Thứ Ba, 15 tháng 5, 2018

BẢO VỆ NHÂN QUYỀN HAY CAN THIỆP VÀO CÔNG VIỆC NỘI BỘ?
Tin từ một số phương tiện truyền thông nước ngoài bằng tiếng Việt (RFA, VOA) cho hay: Hoa Kỳ sẽ tiếp tục gây sức ép để Việt Nam trả tự do cho tất cả những tù nhân đang bị giam cầm vì lý do chính trị hay tôn giáo trong cuộc đối thoại nhân quyền sắp tới, một quan chức Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho biết nhân Ngày Nhân quyền Việt Nam 2018.
Một số quan chức của Hoa Kỳ như Ông Scott Busby, phó trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ phụ trách về dân chủ, nhân quyền và lao động; ông Scott Flipse, giám đốc Chính sách và Quan hệ truyền thông của Văn phòng Quốc hội đặc trách Trung Quốc và từng là phó giám đốc Nghiên cứu Chính sách tại Ủy hội của Hoa Kỳ về Tự do Tôn giáo Quốc tế còn nói bừa rằng: Chính quyền bắt và giam giữ tùy tiện những tiếng nói đối lập ôn hòa, hạn chế các quyền tự do ngôn luận, hội họp, lập hội, quyền đi lại và quyền tự do tôn giáo, kiểm duyệt báo chí, giới hạn quyền tự do internet…”?!
Được biết, cái gọi là “Ngày Nhân quyền Việt Nam 11/5” được thi hành theo Quyết nghị chung của Quốc hội Hoa Kỳ và Công luật do cựu Tổng thống Bill Clinton ban hành vào năm 1994.
Trước hết cần nhận thấy rằng, một quan chức Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ trên đã phạm sai lầm nghiêm trọng, đó là có hành vi xúc phạm thô bạo vào chủ quyền quốc gia của Việt Nam. Những quan chức này lấy tư cách gì để yêu cầu Việt Nam trả tự do cho tất cả những tù nhân đang bị giam cầm được cho là “vì lý do chính trị hay tôn giáo” khi mà Nghị quyết Liên hợp quốc về nguyên tắc “không can thiệp vào công việc nội bộ” được thông qua năm 1965 và được ghi nhận, thể hiện trong nhiều văn bản pháp lý quốc tế quan trọng khác đó là: “Tuyên bố cấm can thiệp vào công việc nội bộ, bảo vệ độc lập và chủ quyền của các quốc gia”.
Có phải chăng, Chính phủ Việt Nam “bắt và giam giữ tùy tiện những tiếng nói đối lập ôn hòa” như những cáo buộc? Không, hoàn toàn không.
Ở Việt Nam, hay ở bất cứ quốc gia dân chủ nào, thì xã hội đều được quản lý bằng luật pháp; mọi tổ chức và công dân đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, nếu không sẽ bị cơ quan chức năng truy tố, xét xử theo quy định. Đây là vấn đề tất yếu khách quan, hoàn toàn phù hợp với Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền. Vì thế, việc một số quan chức Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, lấy một số tổ chức, cá nhân, như: “Hội Anh em dân chủ”, Nguyễn Văn Đài, Hoàng Đức Bình, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh,… để làm “ví dụ điển hình” cho cáo buộc của họ thì thật nực cười. Cái gọi là “Hội Anh em dân chủ” là một tổ chức phi pháp, được tiếp tay bởi những tổ chức, cá nhân kỳ thị với Nhà nước Việt Nam, mang tư tưởng chống cộng cực đoan và cả tổ chức khủng bố. Những cá nhân nêu trên đều có những hành vi vi phạm luật pháp, làm mất trật tự, an toàn xã hội, thậm chí xâm phạm an ninh quốc gia, nên đều bị cơ quan thực thi pháp luật điều tra, bắt giữ, truy tố và được Tòa án nhân dân các cấp xét xử, xử phạt nghiêm minh, được nhân dân đồng tình ủng hộ.
Và phải chăng, Chính phủ Việt Nam “hạn chế các quyền tự do ngôn luận, hội họp, lập hội, quyền đi lại và quyền tự do tôn giáo, kiểm duyệt báo chí, giới hạn quyền tự do internet”? Đây lại là một xuyên tạc, lừa dối trắng trợn của một số quan chức Bộ ngoại giao Hoa Kỳ.
