Thứ Tư, 18 tháng 7, 2018


NẮM VỮNG TÍNH QUY LUẬT CỦA SỰ HÌNH THÀNH,
CHỦ ĐỘNG XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG VÀ ĐIỀU KIỆN
 ĐỂ THỰC THI TRONG THỰC TIỄN HỆ GIÁ TRỊ VĂN HÓA,
HỆ GIÁ TRỊ CHUẨN MỰC CON NGƯỜI VIỆT NAM
TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
Tổng kết thực tiễn 30 năm đổi mới toàn diện đất nước, nhận thức lý luận của Đảng ta trong lĩnh vực văn hóa tiếp tục có bước phát triển đột phá khi xác định gắn xây dựng văn hóa với xây dựng con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước với quan điểm phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa. Trong xây dựng văn hóa trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp.
Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9-6-2014, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” xác định mục tiêu chung là xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng tới chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Một trong những mục tiêu cụ thể được Nghị quyết đề ra là hoàn thiện các chuẩn mực giá trị văn hóa và con người Việt Nam, tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, thể chất, tâm hồn, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật, đề cao tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, lương tâm, trách nhiệm của mỗi người với bản thân mình, với gia đình, cộng đồng, xã hội và đất nước.
Để thực hiện mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể trên, vấn đề có ý nghĩa quyết định là nắm vững tính quy luật của sự hình thành và hoàn thiện hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, phát triển bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tính quy luật của sự hình thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội mới là kế thừa, phát huy các giá trị truyền thống, bản sắc dân tộc, kết hợp với tiếp thu chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại. Tính quy luật này là định hướng có tính nguyên tắc cho quy trình xác lập hệ giá trị và chuẩn mực xã hội mới.
Trên cơ sở tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết hội nghị Trung ương 5 khóa VIII “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” và nhận thức sâu sắc quy luật hình thành hệ giá trị chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, trong Nghị quyết số 33-NQ/TW “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, Đảng ta đã xác định những nội dung cốt lõi của hệ giá trị chuẩn mực của con người Việt Nam thời kỳ mới là yêu nước, nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật. Sự khái quát những nội dung cốt lõi của hệ giá trị chuẩn mực con người Việt Nam trên đây vừa phản ánh sự kế thừa các giá trị truyền thống, bản sắc con người Việt Nam, vừa bước đầu có bổ sung, phát triển một số giá trị đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Trên cơ sở những nội dung cốt lõi này cần xác lập hệ giá trị chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ mới, như chuẩn mực giá trị lòng yêu nước hiện nay là có tinh thần tự hào, tự trọng, tự tôn, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí, có khát vọng phát triển đất nước trở thành nước công nghiệp, hiện đại, đoàn kết với nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Nội dung cốt lõi của chuẩn mực lao động trong thời kỳ mới là lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, lao động có kỹ thuật, sáng tạo, có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao; lao động với tinh thần liên kết, hợp tác vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội...
Sau khi cơ bản hình thành hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới, vấn đề có ý nghĩa quyết định là tự giác, chủ động xây dựng môi trường và điều kiện để thực thi trong thực tiễn, hay nói một cách khác để hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị chuẩn mực con người Việt Nam định hướng mục tiêu, phương thức và hành động của mỗi con người, trên cơ sở đó hệ giá trị này tham gia điều tiết sự phát triển của xã hội:
1- Môi trường và điều kiện cơ bản, quan trọng hàng đầu để giáo dục, đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học đó là môi trường giáo dục - đào tạo.
Sau hơn 20 năm thực hiện định hướng chính sách giáo dục và đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII “Về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000”, chúng ta đã đạt được những kết quả rất quan trọng nhưng cũng còn nhiều bất cập, hạn chế, yếu kém cần khắc phục như chất lượng, hiệu quả giáo dục đào tạo còn thấp, nhất là giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp; hệ thống giáo dục đào tạo thiếu liên thông, còn nặng về lý thuyết và nhẹ về thực hành; đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, với sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động, chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc; phương pháp giáo dục, việc thi, kiểm tra, đánh giá kết quả còn lạc hậu, thiếu thực chất, quản lý giáo dục đạo đức còn nhiều yếu kém, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu, một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí vi phạm đạo đức nghề nghiệp; đầu tư cho giáo dục và đào tạo chưa hiệu quả, chính sách, cơ chế, tài chính cho giáo dục đào tạo chưa phù hợp, cơ sở vật chất kỹ thuật còn thiếu và lạc hậu, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Để thực hiện mục tiêu tổng quát về giáo dục - đào tạo, tạo chuyển biến căn bản và mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục đào tạo đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì nhu cầu học tập của nhân dân, giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, tình yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, sống tốt và làm việc hiệu quả, hơn lúc nào hết phải thực sự tự giác, chủ động, tích cực thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04-11-2013, “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”. Phải nắm vững 7 quan điểm chỉ đạo, nhất là quan điểm giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục - đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các ngành học, bậc học. Trong quá trình đổi mới cần kế thừa và phát huy những thành tựu, phát triển những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới; kiên quyết chấn chỉnh những nhận thức và việc làm lệch lạc. Đổi mới phải bảo đảm tính hệ thống, tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp học; các giải pháp phải đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, bước đi phù hợp. Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. Phát triển giáo dục đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học - công nghệ; phù hợp quy luật khách quan; chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng.
Trên cơ sở nắm vững các quan điểm chỉ đạo, cần xây dựng được chương trình hành động thực hiện 9 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, khả thi. Đến nay, Nghị quyết này đã ban hành hơn 4 năm nhưng kết quả thực hiện còn khiêm tốn và bộc lộ không ít bất cập. Tình hình này yêu cầu Đảng cần tiến hành kiểm tra toàn diện việc thực hiện Nghị quyết, tạo các nguồn lực mới cho sự nghiệp đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo. Sau khi Đảng có đường lối, cán bộ là nhân tố quyết định đưa nghị quyết vào cuộc sống. Do đó cần làm rõ trách nhiệm của đội ngũ cán bộ trực tiếp thực hiện 9 nhiệm vụ, giải pháp đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo. Khi 9 nhiệm vụ, giải pháp được thực hiện, môi trường giáo dục và đào tạo mới được hình thành và vận hành thông suốt thì hằng ngày, hàng giờ hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị chuẩn mực con người Việt Nam mới sẽ không ngừng được truyền bá, được bồi dưỡng để thấm sâu vào từng con người, nhất là học sinh, sinh viên. Môi trường học phải thực sự là một trung tâm văn hóa giáo dục - rèn luyện con người về lý tưởng, phẩm chất, nhân cách, lối sống, giáo dục truyền thống văn hóa...
2- Gia đình là tế bào của xã hội, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp chống lại những tác nhân làm tha hóa con người, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do đó trên cơ sở sơ kết 5 năm thực hiện Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030, các cấp, các ngành phải bổ sung chương trình hành động, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ chủ yếu của Chiến lược. 
Công tác gia đình là một nội dung quan trọng trong kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế - xã hội của các cấp, các ngành, các địa phương, các cơ quan, doanh nghiệp, do đó các cấp, các ngành, các địa phương, các cơ quan doanh nghiệp phải gắn chặt thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm với thực hiện các nội dung trong Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam. Trên cơ sở quán triệt, nắm vững mục tiêu xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, các cấp, các ngành, các địa phương, cơ quan đơn vị, doanh nghiệp khi triển khai thực hiện Chiến lược phát triển gia đình cần tập trung làm tốt một số nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, tổ chức giáo dục, tuyên truyền nhằm trang bị kiến thức cơ bản về gia đình cho nam, nữ thanh niên trước khi kết hôn. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần phối hợp chặt chẽ với Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam... để chủ động tổ chức tốt các lớp bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, chống bạo lực gia đình, thực hiện bình đẳng giới.
Thứ hai, tăng cường và tổ chức hiệu quả các hoạt động tuyên truyền và thực hiện Luật Hôn nhân và gia đình, Chính sách Dân số và phát triển, Luật Bình đẳng giới, phong trào xây dựng gia đình văn hóa... nhằm thực hiện đầy đủ các quyền, trách nhiệm của các thành viên trong gia đình, đặc biệt đối với trẻ em, người cao tuổi, phụ nữ có thai, nuôi con nhỏ; trách nhiệm của các gia đình trong việc dành thời gian chăm sóc dạy bảo con cháu, tạo điều kiện cho con cháu phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, đạo đức và tinh thần.
