phục tinh thần bình đẳng, dân chủ thực sự, tính thật thà cầu chân lý của người đồng chí lớn tuổi. Được gần gũi anh Thắng ở Khám Lớn (Sài Gòn) cũng như sau này ở Hầm xay lúa Côn Đảo, tôi cũng như tất cả anh em bao giờ cũng quý yêu ở đồng chí đức khiêm tốn rất cao, tấm lòng ngay thẳng, độ lượng, ý thức tập thể vững chắc”(6).
2. Phong cách lãnh đạo không tỏ ra là người có quyền lực, ham quyền lực
Anh em, bạn bè, đồng chí phát hiện ra nhiều điều đặc biệt trong phong cách Tôn Đức Thắng. Giáo sư Trần Văn Giàu kể: “Trong nhà Bác ở Hà Nội bao giờ cũng có một chỗ để sửa xe, hình như Cụ “ghiền” máy móc thì phải, xe đạp của con cháu hư hỏng thì Cụ Tôn tự sửa. Là Phó Chủ tịch nước mà Cụ thật bình dị. Cụ thường mặc chiếc áo nâu và việc ăn uống của Cụ cũng bình thường. Khi tôi đến thăm thì vào cửa sau, mà khi ra về bao giờ Cụ Tôn cũng đưa ra tận cửa cái. Cụ Tôn khi là Phó Chủ tịch mà tôi thấy vẫn cưỡi xe đạp. Cụ thường mặc áo nâu, sống hết sức giản dị”(7).
Phong cách Tôn Đức Thắng được nhìn nhận trên nhiều phương diện khác nhau, như: phong cách làm việc dân chủ, tập thể, quần chúng, nêu gương, chu đáo, cẩn thận, ngăn nắp, có mục đích, kế hoạch rõ ràng; phong cách lãnh đạo không bao giờ tỏ ra là con người có quyền lực, ham quyền lực, tự nhận là lãnh tụ.
 Tôn Đức Thắng là người bạn chiến đấu thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là người hoạt động không mệt mỏi trong thực tiễn và rất ít nói về mình. Cuộc đời và sự nghiệp Tôn Đức Thắng tỏ rõ phong cách “mỗi đảng viên và cán bộ phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân; “lãnh đạo là làm đày tớ nhân dân và phải làm cho tốt”(8). Phong cách Tôn Đức Thắng là phong cách “một con người bình thường - vĩ đại”(9). Theo Trần Bạch Đằng, Tôn Đức Thắng không phải là nhà lý luận, nhà tư tưởng hay nhà sáng tác. Tôn Đức Thắng là con người hành động, hành động tiên phong. “Bác Tôn luôn muốn sống như một con người thật bình thường. Chính vì thế, Bác Tôn vĩ đại. Không phải dễ thành bất tử như Bác Tôn - Ủy viên Trung ương Đảng nhiều năm, đứng đầu Mặt trận  đoàn kết dân tộc hàng mấy thập kỷ liền, thay Bác Hồ giữ cương vị Chủ tịch nước - nhưng chưa một lần Bác tỏ ra là con người có quyền lực, ham quyền lực, tự nhận là lãnh tụ. Bác thích vị trí một đảng viên cộng sản như mọi đảng viên, thích vị trí công dân trung thực, lương thiện, cố mang điều tốt, cố mang niềm vui, cố giảm nỗi đau cho đồng bào. Nhớ Bác Tôn, nhớ bài học mà Bác lấy cả đời mình làm mẫu, chính là tìm cái vĩ đại trong cái bình thường của một con người, coi như đơn giản mà cực kỳ phức tạp khó khăn đối với những ai nắm quyền trong tay. Kính chào Tôn Đức Thắng tức kính chào nền luân lý vĩ đại trong cái bình thường, bình thường một cách vĩ đại”(10).
Trên sáu mươi năm đấu tranh không mệt mỏi cho sự nghiệp cứu nước và giải phóng giai cấp công nhân, Tôn Đức Thắng đã tỏ rõ lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng khẳng định: “con người bên trong của Bác Tôn, ở tuổi 90 mà phẩm chất cách mạng kiên cường ở Bác vẫn trong sáng, hồn nhiên. Năm tháng và bão tố có làm thay đổi nhiều về dáng vẻ bên ngoài, nhưng tâm hồn và ý chí cách mạng, tình cảm với đồng bào, đồng chí, sự khiêm tốn giản dị, lòng vị tha quên mình thì không hề thay đổi. Đó vẫn luôn luôn là đức tính của người chiến sĩ cộng sản Tôn Đức Thắng”.
Từ năm 1946, Bác Tôn có nhiều năm hoạt động và sống gần gũi với Bác Hồ, Giữa hai Bác đã hình thành một tình thân ái, gắn bó sâu sắc. “Cũng như Bác Hồ, Bác Tôn là một con người đẹp từ việc lớn đến việc nhỏ, lúc ở Côn Đảo cũng như lúc ở Phủ Chủ tịch. Và cũng như Bác Hồ, Bác Tôn rất vui tính, thích bông đùa, nói ít, làm nhiều, suốt đời hiến dâng nghị lực, tài năng và tâm huyết cho sự nghiệp lớn của nước, của dân”(11).
GS Trần Văn Giàu cho rằng “Cụ Tôn không phải là một nhà lý luận mà là người tiên phong cách mạng, người mà cả cuộc đời dành cho giải phóng giai cấp công nhân và giải phóng dân tộc. Cụ Tôn là người không viết sách. Trên đời lắm người, lắm nhân vật không viết một quyển sách nào mà người đời vẫn nhắc nhở luôn về con người ấy, nhân vật ấy. Cụ Tôn khác với những nhân vật khác ở chỗ, Cụ không có một tác phẩm nào cả, có chăng là chúng ta ghi lại những điều Cụ nói thôi. Tuy nhiên, theo tôi, tác phẩm hay nhất của Cụ chính là cuộc đời của Cụ. Cụ Tôn là một người hành động, một người có lẽ không có ý gì muốn để lại cho đời sau bằng các tác phẩm của mình. Nhưng thực tế Người đã để lại cho đời sau chúng ta rất nhiều “tác phẩm” bằng hành động, bằng việc làm và những lời nói. Đó là những tác phẩm hay hơn nhiều những bài viết”(12).