Trên thực tế, ở Việt Nam, việc tôn trọng, bảo đảm các quyền cơ bản của người dân không chỉ thể hiện ở việc kiện toàn hệ thống pháp luật, chính sách liên quan đến quyền con người mà được thực hiện trên tất cả các mặt như: tự do ngôn luận, báo chí, thông tin; tự do tín ngưỡng, tôn giáo; bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo, giáo dục… Đời sống vật chất tinh thần của nhân dân phát triển ổn định, các tổ chức xã hội và người dân tham gia tích cực vào quá trình kiểm tra, giám sát việc thực thi luật pháp, chính sách của Nhà nước. Các tổ chức tôn giáo được tạo điều kiện thuận lợi để hoạt động. Báo chí, internet phát triển mạnh. Việt Nam hiện nằm trong số 20 quốc gia có số người dùng Internet nhiều nhất thế giới, đứng thứ 8 ở khu vực châu Á và đứng thứ 2 trong ASEAN. Khoảng 50 triệu người Việt Nam sử dụng Internet (chiếm khoảng 52% dân số) và dễ dàng thể hiện quyền tự do ngôn luận của mình thông qua các tài khoản mạng xã hội…
Như vậy, không thể nói ở Việt Nam không có tự do ngôn luận, báo chí, kỳ thị, đàn áp tôn giáo.
Mang danh “bảo vệ dân chủ, nhân quyền” nhưng chỉ nghe qua những giọng điệu của một vài quan chức Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã đủ thấy họ hoàn toàn không phải vì nhân quyền cho Việt Nam. Thực chất, đó là hành vi bảo vệ, tiếp tay cho những kẻ âm mưu lợi dụng tự do dân chủ để chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam./.

http://ngheanthoibao.com/bao-ve-nhan-quyen-hay-can-thiep-vao-cong-viec-noi-bo/
CHỦ NGHĨA DÂN TÚY VÀ NHỮNG CẢNH BÁO ĐỐI VỚI VIỆT NAM
(ĐCSVN) - Dân túy thường được dùng để nói về những thủ đoạn chính trị mang tính mị dân, đánh vào tâm lý của đám đông... Để có thể phòng ngừa chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam, điều quan trọng nhất là nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về những tác hại của chủ nghĩa dân túy, phải hạn chế tối đa “đất sống” của chủ nghĩa dân túy.
Chủ nghĩa dân túy - một hiện tượng của nền chính trị thế giới
Từ năm 2016, nền chính trị thế giới, lại xuất hiện và bùng lên một hiện tượng nổi bật, thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu: chủ nghĩa dân túy đang trỗi dậy.
Có thể thấy, chưa bao giờ cụm từ “chủ nghĩa dân túy” được nhắc nhiều đến như vậy trên chính trường và báo chí thế giới, đặc biệt nhân dịp các cuộc bầu cử, trưng cầu dân ý ở nhiều nước Âu, Mỹ. Ngay ở Châu Á, nơi vốn được xem là “bình lặng” trong “cơn địa chấn dân túy” cũng đã có những chính trị gia đạt đến đỉnh cao quyền lực bằng và thông qua những phát ngôn và hành động dân túy. Rất nhiều hãng tin và tờ báo lớn đã giật những tít bài rất kêu trong phân tích tình hình chính trị thế giới năm 2016, 2017: “Khi chủ nghĩa dân túy lên ngôi”, “Chủ nghĩa dân túy và những cơn địa chấn”… Giới phân tích chính trị thì lo lắng sự thắng thế của làn sóng dân túy có thể dẫn đến những kết quả khó đoán, bất ngờ và tác động bất ổn đến nền chính trị các nước, các khu vực và thế giới.
Sự lo lắng đó là có cơ sở, vì cách mà các nhân vật này thực hiện những cam kết trong chiến dịch tranh cử của họ có thể hạn chế, thậm chí đảo ngược một số đường lối tích cực mà các quốc gia đang theo đuổi như: sự ổn định xã hội, bình đẳng giới, bình đẳng kinh tế, tự do thương mại, sự bao dung giữa các dân tộc, tôn giáo, xu hướng hợp tác quốc tế và toàn cầu hóa…
Góp phần nhận diện chủ nghĩa dân túy và nguyên nhân của nó
Hơn một thế kỷ trước vào năm 1890, thuật ngữ “chủ nghĩa dân túy” được sử dụng rộng rãi tại Mỹ trong phong trào thúc đẩy người dân nông thôn và Đảng Dân chủ chống lại những người Đảng Cộng hòa thường sống tập trung ở đô thị. Nó cũng được sử dụng để nói đến phong trào của các trí thức ở Nga tự ghét bỏ tầng lớp của mình và đồng cảm với giai cấp nông dân, ấp ủ mộng ước xây dựng những “công xã nông thôn” cho giai cấp nông dân dựa trên nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa xã hội không tưởng. Từ vai trò tích cực trong tập hợp nông dân đứng lên chống lại Nga hoàng, theo sự phát triển của lịch sử, nó lại trở thành trào lưu tư tưởng cản trở sự phát triển, là một trở ngại cho việc truyền bá chủ nghĩa Mác vào nước Nga(1). Những sai lầm, bản chất phản động, đi ngược lại lý luận của chủ nghĩa Mác của phái này đã bị V.I.Lê-nin phê phán mạnh mẽ trong tác phẩm “Những người bạn dân là thế nào, họ đấu tranh chống những người dân chủ - xã hội ra sao”.
