Thứ Năm, 21 tháng 6, 2018


ĐẰNG SAU VIỆC ĐẤU TRANH ĐÒI DÂN CHỦ
 Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Đại Nguyễn
Trong thời gian vừa qua, trên địa bàn trong cả nước xuất hiện một số đối tượng phản động, chống đối, lấy danh nghĩa là “nhà dân chủ yêu nước” đã có những hành động điên cuồng chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Nếu nghe qua rất nhiều người dễ nhầm tưởng đó là những nhà yêu nước, đấu tranh cho lẽ phải, nhưng thực chất chúng chỉ là những tên dân chủ giả hiệu, lấy vấn đề dân chủ để làm tấm lá chắn; từ đó chuyên đi bới móc, xuyên tạc, tô vẽ, dựng chuyện, nói xấu chế độ và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta, nhằm gây hoang mang dư luận, kích động, lôi kéo những người thiếu hiểu biết, nhẹ dạ cả tin tham gia vào các hoạt động chống đối trái pháp luật, gây chia rẽ, đoàn kết nội bộ, làm cho nhân dân hoang mang, dao động, mơ hồ.
Thực chất của vấn đề đấu tranh đòi dân chủ chính là chiêu bài thâm độc của chúng được các đối tượng xấu thường xuyên lợi dụng để tuyên truyền, xuyên tạc, bịa đặt, vu cáo, vu khống quan điếm, đường lối, chủ trương lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta; đồng thời kêu gọi sự ủng hộ từ nước ngoài để phục vụ các mưu đồ chính trị đen tối của chúng. Những tên dân chủ giả hiệu thực chất chỉ là những con bài chính trị tiếp tay cho các thế lực thù địch thực hiện cuộc Cách mạng màu ở Việt Nam mà thôi, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lái Việt Nam đi theo quỹ đạo của các nước tư bản chủ nghĩa.
Qua các kỳ Đại hội của Đảng, Đảng ta nhất quán và đã khẳng định: Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách; xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện rộng rãi với mọi người dân, trong mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi địa phương. Đặc biệt, dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm, dân chủ luôn đi đôi và gắn liền với pháp luật. Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn chăm lo bảo đảm và bảo vệ quyền con người; những thành tựu đạt được là rất to lớn, được nhân dân trong nước cũng như cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Bên cạnh đó, Đảng và Nhà nước Việt Nam cũng kiên quyết xử lý với mọi hành vi vi phạm pháp luật, lợi dụng các quyền tự do, dân chủ của công dân để xâm phạm, làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của quốc gia, dân tộc. Mọi công dân đều có quyền bày tỏ chính kiến của mình, có quyền tự do dân chủ nhưng không có nghĩa là “dân chủ quá trớn”, mà các quyền này phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật và được pháp luật cho phép thực hiện.
Từ cách tiếp cận như trên, chúng ra không khó để nhìn ra bản chất của những người gọi là đấu tranh cho dân chủ, không phải đấu tranh để đòi quyền lợi, lợi ích hợp pháp cho nhân dân như trước kia mà cha ông ta đã từng làm. Còn nhìn vào thực tế hoạt động của những người tự nhận mình là đấu tranh cho dân chủ, cho cái gọi là lẽ phải ở Việt Nam, thực chất đó là những chiêu bài để kích động, gây rối nhằm thực hiện những mục tiêu chính trị đen tối. Về thực chất đằng sau những phong trào đó không hề xác định hay hướng tới một giá trị dân chủ đích thực, không hướng tới quyền lợi của quần chúng nhân dân. Để trở thành những  nhà dân chủ theo họ chỉ cần viết một, hai đơn từ kiện cáo hoặc nói xấu cán bộ lãnh đạo hay một cơ quan Ðảng và Nhà nước là trở thành nhà đấu tranh dân chủ. Ðặc biệt, đối với họ, đấu tranh dân chủ không phải là mục đích mà là chiêu bài, là nghề để kiếm sống, nuôi sống bản thân, là hưởng lợi từ tiền hỗ trợ của các hội, đoàn, nhóm chống phá ở nước ngoài: như tổ chức khủng bố Việt tân, khối 8406, quỹ người thương, ủy ban cứu người vượt biển,...Như vậy, về bản chất, họ đang đi ngược lại quá trình dân chủ, vì dân chủ thật sự phải xuất phát từ nguyện vọng chính đáng của mọi người dân, chứ không buộc người dân đi theo quan niệm mà thực chất chỉ là một phong trào phản dân chủ mà thôi.
Lợi dụng vào một số thiếu sót trong quá trình lãnh đạo và quản lý đất nước, một số người tự coi mình là nhà dân chủ, xem đây là cơ hội để vu cáo chính quyền, đưa ra các luận điệu vô căn cứ để tuyên truyền chống phá Đảng và Nhà nước ta. Do đó, hơn ai hết mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta phải có thế giới quan khoa học, đánh giá, phân tích, nhận diện, phân biệt đâu là người yêu nước chân chính, đâu là nhà hoạt động xã hội có ý thức trách nhiệm và đâu là người đang mượn danh nghĩa dân chủ để cản trở sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta; từ đó để có biện pháp đấu tranh loại bỏ. Và đối với chúng ta, một nền dân chủ thật sự chỉ đến từ các công dân có tinh thần tự chủ, yêu chuộng hòa bình, gắn bó với cộng đồng dân tộc bằng tinh thần nhân văn, luôn biết kết hợp hài hòa giữa lợi ích của chính mình với lợi ích mọi người và lợi ích của toàn dân tộc – đó mới là điều cốt lõi./.



PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI CÁI GỌI LÀ VIỆT NAM
MẤT TỰ DO TÍN NGƯỠNG
                                                                                      Đại Nguyễn
          Ngày 13/4/2018 trên mạng xã hội có bài viết: Việt Nam mất tự do tín ngưỡng tôn giáo và nhân quyền. Có thể nói trong các âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị thì tự do tín ngưỡng, tôn giáo là vấn đề mà các thế lực thù địch đặc biệt quan tâm và tìm mọi cách để chống phá, phá hoại. Bằng nhiều thủ đoạn khác nhau, chúng có thể lợi dụng những sơ hở trong các hoạt động tôn giáo để vu cáo, vu khống, xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta vi phạm “dân chủ”, “nhân quyền”, đàn áp tôn giáo, hòng tạo phản ứng tiêu cực trong một bộ phận chức sắc và tín đồ tôn giáo, nhằm gây chia rẽ, phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc. Trong những năm gần đây, các thế lực thù địch, phản động với bản chất xuyên tạc và một thái độ áp đặt, chủ quan về dân chủ, nhân quyền đã bóp méo sự thật một cách thô thiển bất chấp thực tế về những thành tựu to lớn của Việt Nam trong lĩnh vực nhân quyền, tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Họ muốn tạo sự hoài nghi về đường hướng lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các chính sách, pháp luật của Nhà nước ta có liên quan đến tôn giáo và hoạt động tự do tôn giáo. Đồng thời, dùng mọi thủ đoạn thâm độc xuyên tạc sai sự thật về tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay.
Theo Hiến pháp 2013 của Việt Nam quy định tại Điều 12, chương I khẳng định: Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tôn trọng Hiến chương Liên Hợp Quốc và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Việt Nam là một trong những nước sớm phê chuẩn Công ước quốc tế về nhân quyền. Với nguyên tắc đó, Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2017 và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác của Quốc hội, của Nhà nước Việt Nam đã quán triệt và thể chế hóa đầy đủ những quan điểm, chủ trương, chính sách tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay. Các quy định pháp lý đó không những phù hợp với tinh thần và nội dung tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Công ước quốc tế, mà còn đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, củng cố niềm tin, tạo động lực để đồng bào các tôn giáo “đồng hành cùng dân tộc”, góp phần quan trọng vào củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ  vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới. Văn kiện Đại hội XII của Đảng cũng chỉ rõ: “Quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo Hiến chương, Điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, theo quy định của pháp luật, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước”[1].
Như chúng ta đã biết, Việt Nam là một nước có nhiều tôn giá khác nhau, tạo nên bức tranh tôn giáo đa màu sắc, do đó việc tổ chức và hoạt động tôn giáo ở Việt Nam là một vấn đề khá phức tạp. Đây vừa là nét đặc sắc của văn hóa tôn giáo, tín ngưỡng của dân tộc, nhưng đồng thời kèm theo đó là những khó khăn trong công tác quản lý, điều hành, cũng như vấn đề xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. Tuy nhiên, dưới ánh sáng của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo đã cho chúng ta có cái nhìn biện chứng, khách quan, toàn diện, đúng đắn và khoa học trong giải quyết vấn đề tôn giáo. Chính vì vậy đã tạo dựng cho Việt Nam là một đất nước ôn hoà trong quan hệ giữa các tôn giáo với nhau, có truyền thống đoàn kết tôn giáo, đoàn kết toàn dân trong quá trình dựng nước và giữ nước. Việc chung sống hoà bình và bao dung giữa các tôn giáo cùng với tình nhân ái, nhân bản của con người và xã hội Việt Nam đã tạo ra một bức tranh sinh động về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam: thuần tuý nhưng phong phú, đa dạng nhưng ôn hòa, đan xen nhưng không mâu thuẫn...
 Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng, tôn giáo; thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết lương - giáo và giữa các tôn giáo với nhau, luôn xem đó là một trong những nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của mỗi người dân: có thể theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Trong thực tiễn phải đấu tranh phê phán các biểu hiện, thái độ hẹp hòi, thành kiến, phân biệt đối xử với đồng bào theo đạo và không theo đạo; đồng thời, chống mọi hành vi vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và nghiêm cấm lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia và ngăn chặn mọi hành vi lợi dụng tôn giáo phá hoại độc lập và đoàn kết dân tộc thì bị nghiêm cấm và trừng trị thích đáng.
Đặc biệt, cần phải có biện pháp để đấu tranh ngăn ngừa các hiện tượng như: đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, dựng ngọn cờ “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”; chia rẽ giữa nhân dân, Quân đội, Công an với Đảng, Nhà nước; chia rẽ lương giáo với các tổ chức quần chúng khác trong hệ thống chính trị, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân; tuyên truyền bản chất của chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, chạy theo ham muốn vật chất tầm thường, gieo rắc văn hoá đồi truỵ, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan để thu lợi bất chính…Vì vậy, cần phải kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc trong công tác xây dựng Đảng. Nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng và bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng có hiệu lực, hiệu quả; bản lĩnh chính trị của Đảng không ngừng được củng cố và nâng cao, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước./.









[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, NXB. CTQG. H. 2016. tr, 165.

Thứ Ba, 19 tháng 6, 2018


NHỮNG NGƯỜI GÂY RỐI Ở POUYUEN KHAI GÌ?

Những người bị bắt vì tụ tập ném đá vào cảnh sát trước Công ty Pouyuen ở quận Bình Tân, TP.HCM chẳng biết gỉ về dự luật Đặc khu nhưng cũng phản đối.
Ngày 18-6, Công quận Bình Tân, TP.HCM cho biết vừa khởi tố, bắt giam Phạm Thị Thu Thủy (44 tuổi, quê Tiền Giang), Lê Trọng Nghĩa (31 tuổi, quê Long An) tội chống người thi công vụ.Bên cạnh đó, công an lấy lời khai đối với Lê Văn Thanh (30 tuổi, quê Tiền Giang) để xử lý với cùng hành vi. Trước đó, Thanh đã đến cơ quan công an đầu thú.