Được gặp Cụ Tôn nhiều lần ở An toàn khu, một lần duy nhất được chụp ảnh với Cụ, Giáo sư Trần Văn Giàu chia sẻ “đời của Tôn giản dị đến thế thì cần phải có những bài viết hay để nêu lên được tấm gương giản dị của Cụ, làm nhiều, nói ít, không đòi hỏi gì về vật chất, thương anh em, nhất là đồng bào Nam Bộ tập kết ra Bắc, đó là những tấm gương sáng của Cụ Tôn”.
Đồng chí Hà Đăng, khi còn là trợ lý Tổng Bí thư, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Trưởng ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương viết về Tôn Đức Thắng-người bạn lớn của Bác Hồ, kể lại nhiều câu chuyện thú vị về phong cách của Bác Tôn: “Dù là Chủ tịch nước, Trưởng ban Thường trực Quốc hội, Chủ tịch Mặt trận, Bác Tôn luôn luôn sống một cuộc sống khiêm tốn và giản dị, nhân từ và đức độ, trung thực và nghĩa tình, khiến cho mọi lớp tuổi đều nhìn thấy ở Bác một người anh cả, một người cha, một người ông trong gia đình. Chúng ta đã nghe nói nhiều về những chuyện sinh hoạt bình thường của Bác mà cứ như nghe những câu chuyện huyền thoại. Bác được tin có người bạn tù cũ đang công tác ở nông trường Lương Sơn (Hòa Bình), đã tự mình đến thăm mà không chờ bạn đến với mình, bởi Bác nghĩ “có thể bạn bè thấy tôi làm Chủ tịch nước họ ngại nên tôi phải đến gặp trước”. Bác dành một phần tiền lương hàng tháng của mình để nuôi con một cán bộ không may qua đời. Bác tự mình sửa chữa chiếc xe đạp hay chiếc rađiô riêng của mình khi bị hỏng hóc. Bác tự tay chăm sóc người vợ hiền bị bệnh nặng trước lúc lâm chung. Thì giờ ngoài công việc, Bác thường dành cho công nhân, nông dân, cho những bạn bè thân hữu, cho những đồng bào bị hoạn nạn trong chiến tranh. Năm 1957, Bác về thăm nông trang Nam Bộ ở Quý Cao (Hải Phòng), Bác đến từng gia đình hỏi han việc làm ăn, sinh sống”(13).
Những đồng chí đã cùng hoạt động với Bác Tôn thời kỳ bí mật cũng như cùng làm việc với Bác những năm sau này khi Bác là Chủ tịch nước, Trưởng ban Thường trực Quốc hội, hay Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đều thấy ở Bác một phong cách không hề thay đổi. Đó là đức tính, phong cách công nhân khiêm tốn, giản dị, chân thành, hòa mình trong quần chúng. Chủ tịch Tôn Đức Thắng luôn nêu cao tính tổ chức, tính nguyên tắc, việc lớn việc nhỏ, nhất thiết tuân thủ quyết định của tổ chức, của tập thể. Bác thường nhắc nhở, sức mạnh của Đảng là ở tổ chức, toàn Đảng chỉ có một ý chí, một sự đoàn kết nhất trí trên cơ sở đường lối chính trị và những nguyên tắc tổ chức của Đảng.
Phong cách Tôn Đức Thắng không phải tự nhiên mà có, không phải bẩm sinh. Trần Bạch Đằng nhận xét: “Tinh hoa dân tộc, cốt lõi miền đất phóng khoáng và mộc mạc An Giang, tính cách thợ mà thành phố Sài Gòn và cả phong trào công nhân Pháp hun đúc, chủ nghĩa Mác - Lênin, lý tưởng cộng sản, trí tuệ và đức độ của Hồ Chí Minh - tất cả tổng hợp nên một Tôn Đức Thắng, gia tài cả nước, của Nam Bộ và An Giang, sản phẩm của phong trào công nhân thế giới, tiếng vọng đầy kiêu hãnh của Cách mạng Tháng Mười Nga”(14).
Kỷ niệm 130 năm Ngày sinh đồng chí Tôn Đức Thắng là dịp để mỗi chúng ta tự soi lại mình mà hành động, nói đi đôi với làm, làm nhiều, nói ít, tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc.
______________________
(1) Câu nói của Hồ Huân Nghiệp trước khi bị giặc đem ra hành hình.
(2) Đại nghĩa - cứu nước là cái nghĩa lớn nhất theo nhận xét của dân tộc Việt Nam. Chữ Nghĩa, cùng với “đại nghĩa” còn có “tụ nghĩa”, “xướng nghĩa”, tức là tập hợp nhân dân nổi lên chống ngoại xâm; “Ứng nghĩa” tức là những người tòng quân thành nghĩa quân để cứu nước; “khởi nghĩa” là nổi dậy cầm vũ khí giết giặc giành lại chủ quyền như khởi nghĩa Nam Kỳ, khởi nghĩa Bắc Sơn, tổng khởi nghĩa Tháng Tám. Cách mạng, kháng chiến chống xâm lược là chính nghĩa. Chúng ta có nghĩa vụ tồng quân, nghĩa vụ lao động.
(3) Trần Văn Giàu: “Bảy ngọn núi An Giang trong cuộc đời gần trăm năm của cụ Tôn Đức Thắng”, Chủ tịch Tôn Đức Thắng(1888-1980), An Giang, 1988, tr.75.
(4), (5), (8), (9), (10) (14) Trần Bạch Đằng: “Một con người bình thường - vĩ đại”, Tôn Đức Thắng người cộng sản mẫu mực biểu tượng của đại đoàn kết, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.211, 210-211, 210, 215, 215
(6) Con đường cách mạng (Hồi ký nhiều tác giả), NxbThanh niên, Hà Nội, 1970, tr.52-53.