Thứ ba, các ngành phối hợp chặt chẽ với các hội để tổ chức tuyên truyền, bồi dưỡng, nâng cao năng lực của gia đình trong phát triển kinh tế, ứng phó với thiên tai, tạo việc làm, tăng thu nhập và phúc lợi, đặc biệt là đối với các hộ gia đình chính sách, hộ nghèo.
Như vậy, khi các nhiệm vụ của Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 được tích cực triển khai gắn chặt với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, chắc chắn chúng ta sẽ nhận được kết quả tích cực của mối quan hệ biện chứng là mỗi bước tăng trưởng, phát triển bền vững của nền kinh tế - xã hội sẽ gắn liền với sự phát triển gia đình theo hướng ấm no, tiến bộ, hạnh phúc.
3- Xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một nhiệm vụ chiến lược, là khâu đột phá quan trọng, tạo động lực để phát triển nhanh và bền vững, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Nếu cơ chế này được xây dựng, hoàn thiện và hoạt động thông suốt sẽ là môi trường, điều kiện có ý nghĩa quyết định để hình thành, phát triển các phẩm chất tốt đẹp cho mọi người lao động, như tính tích cực, năng động sáng tạo, tính thực tế, tính hiệu quả, tính cạnh tranh lành mạnh, tính chủ động liên kết hợp tác và ý thức thượng tôn pháp luật.
Do đó cần tập trung xây dựng môi trường kinh tế mà trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu đến năm 2020 hoàn thiện một bước đồng bộ hơn thể chế này theo các chuẩn mực phổ biến của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế, trong đó cơ bản phải tiếp tục hoàn thiện thể chế về sở hữu, phát triển các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp. Cơ bản hoàn thiện thể chế phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường (thị trường hàng hóa, dịch vụ, thị trường văn hóa, thị trường tài chính, thị trường khoa học - công nghệ, thị trường bất động sản, thị trường lao động). Cơ bản hoàn thiện thể chế gắn kết tăng trưởng kinh tế với bảo đảm phát triển bền vững, tiến bộ và công bằng xã hội, quốc phòng - an ninh, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. Hoàn thiện cơ chế đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế.
4- Xây dựng môi trường văn hóa trong các cơ quan, đơn vị của hệ thống chính trị phải coi trọng chăm lo xây dựng văn hóa trong Đảng, trong các cơ quan nhà nước và các đoàn thể. Đây là giải pháp quan trọng để xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, là điều kiện cơ bản để bồi dưỡng, giáo dục, huấn luyện xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức, tận tụy hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, có ý thức thượng tôn pháp luật, dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương, tự do cá nhân gắn với trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân.
5- Xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật là xây dựng và phát triển một lĩnh vực rất quan trọng, đặc biệt tinh tế của văn hóa, là nhu cầu thiết yếu thể hiện khát vọng chân - thiện - mỹ của con người, là một trong những động lực to lớn trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam.
Để tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới cần quán triệt sâu sắc 3 quan điểm chỉ đạo để thực hiện đồng bộ các chủ trương, giải pháp trong Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 16-6-2008, của Bộ chính trị “Về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới”, phấn đấu xây dựng văn học, nghệ thuật Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, cần thực sự chăm lo phát triển đội ngũ văn nghệ sĩ có tài năng có tâm huyết gắn bó với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, sáng tạo nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật. Phát triển mạnh mẽ hoạt động lý luận phê bình đồng hành, thẩm định và định hướng cho sáng tạo và tiếp nhận của công chúng. Với nền văn học, nghệ thuật phát triển sẽ là môi trường rất tốt đẹp trực tiếp bồi dưỡng tâm hồn tình cảm xây dựng nhân cách con người Việt Nam đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng về chân thiện mỹ của các tầng lớp nhân dân, phục vụ có hiệu quả sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
Đào Duy Quát 
PGS, TS, nguyên Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương
http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2018/51559/Nam-vung-tinh-quy-luat-cua-su-hinh-thanh-chu-dong-xay.aspx

Chủ Nhật, 15 tháng 7, 2018


VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ “GẮN LÝ LUẬN VỚI THỰC TIỄN, HỌC ĐI ĐÔI VỚI HÀNH” TRONG VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ NGHIÊN CỨU, GIẢNG DẠY LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập lý luận chính trị hiện nay là yêu cầu cấp bách đã được Đảng ta khẳng định trong Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 9-2-2018 của Ban Bí thư. Để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quan trọng này, cần quán triệt và vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về “Gắn lý luận với thực tiễn, học đi đôi với hành” trong nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị hiện nay.
1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về gắn lý luận với thực tiễn, học đi đôi với hành
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, con người muốn cải tạo được thế giới cần phải có những hiểu biết về nó, nhưng những hiểu biết ấy không có sẵn trong con người. Muốn có hiểu biết (tri thức), con người phải tác động vào thế giới khách quan thông qua hoạt động thực tiễn. Trên cơ sở đó con người tích lũy được những tri thức kinh nghiệm. Tuy nhiên, những tri thức kinh nghiệm đó mới chỉ đem lại sự hiểu biết về từng mặt riêng lẻ, bề ngoài của sự vật. Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Sự quan sát dựa vào kinh nghiệm tự nó không bao giờ có thể chứng minh được đầy đủ tính tất yếu”(1). Do đó, để hiểu được tính tất yếu, bản chất của sự vật, con người phải khái quát những tri thức, kinh nghiệm thành lý luận. Thực tiễn là cơ sở góp phần rèn luyện giác quan của con người, làm cho chúng phát triển tinh tế, hoàn thiện hơn. Trên cơ sở đó giúp con người nhận thức hiệu quả hơn, khái quát lý luận đúng đắn hơn. Thông qua hoạt động thực tiễn, con người cũng cải biến chính bản thân, phát triển năng lực, trí tuệ của mình. Ph.Ăngghen viết: “…chính việc người ta biến đổi tự nhiên chứ không phải một mình giới tự nhiên, với tính cách giới tự nhiên, là cơ sở chủ yếu nhất và trực tiếp nhất của tư duy con người, và trí tuệ con người phát triển song song với việc người ta đã học cải biến tự nhiên”(2).
Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác, Hồ Chí Minh cho rằng: “Lý luận là sự tổng kết kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá tình lịch sử”(3). Lý luận được hình thành trên cơ sở khái quát kinh nghiệm thực tiễn, nhưng không phải cứ có kinh nghiệm thực tiễn là có được lý luận. Vì vậy, lý luận không thể ra đời một cách tự phát và luôn luôn phải được bổ sung, hoàn thiện, phát triển bằng tổng kết kinh nghiệm thực tiễn mới, phong phú.
Để tránh tình trạng lý luận không phản ánh đời sống thực tiễn, thiếu tính  khoa học và cách mạng, Hồ Chí Minh đặc biệt nhắc nhở cán bộ đảng viên tránh tình trạng rất dễ mắc phải là lý luận suông, lý luận thuần túy sách vở, xa rời cuộc sống, không có căn cứ, giáo điều, kinh viện. Người chỉ rõ: “Lý luận mà không có liên hệ thực tiễn là lý luận suông”(4).
Về hoạt động thực tiễn và vai trò của lý luận với thực tiễn, Hồ Chí Minh cho rằng, thực tiễn đúng đắn phải được chỉ đạo, soi đường, dẫn dắt bởi một lý luận khoa học, đúng đắn, nếu không thực tiễn sẽ là thực tiễn mù quáng, mò mẫm, mất phương hướng. Người nhắc nhở: “Thực tiễn không có lý luận dẫn đường thì thành thực tiễn mù quáng”(5).
V.I.Lênin đã chỉ rõ: người ta có thể trở thành người cộng sản khi biết làm giàu trí tuệ của mình bằng cách không ngừng học tập để thâu thái vào đầu óc của mình toàn bộ kho tàng tri thức của nhân loại và hiểu biết đó phải dẫn tới cuộc sống và hành động. Hồ Chí Minh cho rằng, học để hiểu biết, để làm việc, học để phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân, học để làm người. Muốn vậy phải có thói quen đem lý luận liên hệ với thực tiễn, đem những lý luận đã tiếp thu được cùng với những kinh nghiệm đã tích lũy được trong đời sống hàng ngày mà áp dụng vào các công việc thực tế.