Tuy nhiên, để xác lập một cách hiểu hoàn chỉnh, thống nhất về khái niệm có tính chất phức hợp như chủ nghĩa dân túy là một vấn đề khó.Thống nhất trong nhận định và đánh giá các biểu hiện trong thực tiễn xã hội, chính trị lại càng khó hơn.Những khái niệm như chủ nghĩa dân túy, phong trào dân túy, hành động dân túy, phát ngôn dân túy… được đưa ra trong những bối cảnh, hành động khác nhau có cách hiểu và tác động khác nhau.
Khoa học xã hội xem dân túy như một khuynh hướng tư tưởng và chính trị nhấn mạnh sự tương phản giữa “nhân dân” với tầng lớp “tinh hoa”, thể hiện trong những tuyên bố cho là mình đứng về phía “dân thường”(2). Nó như một phong cách chính trị cụ thể, một hình thức hùng biện chính trị hay chiến lược để đạt được quyền lực(3). Sự ra đời của nó được đánh dấu với những biểu hiện dường như “phi chính trị”, bằng sự từ chối giới tinh hoa, từ chối những tư tưởng “dòng chính” đang ngự trị để nói lên tiếng nói của người dân có vị trí xã hội thấp…
Có quan điểm xem dân túy như một ý thức hệ, nhưng chỉ là một “ý thức hệ mỏng”(4), không có hệ thống quan điểm riêng, không có nhân tố cấu thành cốt lõi tư tưởng của chính mình nhằm phân biệt với các hệ tư tưởng khác. Ý kiến khác lại xem dân túy là “một phong trào chính trị nhấn mạnh lợi ích, đặc điểm văn hóa và tình cảm tự phát của những người dân bình thường, trái ngược với những người của một tầng lớp đặc quyền”(5). Dưới góc độ phong cách ngôn ngữ và một phương thức hành động, dân túy “là chính sách của kẻ cơ hội tìm cách để giành được lòng tin của quần chúng”.
Trong ngôn ngữ hằng ngày ở châu Âu, châu Mỹ lẫn ở châu Á, dân túy thường dùng để chỉ trích một đảng phái, một vài chính trị gia nào đó đang tìm kiếm sự thu hút, ủng hộ của dân chúng và dư luận bằng những lời hứa êm tai nhưng trống rỗng, thậm chí thiếu trách nhiệm đối với tương lai chính trị của đất nước, mang nặng cảm xúc nhất thời, thiếu triết lý bền vững cho những mục tiêu chính trị lâu dài và giải pháp hiệu quả cho các vấn đề hiện tại.
Vì vậy, từ các cách tiếp cận trên, có thể nhìn nhận, khái niệm dân túy thường được dùng để nói về những thủ đoạn chính trị mang tính mị dân, đánh vào tâm lý của đám đông để kêu gọi, tổ chức phong trào nhằm lôi kéo, tranh thủ sự ủng hộ của dư luận và quần chúng nhân dân.
Một câu hỏi đặt ra, tại sao chủ nghĩa dân túy, phong trào dân túy, các cá nhân theo đường lối dân túy thời gian gần đây lại có xu hướng phục hồi, phát triển? Có thể tìm thấy lý do cho sự trỗi dậy ấy từ những nguyên nhân chủ yếu:
(1) Sự trì trệ về kinh tế, sự già hóa dân số và mức thu nhập không tăng đã làm cho đời sống người dân, nhất là của những người yếu thế không được cải thiện làm gia tăng sự bất mãn của người dân. (2) Toàn cầu hóa đã đưa đến nghịch lý: công nghệ sản xuất phần lớn được đưa từ các quốc gia phát triển sang các quốc gia chậm hay đang phát triển, và hàng hóa được chuyển theo chiều ngược lại. Do đó, lợi ích chủ yếu mang lại cho các công ty lớn hoặc đa quốc gia, trong khi đó những người lao động thiếu việc làm hoặc tay nghề thấp mất việc nhưng không có khả năng để tìm việc mới, gây bất bình trong người lao động. (3) Cách mạng khoa học công nghệ, nhất là công nghệ thông tin đã thay đổi mọi mặt của đời sống, từ kinh tế đến quan hệ giữa con người; quá trình cá nhân hóa thông tin tăng cao, tin giả tràn lan, làm cho người dân hiểu không đủ rõ vấn đề, dễ hoang mang, bị thông tin chi phối, dẫn dắt. (4) Chính sách xã hội phải đối mặt với nhiều thách thức, chi phí cho chính sách an sinh đối với người già, tàn tật, thất nghiệp hay hưu trí càng tăng làm gia tăng đáng kể số nợ của chính phủ, theo đó, nợ nần luôn đè nặng lên đời sống vốn đã khó khăn của không ít người dân và của xã hội. (5) Sự quan liêu xa rời và thiếu gần gũi với nhân dân của giới quan chức cầm quyền đã tạo ra một khoảng cách lớn giữa lợi ích và tiếng nói của người dân hoặc của một số tầng lớp dân cư với giới chức cầm quyền hoặc những người có quyền lực trong xã hội. (6) Di dân và di tản toàn cầu, với nhiều lý do, thật sự là thách thức đối với các chính phủ, khoét sâu sự ngăn cách về tâm lý giữa người đến và người sở tại về những khó khăn trong giải quyết, tiếp cận cơ hội, việc làm và phát triển.