(7) Xem Trần Văn Giàu: “Cụ Tôn đã để lại cho chúng ta “tác phẩm cuộc đời”, Tôn Đức Thắng người cộng sản mẫu mực biểu tượng của đại đoàn kết, Sđd, tr.180-181.
(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.15, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.292.
(11) Phạm Văn Đồng: “Bác Tôn-nhà cách mạng bất tử”, Tôn Đức Thắng người cộng sản mẫu mực biểu tượng của đại đoàn kết, Sđd, tr.26.
(12) Trần Văn Giàu: “Cụ Tôn đã để lại cho chúng ta “tác phẩm cuộc đời”, trongTôn Đức Thắng người cộng sản mẫu mực biểu tượng của đại đoàn kết, Sđd, tr.181.
(13) Hà Đăng: “Người bạn lớn của Bác Hồ”, Tôn Đức Thắng người cộng sản mẫu mực biểu tượng của đại đoàn kết, Sđd, tr.152-153.

PGS, TS Bùi Đình Phong
Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Nguồn: http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/nhan-vat-su-kien/item/2617-phong-cach-ton-duc-thang.html


PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM CHO RẰNG KHÔNG CÓ
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Ở VIỆT NAM
Đại Nguyễn
Trong thời gian qua có nhiều quan điểm chống phá cho rằng không có tư tưởng Hồ Chí Minh, phải chăng có tư tưởng Hồ Chí Minh thì cũng chỉ là sự giả dối, ngụy tạo, thậm chí đó là ý muốn chủ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam muốn xây dựng nên một hình tượng, một học thuyết, tư tưởng kiểu mẫu mà thôi. Từ đó, họ lập luận và đưa ra một số luận cứ trái ngược nhằm chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, cũng như bản chất, tính khoa học, cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh. Xung quanh vấn đề này có rất nhiều quan điểm đòi xét lại và nghi ngờ về giá trị cũng như tầm vóc vĩ đại tư tưởng của Người. Dưới đây là một trong số đó:
1.     Một số quan điểm chống phá đòi xét lại tư tưởng Hồ Chí Minh
Có quan điểm cho rằng: Chủ nghĩa Mác - Lênin muốn áp dụng đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản để xoá bỏ các giai cấp bóc lột; còn tư tưởng Hồ Chí Minh và mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh thì chấp nhận sự tồn tại của các giai cấp, tầng lớp khác nhau và khuyến khích việc làm giàu chân chính. Có quan điểm cho rằng: Hồ Chí Minh là người đạo văn thông quan việc Người thường trích dẫn ca dao, tục ngữ, thường nhắc lại những câu nói của người xưa, nhưng Người không trích dẫn, cho rằng đó là của mình sáng tạo ra. Họ còn thẳng thắn dẫn chứng: Quản Trọng bên Trung Quốc thì viết: Vì lợi ích một năm trồng lúa - Vì lợi ích mười năm trồng cây - Vì lợi ích trăm năm trồng Người. Thậm chí họ còn cho rằng, khẩu hiệu: “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” cũng không phải là tư tưởng của Hồ Chí Minh mà trích từ trong học thuyết Tam dân của Tôn Trung Sơn: “Dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc”. Hay chuẩn mực: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là những tiêu chuẩn đạo đức hết sức cơ bản của Nho giáo đã đưa ra cách đây hàng ngàn năm, chứ không phải của Hồ Chí Minh. Tất cả những lập luận đó, những dẫn chứng đó đều là áp đặt và vô căn cứ, không có cơ sở khoa học, không đủ sức thuyết phục. Mục đích của họ là nhằm hạ bệ thần tượng, bôi nhọ thanh danh, danh dự, uy tín, phẩm giá, nhân cách cao đẹp của Hồ Chí Minh, tiến tới xóa bỏ tư tưởng của Người, xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, cũng như mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Theo họ, trên thế giới, các triết gia và người trí thức thường chỉ đề cập đến Mác - Angghen, Lênin, Stalin, Mao Trạch Đông nhưng chưa ai nghe đến tư tưởng Hồ Chí Minh bao giờ. Họ cho rằng: Hồ Chí Minh là một con người hành động chứ không phải là một lý thuyết gia, một nhà tư tưởng như Đảng Cộng sản rêu rao, tuyên truyền, giáo dục. Theo họ, một hệ tư tưởng phải nằm trong một hệ thống triết học đồ sộ như Mác, Ăngghen…hoặc có một hệ thống tư duy, công trình đồ sộ, xác lập thành một hệ thống. Còn đối với Hồ Chí Minh thì không đưa ra được một hệ thống mới nào; còn nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh ở đây theo họ như là như một tảng băng trôi, nó giống một thứ môn tâm lý học chứ không phải môn khoa học thực sự có tính chất định hướng tư tưởng. Hơn nữa, họ còn cho rằng chính Hồ Chí Minh cũng đã từng nói: Tôi không có tư tưởng nào ngoài tư tưởng Mác - Lênin. Vì vậy, xét trên nhiều phương diện, những quan điểm của Hồ Chí Minh là hoàn toàn trái ngược với Mác - Lênin, cho nên, càng áp dụng nó thì đất nước càng thất bại. Rõ ràng với cách lập luận như vậy là hoàn toàn sai trái, không đúng với bản chất, sự thật và thực tiễn những gì diễn ra, không đúng với những đóng góp to lớn của Người đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam và thế giới; làm ảnh hưởng to lớn đến tên tuổi, sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh cũng như của Đảng ta.