Với tinh thần đó, Hồ Chí Minh luôn chú trọng đến tính thực tế, bất cứ việc gì cũng phải xuất phát từ yêu cầu thực tế, phải thiết thực. Muốn đạt được kết quả đó thì việc học phải xuất phát từ yêu cầu của công việc và phải học cặn kẽ, thấu đáo. Người mong muốn việc học -  hành, tức là nhận thức - hành động phải đạt tới chỗ thấy cho hết, nhìn cho thấu. Vì vậy theo Người, học tập ở trong nhà trường, trong sách vở chưa đủ, phải học cả trong cuộc sống, học ở người khác…Nội dung học tập cũng phải toàn diện: chương trình học vấn phổ thông, đại học, chuyên môn nghiệp vụ, học tập lý luận Mác - Lênin, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước… Trong đó, việc học tập lý luận Mác - Lênin, đường lối chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước là nội dung quan trọng.
Đề cập đến học tập chủ nghĩaMác- Lênin,Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Chủ nghĩa Mác-Lênin không phải là những giáo điều, không phải là kinh thánh mà là kim chỉ nam cho hành động. Học tập chủ nghĩa Mác-Lênin không phải là thuộc câu, thuộc chữ mà nắm lấy tinh thần và toàn bộ phương pháp để ứng xử với con người và thực hành trong công tác thực tế. Do đó, trong nhà trường,các hình thức và phương pháp tổ chức hoạt động dạy và học từ truyền thụ tri thức, tự nghiên cứu, thảo luận, xêmina, các hoạt động ngoại khóa, thâm nhập thực tế…không phải để cho người học nhận thức được cái hình thức lôgíc của nó là các khái niệm, phạm trù và cái kết luận lôgíc của nó là các nguyên lý, quy luật…, không phải chỉ giúp cho người học có tri thức mà quan trọng,quyết định hơn là làm sao cho người học nắm được phương pháp luận, giúp người học biết dùng phương pháp một cách sáng tạo để tự mình chiếm lĩnh những tri thức vàcó thể “sản xuất” ra những tri thức mới; biết vận dụng lý luận để giải quyết những vấn đề thực tiễn cuộc sống đặt ra.
Như vậy, học tập tư duy Hồ Chí Minh về phương châm học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn, chúng ta càng thấy được vai trò to lớn của lý luận khoa học, trên cơ sở đó mỗi cán bộ, đảng viênphảikhông ngừng học tập, nâng cao trình độ lý luận,thấm nhuần lời dạy của V.I.Lênin “Học, học nữa, học mãi”. Tuy nhiên, khi học tập lý luận không được tuyệt đối hóa lý luận mà phải liên hệ với thực tiễn đất nước và thời đại; phải thấm nhuần lời dạy của Hồ Chí Minh: “Lý luận rất cần thiết nhưng nếu cách học tập không đúng thì sẽ không có kết quả. Do đó, trong lúc học tập lý luận chúng ta cần nhấn mạnh: lý luận phải liên hệ với thực tiễn”(6).
Đối với người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị, học tập tư duy Hồ Chí Minh về học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn là phải tự xây dựng cho mình phương pháp làm việc khoa học, hiệu quả, trong công tác nghiên cứu cần làm giàu lý luận bằng cách tổng kết thực tiễn và vận dụng lý luận phù hợp để giải quyết được các vấn đề cụ thể của thực tiễn.
2. Thực trạng công tác nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị hiện nay
Trong thời gian qua, công tác giáo dục lý luận chính trị đã đạt được những kết quả quan trọng. Nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về ý nghĩa, vai trò và các giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được nâng lên. Ðội ngũ cán bộ, đảng viên có bước phát triển về nhận thức, trình độ, bản lĩnh chính trị và năng lực tư duy. Công tác học tập, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu, vận dụng và phát triển lý luận đã và đang giải đáp nhiều vấn đề thực tiễn đặt ra. Song nhìn chung, chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chưa cao; tri thức kinh điển chưa được coi trọng đúng mức; một số quan điểm, học thuyết của các nhà kinh điển chậm được nghiên cứu, nhận thức một cách đầy đủ và chậm được bổ sung, phát triển để đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Chưa kịp thời phát hiện, nghiên cứu thấu đáo những vấn đề mới về lý luận và thực tiễn trong nước và thế giới. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ chưa bị đẩy lùi. Ðấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình" chưa sắc bén, hiệu quả chưa cao(7).
Nguyên nhân của những hạn chế trên chủ yếu là do chủ thể tham gia quá trình nghiên cứu, giảng dạy, học tập nhận thức chưa đầy đủ về ý nghĩa, vị trí, tầm quan trọng của việc đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy chưa sâu sát, còn có sự chồng chéo, trùng lặp và chậm đổi mới trong nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy, học tập trong đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên. Căn nguyên của tình trạng trên là do sự bất cập, hạn chế trong việc gắn lý luận với thực tiễn, giữa học tập lý luận chính trị với tổ chức thực hiện trong hoạt động thực tiễn. Trong giảng dạy lý luận chính trị và một số hệ đào tạo, bồi dưỡng, cả người dạy và người học chưa gắn chặt lý luận với thực tiễn, còn giảng lý luận chung chung hoặc lựa chọn, xác định vấn đề thực tiễn để liên hệ, minh chứng và diễn giải lý luận chưa điển hình, chưa thực sự phù hợp với nội dung bài giảng và đối tượng học nên chưa cung cấp được những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực tế cho học viên.
Một bộ phận cán bộ, đảng viên không thường xuyên cập nhật những thông tin, hiểu biết mới; chưa có sự trăn trở và sáng tạo trong quá trình học tập mà chỉ học tập lý luận chính trị một cách thụ động nên chưa hiểu thấu đáo các vấn đề nghiên cứu. Tình trạng lý luận xa rời thực tiễn đang diễn ra khá phổ biến ở không ít cán bộ, đảng viên. Trên thực tế, đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay có người am hiểu lý luận, nhưng ít hiểu biết thực tiễn; số khác có hiểu biết thực tiễn, nhưng yếu về lý luận; hoặc là vừa không am hiểu lý luận, vừa xa rời thực tiễn. Số cán bộ, đảng viên vừa am hiểu lý luận, vừa sâu sát thực tiễn không nhiều. Điều đó dẫn đến một số chủ trương, nghị quyết của Đảng được xây dựng chưa phù hợp với thực tiễn, hoặc phù hợp nhưng triển khai vào thực tế chậm và kém hiệu quả, thậm chí xảy ra những sai phạm nghiêm trọng. Tình trạng này gây những hệ lụy không nhỏ cho Đảng, cho Nhà nước và xã hội, làm ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. 
3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu, giảng dạyvà học tập  lý luận chính trị
Một là, tiếp tục đổi mới phương pháp tiếp cận các vấn đề nghiên cứu, phương thức triển khai thực hiện trong công tác lý luận. Khẳng định mạnh mẽ và cụ thể hóa những giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp với thực tiễn nước ta. Trên nền tảng đó, nghiên cứu, xây dựng và phát triển hệ thống lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH của Việt Nam trong thời kỳ mới; làm rõ những vấn đề cần bổ sung, phát triển; tập trung nghiên cứu để giải quyết tốt các mối quan hệ lớn phản ánh quy luật đổi mới và phát triển ở nước ta đã được Ðại hội XII của Ðảng chỉ ra. Làm rõ một số vấn đề nảy sinh trong thực tiễn đổi mới đất nước, từ đó cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Hai là, phát huy dân chủ trong công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, tôn trọng tính sáng tạo và nâng cao ý thức trách nhiệm của nhà khoa học, tăng cường trao đổi, đối thoại trong nghiên cứu lý luận. Hạn chế tình trạng hành chính hóa, cơ chế xin cho, phân bổ chỉ tiêu trong hoạt đông nghiên cứu khoa học, đặc biệt là khoa học lý luận chính trị. Ðổi mới cơ chế và tăng cường đầu tư cho tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận. Rà soát, bổ sung, sửa đổi chức năng, nhiệm vụ các cơ quan, đơn vị nghiên cứu, giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Trong đó, đặc biệt là phát huy vai trò, vị trí của hệ thống trường Đảng; xây dựng các trường Đảng (trường Chính trị) trở thành trung tâm nghiên cứu khoa học, góp phần bổ sung, phát triển đường lối lý luận chính trị cho Đảng.
Ba là, đổi mới mạnh mẽ về nội dung, phương pháp học tập, nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh theo hướng phù hợp với từng đối tượng, phát huy tính tự giác, tinh thần trách nhiệm, thường xuyên tự học tập, tự nghiên cứu để nâng cao trình độ, bản lĩnh chính trị và phương pháp công tác của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là thế hệ trẻ. Tiếp tục đổi mới nội dung giáo trình theo hướng giảng dạy, truyền thụ đầy đủ những nội dung cơ bản, cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cập nhật những học thuyết đương đại, vận dụng sáng tạo, tăng cường liên hệ thực tiễn. Bảo đảm  cho người học vận dụng tốt lý luận vào hoạt động thực tiễn. Cán bộ, đảng viên sau khi học lý luận chính trị phải là những người cán bộ thấm nhuần lý luận và năng động, sáng tạo trong mọi hoạt động thực tiễn.