Theo cơ quan điều tra Thủy và Nghĩa đều là công nhân tại Công ty Pouyuen. Ngày 11-6, họ tới chỗ làm thì thấy đông người tụ tập, gây rối ném đá vào lực lượng cảnh sát cơ động đang làm nhiệm vụ tại đây nên tham gia.
Theo bà Thủy, thấy công nhân bỏ việc, nhiều người hô hào tắt điện và nếu không ra biểu tình thì bị đánh.
“Tôi cũng nghe vậy nên chạy ra ngoài. Khi thấy mấy người khác ném đá lực lượng cơ động thì tôi cũng ném. Đáng ra ném một lần nhưng tôi lại ném rất nhiều lần” – bà Thủy khóc và cho biết thêm rằng mình còn mẹ già, con nhỏ ở quê. Giờ bị bắt giam không biết kế sinh nhai sẽ như thế nào.
Thanh tham gia tụ tập, gây rối và dùng que sắt đánh cảnh sát cơ động, ý thức được mình làm là sai người này đã đến công an đầu thú. Ảnh Nguyên Tiến.
Trong khi đó, Nghĩa khai mình không biết đặc khu hay luật đặc khu là gì, nằm ở đâu. “Em chỉ biết đặc khu nằm ở rìa đảo gì đó. Khi thấy mọi người hô hào ném đá phản đối đặc khu nên em cũng tham gia đứng ở hàng rào cầm đá ném vào lực lượng cảnh sát” – Nghĩa. Tại cơ quan điều tra, Nghĩa và bà Thủy đều tỏ thái độ ăn năn hối lỗi.
 “Bây giờ tôi cũng gửi lời cho anh chị em công nhân ngoài đó đừng thiếu hiểu biết nghe theo lời xúi giục tham gia tụ tập gây rối rồi bị bắt, ảnh hưởng đến gia đình và công việc”- Nghĩa nói.
Trong khi đó, Lê Văn Thanh đến cơ quan công an đầu thú. Thanh khai mình là quản lý nhiều công nhân. Ngày 11-6, khi nhiều công nhân ném đá, tụ tập gây rối thì Thanh cũng tham gia.
Người này được xác định dùng ống sắt bẻ thành từng đoạn chia cho các công nhân khác đánh cảnh sát cơ động. “Tôi cũng khuyên những ai đã trót vi phạm, tụ tập gây rối thì hãy đến cơ quan công an đầu thú để được hưởng lượng khoan hồng” – Thanh nói.
Theo công an quận Bình Tân, đến thời điểm hiện tại đã mời làm việc với 105 người, khởi tố 4 người, xử lý vi phạm hành chính 58 người, số còn lại cho cam kết bảo lãnh.
NGUYÊN TIẾN
https://ngheanthoibao.com/nhung-nguoi-gay-roi-o-pouyuen-khai-gi/


TÔN GIÁO LÀ ĐỨC TIN CỦA NGƯỜI LÀNH
HAY LÀ CÔNG CỤ CỦA KẺ ÁC?
Khi những hậu quả nặng nề từ cuộc biểu tình bạo loạn vừa diễn ra ở Bình Thuận vẫn còn chưa khắc phục xong, người dân cả nước vẫn còn bàng hoàng trước hình ảnh những người “biểu tình ôn hòa” cầm gậy gộc, gạch đá, bom xăng ném vào lực lượng chức năng, đốt phá trụ sở UBND, sở PCCC, tấn công bộ chỉ huy biên phòng…
Thì sáng ngày hôm nay tại Hà Tĩnh và Nghệ An, hàng loạt giáo xứ – dưới sự chỉ đạo của những linh mục như Nguyễn Đình Thục – quản xứ Song Ngọc, xã Quỳnh Ngọc, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An và các linh mục thuộc 14 giáo xứ trong giáo hạt Văn Hạnh đóng trên địa bàn xã Thạch Trung, thành phố Hà Tĩnh đã tổ chức biểu tình để phản đối luật đặc khu và luật an ninh mạng. Hàng nghìn giáo dân, già có, trẻ có, trẻ em cũng có, dưới sự chỉ đạo các linh mục đã tuần hành khắp đường ngang ngõ dọc trong địa bàn giáo phận để phản đối những dự luật mà tôi chắc chắn rằng gần như chưa một ai từng đọc qua một dòng nào.
Qua vụ việc ở Bình Thuận, an ninh đã được thắt chặt trên toàn quốc, có lẽ bởi vậy mà linh mục Nguyễn Đình Thục đã không dám chỉ đạo giáo dân ra chặn đường quốc lộ 1A như thường thấy. Tuy nhiên việc các linh mục huy động hàng nghìn người tuần hành chật cứng các con đường mà không hề thấy bóng dáng của lực lượng chức năng cho thấy dường như những giáo phận này là một tiểu vương quốc bất khả xâm phạm – nơi những linh mục hành xử như một ông vua, luật pháp không có tác dụng và người của chính quyền có thể bị bắt giữ làm con tin bất cứ lúc nào.
Tuy nhiên cần khẳng định rằng, tất cả các hoạt động trên đây của tín đồ công giáo đều do một số chức sắc suy thoái tư tưởng, đạo đức, đội lốt “đức cha” để lừa bịp, dụ dỗ, ép buộc, kích động giáo dân thực hiện những hành vi sai trái gây rối trật tự an ninh, an toàn xã hội, vi phạm pháp luật, ảnh hưởng tới cuộc sống và sự bình yên của người dân xung quanh. Dường như các linh mục cực đoan đang cố tình chia rẽ lương – giáo, phá bỏ sự đoàn kết giữa tín đồ với chính quyền sở tại.
Những hành đông ngông cuồng của giáo dân Song Ngọc dưới sự chỉ đạo của linh mục Nguyễn Đình Thục đã khiến nhân dân xã Quỳnh Ngọc vô cùng bức xúc, đến mức lương dân phải tuyên bố nếu giáo dân còn tiếp tục làm loạn thì lương dân sẽ không buôn bán với giáo dân nữa.