2.     Nhận thức đúng cơ sở khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh
Thứ nhất, về nhận thức chúng ta khẳng định rằng rằng: Tư tưởng Hồ Chí Minh là một khoa học, dựa trên cơ sở lí luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và trở thành ngọn đuốc soi đường cho cách mạng Việt Nam. Độc lập dân tộc thống nhất với chủ nghĩa xã hội là nội dung cốt lõi, xuyên suốt tư tưởng và sự nghiệp cách mạng của Người. Nội dung đó được thể hiện không chỉ ở tư tưởng của Người về dân tộc, về quan hệ dân tộc – giai cấp và cách mạng giải phóng dân tộc; về chủ nghĩa xã hội và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội; về đại đoàn kết dân tộc; về sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về Đảng Cộng sản và xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân mà còn ở tư tưởng đạo đức và văn hoá Hồ Chí Minh. Điều này đã minh chứng rằng: Hồ Chí Minh có tiếp thu những giá trị cốt lõi, bản chất cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin để vận dụng vào thực tiễn Việt Nam, trên cơ sở đó có sự phát triển sáng tạo lớn làm phong phú và có bước phát triển mới; chứ không phải là sự bê nguyên, sự cộng lại của chủ nghĩa Mác – Lênin là thành.
Hơn nữa, tư tưởng của Người còn được toàn Đảng, toàn thể dân tộc ghi nhận, thừa nhận, bảo vệ và phát triển. Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII (tháng 6 - 1991) Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã trịnh trọng ghi vào Cương lĩnh và Điều lệ của mình: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”[1]. Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX (tháng 4 - 2001), một lần nữa, điều đó lại được Đảng ta khẳng định. Sự khẳng định này đã thể hiện bước phát triển mới trong nhận thức và tư duy lý luận, tư duy chính trị của Đảng ta. Chúng ta có thể coi đó là một quyết định có tầm lịch sử quan trọng, đáp ứng được những nhiệm vụ của thực tiễn đổi mới đất nước đang đặt ra, cũng như tình cảm, nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân. Và trên thực tế, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong đời sống tinh thần của xã hội ta, trở thành một bộ môn khoa học được đưa vào chương trình giảng dạy chính thức, trước hết là trong các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp. Vì thế, việc học tập, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh với tư cách một khoa học, có hệ thống để vận dụng và phát triển sáng tạo vào công cuộc đổi mới đất nước hiện nay là rất cần thiết và cấp bách đối với Đảng và Nhà nước ta.
Thứ hai, chúng ta có thể khẳng định rằng, cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí Minh chính là xuất phát từ chủ nghĩa Mác  Lênin. Tư tưởng Hồ Chí Minh thuộc hệ tư tưởng Mác – Lênin mà hạt nhân lý luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Nhờ có thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin mà Hồ Chí Minh đã tiếp thu và chuyển hoá được những nhân tố tích cực, tiến bộ của truyền thống dân tộc và của nhân loại để tạo nên hệ thống tư tưởng của mình. Không có chủ nghĩa Mác - Lênin thì cũng không có tư tưởng Hồ Chí Minh sánh ngang tầm thời đại và có khả năng giải quyết được những nhiệm vụ thực tiễn của cách mạng Việt Nam. Do đó, không thể nói, càng không thể đánh đồng quan điểm: Chủ nghĩa Mác – Lênin chính là tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam, từ đó đi đến kết luận là không có tư tưởng Hồ Chí Minh là hoàn toàn sai trái và không đúng sự thật.
Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác – Lênin từ chủ nghĩa yêu nước được hình thành với một vốn học vấn uyên thâm, một năng lực trí tuệ sắc sảo nhờ phân tích, tổng kết các phong trào yêu nước chống Pháp từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX; với khả năng tư duy độc lập, tự chủ và sáng tạo mà nhờ đó, trong suốt thời gian bôn ba tìm tòi, khảo nghiệm, Người đã hoàn thiện trí tuệ của mình bằng vốn hiểu biết văn hoá, chính trị và thực tiễn cuộc sống phong phú của nhân loại. Khác với các trí thức tư sản phương Tây khác đến với chủ nghĩa Mác - Lênin chủ yếu như đến với một học thuyết nhằm giải quyết những vấn đề về tư duy hơn là hành động, Người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin là để tìm kim chỉ nam cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc, tức là từ nhu cầu của thực tiễn cách mạng Việt Nam. Từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, Người đã tìm thấy con đường giải phóng dân tộc mình và giải phóng tất cả các dân tộc khác. Người tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin theo phương pháp nhận thức mácxít và theo lối “đắc ý vong ngôn” của phương Đông, nghĩa là cốt nắm lấy cái tinh thần, cái cốt yếu, cái bản chất. Người vận dụng lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin để tìm ra những chủ trương, giải pháp, đối sách phù hợp cho cách mạng Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn đòi hỏi.
Thứ ba, tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của sự tổng hòa và phát triển biện chứng tư tưởng văn hóa truyền thống của dân tộc, tinh hoa tư tưởng văn hóa của phương Đông và phương Tây với chủ nghĩa Mác- Lênin làm nền tảng, cùng với thực tiễn của dân tộc và thời đại qua sự tiếp biến và phát triển của Hồ Chí Minh. Thêm vào đó Hồ Chí Minh là một con người có tư duy sáng tạo, có phương pháp biện chứng, có nhân cách, phẩm chất cách mạng cao đẹp tạo nên tư tưởng, nhân cách cao đẹp của Người.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của việc tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Trong suốt cuộc đời, đặc biệt trong quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tìm tòi, học hỏi và tiếp thu có chọn lọc, có phê phán quan điểm của các trường phái triết học, quan điểm tư tưởng cổ kim, đông, tây; tinh thần cách mạng, tinh thần độc lập, tự do của các dân tộc; kinh nghiệm của các cuộc cách mạng... để vận dụng vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, biến các giá trị tư tưởng nhân loại trở thành tư tưởng của mình một cách sáng tạo, hợp qui luật và mang giá trị thực tiễn to lớn. Đặc biệt, Người đã kế thừa, phát triển các giá trị tích cực của Nho giáo, Phật giáo, Thiên chúa giáo, chủ nghĩa Tam dân và văn hóa tư sản...
Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta. Từ chủ nghĩa yêu nước, Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tiếp thu bản chất khoa học và cách mạng của học thuyết này. Từ đó, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin để giải quyết thành công những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Thứ tư, tư tưởng Hồ Chí Minh được xác lập, hình thành qua các giai đoạn đoạn cách mạng. Tư tưởng Hồ Chí Minh không phải tự nhiên mà có, đó chính là quá trình gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh. Đặc biệt, đó không phải là sự lắp ghép hay bê nguyên của các học thuyết trước đó, cũng như không phải đã hình thành ngay một lúc, mà trải qua một quá trình tìm tòi, xác lập, phát triển và hoàn thiện gắn với quá trình hoạt động cách mạng phong phú của Người, gồm 5 giai đoạn: Giai đoạn hình thành tư tưởng yêu nước và chí hướng cách mạng (từ năm 1890 - 1911); Giai đoạn tìm tòi, khảo nghiệm (1911 - 1920); Giai đoạn hình thành cơ bản về con đường cách mạng Việt Nam (1921 – 1930); Giai đoạn vượt qua thử thách, kiên trì con đường đã xác định của cách mạng Việt Nam (1930 - 1941); Giai đoạn phát triển và hiện thực hoá tư tưởng Hồ Chí Minh (1941 - 1969). Đây chính là nội dung, cơ sở quan trọng khẳng định giá trị, nguồn gốc tư tưởng của Người trên cơ sở khoa học và thực tiễn.
Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin ở Việt Nam, phù hợp với lí luận và thực tiễn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Chính vì vậy, chúng ta phải khẳng định một điều chắc chắn rằng: Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi soi đường cho cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đảng ta đã khẳng định lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động là hoàn toàn đúng đắn và hợp với qui luật phát triển./.




[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991, tr.127.


ĐẰNG SAU VIỆC ĐẤU TRANH ĐÒI DÂN CHỦ
 Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Đại Nguyễn
Trong thời gian vừa qua, trên địa bàn trong cả nước xuất hiện một số đối tượng phản động, chống đối, lấy danh nghĩa là “nhà dân chủ yêu nước” đã có những hành động điên cuồng chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Nếu nghe qua rất nhiều người dễ nhầm tưởng đó là những nhà yêu nước, đấu tranh cho lẽ phải, nhưng thực chất chúng chỉ là những tên dân chủ giả hiệu, lấy vấn đề dân chủ để làm tấm lá chắn; từ đó chuyên đi bới móc, xuyên tạc, tô vẽ, dựng chuyện, nói xấu chế độ và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta, nhằm gây hoang mang dư luận, kích động, lôi kéo những người thiếu hiểu biết, nhẹ dạ cả tin tham gia vào các hoạt động chống đối trái pháp luật, gây chia rẽ, đoàn kết nội bộ, làm cho nhân dân hoang mang, dao động, mơ hồ.
Thực chất của vấn đề đấu tranh đòi dân chủ chính là chiêu bài thâm độc của chúng được các đối tượng xấu thường xuyên lợi dụng để tuyên truyền, xuyên tạc, bịa đặt, vu cáo, vu khống quan điếm, đường lối, chủ trương lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta; đồng thời kêu gọi sự ủng hộ từ nước ngoài để phục vụ các mưu đồ chính trị đen tối của chúng. Những tên dân chủ giả hiệu thực chất chỉ là những con bài chính trị tiếp tay cho các thế lực thù địch thực hiện cuộc Cách mạng màu ở Việt Nam mà thôi, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lái Việt Nam đi theo quỹ đạo của các nước tư bản chủ nghĩa.
Qua các kỳ Đại hội của Đảng, Đảng ta nhất quán và đã khẳng định: Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách; xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện rộng rãi với mọi người dân, trong mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi địa phương. Đặc biệt, dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm, dân chủ luôn đi đôi và gắn liền với pháp luật. Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn chăm lo bảo đảm và bảo vệ quyền con người; những thành tựu đạt được là rất to lớn, được nhân dân trong nước cũng như cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Bên cạnh đó, Đảng và Nhà nước Việt Nam cũng kiên quyết xử lý với mọi hành vi vi phạm pháp luật, lợi dụng các quyền tự do, dân chủ của công dân để xâm phạm, làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của quốc gia, dân tộc. Mọi công dân đều có quyền bày tỏ chính kiến của mình, có quyền tự do dân chủ nhưng không có nghĩa là “dân chủ quá trớn”, mà các quyền này phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật và được pháp luật cho phép thực hiện.
Từ cách tiếp cận như trên, chúng ra không khó để nhìn ra bản chất của những người gọi là đấu tranh cho dân chủ, không phải đấu tranh để đòi quyền lợi, lợi ích hợp pháp cho nhân dân như trước kia mà cha ông ta đã từng làm. Còn nhìn vào thực tế hoạt động của những người tự nhận mình là đấu tranh cho dân chủ, cho cái gọi là lẽ phải ở Việt Nam, thực chất đó là những chiêu bài để kích động, gây rối nhằm thực hiện những mục tiêu chính trị đen tối. Về thực chất đằng sau những phong trào đó không hề xác định hay hướng tới một giá trị dân chủ đích thực, không hướng tới quyền lợi của quần chúng nhân dân. Để trở thành những  nhà dân chủ theo họ chỉ cần viết một, hai đơn từ kiện cáo hoặc nói xấu cán bộ lãnh đạo hay một cơ quan Ðảng và Nhà nước là trở thành nhà đấu tranh dân chủ. Ðặc biệt, đối với họ, đấu tranh dân chủ không phải là mục đích mà là chiêu bài, là nghề để kiếm sống, nuôi sống bản thân, là hưởng lợi từ tiền hỗ trợ của các hội, đoàn, nhóm chống phá ở nước ngoài: như tổ chức khủng bố Việt tân, khối 8406, quỹ người thương, ủy ban cứu người vượt biển,...Như vậy, về bản chất, họ đang đi ngược lại quá trình dân chủ, vì dân chủ thật sự phải xuất phát từ nguyện vọng chính đáng của mọi người dân, chứ không buộc người dân đi theo quan niệm mà thực chất chỉ là một phong trào phản dân chủ mà thôi.