Bốn là,  từ việc gắn lý luận với thực tiễn, học đi đôi với hành, trong thực tế hiện nay cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo đấu tranh phản bác có hiệu quả, kịp thời các quan điểm sai trái, thù địch. Ða dạng hóa hình thức đấu tranh bảo vệ nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước. Nâng cao chất lượng thực hiện cơ chế phối hợp và trao đổi thông tin, chủ động nắm bắt âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch, đối tượng cơ hội chính trị; chú trọng xây dựng luận cứ đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc, thù địch. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nhân cách trong sáng, tinh thần cách mạng triệt để tiến hành thành công sự nghiệp cách mạng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
____________________
(1), (2) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t. 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.781, 720.
(3, (4), (5), (6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996,  tr.497, 496, 497, 496.
(7) Xem: ĐCSVN: Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 9-2-2018 của Ban Bí thư về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới.

ThS Nguyễn Văn Điều
                                                        Trường Chính trị Nghệ An



TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ ĐỒNG CHÍ CAY XỎN PHÔM VI HẢN VỀ VAI TRÒ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN Ở CÁC NƯỚC THUỘC ĐỊA (THAM CHIẾU QUA CÁCH MẠNG VIỆT NAM VÀ LÀO)

     
Sự thống nhất về tư tưởng của lãnh tụ Hồ Chí Minh và đồng chí Cay xỏn Phôm vi hản về vai trò của Đảng Cộng sản ở các nước thuộc địa như Việt Nam và Lào, chính là cội nguồn cho sự đoàn kết giữa hai Đảng, hai dân tộc trên con đường thực hiện mục tiêu Độc lập-Tự do-Hạnh phúc cho dân tộc và nhân dân hai nước. Cội nguồn tư tưởng đó cần phải được giữ gìn và phát triển trong hiện tại và tương lai trong quan hệ hai nước.   
Nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh và Cayxỏn Phômvihản về vai trò của Đảng Cộng sản ở các nước thuộc địa trên cơ sở tham chiếu với lịch sử Việt Nam và Lào, chúng tôi xuất phát từ hai góc độ sau đây:
1. Từ lịch sử của hai Đảng
Nghiên cứu “Tư tưởng Hồ Chí Minh và Cayxỏn Phômvihản về vai trò của Đảng Cộng sản ở các nước thuộc địa Việt Nam và Lào”, chúng tôi thấy cần thiết phải bắt đầu từ việc đặt tư tưởng Hồ Chí Minh và Cay xỏn Phômvihản vào trong tiến trình lịch sử với mối quan hệ đặc biệt của sự hình thành, phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào.   
Đặt vấn đề như vậy vì đặc điểm nổi bật của tiến trình lịch sử hình thành và phát triển của hai Đảng. Đó là tiến trình lịch sử Hồ Chí Minh tiến hành thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu năm 1930, sau đó, theo yêu cầu của Quốc tế Cộng sản, tháng 10-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương. Từ đây, phong trào cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương. Cho đến năm 1951, Đại hội II của Đảng Cộng sản Đông Dương đã quyết định tổ chức ở mỗi nước một Đảng đại diện cho giai cấp vô sản và dân tộc để lãnh đạo cách mạng cho phù hợp với hoàn cảnh thế giới và điều kiện lịch sử của mỗi nước.
Tiến trình trên chính là một nguồn cội lịch sử hàng đầu để chung đúc và tạo nên những quan điểm chung về vai trò của Đảng Cộng sản ở Việt Nam và Lào của hai lãnh tụ - Hồ Chí Minh và Cayxỏn Phômvihản- trong xây dựng Đảng Cộng sản ở mỗi nước để lãnh đạo công cuộc giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới vì sự nghiệp giải phóng toàn diện con người ở mỗi nước. Cội nguồn đó được minh chứng qua các hoạt động rất nỗ lực của Hồ Chí Minh trong những năm 1928 và 1929, khi Người từ Thái Lan sang Lào để phát triển cơ sở cách mạng và sau khi Người về nước (1941) đã từng bước xây dựng đội ngũ những người cộng sản ở Lào để những người cộng sản Lào trong đội ngũ Đảng Cộng sản Đông Dương thành công trong lãnh đạo Cách mạng năm 1945. Và sau đó, năm 1951, với tư cách là lãnh tụ của Đảng Cộng sản Đông Dương, thông qua Đại hội II của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại chủ trương tổ chức ở mỗi nước một Đảng Cộng sản và đồng chí Cayxỏn Phômvihản đã xác nhận những quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của Đảng Cộng sản trong giải phóng dân tộc ở mỗi nước và đã thành công trong việc tổ chức đội ngũ tiên phong của giai cấp công nhân và dân tộc mang tên Đảng Nhân dân cách mạng Lào.             
Tiến trình lịch sử trên cho thấy, nguồn cội sâu xa của tư tưởng về vai trò của Đảng Cộng sản trong lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc của hai lãnh tụ trong thời đại mới cũng như sự ra đời của hai Đảng, dù có tên gọi và sự hiện diện trong lãnh đạo cách mạng của mỗi Đảng ở từng nước ở những thời điểm lịch sử có khác nhau nhưng đều có một xuất phát điểm. Điểm xuất phát đó chính là tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của Đảng Cộng sản trong cách mạng giải phóng các dân tộc thuộc địa được phát hiện từ những năm 20 của thế kỷ XX và sau này được kế tục, phát triển bởi đồng chí Cayxỏn Phômvihản, với tư cách là đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương (1949), trong việc thành lập và trở thành người đứng đầu Đảng Nhân dân Cách mạng Lào vào năm 1955.
2. Từ tư tưởng Hồ Chí Minh đến tư tưởng Cayxỏn Phômvihản.
Có hai sự kiện lịch sử liên quan đến những quan điểm đầu tiên của Hồ Chí Minh về vai trò của Đảng Cộng sản trong công cuộc giải phóng dân tộc: Một là, đó là nhận thức được tính chất của thời đại mới sau Cách mạng Tháng Mười Nga, Hồ Chí Minh đã đứng trong hàng ngũ của những người cộng sản vào năm 1920 để thực hiện mục đích giành độc lập dân tộc và tự do cho con người Việt Nam; Hai là, chính trên cơ sở nhìn nhận được xu hướng phát triển của nhân loại trong thời đại mới, đặt cách mạng giải phóng dân tộc trong quỹ đạo của cách mạng vô sản, Người đã xác định cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa muốn thắng lợi triệt để phải đi theo con đường cách mạng vô sản.
Việc Hồ Chí Minh trở thành người cộng sản và sự định hướng của Người cho cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa theo con đường cách mạng vô sản có ý nghĩa cực kỳ sâu sắc: giải phóng dân tộc, giành được độc lập mới chỉ là bước thứ nhất của nhiệm vụ giải phóng con người và nó mới chỉ là giải phóng về chính trị nhằm thoát khỏi ách đô hộ, áp bức của chủ nghĩa đế quốc, thực dân; phải tiến tới giải phóng triệt để cho con người trên phương diện xã hội bằng bước tiếp theo là xây dựng xã hội mới tạo ra các điều kiện để thực hiện sự giải phóng toàn diện cho con người bằng xây dựng xã hội mới - xã hội XHCN.   
Với ý nghĩa to lớn đó, những sự kiện cơ bản trên chính là tiền đề về tư tưởng để Hồ Chí Minh xác định cách mạng giải phóng ở Việt Nam muốn thắng lợi triệt để với mục tiêu giải phóng hoàn toàn đối với con người, phải đi theo con đường cách mạng vô sản. Theo đó, mối quan hệ biện chứng mà Hồ Chí Minh chỉ ra là: công cuộc giải phóng dân tộc trong thời đại mới phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đồng thời cũng xác định những nét khái quát, nhưng đặc trưng nhất về vai trò của Đảng Cộng sản trong nhiệm vụ giải phóng con người ở các nước thuộc địa.    
Chính vì vậy, sau khi tìm được con đường giải phóng dân tộc và xác định rõ vai trò của Đảng Cộng sản, thì những nỗ lực hàng đầu trong hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh là tiến hành cuộc vận động xây dựng Đảng Cộng sản ở các nước thuộc địa nói chung và đặc biệt là cho cách mạng Việt Nam nói riêng. Trong quá trình hoạt động đó, cũng như trong tiến trình xây dựng, phát triển Đảng sau khi thành lập, Người luôn nhấn mạnh tới sự cần thiết phải có Đảng Cộng sản để lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới, giải phóng toàn diện con người ở các nước thuộc địa.