Còn tại giáo xứ Trung Nghĩa, huyện Lộc Hà tỉnh Hà Tĩnh. Linh mục quản xứ Nguyễn Công Bình cùng Hội đồng mục vụ nhiều lần tổ chức cho giáo dân lên trụ sở UBND xã gây rối dưới danh nghĩa “đòi tiền bồi thường từ Formosa” nhưng rồi khi bà con giáo dân nhận được tiền bồi thường thì vị linh mục này ngang nhiên rao giảng trong nhà thờ về dự định xây dựng các hạng mục mới như: nhà đa chức năng, nhà thờ, khuôn viên, khán đài… và ép buộc bà con giáo dân phải nộp lại 1/3 số tiền bồi thường mà họ nhận được. Không dừng lại ở đó, vị chủ chăn này còn thẳng thừng nói với tất cả mọi người: “Ai cãi lời cha, không chịu nộp lại sẽ không được hưởng các quyền lợi, đặc ân từ các công trình của Chúa, cha cũng sẽ không dâng lễ, ban phúc cho các hộ dân này…”.
Những linh mục này thường xuyên tổ chức thánh lễ cầu nguyện “Hoà bình và công lý” nhưng lại kích động giáo dân đi biểu tình, đập phá, bao vây trụ sở chính quyền, cầu nguyện cho những kẻ vi phạm pháp luật. Vậy hoà bình ở đâu? Công lý ở đâu?
Thử hỏi những con người người được tôn vinh là cha tinh thần liệu có xứng đáng với điều đó hay không.
Nhân danh đức Chúa nhưng thực tế những vị chủ chăn ở các giáo xứ trên đây đã lợi dụng thánh lễ, lợi dung đức tin để tuyên truyền lừa bịp, kích động bà con giáo dân chống đối chính quyền.
Chúa chẳng bao giờ răn dạy các con chiên của mình làm điều ác. Đức Jesus luôn thừa nhận vai trò của chính quyền và răn dạy những người con của Chúa phải phân biệt rạch ròi giữa chính trị và tôn giáo. Tập 27, chương X trong Giáo luật “Cách riêng về Giáo hội” ghi: “Không biến mình thành một lực lượng chính trị vì như thế là sai với bản chất và sứ mạng của Giáo hội”. Đáng tiếc là một số linh mục, giáo dân vì lợi ích riêng mà làm trái lời Chúa dạy. Họ hy vọng rằng qua những cuộc biểu tình như thế này, “tiếng vang” mà họ tạo ra qua mạng xã hội và truyền thông nước ngoài sẽ đến tai các tổ chức nhân quyền, tôn giáo quốc tế. Và từ đó phương Tây sẽ có cớ can thiệp, tác động vào Việt Nam. Dường như đối với họ “Tổ quốc” là một khái niệm không hề tồn tại.
Hình ảnh từ cuộc biểu tình vừa diễn ra ở Bình Thuận cho thấy giữa “ôn hòa” và “bạo động” chỉ cách nhau một tích tắc. Trong bối cảnh an ninh phức tạp như hiện nay, chỉ trong một ngày hôm qua, lực lượng chức năng đã bắt giữ hàng chục đối tượng mặc quân phục cải trang làm công an, thu giữ nhiều vũ khí gây sát thương như súng tự chế, dao găm, lưỡi lê; mục đích của những đối tượng này là trà trộn vào đám đông, tấn công những người biểu tình để vu vạ cho lực lượng chức năng – một kịch bản tương tư như cuộc biểu tình Maidan đã phá nát đất nước Ukraina xinh đẹp năm 2014.
Vì vậy bà con giáo dân cần hết sức cảnh giác trước nhưng lời kích động biểu tình. Bởi bản chất đằng sau các hoạt động xuống đường tuần hành, biểu tình thực chất đều xuất phát từ ý đồ của giám mục, linh mục cực đoan câu kết với bọn phản động lưu vong cùng ngoại bang. Họ muốn tập hợp, phô trương lực lượng, càng đông càng tốt, như là bước chuẩn bị, tập dượt cho “cách mạng dân chủ” “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố” . Tham gia tuần hành, biểu tình dưới bất kỳ hình thức nào, trước là bước vào nguy hiểm khi có thể bị các đối tượng phản động sát hại để châm ngòi cho bạo động, sau là phải đối mặt với sự trừng phạt của pháp luật, tình huống xấu hơn nữa là gây ra bạo loạn trên khắp cả nước như người dân Ukraina đã làm với đất nước mình năm 2014.
TYLLVTNDVN



CHUYỆN VỀ ĐẶC KHU: ĐÔI LỜI TÂM SỰ

LTS: Tác giả bài này là một Tiến sĩ Kỹ thuật, trường Khoa học và Công nghệ, Đại học Kumamoto, Nhật Bản năm 1999. Anh từng làm quản lý dự án, điều phối viên và Giám đốc quản lý chất lượng, tư vấn kỹ sư địa lý đại diện cho Dia Consultants Co. Ltd để thực hiện nghiên cứu tiền dự án cho dự án nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 2 tại Việt Nam, và còn làm quản lý nhiều dự án xây dựng khác ở các quốc gia khác nữa.
B iết phận mình là kẻ sống tha hương, ăn nhờ ở đậu xứ người, không gì để kênh kiệu, kiêu hãnh cả, chỉ cố gắng sống bình lặng, lương thiện. Đối với quê hương, nếu không (có cơ hội) đóng góp được gì, thì quyết không xía mõm, chìa tay chống phá, hùa theo bọn phản động.