Lợi dụng vào một số thiếu sót trong quá trình lãnh đạo và quản lý đất nước, một số người tự coi mình là nhà dân chủ, xem đây là cơ hội để vu cáo chính quyền, đưa ra các luận điệu vô căn cứ để tuyên truyền chống phá Đảng và Nhà nước ta. Do đó, hơn ai hết mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta phải có thế giới quan khoa học, đánh giá, phân tích, nhận diện, phân biệt đâu là người yêu nước chân chính, đâu là nhà hoạt động xã hội có ý thức trách nhiệm và đâu là người đang mượn danh nghĩa dân chủ để cản trở sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta; từ đó để có biện pháp đấu tranh loại bỏ. Và đối với chúng ta, một nền dân chủ thật sự chỉ đến từ các công dân có tinh thần tự chủ, yêu chuộng hòa bình, gắn bó với cộng đồng dân tộc bằng tinh thần nhân văn, luôn biết kết hợp hài hòa giữa lợi ích của chính mình với lợi ích mọi người và lợi ích của toàn dân tộc – đó mới là điều cốt lõi./.


Thứ Hai, 20 tháng 8, 2018


ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC LÀ CHIẾN LƯỢC NHẤT QUÁN CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ CÁCH MẠNG
Khánh Anh
Thời gian gần đây trên trang Dân làm báo, bút danh Phạm Đình Trọng có bài viết “Không thể có hòa giải khi cái ác còn ngự trị”, trong đó có đoạn “…, người đứng đầu hội Nhà Văn của Đảng Cộng sản Việt Nam đánh tiếng mời gọi các nhà văn người Việt ở nước ngoài về nước mở hội hòa giải, hòa hợp dân tộc vào dịp giỗ Vua Hùng và 43 năm ngày thống nhất đất nước”…, với mục đích “góp phần làm giàu các giá trị truyền thống của dân tộc, xứng đáng để chúng ta vượt qua mọi xa cách và trở ngại, cùng ngồi lại với nhau trong tình đồng nghiệp” (trích nội dung thư mời của Hội nhà văn Việt Nam). Nếu chỉ như vậy thì không phải bàn luận gì thêm. Nhưng vì mục đích chia rẽ đoàn kết, hòa hợp dân tộc bằng sự kích động hận thù dân tộc mà Phạm Đình Trọng đã cố tình xuyên tạc, phủ nhận mục đích nhân văn, nhân đạo của Hội nhà văn Việt Nam tổ chức cuộc gặp mặt này với những cáo buộc rằng: “làm giàu các giá trị truyền thống của dân tộc chỉ là cách nói văn vẻ, hoa mỹ và sáo rỗng, cách nói né tránh, lừa mị, giấu ý đồ thực vốn là thuộc tính của những người cộng sản”. Thật thô thiển khi Phạm Đình Trọng còn viết: “Nếu gặp để làm lành, gặp để hòa giải và phục thiện thì dù là cuộc gặp của cái ác với nạn nhân của cái ác cũng đáng gặp và cần gặp. Nhưng có phải gặp để làm lành, để hòa giải, để cái ác phục thiện?”. Đây là dã tâm gieo rắc hận thù của Phạm Đình Trọng.
Vì sao? Chúng ta đều biết, kể từ khi có Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo cách mạng Việt Nam, lòng yêu nước và sự nhân ái của nhân dân luôn được coi trọng như nền tảng tinh thần cho sự đoàn kết, hòa hợp dân tộc. Minh chứng là, ngay sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, trong khi phải lo đối phó với thù trong, giặc ngoài, trước những lo lắng của đồng bào cả nước, nhất là đồng bào Nam Bộ khi biết tin Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ cùng đoàn đại biểu Nhà nước Việt Nam sang Pháp để mở cuộc đàm phán chính thức, nên trong thư gửi đồng bào Nam Bộ (01/06/1946) Người viết: “đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ. Có như thế mới thành đại đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc sẽ vẻ vang”. Nội dung bức thư đã thể hiện rõ tư tưởng đoàn kết, hòa hợp dân tộc, nhất là lòng nhân ái, khoan hồng đại độ của Người trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.
Tư tưởng đó tiếp tục được Đảng, Nhà nước Việt Nam vận dụng thực hiện trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, đặc biệt khi đất nước đã hoàn toàn giải phóng, Nam Bắc thống nhất một nhà. Bước vào thời kỳ đổi mới, bám sát tình hình và nhu cầu thực tiễn, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã kịp thời xác định nhiều chủ trương, chính sách về đoàn kết, hòa hợp dân tộc. Hội nghị Trung ương 7 khóa IX đã ban hành Nghị quyết 23-NQ/TW vào ngày 12/03/2003 về “phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”; Nghị quyết 24-NQ/TW về“công tác dân tộc”; đặc biệt Nghị quyết 36-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về“công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài”,khẳng định: Người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời và là nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nước ta với các nước. Đây là quan điểm định hướng chiến lược làm cơ sở thống nhất về nhận thức, tư tưởng, tổ chức, chính sách để thực hiện đoàn kết, hòa hợp dân tộc. Cho đến nay, những định hướng đó đang từng bước được hiện thực hóa.
Đại hội lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định sự nhất quán các quan điểm, chủ trương của Đảng về đoàn kết, hòa hợp dân tộc, trong đó xác định: “Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh làm điểm tương đồng; xóa bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; truyền thống nhân nghĩa, khoan dung đề cao tinh thần dân tộc, để tập hợp mọi người vào mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã hội”. Tại Đại hội XII, Đảng ta một lần nữa khẳng định: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc…; lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” làm điểm tương đồng; tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia - dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước…”.
Dẫn ra những quan điểm chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam về đoàn kết, hòa hợp dân tộc để thấy rằng, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm xây dựng, củng cố, tăng cường đại đoàn kết dân tộc. Vì vậy, Phạm Đình Trọng cho rằng: “Đảng cộng sản cầm quyền chưa hòa giải được với người dân trong nước đang đóng thuế nuôi nấng Đảng làm sao Đảng cộng sản có thể hòa giải được với người dân phải bỏ nước ra đi chạy trốn cái ác cộng sản”. Đây là sự cố tình xuyên tạc sự thật về chính sách đoàn kết, hòa hợp dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm mục đích kích động hận thù dân tộc, cần phải được vạch trần và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ./.