Có thể thấy, những quan điểm đó của Hồ Chí Minh trong các bài giảng của Người tại các lớp chính trị đào tạo những chiến sĩ cách mạng đầu tiên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, từ năm 1925 đến năm 1927, mà sau đó được in thành sách Đường Cách mệnh (xuất bản năm 1927), xuất phát từ tình hình thực tế của nhân dân Việt Nam, Người đã bước đầu chỉ ra vai trò cụ thể của Đảng:
Một là, trước tình hình “tư bản và đế quốc chủ nghĩa nó lấy tôn giáo và văn hóa làm cho dân ngu, lấy phép luật buộc dân lại, lấy sức mạnh làm cho dân sợ, lấy phú quý làm cho dân tham. Nó làm cho dân nghe đến hai chữ cách mệnh thì sợ rùng mình”, nên vai trò hàng đầu của Đảng cách mệnh là “phải làm cho dân giác ngộ”(1).
Hai là, các cuộc bạo động của nhân dân ta Trung Kỳ kháng thuế, Hà thành đầu độc, Nam Kỳ phá khám; không có chủ nghĩa, không có kế hoạch, đến nỗi thất bại, nên phải có Đảng để “giảng giải lý luận và chủ nghĩa cho dân hiểu”(2).
Ba là, “Dân vì không hiểu tình thế trong thế giới, không biết so sánh, không có mưu chước, chớ nên làm thì lại làm, khi nên làm lại không làm”. Vì vậy, phải Đảng “phải bày sách lược cho dân”(3).
Bốn là, “Dân thường chia rẽ phái này bọn kia, như dân ta người Nam thì nghi người Trung, người Trung thì  khinh người Bắc, nên sức yếu đi, như đũa mỗi chiếc mỗi nơi”.
Vậy nên sức cách mệnh phải tập trung, muốn tập trung phải có đảng cách mệnh”(4).
Hồ Chí Minh chỉ rõ vai trò trọng yếu của Đảng là:
1) “trong thì vận động và tổ chức dân chúng”
2) “ngoài thì liên lạc với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản mọi nơi”(5).
Điều đặc biệt là, Hồ Chí Minh xác định vai trò của Đảng như “người cầm lái”, người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy”(6)
Trong“Sách lược vắn tắt của Đảng”do Hồ Chí Minh soạn thảo và được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930, Người xác định vai trò “Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp” nên trong công cuộc vận động cách mạng giải phóng dân tộc, Đảng phải(7): (1) Thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng; (2) Phải làm cho các đoàn thể thợ thuyền và dân cày (công hội, hợp tác xã) khỏi quyền lực và ảnh hưởng của bọn tư bản quốc gia; (3) Phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản tri thức, trung nông, thanh niên Tân việt...để  kéo họ đi vào phe giai cấp vô sản; (4) Trong khi liên lạc với các giai cấp... phải đồng tuyên truyền và thực hành liên lạc với bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp.
Năm 1953, trong sách Chính trị thường thức, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Có Đảng lãnh đạo, cách mạng và kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công. Vì sao?”. Người đã giải thích: “Kinh nghiệm thế giới và trong nước chứng tỏ rằng: những cuộc đấu tranh tự phát của nhân dân, thường không có mục đích rõ ràng, kế hoạch đầy đủ, tổ chức chắc chắn. Vì vậy mà lực lượng  rời rạc, nơi này lên thì nơi khác xẹp. Kết quả là thất bại. Muốn thắng lợi, thì cách mạng phải có đảng lãnh đạo”(8). Do vậy, vai trò của Đảng được Người chỉ ra một cách tổng quát là:
 “Đảng phải làm cho quần chúng giác ngộ vì đâu mà họ bị áp bức bóc lột; phải dạy cho quần chúng  hiểu các quy luật phát triển của xã hội, để họ nhận rõ  vì mục đích gì mà đấu tranh; chỉ rõ con đường  giải phóng cho quần chúng, cổ động cho quần chúng kiên quyết cách mạng; làm cho quần chúng  tin chắc cách mạng nhất định thắng  lợi.
Trên một khía cạnh khác, Người giải thích rõ rằng: 
1)“Cách mạng là cuộc đấu tranh rất phức tạp. Muốn khỏi đi lạc phương hướng, quần chúng phải có Đảng lãnh đạo để nhận rõ tình hình, đường  lối và định phương châm cho đúng.
2) Cách mạng là cuộc đấu tranh rất gian khổ. Lực lượng kẻ địch rất mạnh. Muốn thắng lợi thì quần chúng  phảitổ chức rất chặt chẽ; chí khí phải kiên quyết. Vì vậy, phải có Đảng để tổ chức và giáo dục nhân dân thành  một đội quân thật mạnh, để đánh đổ kẻ địch, giành lấy chính quyền”(9).
Người còn xác định, “Cách mạng thắng lợi rồi, quần chúng vẫn cần có đảng lãnh đạo, vì:
- Dù nhân dân đã nắm chính quyền, nhưng giai cấp đấu tranh trong nước và mưu mô của đế quốc xâm lược vẫn còn.
- Vì phải xây dựng kinh tế, quốc phòng, văn hóa, xã hội cho nên Đảng vẫn phải tổ chức, lãnh đạo và giáo dục quần chúng, để đưa nhân dân lao động đến thắng lợi hoàn toàn”(10).
Như thế, cùng với việc xác định vai trò lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng Cộng sản trong thời đại mới, của “người cầm lái” con thuyền cách mạng ở thuộc địa, trên ý nghĩa với tính chất “là tổ chức cao nhất của giai cấp cần lao và đại diện cho lợi ích của dân tộc”(11), Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ những vai trò cụ thể của Đảng trong hai nội dung chủ yếu: xây dựng đường lối chiến lược, sách lược, phương pháp cách mạng; trong tổ chức và giáo dục nhân dân; trong liên hệ với cách mạng thế giới.  
Tất cả những quan điểm của Hồ Chí Minh trên đây về vai trò lãnh đạo và những vai trò cụ thể của Đảng Cộng sản ở các nước thuộc địa được đồng chí Cayxỏn Phômvihản kế tục, phát triển trong thực tiễn cách mạng Lào. Sự kế tục, phát triển đó được thực hiện một cách sáng tạo mà đồng chí Cayxỏn Phômvihản luôn coi tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là “ngọn đuốc soi đường”, để “dẫn đường, chỉ lối”(12) mà còn là những “chỉ dẫn” của Người cho cách mạng Lào, như cách nói rất kính trọng của đồng chí Cay xỏn Phômvihản đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thực hiện chỉ dẫn của đồng chí (Hồ Chí Minh), trước tình hình hết sức gay go, Đảng bộ Đảng Cộng sản Đông Dương ở Lào đã ra sức vận động cách mạng, đưa lại kết quả là lãnh đạo nhân dân Lào đứng lên làm cách mạng Tháng Tám, cướp chính quyền thắng lợi, tiếp đó trong cuộc đấu tranh cứu nước của Lào, đồng chí Hồ Chí Minh đã luôn luôn giúp đỡ nhiệt tình”(13).
Đồng chí Cayxỏn Phômvihản khẳng định: “Khi cuộc kháng chiến của nhân dân ba nước Đông Dương lớn mạnh, cách mạng ba nước đã trưởng thành, Chủ tịch Hồ Chí Minh với tầm nhìn xa trông rộng, tư tưởng chỉ đạo sáng suốt đã đề nghị Đại hội II của Đảng Cộng sản Đông Dương (tháng 2-1951) quyết định thành lập từng Đảng ở mỗi nước. Quyết định lịch sử hết sức  đúng đắn đó đã phát huy cao độ tinh thần độc lập tự chủ và ý thức trách nhiệm của những người  cách mạng ở mỗi nước đối với vận mệnh của dân tộc mình và thúc đẩy cuộc đấu tranh cứu nước của 3 nước Đông Dương phát triển vượt bậc”(14).
Đồng chí khẳng định: “Bác Hồ luôn giáo dục chúng tôi phải nắm vững sự nghiệp cách mạng Lào là của nhân dân Lào, phải đi vào dân, đi xuống cơ sở, bám chắc lấy dân, lấy việc giáo dục tổ chức nhân dân làm cách mạng là mục tiêu phấn đấu để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng; chăm lo đoàn kết nhân dân các bộ tộc Lào”; nhắc nhở nhân dân ba nước Việt Nam - Lào -Campuchia phải đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau và sự “chỉ bảo chúng tôi nắm vững chiến lược, có sách lược đấu tranh sáng tạo”(15)...        