Tóm lại, tình hình biến đổi sâu sắc, tình trạng bất bình đẳng gia tăng, nhiều vấn đề kinh tế - xã hội chưa được giải quyết tốt, lợi ích chính đáng, hợp pháp của số đông người lao động chưa được quan tâm giải quyết hiệu quả… là những nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân túy ở các nước Âu, Mỹ hiện nay.  Khi nhiều người dân bất mãn trong một thời gian dài,vượt quá giới hạn chịu đựng của họ, mà không có những giải pháp chính trị, kinh tế, xã hội thích hợp, thì đó chính là mảnh đất màu mỡ cho sự xuất hiện các khuynh hướng của chủ nghĩa dân túy, là “dư địa” để nó gây ra những cơn địa chấn mới.
Phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn các biểu hiện dân túy ở nước ta hiện nay
Các nhà phân tích chính trị cảnh báo“Có một cơ hội rất thực rằng sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân túy có thể trở thành hiện tượng chính trị quyết định trong thập kỷ tới, không chỉ ở Mỹ hay châu Âu mà ở khắp các nền dân chủ phát triển”(6).
Liệu chủ nghĩa dân túy có xuất hiện ở Việt Nam khi mà trên thế giới nguy cơ của nó đang hiện hữu và có xu hướng mở rộng?Câu trả lời là: Không có gì là không thể.
Chúng ta phải hết sức cảnh giác với chủ nghĩa dân túy, khi đất nước đang chủ động hội nhập sâu, rộng và toàn diện vào đời sống quốc tế trong quá trình toàn cầu hóa, đòi hỏi “dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội”(7) trong điều kiện “nhận thức về dân chủ trong một bộ phận cán bộ đảng viên và nhân dân còn hạn chế”… “có lúc, có nơi việc thực hiện dân chủ còn hạn chế hoặc mang tính hình thức; có tình trạng lợi dụng dân chủ gây chia rẽ làm mất đoàn kết nội bộ”(8). Mặt khác, phải thẳng thắn nhìn nhận những yếu tố có tính nguyên nhân như phân tích ở trên đều tồn tại ở những mức độ phức tạp khác nhau trong đời sống kinh tế, xã hội Việt Nam. Bên cạnh đó,“việc giải quyết một số vấn đề xã hội chưa hiệu quả, giảm nghèo chưa bền vững, chênh lệch giàu nghèo và bất bình đẳng có xu hướng gia tăng”(9) là những điều kiện để các phát ngôn, hành động dân túy bộc phát.
Sự mong muốn thực hành dân chủ trong một bộ phận nhân dân, khi điều kiện thông tin chưa thật sự đầy đủ để có thể phân biệt rõ giữa dân chủ và dân túy, có thể dẫn đến sự nhầm lẫn giữa dân chủ và dân túy. Mặt khác, khi những phần tử cơ hội chính trị lợi dụng tình hình phức tạp để mưu đồ cá nhân, phe nhóm, dẫn đến nguy cơ một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân hào hứng đón nhận các phát ngôn, hành động dân túy.