Đất nước thanh bình, xã hội dần cải thiện ở mọi lãnh vực, trong đó nền kinh tế đang trên đà phát triển khả quan, người dân sống trong an vui. Vậy mà vẫn có những kẻ không muốn đất nước thanh bình, phát triển. Chúng tìm mọi cơ hội, tung ra đủ loại thông tin thất thiệt để kích động người dân trong nước biểu tình, bạo động, với ý đồ gây bạo loạn, đưa xã hội và chính trị rơi vào tình trạng hỗn loạn, nền kinh tế suy sụp, hầu tạo cơ hội cho bọn chúng cướp chính quyền. Những cuộc biểu tình vào ngày 10/6 và 11/6 vừa qua cho thấy bọn phản động, mà chủ động là (những) tổ chức chống cộng ở hải ngoại, tiêu biểu là đám Việt Tân, cộng thêm với một số linh mục bất lương (không phải tất cả) cùng đám con chiên trong nước.
Lần này có vẻ chúng dốc tổng lực để phát động biểu tình ở nhiều nơi trong nước, với chiêu bài là “chính quyền VN bán đất cho Tàu thông qua dự thảo 3 đặc khu kinh tế”. Chúng kỳ vọng sẽ tạo được cuộc cách mạng màu, đưa đất nước rơi vào hỗn loạn và kết quả là một chính quyền mới có sự hỗ trợ, dẫn dắt của ngoại bang sẽ được hình thành, như đã xảy ra tại nhiều nước như Serbia, Gruzia, Ai Cập, Ucraine hoặc Kyrgyztan, vân vân… trong thời gian qua. Ở đây cần nhấn mạnh một điều là trong hầu hết các cuộc “cách mạng màu” trên thế giới, từ Phi Châu, Đông Âu, đến các nước Trung Đông đều có sự tham gia, chỉ đạo từ phía sau của bàn tay lông lá ngoại bang, tiêu biểu là Mỹ và một số nước Âu Châu.
Nhưng chúng đã thất bại, những cuộc biểu tình đã lắng xuống, cuộc sống người dân trở lại bình thường. Về tình hình và hậu quả của những cuộc biểu tình vừa qua thì chúng ta có thể tìm hiểu qua truyền thông, báo chí chính thống trong và ngoài nước. Nói về thiệt hại, có thể kể đến những thiệt hại về kinh tế như một vài cơ sở vật chất của chính quyền đã bị đập hoặc đốt phá, một lượng lớn công nhân của công ty nước ngoài bị cho nghỉ việc, một vài hạng mục nông phẩm bị giới hạn xuất khẩu qua Trung quốc trong một thời gian nhất định, v.v…; Tâm lý hoang mang và bất an của người dân về sự việc vừa qua, cũng như lo ngại trong tương lai có xảy ra sự việc tương tự hay không; Mức độ ổn định trong môi trường kinh doanh tại Việt Nam sẽ bị thế giới đánh giá thấp xuống, sẽ có ảnh hưởng bất lợi cho đầu tư của nước ngoài. Ngoài ra, một số cảnh sát cơ động đã bị thương do bạo động của những kẻ tham gia biểu tình.
Ngược lại, theo người viết, người dân cũng như nhà nước đã gặt hái được một số thành quả như: 1) Qua sự kiện này, nhà nước hiểu rõ hơn về lòng dân, về sự cần thiết của “lắng nghe, đối thoại” trực tiếp với người dân nhiều hơn nữa để ý của dân được phản ảnh tối đa vào các chính sách trước khi mang ra áp dụng; 2) Nhiều người dân đã hiểu rõ được sự nguy hại khi nghe theo lời xuyên tạc của những  kẻ phá hoại, phản quốc, dụ dỗ tham gia chống phá chính quyền, để họ không còn bị lôi kéo thêm nữa; 3) Là cơ hội để thế giới và người dân nhìn rõ về những hành vi manh động của bọn phản động, cũng như cách hành xử nhẹ nhàng, khoan nhượng của chính quyền, nhưng lại sẽ nghiêm khắc, nghiêm minh xử phạt những kẻ đã phạm pháp, theo qui định của luật pháp Việt Nam;  4) Có lẽ qua sự kiện này, nhà nước đã nắm bắt được một số thông tin quan trọng liên quan đến tổ chức phản động chủ động, những cơ quan, tổ chức hỗ trợ, và đặc biệt quan trọng hơn hết là có bàn tay lông lá ngoại bang, ngoại giáo nào nhúng tay vào hay không?.
Người viết kỳ vọng rằng, sau những bài học kinh nghiệm quí báu vừa qua, nhà nước sẽ có những sách lược an dân hiệu quả và dài lâu, đồng thời chứng tỏ cho người dân thấy khả năng và sự quyết tâm sẵn sàng đập vỡ mọi âm mưu chống phá đất nước của những tổ chức vong nô, phản quốc.
Hy vọng đạo luật Đặc Khu Kinh Tế sẽ được thông qua ở thời điểm thích hợp, thuận lòng dân và sau khi nghiên cứu cặn kẽ trong mọi lãnh vực kinh tế, ngoại giao, quốc phòng, v.v…, trong đó bao gồm những biện pháp đối phó thích nghi cho những trường hợp xấu nhất có thể xảy ra trong tương lai dài lâu. Theo người viết, đạo luật này không chỉ nhắm đến hiệu quả kinh tế-Trên thế giới, đã có khoảng 4500 đặc khu (còn gọi là khu kinh tế tự do) tại khoảng 140 quốc gia đang áp dụng theo nhiều mô hình khác nhau (theo Dân Trí-http://dantri.com.vn/kinh-doanh/dac-khu-kinh-te-nhung-mo-hinh-thanh-cong-tren-the-gioi-20171007121058707.htm), trong đó, tại Á Châu có Nam Hàn, Bắc Hàn, Đài Loan, Trung quốc, Ấn Độ, Phi Luật Tân, Singapore, Mã Lai, v.v… -, mà còn là một chiến lược chính trị, quốc phòng quan trọng cho Việt Nam. Khi những đặc khu này trở thành khu thương mãi quốc tế/đa quốc gia, và có hải cảng thì việc chuyên chở vật tư và con người ra vào cảng khiến những nơi này trở thành trạm thông thương hàng hải có tính quốc tế, sẽ là những căn cứ ngăn cản hành vi xâm lấn của Trung quốc trên biển đông, đồng thời cũng là trạm kiểm tra Biển Đông, dọc duyên hải từ bắc vào nam.