Trong Điếu văn tại lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Cayxỏn Phômvihản đặc biệt nhấn mạnh tới tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của Đảng Cộng sản đối với cách mạng Lào. Đồng chí viết: “Thực hiện lời chỉ dẫn của đồng chí (Hồ Chí Minh), trước tình hình hết sức gay go, Đảng bộ Đảng Cộng sản Đông Dương  ở Lào đã ra sức vận dộng cách mạng, đưa lại kết quả là lãnh đạo nhân dân lào đứng lên làm cách mạng Tháng Tám”(16) và “Cuối năm 1950, căn cứ vào sự lớn mạnh của cách mạng Lào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ dẫn cho chúng ta là phải tổ chức một Đảng Mác-Lênin chân chính  của Lào để lãnh đạo cách mạng lào. Đảng phải có sự đoàn kết thống nhất về tư tưởng và hành động  phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc vô điều kiện, tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ, làm việc tập thể, có kỷ luật  sắt và tự giác. Đảng phải có đội ngũ cán bộ có phẩm chất đạo đức cách mạng và có đầy đủ khả năng, cán bộ phải là đầy tớ của dân. Thực hiện  nguyên tắc trên đây chúng ta đã thành lập Đảng Nhân dân cách mạng Lào đạt được thắng lợi ngày càng to lớn, đội ngũ cán bộ của Đảng ta ngày càng phát triển  và được tôi luyện trong lò lửa đấu tranh ác liệt. Chúng ta sẽ ra sức phát triển củng cố Đảng và đội ngũ của Đảng ngày càng vững mạnh, nhất là ra sức bảo vệ và tăng cường đoàn kết nội bộ thật chặt chẽ hơn nữa để Đảng ta đủ khả năng làm tròn sứ mệnh lịch sử mà Tổ quốc và giai cấp đã giao phó”(17).
Cần phải thấy rõ sự sáng tạo của tư tưởng Cayxỏn Phômvihản trong việc xác định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, cũng như những vai trò cụ thể trong nhiệm vụ lãnh đạo của Đảng ở một nước chậm phát triển như ở Lào mà sự hình thành và phát triển của giai cấp công nhân ở đây chậm hơn các nước thuộc địa khác cũng như ở Việt Nam. Sự sáng tạo đó thể hiện trong tiến trình thành lập Đảng Nhân dân Cách mạng Lào. Trên cơ sở đội ngũ những người cộng sản trong Đảng bộ Đảng Cộng sản Đông Dương Lào, đồng chí Cayxỏn Phômvihản đã bắt đầu lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang yêu nước (1948) và tiến hành vận động xây dựng mặt trận đoàn kết dân tộc ở Lào (1950). Từ đó, trên cơ sở lực lượng chính trị của khối đại đoàn kết nhân dân các bộ tộc Lào, với việc lựa chọn những chiến sĩ tiên phong của giai cấp vô sản và nhân dân các bộ tộc Lào, đồng chí Cay xỏn Phôm vi hản lãnh đạo tiến tới tổ chức thành Đảng Nhân dân cách mạng Lào (1955). Đó là sự phát triển sáng tạo của đồng chí Cay xỏn Phôm vi hản đối với việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của Đảng trong tiến trình thành lập Đảng Cộng sản ở Lào.
_________________
(1), (2), (3), (4), (5), (6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.288, 288, 288 -289, 289, 289.
(7) Xem Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.3
(8), (9), (10), (11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 273-274, 273, 274, 275.
(12), (14), (15) Phát biểu của đồng chí Cayxỏn Phômvihản tại lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. In trong sách: Đảng Nhân dân Cách mạng Lào- Đảng Cộng sản Việt Nam: Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam 1930-2007 (Hồi ký), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012, tập II, tr. 3, 4, 4- 5.
(13) Điếu văn của đồng chí Cayxỏn Phômvihản trong buổi lẽ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh (Sầm Nưa, ngày 5-9-1969). In trong sách:Đảng Nhân dân Cách mạng Lào- Đảng Cộng sản Việt Nam: Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam 1930-2007 (Hồi ký), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012, tập II, tr. 7 .
(16), (17) Điếu văn của đồng chí Cay xỏn Phôm vi hản trong buổi lẽ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh (Sầm Nưa, ngày 5-9-1969). In trong sách:Đảng Nhân dân Cách mạng Lào- Đảng Cộng sản Việt Nam: Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam 1930-2007 (Hồi ký), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012, tập II, tr.9, 11.

        PGS, TS Phạm Hồng Chương
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh



TÔN GIÁO LÀ ĐỨC TIN CỦA NGƯỜI LÀNH
 HAY LÀ CÔNG CỤ CỦA KẺ ÁC?
Khi những hậu quả nặng nề từ cuộc biểu tình bạo loạn vừa diễn ra ở Bình Thuận vẫn còn chưa khắc phục xong, người dân cả nước vẫn còn bàng hoàng trước hình ảnh những người “biểu tình ôn hòa” cầm gậy gộc, gạch đá, bom xăng ném vào lực lượng chức năng, đốt phá trụ sở UBND, sở PCCC, tấn công bộ chỉ huy biên phòng…
Thì sáng ngày hôm nay tại Hà Tĩnh và Nghệ An, hàng loạt giáo xứ – dưới sự chỉ đạo của những linh mục như Nguyễn Đình Thục – quản xứ Song Ngọc, xã Quỳnh Ngọc, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An và các linh mục thuộc 14 giáo xứ trong giáo hạt Văn Hạnh đóng trên địa bàn xã Thạch Trung, thành phố Hà Tĩnh đã tổ chức biểu tình để phản đối luật đặc khu và luật an ninh mạng. Hàng nghìn giáo dân, già có, trẻ có, trẻ em cũng có, dưới sự chỉ đạo các linh mục đã tuần hành khắp đường ngang ngõ dọc trong địa bàn giáo phận để phản đối những dự luật mà tôi chắc chắn rằng gần như chưa một ai từng đọc qua một dòng nào.
Qua vụ việc ở Bình Thuận, an ninh đã được thắt chặt trên toàn quốc, có lẽ bởi vậy mà linh mục Nguyễn Đình Thục đã không dám chỉ đạo giáo dân ra chặn đường quốc lộ 1A như thường thấy. Tuy nhiên việc các linh mục huy động hàng nghìn người tuần hành chật cứng các con đường mà không hề thấy bóng dáng của lực lượng chức năng cho thấy dường như những giáo phận này là một tiểu vương quốc bất khả xâm phạm – nơi những linh mục hành xử như một ông vua, luật pháp không có tác dụng và người của chính quyền có thể bị bắt giữ làm con tin bất cứ lúc nào.
Tuy nhiên cần khẳng định rằng, tất cả các hoạt động trên đây của tín đồ công giáo đều do một số chức sắc suy thoái tư tưởng, đạo đức, đội lốt “đức cha” để lừa bịp, dụ dỗ, ép buộc, kích động giáo dân thực hiện những hành vi sai trái gây rối trật tự an ninh, an toàn xã hội, vi phạm pháp luật, ảnh hưởng tới cuộc sống và sự bình yên của người dân xung quanh. Dường như các linh mục cực đoan đang cố tình chia rẽ lương – giáo, phá bỏ sự đoàn kết giữa tín đồ với chính quyền sở tại.
Những hành đông ngông cuồng của giáo dân Song Ngọc dưới sự chỉ đạo của linh mục Nguyễn Đình Thục đã khiến nhân dân xã Quỳnh Ngọc vô cùng bức xúc, đến mức lương dân phải tuyên bố nếu giáo dân còn tiếp tục làm loạn thì lương dân sẽ không buôn bán với giáo dân nữa.
Còn tại giáo xứ Trung Nghĩa, huyện Lộc Hà tỉnh Hà Tĩnh. Linh mục quản xứ Nguyễn Công Bình cùng Hội đồng mục vụ nhiều lần tổ chức cho giáo dân lên trụ sở UBND xã gây rối dưới danh nghĩa “đòi tiền bồi thường từ Formosa” nhưng rồi khi bà con giáo dân nhận được tiền bồi thường thì vị linh mục này ngang nhiên rao giảng trong nhà thờ về dự định xây dựng các hạng mục mới như: nhà đa chức năng, nhà thờ, khuôn viên, khán đài… và ép buộc bà con giáo dân phải nộp lại 1/3 số tiền bồi thường mà họ nhận được. Không dừng lại ở đó, vị chủ chăn này còn thẳng thừng nói với tất cả mọi người: “Ai cãi lời cha, không chịu nộp lại sẽ không được hưởng các quyền lợi, đặc ân từ các công trình của Chúa, cha cũng sẽ không dâng lễ, ban phúc cho các hộ dân này…”.