Để có thể phòng ngừa chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam, điều quan trọng nhất là nâng cao nhận thức của cán bộ đảng viên và nhân dân về những tác hại của chủ nghĩa dân túy, phải hạn chế tối đa “đất sống” của chủ nghĩa dân túy và cần lưu ý một số vấn đề sau:
Một là, phải nhận diện và cảnh giác với những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy trong đời sống chính trị Việt Nam. Có thể đánh giá, ở Việt Nam đã có những biểu hiện bước đầu của phát ngôn, lời nói, hành động mang tính dân túy. Ta dễ dàng nhận thấy những biểu hiện này qua các phát ngôn theo kiểu “nói cho sướng miệng”, không đúng chủ trương, đường lối, nguyên tắc của Đảng, bỏ qua những quy định pháp lý, thiếu tính khả thi, vượt quá hoặc không đúng thẩm quyền của một vài cá nhân được sự tung hô của những tờ báo non nớt về chính trị, của một vài “thủ lĩnh” trên mạng xã hội, thu hút được quan tâm của quần chúng vì “lạ khẩu vị”. Thực tế ấy đã được Nghị quyết Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Đã xuất hiện những việc làm và phát ngôn vô nguyên tắc, trái với cương lĩnh, đường lối, điều lệ Đảng ở một số cán bộ, đảng viên”(10). Nó rất gần với những gì đã và đang xảy ra trên thế giới, ở chỗ những phát ngôn, lời nói và hành động mang tính dân túy đã nhất thời lấy được lòng dân vì những cá nhân này đã biết khai thác tâm lý chán ngán của người dân về hình ảnh mô phạm, nhàm chán của các chính trị gia chính thống, “sử dụng thứ ngôn ngữ mạnh mẽ, cực đoan nhưng dễ hiểu với đa số mọi người, hứa hẹn về quyền lợi cho số đông, thổi bùng ý niệm về sự xung đột lợi ích giữa các nhóm đa số và thiểu số…”(11). Ở một khía cạnh khác, những cá nhân, những con người hành xử theo hướng dân túy như đã nói ở trên cũng đã thu được những kết quả, trở thành “nhân vật của truyền thông”, thậm chí đã từng đạt đến vị trí cao trong nấc thang quyền lực. Công bằng mà nói họ cũng là những người có sức thu hút cá nhân, “hoạt ngôn”, tranh thủ được không ít người bằng kiểu hành xử “của người phúc ta” và biết cách “đầu tư” xây dựng các tờ báo, phóng viên “thân hữu”, các cây bút mạng có ảnh hưởng. Họ biết “chọn thời điểm để tỏa sáng, thường là những lúc người dân trong xã hội phải đối mặt với những khó khăn trở ngại trong cuộc sống do suy thoái kinh tế, bất ổn an ninh”(12).
Hai là, thực tế trên thế giới cũng cho thấy, sở dĩ người dân tin và đi theo phong trào dân túy hay ủng hộ các nhân vật dân túy cũng vì phần lớn là do sự điều hành kém hiệu quả của chính quyền trong giải quyết những bất bình và bức xúc của người dân, từ đó họ mong muốn có những người đại diện cho công quyền kiểu khác, thậm chí là một chính quyền khác mạnh mẽ và hiệu quả hơn, hiểu họ hơn. Có như vậy, may ra những nguyện vọng và mong ước của người dân mới được đáp ứng. Báo cáo Chính trị tại Đại hội XII của Đảng yêu cầu: “Hoàn thiện thể chế hành chính dân chủ - pháp quyền, quy định trách nhiệm và cơ chế giải trình của cơ quan nhà nước; giảm mạnh, bãi bỏ những thủ tục hành chính gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp. Đề cao đạo đức công vụ, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong chỉ đạo và thực thi công vụ”(13). Chính vì vậy, các cơ quan công quyền từ trung ương đến địa phương phải hết sức có trách nhiệm tìm hiểu và hành động để giải quyết hiệu quả những vấn đề bức xúc, những nguyện vọng, lợi ích chính đáng và hợp pháp của nhân dân. Hành động của bộ máy cơ quan công quyền các cấp và của mọi cán bộ, công chức thực thi công vụ phải thực sự vì lợi ích chung, vì lợi ích chính đáng của nhân dân và dân tộc, để hành động theo đúng chỉ dạy của Bác Hồ: “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm”; không chỉ và không thể chỉ vì lợi ích trước mắt, chỉ vì danh lợi cá nhân, chỉ vì tương hợp với “lợi ích nhóm” của mình, đi ngược lại lợi ích của Nhân dân, của dân tộc.
Ba là, tiếp tục kiên định thực hiện một cách chủ động, linh hoạt và sáng  tạo chiến lược đối ngoại trong hội nhập quốc tế,với nguyên tắc bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc theo phương châm “hội nhập là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh, chủ động dự báo, xử lý linh hoạt mọi tình huống, không để rơi vào thế bị động, đối đầu, bất lợi”(14). Điều cần nhấn mạnh là, không chỉ vì quá cảnh giác với chủ nghĩa dân túy mà chúng ta lại tự cô lập, đứng ngoài “cuộc chơi”của thế giới. Song, cũng không phải chỉ vì muốn quan hệ và “làm ăn” mà phải luôn “làm theo đám đông”, mà phải chấp nhận, đánh đổi tất cả, và qua đó để cho chủ nghĩa dân túy có điều kiện xâm nhập và nảy sinh ở Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, các kênh đối ngoại và các hoạt động đối ngoại phải hết sức tỉnh táo, bình tĩnh, chủ động và mềm dẻo để Việt Nam không bị cô lập với thế giới, không bị lệ thuộc vào thế giới và cũng không bị tác động tiêu cực bởi “chủ nghĩa dân túy”.
Bốn là, tăng cường xây dựng chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức.