Mong rằng luật an ninh mạng đã thông qua quốc hội, sẽ là vũ khí hiệu quả để bảo vệ người sử dụng mạng lương thiện và ngăn chận sự chống phá trên mạng của những kẻ thù địch trong và ngoài nước. Luật An Ninh Mạng (ANM) đã được 138 nước trên thế giới áp dụng, trong đó phải kể đến Hoa Kỳ được coi là nước có quản lý an ninh mạng rất tinh vi và triệt để khó có nước nào theo kịp. Một số cá nhân, đoàn thể dân sự hoặc giáo phái đã lên tiếng phản đối luật ANM. Họ đưa ra nhiều luận điệu, thông tin xuyên tạc sai sự thật của luật để lừa đảo dư luận, nhưng chắc chắn chúng lại sẽ thất bại vì người dân ngày càng không tin vào những luận điệu xuyên tạc của chúng nữa.
“Độc Lập và toàn vẹn lãnh thổ” là gia tài quí báu thiêng liêng của dân tộc. Bằng mọi cách, mọi giá, toàn dân Việt Nam, trong và ngoài nước, phải đoàn kết để tự bảo vệ gia sản này.
Những phần tử phản động, vong nô, với sự hỗ trợ của bàn tay lông lá ngoại bang ẩn núp phía sau, sẽ tiếp tục tìm mọi cơ hội để chống phá đất nước. Chúng sẽ tiến hành nhiều thủ đoạn nhằm gây bất an trong xã hội, chúng lại sẽ kêu gọi người dân biểu tình gây bạo loạn dưới chiêu bài nào khác, tạo cuộc “cách mạng màu” để lật đổ chính quyền.
Trước mối đe dọa này, không chỉ nhà nước, mà toàn thể người dân cần phải ý thức rõ ràng về sự nguy hiểm của những phần tử phản động này, hầu ngăn chận, đập tan từ trứng nước của cuộc cách mạng hoa hồng, hoa mai, hoặc hoa sen, v.v…của chúng. Không cho chúng có cơ hội tham gia chính quyền vì như thế chúng sẽ rước ngoại bang vào chi phối chính trị của đất nước. Nền Độc Lập sẽ bị đánh mất. Tuyệt đối không tạo cơ hội cho các thế lực ngoạ bang, Tàu, Mỹ, Pháp, cũng như Ca Tô Vatican, Tin Lành, v.v… vào thao túng, lèo lái chính trị của đất nước Việt Nam.http://sachhiem.net/images/sqdot.gif
TP Thanh Tâm (Sách hiếm.net)



TƯ DUY NÔ LỆ, PHỤ THUỘC VÀ CẦU NGOẠI BANG TRONG CUỘC TUẦN HÀNH CỦA GIÁO XỨ VĂN HẠNH THUỘC GIÁO PHẬN VINH

Chúng tôi đã nhiều lần đưa tin về việc ngày 17/6/2018, các linh mục hạt Văn Hạnh, Hà Tĩnh thuộc Giáo phận Vinh đã kích động giáo dân toàn giáo hạt tụ tập, tuần hành xung quanh nhà thờ để phản đối dự thảo luật đặc khu kinh tế và luật an ninh mạng.
Có nhiều nội dung, nhiều vấn đề cần mổ xẻ, phân tích trong vụ việc này như lợi dụng người già, trẻ em, đức tin… để phục vụ mưu đồ chính trị. Ở bài viết này, chúng tôi đề cập một khía cạnh khác thông qua những gì quan sát được qua hình ảnh, video clip đăng tải trên mạng xã hội. Đó là tư duy nô lệ, phụ thuộc, cầu ngoại bang trong cuộc tuần hành của giáo xứ Văn Hạnh thuộc Giáo phận Vinh.
Là công dân Việt Nam, chắc chắn ai cũng biết dân tộc ta trải qua nhiều thời kỳ lịch sử đánh giặc ngoại xâm oai hùng mới có được tự do, độc lập. Mỗi lần dân tộc ta mất độc lập, chủ quyền là do ngoại bang xâm lược, đánh chiếm. Và trong những lần ngoại bang xâm lược đó có không ít lần xuất phát từ lời kêu gọi từ bên trong mà dân gian có câu nói nổi tiếng là “rước voi về giày mả tổ”. Trong suốt quá trình lịch sử từ trung đại, cận đại cho đến hiện đại điều đó đều đúng với dân tộc Việt Nam. Việc điểm tên những lần cầu ngoại bang không quá khó, các bạn tự tìm hiểu được.
Chúng ta có được độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ như ngày nay đã trả giá biết bao nhiêu xương máu của các thế hệ cha anh.
Những người này muốn quốc tế cứu giúp cái gì đây? Cứu cái gì khi đất nước đang hoà bình, đang ổn định, đang độc lập, đang phát triển? Tạo cớ để đưa quân vào can thiệp quân sự, lật đổ chính quyền như một số nước trên thế giới thời gian vừa qua chăng? Những người này đại diện cho ai mà đòi kêu gọi nước ngoài “cứu Việt Nam”? Chắc chắn không phải đại diện cho nhân dân Việt Nam. “Quốc tế” đây là ai? Chắc các bạn cũng tự hiểu hướng họ đang nhắm tới!
Cũng có ý kiến cho rằng có lẽ chưa đến mức như vậy, những băng rôn, khẩu hiệu này là muốn nước ngoài “cứu” bằng cách gửi đô-la thôi! Chứ chưa đến mức họ mong muốn “cứu” dân tộc này bằng những “quả dân chủ” B52, tomahawk… như nước ngoài đã “tặng” các nước và đã “tặng” ngay cho dân tộc này mà đến nay hệ luỵ của nó vẫn còn dai dẳng!