Những linh mục này thường xuyên tổ chức thánh lễ cầu nguyện “Hoà bình và công lý” nhưng lại kích động giáo dân đi biểu tình, đập phá, bao vây trụ sở chính quyền, cầu nguyện cho những kẻ vi phạm pháp luật. Vậy hoà bình ở đâu? Công lý ở đâu?
Thử hỏi những con người người được tôn vinh là cha tinh thần liệu có xứng đáng với điều đó hay không.
Nhân danh đức Chúa nhưng thực tế những vị chủ chăn ở các giáo xứ trên đây đã lợi dụng thánh lễ, lợi dung đức tin để tuyên truyền lừa bịp, kích động bà con giáo dân chống đối chính quyền.
Chúa chẳng bao giờ răn dạy các con chiên của mình làm điều ác. Đức Jesus luôn thừa nhận vai trò của chính quyền và răn dạy những người con của Chúa phải phân biệt rạch ròi giữa chính trị và tôn giáo. Tập 27, chương X trong Giáo luật “Cách riêng về Giáo hội” ghi: “Không biến mình thành một lực lượng chính trị vì như thế là sai với bản chất và sứ mạng của Giáo hội”. Đáng tiếc là một số linh mục, giáo dân vì lợi ích riêng mà làm trái lời Chúa dạy. Họ hy vọng rằng qua những cuộc biểu tình như thế này, “tiếng vang” mà họ tạo ra qua mạng xã hội và truyền thông nước ngoài sẽ đến tai các tổ chức nhân quyền, tôn giáo quốc tế. Và từ đó phương Tây sẽ có cớ can thiệp, tác động vào Việt Nam. Dường như đối với họ “Tổ quốc” là một khái niệm không hề tồn tại.
Hình ảnh từ cuộc biểu tình vừa diễn ra ở Bình Thuận cho thấy giữa “ôn hòa” và “bạo động” chỉ cách nhau một tích tắc. Trong bối cảnh an ninh phức tạp như hiện nay, chỉ trong một ngày hôm qua, lực lượng chức năng đã bắt giữ hàng chục đối tượng mặc quân phục cải trang làm công an, thu giữ nhiều vũ khí gây sát thương như súng tự chế, dao găm, lưỡi lê; mục đích của những đối tượng này là trà trộn vào đám đông, tấn công những người biểu tình để vu vạ cho lực lượng chức năng – một kịch bản tương tư như cuộc biểu tình Maidan đã phá nát đất nước Ukraina xinh đẹp năm 2014.
Vì vậy bà con giáo dân cần hết sức cảnh giác trước nhưng lời kích động biểu tình. Bởi bản chất đằng sau các hoạt động xuống đường tuần hành, biểu tình thực chất đều xuất phát từ ý đồ của giám mục, linh mục cực đoan câu kết với bọn phản động lưu vong cùng ngoại bang. Họ muốn tập hợp, phô trương lực lượng, càng đông càng tốt, như là bước chuẩn bị, tập dượt cho “cách mạng dân chủ” “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố” . Tham gia tuần hành, biểu tình dưới bất kỳ hình thức nào, trước là bước vào nguy hiểm khi có thể bị các đối tượng phản động sát hại để châm ngòi cho bạo động, sau là phải đối mặt với sự trừng phạt của pháp luật, tình huống xấu hơn nữa là gây ra bạo loạn trên khắp cả nước như người dân Ukraina đã làm với đất nước mình năm 2014.
TYLLVTNDVN
http://ngheanthoibao.com/ton-giao-la-duc-tin-cua-nguoi-lanh-hay-la-cong-cu-cua-ke-ac/


THÔNG TIN VỀ VIỆC LOA TRUYỀN THANH TẠI NHA TRANG
“CHỈ PHÁT TIẾNG TRUNG QUỐC” LÀ BỊA ĐẶT
NHẰM KÍCH ĐỘNG THÙ ĐỊCH

Trong hai ngày qua, một số trang mạng xã hội đã đăng tải, chia sẻ một video clip về hệ thống loa truyền thanh tại các công viên bờ biển thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa phát tiếng Trung Quốc, kèm theo những bình luận bịa đặt, xuyên tạc.
Thông tấn xã Việt Nam khẳng định nội dung video clip nói trên hoàn toàn không chính xác và người thực hiện có mục đích xấu.
Ngày 27/6, ông Đinh Văn Cường, Trưởng Phòng Văn hóa và Thông tin thành phố Nha Trang, đơn vị chủ quản hệ thống loa nói trên cho biết đơn vị này đã hợp đồng với Đài Phát thanh và Truyền hình Khánh Hòa thu âm tuyên truyền nội quy công viên bờ biển Nha Trang bằng 4 thứ tiếng Việt, Anh, Nga và Trung Quốc, hàng ngày lần lượt phát trên hệ thống loa truyền thanh không dây tại công viên bờ biển dọc tuyến đường Trần Phú, nhằm hướng dẫn du khách tuân thủ các quy định của địa phương về bảo vệ môi trường, cảnh quan, thông báo tình hình an ninh trật tự, diễn biến thời tiết biển… khi đến du lịch tại đây.
Việc này được triển khai từ tháng 5, nhằm ngày càng phục vụ tốt hơn nhu cầu của du khách xa gần.
Tuy nhiên, gần đây có một số đối tượng chỉ quay video clip đoạn phát thanh bằng tiếng Trung Quốc, phát tán trên các trang mạng xã hội, nhằm kích động người dân và du khách hiểu sai về về ý nghĩa và nội dung tuyên truyền.
Trên trang fanpage “Nha Trang ngày mới” nơi kết nối chính thức của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Khánh Hòa với cộng đồng mạng, chiều 27/6 đã phát đi thông tin nhấn mạnh: “Một số người sử dụng video clip đã bị cắt xén chỉ còn nội dung thông tin bằng tiếng Trung Quốc để cho rằng loa truyền thanh của Nha Trang chỉ phát tiếng Trung Quốc là không đúng sự thật, làm ảnh hưởng đến hoạt động du lịch của thành phố Nha Trang và của tỉnh Khánh Hòa nói chung.”
Trong những năm gần đây, tỉnh Khánh Hòa nói chung và thành phố Nha Trang nói riêng đã trở thành điểm đến lý tưởng cho du khách trong nước và quốc tế nhờ phong cảnh biển, đảo tuyệt đẹp; khí hậu trong lành, mát mẻ quanh năm; thức ăn ngon, giá cả phù hợp và môi trường du lịch thân thiện, văn minh.
Theo thống kê của Sở Du lịch Khánh Hòa, chỉ tính 6 tháng đầu năm 2018, địa phương này đã đón hơn 3 triệu lượt du khách đến lưu trú, tăng hơn 18% so với cùng kỳ năm 2017.
Trong đó số du khách quốc tế đạt gần 1,4 triệu lượt và phần lớn ở Nha Trang.
Nhóm du khách quốc tế đến Khánh Hòa nhiều nhất gồm Trung Quốc với ước tính gần 900 nghìn lượt, Nga hơn 235 nghìn lượt, Hàn Quốc gần 30 nghìn lượt; các nước tiếp theo là Australia, Mỹ, Malaysia lần lượt có từ 13-24 nghìn lượt du khách mỗi nước./.
TTXVN
http://ngheanthoibao.com/thong-tin-ve-viec-loa-truyen-thanh-tai-nha-trang-phat-tieng-trung-quoc-la-bia-dat-nham-kich-dong-thu-dich/


Thứ Sáu, 29 tháng 6, 2018


NÂNG CAO Ý THỨC TRÁCH NHIỆM
TRONG PHÒNG CHỐNG TỰ DIỄN BIẾN, TỰ CHUYỂN HÓA
Hồng Ngọc
Ban Chấp hành Trung ương đã thẳng thắn chỉ ra một cách có hệ thống với 27 biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Việc đưa ra hệ thống những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là để làm “tấm gương chung” giúp mỗi cán bộ, đảng viên tự soi mình; làm cơ sở để đóng góp ý kiến cho người khác và làm căn cứ để xử lý đối với những tập thể, cá nhân vi phạm. Hệ thống những biểu hiện này cũng là căn cứ để góp phần xây dựng tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ, đảng viên về phẩm chất chính trị, phẩm chất về đạo đức, lối sống phù hợp với yêu cầu cao của sự nghiệp cách mạng đang đòi hỏi. Đây là vấn đề khó, mà lâu nay chưa cụ thể hóa được nên còn lúng túng khi xem xét, đánh giá cán bộ. Bởi, Nghị quyết lần này có một số giải pháp mới, mạnh mẽ, quyết liệt như đổi mới và bắt buộc học tập lý luận chính trị; cam kết rèn luyện giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, không suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cơ chế kiểm soát quyền lực; siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, đề cao pháp luật của Nhà nước, công khai kết quả xử lý vi phạm; sự thống nhất về chính sách và kỷ luật giữa Đảng và Nhà nước; hợp đồng có thời hạn với viên chức; tăng thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu để xử lý cán bộ thuộc quyền; tăng cường sự giám sát của nhân dân trong xây dựng Đảng.