Yêu cầu, nhiệm vụ nặng nề của thời kỳ phát triển mới, đòi hỏi chúng ta phải đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà trung tâm là đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đây là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa sống còn với Đảng và chế độ ta, là một trong sáu nhiệm vụ trọng tâm của cả nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng.
Như chúng ta biết, tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, sự xuống cấp về đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, tệ tham nhũng, quan liêu, lợi ích nhóm, đã và đang làm tổn thương lòng tự trọng, danh dự và cũng đòi hỏi, thôi thúc hành động của những đảng viên chân chính, tâm huyết với sự nghiệp cách mạng của Đảng. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII của Đảng đã nhận diện 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Trong các biểu hiện ấy, có biểu hiện manh nha của chủ nghĩa dân túy, có biểu hiện là “cơ hội” cho dân túy bộc phát, lên ngôi. Vì vậy, cần nhận thức rõ rằng, đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ là “cuộc chiến đầy cam go, nhưng không thể không làm, vì nó liên quan đến vận mệnh của Đảng ta và chế độ ta”(15).
Nắm vững và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh, những kinh nghiệm xương máu từ truyền thống lãnh đạo cách mạng của Đảng, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tuyên truyền, giáo dục trong toàn hệ thống chính trị, tạo chuyển biến về chất trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên tự soi mìnhtự sửa đổi lối làm việc, khép mình vào kỷ luật của Đảng, nói và làm theo cương lĩnh, điều lệ, nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước, góp phần bồi đắp niềm tin của Nhân dân về một Đảng là hiện thân của giá trị “đạo đức, văn minh”.
Năm là, phải tuyên truyền rộng rãi cho Nhân dân thấy rõ những biểu hiện, nguy cơ và tác hại của chủ nghĩa dân túy. Trong nhiều trường hợp, người dân không thể phân biệt được đâu là người theo hay không theo chủ nghĩa dân túy, dễ nhầm lẫn giữa người vô nguyên tắc, vô chính phủ với người mạnh mẽ đổi mới. Trong khi đó, sự cổ súy từ những cây bút có chủ ý hoặc do non nớt về chính trị của một số tờ báo và một số trang mạng xã hội sẽ đem đến sự nhầm lẫn trong đánh giá. Ngay từ bây giờ, cả hệ thống chính trị và mỗi công dân cần nhận thức rõ, biết cảnh giác và phải từng bước đấu tranh với những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy dưới mọi màu sắc.
Đấu tranh ngăn ngừa và chống chủ nghĩa dân túy xâm nhập là một quá trình bền bỉ, dài lâu, gắn bó mật thiết với công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, là một phần rất quan trọng của đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng. Phải kiên trì làm công tác tư tưởng, đề cao sự phòng ngừa. Điều này đòi hỏi sự tất yếu và cấp bách phải tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo của các các cấp ủy, sự vào cuộc của báo chí, truyền thông và sự tham gia tích cực của mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân./.      

Võ Văn Thưởng
Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng,
Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương


(1) Dẫn theo bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(2) Michael Kazin: Trump và chủ nghĩa dân túy Hoa Kỳ, 1-2/2017
(3) Frank Decker (2004): Der neue Rechtspopulismus, Opladen, Leske+Budrich, 2.Auflage, S33(dẫn lại theo bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(4) Dẫn theo bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(5) Dẫn theo bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(6) Khi chủ nghĩa dân túy lên ngôi.Http://baotintuc.vn/  Thứ Sáu, 27/01/2017
(7) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb.Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2016,tr.169
(8) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb.Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2016,tr.168
(9) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb.Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2016,tr.133
(10) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb.Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2016,tr.195
(11) 2016 - Năm dân túy. Ngaynay.vn ngày 05/01/2017
(12) 2016 - Năm dân túy.  Ngaynay.vn ngày 05/01/2017
(13) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb.Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội,2016,tr.178
(14) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb.Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội,2016,tr.155
(15) Trích phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị cán bộ toàn quốc phổ biến, quán triệt Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII, tháng 12 năm 2016

http://www.dangcongsan.vn/tu-tuong-van-hoa/chu-nghia-dan-tuy-va-nhung-canh-bao-doi-voi-viet-nam-483659.html
HÌNH TƯỢNG BÁC HỒ TRONG THƠ THẾ GIỚI
(ĐCSVN) - Từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nếu như trong thơ ca Việt Nam, hình tượng Hồ Chí Minh - với một cuộc đời đấu tranh không mệt mỏi vì độc lập tự do cho đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân, vì hòa bình nhân loại là một nguồn cảm hứng vô tận của sáng tạo thi ca thì trên thế giới, “Hồ Chí Minh – tên Người là cả một niềm thơ”, là biểu trưng của tinh thần thời đại…
 Thơ thế giới viết về Bác chủ yếu thể hiện qua cảm nhận về tầm vóc, những cống hiến và sức lan tỏa từ cuộc đời vĩ đại của một lãnh tụ. Có thể nói, cảm hứng chủ đạo của các nhà thơ thế giới viết về Bác Hồ là sự ngợi ca, khâm phục, tự hào về một Con Người mà cuộc đời là sự hiện thân của của ý chí phấn đấu đến cùng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và hòa bình nhân loại:
                                                  "Những trái tim lớn trong lòng nhân loại
                                                   Thường vượt không gian, thời gian
                                                   Đến với trái tim ta..."