Dù với bất kỳ lý do gì thì nhân dân Việt Nam đều lên án, phẫn nộ với tư tưởng vong nô, tư duy nô lệ, phụ thuộc và cầu ngoại bang như chỉ đạo của các linh mục Giáo hạt Văn Hạnh thuộc Giáo phận Vinh.
Huyền Trang (TTCPĐ)



Chủ Nhật, 17 tháng 6, 2018


QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN, BÁO CHÍ, TIẾP CẬN THÔNG TIN
VỚI NGHĨA VỤ CÔNG DÂN
Khung pháp luật của Nhà nước Việt Nam về quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin của công dân là cơ bản đầy đủ, đồng bộ, hoàn toàn tương thích với luật quốc tế về quyền con người. Trong đó, quy định rõ quyền, nghĩa vụ và việc hạn chế quyền này của công dân trong trường hợp cụ thể, nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
1. Mối quan hệ giữa quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin với nghĩa vụ công dân. Trong tất cả các văn kiện pháp luật của quốc tế và Việt Nam, khái niệm “quyền” luôn bao gồm: quyền và nghĩa vụ. Trong đó, tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin là một quyền cơ bản được ghi nhận trong bản Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền (1948) và được thể chế trong “Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị” (1966) đã quy định rõ quyền và nghĩa vụ của người hưởng thụ quyền tự do ngôn luận, báo chí. Theo đó, người dân có quyền tự do ngôn luận, quyền được sử dụng các phương tiện báo chí, thông tin, mạng internet, các trang mạng xã hội không trái với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, người sử dụng quyền này có nghĩa vụ phải tuân thủ quy định của pháp luật và chấp nhận những hạn chế quyền. Việc thực hiện những quyền này phải kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt và việc này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định, nhằm tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội.
Ở Việt Nam, “quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình”1 đã được quy định trong Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013) và được cụ thể hóa trong nhiều đạo luật, nghị định, như: Luật Báo chí (2016), Luật Tiếp cận thông tin (2016), Nghị định 72/2013/NĐ-CP, ngày 15-07-2013 của Chính phủ về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng,… và thực thi nghiêm túc, tạo không khí dân chủ trong xã hội2. Điều đó khẳng định và thể chế hóa quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta tôn trọng và bảo đảm thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền sáng tạo tác phẩm báo chí; cung cấp thông tin cho báo chí; phản hồi thông tin trên báo chí; tiếp cận thông tin báo chí, v.v. Quyền tiếp cận thông tin của công dân được quy định rộng rãi hơn; đó không chỉ là một quyền thụ động do cơ quan nhà nước công khai thông tin theo nhận thức của mình, mà còn là quyền chủ động, được đòi hỏi các cơ quan, tổ chức nhà nước đáp ứng. Trên không gian mạng, Nhà nước ta đã có những quy định về quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin. Theo đó, công dân có quyền được sử dụng các dịch vụ trên internet, trừ các dịch vụ bị cấm theo quy định của pháp luật và có nghĩa vụ tuân thủ các quy định về bảo đảm an toàn thông tin, an ninh thông tin; phải chịu trách nhiệm về nội dung thông tin do mình lưu trữ, cung cấp, truyền đưa trên mạng xã hội, v.v.
Tuy nhiên, cũng như các quyền khác của con người, việc thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin phải do pháp luật quy định và trong khuôn khổ pháp luật; quy định rõ mối quan hệ giữa quyềnvới nghĩa vụ công dân; “không được xâm phạm lợi ích quốc gia - dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”3. Vì thế, việc hạn chế các quyền này “theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”4 là một tất yếu. Những hành vi đăng, phát thông tin xuyên tạc, phỉ báng, phủ nhận chính quyền; bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; xuyên tạc lịch sử; phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc; thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân,... đều bị pháp luật xử lý. Đi liền với quyền tiếp cận thông tin là những quy định về phân loại những thông tin mà người dân được tiếp cận và những thông tin cơ quan, tổ chức không được phép cung cấp. Như vậy, “Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân”5; “nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt” hoặc “một số hạn chế nhất định” theo quy định của pháp luật Việt Nam hoàn toàn tương thích, phù hợp với luật quốc tế về quyền con người.
Hiện nay, quyền tự do ngôn luận, báo chí ở Việt Nam không những được bảo đảm tốt mà còn là nhân tố tích cực trong cuộc đấu tranh chống những biểu hiện tiêu cực trong xã hội. Nhiều vụ tham nhũng lớn được báo chí phanh phui, trước khi cơ quan chức năng phát hiện, như: vụ án Trịnh Xuân Thanh bắt nguồn từ bài báo “Xe tư gắn biển xanh” là một minh chứng. Những năm gần đây, các tổ chức đoàn thể, Mặt trận Tổ quốc tham gia tích cực việc giám sát, phản biện đối với chính sách của Nhà nước. “Quyền phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới”, tham gia phản biện, giám sát của cá nhân, tổ chức được Đảng, Nhà nước ta tôn trọng, khuyến khích. Tuy nhiên, vấn đề là phản biện ở đâu và động cơ phản biện như thế nào để đảm bảo tính khách quan; tránh hiện tượng “bôi đen” xã hội, bị kẻ xấu lợi dụng gây tổn hại cho người dân, xã hội và đất nước.
2. Kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm những hành vi lợi dụng quyền tự do ngôn luận, báo chí. Những năm gần đây, xuất hiện cái gọi là “đấu tranh bất bạo động”, “bất tuân dân sự”, “hội chứng đám đông” của một số “người bất đồng chính kiến”, v.v. Những hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam của những “người bất đồng chính kiến” được các hãng thông tấn, báo chí phương Tây “tăng âm”, phát tán với các bình luận bao che, cổ súy cho các hành vi phạm tội của họ với luận điệu lặp đi, lặp lại rằng: Việt Nam đang “bóp nghẹt quyền tự do ngôn luận, báo chí, internet”; “vi phạm quyền con người”, v.v. Điều này hoàn toàn phi lý và ngang ngược. Vì, pháp luật Việt Nam không có quy định về cái mà báo chí phương Tây gọi là những “người bất đồng chính kiến”. Do đó, cũng không có quy định pháp luật nào về tội danh đối với “người bất đồng chính kiến”; không có quy định nào về những ý kiến “bất đồng” hay ý kiến khác với Nhà nước là hành vi phạm tội. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, một số người lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự chụp cho mình cái mác “người bất đồng chính kiến” để viết, phát tán những nội dung xuyên tạc sự thật, chống phá chế độ xã hội, Nhà nước trên mạng internet, v.v. Điển hình là: Vũ Quang Thuận, Nguyễn Văn Điển, Trần Hoàng Phúc, Trần Thị Nga, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh,… và họ đã nhận những bản án thích đáng về “Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo Điều 88, Bộ luật Hình sự (1999). Đó là minh chứng cho cái giá phải trả của việc lợi dụng tự do ngôn luận, báo chí để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam. Trước Tòa, họ biện luận rằng: họ chỉ là những “người bất đồng chính kiến”, đấu tranh hợp pháp, bằng “bất bạo động” và điều này hoàn toàn không vi phạm pháp luật(!) Thực tế chứng minh điều ngược lại. Những người này đã đăng tải nhiều video/clip trên internet, phỉ báng chính quyền, phao tin bịa đặt, xuyên tạc sự thật; lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân trong xã hội. Nói cách khác, những “người bất đồng chính kiến” bị pháp luật xử lý là vì hành vi vi phạm pháp luật của chính họ.
Thực tế trên thế giới còn cho thấy, những vụ bạo động lật đổ chế độ thường diễn ra theo chuỗi: bắt đầu bằng đấu tranh “bất bạo động”, “bất tuân dân sự”, phát triển thành gây rối về an ninh trật tự dựa trên “hội chứng đám đông” và cuối cùng là gây bạo loạn lật đổ chính quyền từ cục bộ đến cả nước. Không loại trừ những kẻ cầm đầu kêu gọi lực lượng nước ngoài can thiệp. Đây là “kịch bản kinh điển” của những hoạt động lật đổ chế độ ở một số quốc gia trên thế giới trong những thập niên gần đây.
Ở nước ta, quyền tự do ngôn luận, nhất là quyền sử dụng mạng internet đã và đang bị các thế lực thù địch trong và ngoài nước lợi dụng triệt để để vu cáo, bội nhọ vai trò lãnh đạo cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, chống phá chế độ xã hội và Nhà nước ta. Những luận điệu cho rằng: “Chế độ Hà Nội là độc tài toàn trị”, Đảng Cộng sản Việt Nam “chiếm quyền” của dân, “đứng trên pháp luật”,… là một sự vu khống trắng trợn, hoàn toàn sai trái cả về thực tế và lý luận. Cũng như pháp luật của tất cả các quốc gia trên thế giới và pháp luật nói chung, pháp luật về quyền tự do ngôn luận nói riêng luôn luôn có mục tiêu bảo vệ chế độ xã hội. Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị ghi rõ: mọi dân tộc đều có quyền tự quyết; xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa. Quy định này đã mặc nhiên thừa nhận các dân tộc có quyền tự quyết lựa chọn chế độ chính trị; quyền và nghĩa vụ công dân đều do pháp luật của mỗi quốc gia quy định. Hơn nữa, pháp luật luôn mang tính chính trị, lịch sử và đặc thù về văn hóa. Ở nước ta, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được Hiến định tại Điều 4, Hiến pháp (2013) và được Quốc hội - cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân ta, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ghi nhận. Đảng ta không chỉ là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội mà còn có chức năng phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân và hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật. Về thể chế chính trị của nước ta, Điều 2, Hiến pháp (2013), quy định: “1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; 2. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; 3. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”6. Những thông tin, luận điệu cổ súy “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, lấy mô hình “tam quyền phận lập” phương Tây làm đối chứng để bác bỏ thể chế của Nhà nước ta không chỉ là một thủ đoạn bôi nhọ chế độ ta, mà còn ấu trĩ trong nhận thức về sự đa dạng các mô hình xã hội trên thế giới hiện nay.
Như vậy, cả về lý luận, pháp lý và thực tế cho thấy: pháp luật Việt Nam đã tương thích với luật quốc tế về quyền con người; tôn trọng và bảo đảm quyền con người nói chung, quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin nói riêng. Quyền và nghĩa vụ công dân trong thực hiện quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin không chỉ thống nhất, mà còn là điều kiện, tiền đề cho nhau. Công dân muốn được hưởng đầy đủ các quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin thì phải có nghĩa vụ thực hiện các quy định của pháp luật nhằm bảo vệ chế độ xã hội, Nhà nước, các quyền và lợi ích của người khác. Ngược lại, các quyền này có thể bị hạn chế hoặc tước bỏ nếu có hành vi vi phạm pháp luật.
TS. CAO ĐỨC THÁI
________________
1 - Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb CTQG, H. 2014, tr. 18.
2 - Tính đến tháng 6-2017, cả nước có 982 cơ quan báo, tạp chí được cấp phép hoạt động; trong đó: 193 báo in, 639 tạp chí, 150 báo điện tử. Số lượng người truy cập internet ước khoảng 64 triệu; Việt Nam đứng thứ 16 trong 20 quốc gia có số lượng người truy cập internet nhiều nhất châu Á.
3 - Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb CTQG, H. 2014, tr. 15.
4, 5, 6 - Sđd, tr. 14, 15, 8-9.
http://tapchiqptd.vn/vi/lam-that-bai-chien-luoc-dbhb/quyen-tu-do-ngon-luan-bao-chi-tiep-can-thong-tin-voi-nghia-vu-cong-dan/11875.html

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...