Biểu hiện trước hết của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là sự hoang mang, dao động về tư tưởng chính trị, sự hoài nghi về vai trò lãnh đạo của Đảng, tính khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của dân tộc ta. Tiếp đến là chủ động hơn trong tiếp nhận những thông tin trái chiều, thu thập tin tức nội bộ, công khai luận điệu chống đối, phản động và những tiêu cực trong đời sống xã hội; đồng thời, câu kết, tiếp tay cho các phần tử thù địch từ bên ngoài để chống phá cách mạng Việt Nam. Ở mức cao hơn, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” bộc lộ rõ tư tưởng phản động, chống đối, thách thức với pháp luật và hệ thống chính trị; xây dựng và phát tán những “thư ngỏ”, “tâm thư”, “kiến nghị”; tập hợp, thành lập những “hội”, “đoàn” độc lập, tổ chức chính trị đối lập với Đảng và hệ thống chính trị trong xã hội Việt Nam.
Như chúng ta đã biết “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thường xuất hiện khi cách mạng có những “bước ngoặt”, tình hình thế giới, trong nước diễn biến phức tạp, nhiều khó khăn, thách thức; tình trạng mất dân chủ, tệ quan liêu, nạn tham nhũng, lãng phí, sự phân hóa giàu nghèo… dẫn tới sự bất mãn, bất bình trong xã hội; sự kích động, chia rẽ, lôi kéo, mua chuộc, “hà hơi tiếp sức” của các thế lực thù địch, phản động v.v. Song, trước hết và chủ yếu là do nguyên nhân chủ quan từ chính bản thân những cán bộ, đảng viên có lập trường tư tưởng chính trị không vững vàng; thiếu tu dưỡng, rèn luyện về đạo đức, lối sống, có biểu hiện chạy chức, chạy quyền, tranh giành, kèn cựa địa vị, tham nhũng, sách nhiễu nhân dân, vi phạm pháp luật, kỷ luật của quân đội v.v.
Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, Đảng ta đã cảnh báo về sự hiện hữu của những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đang diễn biến hết sức phức tạp và nguy hiểm, nguy cơ lớn đối với sự tồn vong của Đảng, Nhà nước và chế độ. Bài học từ sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, mà nguyên nhân chủ yếu là do “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ vẫn còn dư âm. Đảng ta đã sớm cảnh báo và có nhiều chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo, kiên quyết đấu tranh, phòng, chống với những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Thể hiện quyết tâm chính trị cao của Đảng đối với thứ “giặc nội xâm”. Để đấu tranh, phòng, chống hiệu quả cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung giải pháp cơ bản sau:
Thứ nhât, cần làm tốt công tác giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và quần chúng mức độ nguy hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và đề cao trách nhiệm trong đấu tranh. Như chúng ta đều biết hiện nay, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên vẫn còn mơ hồ, chưa nhận thức đúng về “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và mức độ nguy hiểm của nó đối với sự tồn vong của Đảng, chế độ. Bởi vậy, việc giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là giải pháp hết sức quan trọng. Trước mắt, cần làm cho mọi người nhận thức được những biểu hiện của nó được Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) chỉ ra; tình hình suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, các ngành; thấy được việc phòng, chống sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là cuộc đấu tranh hết sức cam go, phức tạp diễn ra ngay trong nội bộ, giữa ta với ta, v.v. Việc giáo dục nâng cao nhận thức phải đi đôi với khắc phục những biểu hiện mơ hồ, mất cảnh giác, xem nhẹ, không thể hiện rõ lập trường, quan điểm trước những hành vi tiêu cực, hoặc thờ ơ, không dám đấu tranh với sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Hai là, phải quán triệt và thực hiện nghiêm túc, đầy đủ Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII). Việc ban hành Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) cho thấy quyết tâm rất lớn của Đảng trong ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đặc biệt, Nghị quyết lần này đã thẳng thắn chỉ rõ những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” làm cơ sở để đấu tranh, khắc phục một cách triệt để. Nghị quyết xác định 4 nhóm giải pháp mang tính cơ bản, toàn diện, khoa học và có mối quan hệ biện chứng với nhau. Từ đó, các cấp ủy, tổ chức đảng cần nhận thức sâu sắc về nguy cơ, nhận diện đúng những biểu hiện và kịp thời đề ra các giải pháp phù hợp để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; gắn thực hiện nghị quyết Trung ương 4 với Chỉ thị 05 - CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Quy định về những điều đảng viên không được làm, tạo sức mạnh tổng hợp để ngăn chặn, đẩy lùi biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Trên cơ sở nhận thức đúng, nắm vững nội dung và hệ thống các nhóm nhiệm vụ giải pháp, cấp ủy các cấp nghiên cứu xây dựng kế hoạch, chương trình hành động phù hợp, đánh giá đúng thực tế, nhận diện và chỉ ra những biểu hiện cụ thể ở từng cán bộ, đảng viên, bảo đảm rõ từng nội dung, hình thức, bước đi, biết lựa chọn vấn đề trọng tâm, trọng điểm tránh dàn trải, làm qua loa đại khái.
Ba là, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, đề cao vai trò tiền phong, gương mẫu của người đứng đầu. Tự phê bình và phê bình là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng ta. Thông qua việc làm này, cơ thể Đảng, từng đảng viên như được gột sạch những vết nhơ; cán bộ, đảng viên nhận rõ ưu, khuyết điểm của mình để phấn đấu và rèn luyện tiến bộ hơn; những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” sẽ được nhận diện và khắc phục đúng lúc có quan điểm đúng đắn. Do đó, cần đẩy mạnh tự phê bình và phê bình trong hoạt động và sinh hoạt Đảng với tinh thần xây dựng, trung thực, chỉ rõ những biểu hiện của sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Các cấp ủy, tổ chức đảng cần xây dựng quy định tự phê bình và phê bình, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm và bảo vệ người thẳng thắn, dám đấu tranh. Cùng với đó, cần đề cao vai trò gương mẫu của người đứng đầu trong rèn luyện tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; đổi mới tác phong, phong cách làm việc, sâu sát cụ thể tỉ mỉ ở cơ sở. Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng, bảo vệ chính trị nội bộ; tăng cường “sức đề kháng” nhằm vô hiệu hóa mọi âm mưu, hoạt động chống phá, phá hoại tư tưởng, thâm nhập, chuyển hóa, lũng đoạn nội bộ, tha hóa cán bộ Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch. Vận dụng linh hoạt các biện pháp xử lý đối với những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; “xây” đi liền với “chống”, nói đi đôi với làm, tạo môi trường thuận lợi phòng, chống có hiểu quả những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Bốn là, phát huy vai trò và nêu cao tinh thần trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong công tác đấu tranh phòng, chống suy thoái, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Trước mắt, cần tăng cường quản lý giáo dục, duy trì các hoạt động thông tin tuyên truyền, việc sử dụng mạng in-tơ-nét và các trang mạng xã hội; chủ động định hướng, cung cấp thông tin kịp thời với cấp trên. Từ đó chú trọng tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, những thành quả trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhân rộng điển hình tiên tiến, nêu gương “người tốt, việc tốt”, tập thể tốt; đồng thời, có những bài viết sắc sảo, ý thức chính trị cao nhằm phê phán, lên án những thói hư tật xấu, tệ nạn xã hội và những biểu hiện của sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong chính nội bộ.
Với các biện pháp như đã nêu ở trên, cần nhận diện đúng, để đấu tranh, khắc phục kịp thời những biểu hiện của sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là biện pháp hết sức quan trọng để khắc phục những hiểm họa khôn lường mà do nó gây ra đối với Đảng, chế độ và đất nước ta. Làm tốt các vấn đề đã trình bày ở trên, sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, chế độ và làm thất bại mọi mưu đồ lợi dụng vấn đề “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch và bọn phản động./.


Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...