                                                  (Nhiêu Vi Chất - Bác Hồ của chúng con)
Những câu trên đây của nhà thơ Campuchia đã khái quát một vấn đề lớn trong thơ thế giới: với những bậc vĩ nhân của thời đại, bản thân cuộc đời và những cống hiến của họ đã trở thành bài thơ đẹp nhất, đáng ca ngợi nhất.
Cảm phục vô hạn một bậc vĩ nhân của thời đại, nhà thơ Paven Antôkônxki (Liên-xô) trong "Bức tượng đồng trong rừng sâu", thông qua một kỷ niệm có thực đã ví Bác như một bức tượng đồng ngàn năm vẫn còn là khuôn mẫu. Còn Phêlich Pitarôđơrighêt (nhà thơ Cu-ba) thì khẳng định: tên tuổi và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ mãi mãi là một niềm thơ ngân vọng lòng người bởi những dấu ấn lịch sử, những đổi thay lớn lao cho dân tộc và loài người yêu chuộng hòa bình trên thế giới do tài năng, phẩm cách của Người kiến tạo. Những dòng thơ buồn man mác, thấm đượm sự cảm thông đưa người đọc trở về với quá khứ cực nhục của ngày xưa khiến tình cảm trong nhà thơ càng thêm lắng đọng: "Bởi vì Người đã đói mọi cơn đói ngày xưaVì Người đã chết hai triệu lần năm bốn nhăm khủng khiếpBởi vì Người đã mặc lên mọi tấm áo xác xơĐã đi chân đất với mỗi đôi chân trần của của người dân mất nước/ Bởi vì Người đã chất chứa nỗi tủi nhục của mọi người cùng cựcBởi vì Người đã từng chịu nỗi đau roi vọt đánh vào dân tộc... Và như thế Người đã nhận ra rằng:Bất cứ ở đâu con người cũng chỉ là một và đói khổ cũng chỉ là một/ Và Người cũng biết: ở đâu cũng một lòng căm uất và đường đi chỉ có một mà thôi..."
Nhan đề bài thơ cùng điệp khúc “Hồ Chí Minh - tên Người là cả một niềm thơ” được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong bài thơ với tình cảm chân thành của thi sĩ đã làm cho hình tượng trở thành khúc tráng ca có âm vang trùng điệp.
Bài thơ "Bác Hồ" của một nhà thơ Cu-ba khác - Lisanđơrơôtêrô - miêu tả Bác như một lãnh tụ thiên tài, một nhà chính trị, nhà tư tưởng và một nhà thơ lớn. Tác giả đã khái quát và cắt nghĩa bản chất của Người: "Để làm nên một người cộng sảnHồ Chí Minh gốc của dân và cũng chính là dân...".
Hình ảnh Bác còn là hiện thân của đức độ khiêm tốn, những phẩm chất cao quý nhất của một người cộng sản: "Trên ngực Người không đòi hỏi huân chươngTâm hồn Người bao trùm thế giới..."
Phẩm chất đó cũng được nhà thơ Inđônêxia Đagiô thể hiện trong cách nói ẩn dụ về "vẻ bên trong của viên ngọc": "Khi đức độ đã ngời như ngọc quýThì có nghĩa gì chiếc ghế phủ nhung êm."
Dành trọn cuộc đời để cống hiến cho sự nghiệp cách mạng, với Bác, điều quý nhất, niềm mong mỏi sâu nặng nhất là cơm no áo ấm, tự do hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam, cho hòa bình nhân loại. Người muốn đi tìm trong sự áp bức, bất công cái ý nghĩa chân chính nhất vẻ đẹp ngời sáng của phẩm giá con người - nói như Phêlich Pitarôđơrighêt: "Còn cao hơn miếng cơm, danh vọngCao hơn cả trường tồn cuộc sống..."
Tầm vóc của một nhà tư tưởng chiến lược Hồ Chí Minh còn được cảm nhận từ góc độ một con người rất đỗi gần gũi. Phẩm giá "sống hiên ngang mà thân ái chan hoà" vừa vĩ đại vừa chân thành giản dị ấy được nhà thơ Pháp Mađơlen Ripphô miêu tả: "Người cầm hai bó hoa hồngTựa như những đoá ta trồng vườn hoaHỏi thăm tin tức chúng taHiểu dân tộc Pháp hơn là bạn, tôi…" Đó là hình ảnh đẹp nhất - hình ảnh một con người tỏa lòng nhân ái bao la và ánh sáng diệu kỳ từ một tâm hồn cao đẹp.