ĐẤU TRANH CHỐNG XUYÊN TẠC,
HẠ BỆ THẦN TƯỢNG HỒ CHÍ MINH
Khánh Anh
Không phải đến bây giờ, mà đã từ lâu, các thế lực thù địch đã luôn xuyên tạc, bôi nhọ cả về thân thế, sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh; cho rằng, Hồ Chí Minh có tiểu sử không rõ ràng, đạo đức thấp kém, không phải là nhà tư tưởng, nếu có thì đó là tư tưởng dân tộc chủ nghĩa cực đoan, không mang bản chất, thậm chí đối lập với chủ nghĩa Mác – Lênin, chỉ lý thuyết, giáo điều, v.v. Và rằng, Hồ Chí Minh không có di sản nào, thay vào đó là những “di họa”. Chúng xuyên tạc, chống phá những di sản trực tiếp mà Hồ Chí Minh để lại, từ tư tưởng - sự nghiệp giải phóng dân tộc, cách mạng xã hội chủ nghĩa, cho đến những giá trị và chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người.
Có thể khẳng định, chúng không từ âm mưu, thủ đoạn nào để hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh. Vì vậy, đề ra giải pháp đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của chúng có ý nghĩa vô cùng cấp thiết, là trách nhiệm chính trị, đòi hỏi cấp bách của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong tình hình mới
Một là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đây là vấn đề cơ bản, quyết định đến chất lượng bảo vệ, đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Theo đó, cần tập trung làm rõ Hồ Chí Minh từ một người yêu nước, cách mạng chân chính, trải qua hoạt động thực tiễn đã tiếp thu và tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào phong trào yêu nước, phong trào công nhân Việt Nam; là người tổ chức thành lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Người, Đảng đã giương cao ngọn cờ ĐLDT và CNXH, lãnh đạo nhân dân ta giành được những thắng lợi vĩ đại. Điều đó chứng minh rằng, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã thấm sâu vào phong trào cách mạng Việt Nam, tạo nền tảng để kiến tạo thời đại mới của dân tộc Việt Nam - thời đại Hồ Chí Minh.
Ngày nay, trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, đòi hỏi phải tiếp tục làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thấm sâu, trở thành nền tảng chính trị - tinh thần chủ đạo của xã hội. Vì thế, cần có hình thức tuyên truyền, giáo dục phù hợp. Quá trình thực hiện, phải kiên trì, liên tục, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, thiết chế văn hóa từ Trung ương đến địa phương, cơ sở; kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục, tuyên truyền thường xuyên với giáo dục theo chủ đề, chuyên đề, mô hình, cách làm cụ thể, thiết thực, phù hợp với từng đối tượng. Lấy việc nêu gương của đội ngũ cán bộ chủ trì, chủ chốt các cấp thông qua những hành động cụ thể, hằng ngày để thu hút nhân dân cùng tham gia. Đẩy mạnh xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thực hành dân chủ, bảo đảm dân sinh, xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, tạo sức đề kháng vững chắc trong nhân dân. Bên cạnh đó, phải tăng cường tuyên truyền, giáo dục về âm mưu, nội dung, phương thức, thủ đoạn chống phá tư tưởng Hồ Chí Minh của các thế lực thù địch; chủ động trang bị cho nhân dân cách phòng, chống. Đổi mới, đa dạng hình thức tuyên truyền đối ngoại để người Việt Nam ở nước ngoài và nhân dân thế giới nhận thức rõ về sự vĩ đại của Hồ Chí Minh, thông qua việc đào tạo ngành Việt Nam học ở trong và ngoài nước; qua các công trình, đài tưởng niệm, đường phố, trường học, di tích,… về Hồ Chí Minh ở Việt Nam và thế giới để các tổ chức quốc tế, nhân dân thế giới hiểu biết nhiều hơn về Việt Nam và Hồ Chí Minh.
Hai là, nâng cao chất lượng nghiên cứu, phát triển tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, v.v. Vì thế, tiếp tục nghiên cứu, xây dựng nguồn lực thông tin, lý luận đầy đủ, chắc chắn, đúng đắn về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là vấn đề nền tảng trong công tác tư tưởng, lý luận của Đảng, Nhà nước. Thực hiện tốt vấn đề này, không chỉ giúp chúng ta có được những thông tin đúng đắn về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, mà còn loại bỏ các thông tin sai trái, phản động. Nếu không làm tốt nhiệm vụ này sẽ trực tiếp, hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến chất lượng cuộc đấu tranh nói trên; thậm chí, trở thành cái cớ để luận điệu xuyên tạc về Hồ Chí Minh có dịp “bung nở”. Vì thế, cần tiếp tục nghiên cứu, phát triển một cách toàn diện, đồng bộ về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong toàn Đảng và trong xã hội.
Ba là, không ngừng bổ sung, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu xây dựng Đảng, đất nước trong tình hình mới. Cùng với nghiên cứu làm rõ tính cách mạng, khoa học của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, cần bổ sung, phát triển, làm cho tư tưởng của Người có sức sống mạnh mẽ trong hiện thực, trở thành động lực thúc đẩy đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước và mỗi người dân Việt Nam. Đảng ta đã vận dụng chủ nghủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để đề ra đường lối, phương pháp lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cho nên, sức sống của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh nằm trong đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và trong tiềm thức của mỗi người dân Việt Nam. Xây dựng Đảng ta “đạo đức và văn minh”, mỗi cán bộ, đảng viên “vừa hồng, vừa chuyên”, thực sự là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân; đủ khả năng đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn, tổ chức lãnh đạo Nhà nước và xã hội đạt được mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” là đã bổ sung, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Vì thế, các cấp cần đẩy mạnh thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và Nghị quyết Trung ương 7 (khóa XII) về xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; làm tốt công tác nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận, làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh có sức sống mãnh liệt trong đời sống xã hội, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quá trình đó, cần nghiên cứu làm rõ mô hình, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; giá trị đích thực của các nguyên lý, luận điểm mà C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin, Hồ Chí Minh đã khái quát; bổ sung, làm phong phú thêm những vấn đề mà đương thời các ông chưa có điều kiện phát triển, v.v. Qua đó, cung cấp luận cứ khoa học cho cuộc đấu tranh, phê phán những quan điểm, tư tưởng xuyên tạc về Hồ Chí Minh.
Bốn là, cung cấp kịp thời, quản lý hiệu quả nguồn thông tin. Các cấp cần chủ động cung cấp đầy đủ, kịp thời những thông tin chính thống cho nhân dân, kiên quyết không để bị động, đi sau, góp phần triệt tiêu mọi sự xuyên tạc, bóp méo thông tin. Cơ quan tuyên giáo, thông tin, truyền thông và cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần quản lý, kiểm soát chặt chẽ mọi thông tin, đảm bảo mọi thông tin về Hồ Chí Minh đến với nhân dân đều chính xác. Đồng thời, đẩy mạnh định hướng dư luận, phổ biến pháp luật về bảo vệ bí mật Nhà nước; siết chặt quản lý, nhất là ở khâu biên tập nội dung, in ấn xuất bản. Thực hiện tốt Quy chế người phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí. Đặc biệt, trong công tác quản lý cán bộ, đảng viên, phải thực hiện nghiêm túc các quy định, nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, nhất là trong kỷ luật phát ngôn, quản lý tài liệu.
Đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc về Hồ Chí Minh là tình cảm thiêng liêng, trách nhiệm chính trị của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, góp phần tạo sức mạnh tổng hợp của xã hội, sự đồng lòng trong nhân dân, đảm bảo cho cuộc đấu tranh bảo vệ tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người sẽ giành thắng lợi.

Thứ Sáu, 17 tháng 8, 2018


PHẢI CHĂNG CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
KHÔNG PHÙ HỢP VỚI HOÀN CẢNH VIỆT NAM?
                                                        
Trọng Cao
Trong những năm qua, xuất hiện quan điểm xuyên tạc cho rằng: “việc du nhập chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam là nguyên nhân của mọi tai hoạ, đưa đất nước vào vòng tăm tối, trì trệ”.
Rõ ràng, quan điểm trên đây là hoàn toàn sai lầm về mặt khoa học, phản động về mặt chính trị của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Chúng ta, nhất là mỗi cán bộ, đảng viên phải kiên quyết đấu tranh bác bỏ quan điểm sai trái trên.
Thực tiễn đã chứng minh: Đảng Cộng sản Việt Nam hơn ba phần tư thế kỷ qua cũng như hiện nay luôn phấn đấu hy sinh để cốt làm sao cho đất nước được hoàn toàn độc lập, nhân dân được ấm no, dân tộc vươn lên sánh vai với bạn bè năm châu. Chính nhờ được vũ trang bằng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp chặt chẽ với tinh hoa truyền thống dân tộc và nhân loại mà Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta giành được những thắng lợi vĩ đại, làm cho đất nưóc ngày càng phát triển, lập nên nhiều kỳ tích vang dội trong thế kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ XXI. Đó là thực tế. Đó cũng là lý do giải thích vì sao Đảng ta kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin.
Khi bước vào thời kỳ đổi mới, trong nghiên cứu ở nưóc ta có ý kiến e ngại rằng, nếu nói lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nến tảng tư tưởng thì có sợ hạn chế việc phát triển lý luận của Đảng Cộng sản hay không? Hay chỉ cần coi đó là kim chỉ nam cho hành động là đủ vì điều này phù hợp với ý của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin.
Để hiểu đúng vấn đề này, chỉ có một cách tốt nhất là trở về với cách hiểu, cách giải thích, cách vận dụng, cách phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin ở Hồ Chí Minh. Người đã nêu một số ý tổng quát:
- Nắm chủ nghĩa Mác - Lênin là nắm lập trường, quan điểm, phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin.
- Hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin không cần phải nhớ nhiều sách, thuộc nhiều câu chữ của chủ nghĩa Mác Lênin, mà phải dùng lập trường, quan điểm, phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin để giải quyết, vận dụng những vấn đề của cách mạng nước ta và thời đại đang đặt ra.
Lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin là lập trường cách mạng triệt để; quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin là quan điểm khoa học, xuất phát từ thực tiễn, phát hiện quy luật và làm theo quy luật; phương pháp cách mạng của Mác - Lênin là phương pháp biện chứng. Đây cũng là lập trường, quan điểm và phương pháp của tư tưởng Hồ Chí Minh mà chúng ta cần phải nắm vững.
Về quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong những năm đổi mới, chúng ta đã tiến thêm một bước là đặt vấn đề phải phân biệt:
- Những luận điểm nào của Mác - Lênin trước kia đúng bây giờ vẫn đúng và lâu dài về sau tiếp tục vẫn đúng.
- Những luận điểm nào trước kia đúng, nhưng điều kiện lịch sử hiện nay thay đổi, không còn phù hợp, cần phải bổ sung, phát triển hoặc thay đổi.
- Những luận điểm, mà Mác - Lênin đã phát hiện thấy sai và đã sửa.
- Những luận điểm nào của Mác - Lênin mà chúng ta đã hiểu không đầy đủ, hoặc hiểu sai do bản thân chúng ta nghiên cứu không thấu đáo hoặc hiểu theo cách hiểu không đúng của người khác, đảng khác.
Đây là những vấn đề lớn, không thể làm được tất cả ngay một lúc, mà phải dày công nghiên cứu mới dần dần làm sáng tỏ được. Cũng phải trải qua thực tiễn đổi mới ở nước ta cùng với thực tiễn cách mạng các nước và những biến đổi của thế giới mới có thể đi đến những kết luận đúng đắn.

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...