*
*     *
Viết về Người, đặc biệt các nhà thơ còn ca ngợi tình yêu thương sâu nặng của Người với trẻ thơ. Ghêoocghi Vêxêlinôp - một nhà thơ Bulgari có vinh dự được tiếp xúc và cảm nhận được điều đó qua tấm lòng bao dung mênh mông của Bác, đã kể lại ấn tượng có lẽ chẳng bao giờ phai mờ trong tâm trí: "Một lãnh tụ và một trẻ thơĐã hiểu nhau tự bao giờChân thành và bền chặtVà con tôi cứ tự hào nhắc mãiHai bố con mình hôm ấyĐã cùng nói chuyện với Hồ Chí Minh..."
Sự giản dị, đức khiêm nhường và tình cảm gắn bó với trẻ thơ trong bài thơ này gợi nhớ một kỷ niệm mà lòng nhân hậu của vị lãnh tụ Việt Nam từng khiến cho kẻ thù của dân tộc và những người có lương tri trên thế giới hết lòng cảm kích. Đó là chuyện Bác Hồ gửi một quả táo cho một em bé Pháp sau hội nghị Phôngtenbơlô năm 1946.
Bên cạnh việc khắc họa hình ảnh một con người giàu lòng nhân ái, thơ thế giới còn tập trung ca ngợi Bác ở khía cạnh một nhà tư tưởng lớn của thời đại, một lãnh tụ thiên tài. Qua thơ, hình ảnh Bác hiện lên như một vị thuyền trưởng dày dạn kinh nghiệm, tự tin vững lái con tàu cách mạng Việt Nam vượt qua phong ba, bão tố đi hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Êoan Maccôn, nhà thơ Anh trong bài thơ "Hồ Chí Minh" đã viết: "Hồ Chí Minh - ông già thuyền trưởngĐã từng qua bảy biển năm châu".
Trong bài thơ "Hồ Chí Minh", Trabani Akhơmet - nhà thơ Angiêri khẳng định: tinh thần đấu tranh không mệt mỏi của Người kiên trì chống lại áp bức đến cùng đã trở thành một tấm gương, một biểu tượng khiến kẻ thù phải vô cùng khiếp đảm: "Tên của Người đồng nghĩa với danh từ chống đế quốcTên của người cao hơn mây bayTên của Người cao hơn đại bácTiếng nói của Người dội vang đất nướcKêu gọi nhân dân cầm vũ khí đứng lên." Tiếng nói của Người khơi dậy sức mạnh tiềm tàng của cả dân tộc sau bao năm chìm trong khổ đau, quyết vùng lên đòi quyền sống, quyền hạnh phúc. Tiếng nói của Người là sấm sét trong giông tố cách mạng trút xuống kẻ thù - đó là ý chí quật cường của tủi cực, hờn căm chất chứa từ những đêm trường bị áp bức. Enxơtơ Sumakhơ, nhà thơ Đức ca ngợi Bác như hiện thân của sức mạnh tuyệt vời, mỗi nét phẩm chất cao quý của Người đều là một vũ khí chiến đấu sắc bén: "Ôi! Hiền dịu của Bác HồChính là sức mạnh của lòng ta đóĐức vị tha của Người vạch mặtSự đê hèn của quân thù nghịchChí kiên cường của NgườiChuyển rung trái đất."
Và, nếu như Enxơtơ Sumakhơ ví Bác như "người gieo mầm cách mạng" thì Amrita Pritam - nhà thơ nổi tiếng Ấn Độ lại thể hiện hình ảnh Bác như một con người cần mẫn gieo mầm sự sống, qua bài thơ "Hồ Chí Minh" với sự ngưỡng mộ tuyệt đối và vô cùng tôn kính.
*
*     *
Ca ngợi Bác, tình cảm của các nhà thơ trên khắp hành tinh đã có nhiều phát hiện độc đáo, thể hiện những khía cạnh phong phú trong bản chất vĩ đại của Người, phản ánh khá toàn diện chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh - người chiến sĩ cộng sản quốc tế lỗi lạc, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam. Nói như nhà thơ Ấn Độ Môninđra Ray: "Hồ Chí MinhNgười đã hồi sinh cuộc sốngNgười là vầng dươngĐang đem lại bình minh cho nhân loại."
Việt Nam là niềm tự hào của nhân loại tiến bộ chống chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế. Những chiến công của Việt Nam chẳng những đã đưa một đất nước từ trong đêm dài nô lệ đau thương lên vị thế ngang tầm vinh quang thế giới mà còn góp phần tìm lại cho nhân loại những giá trị chân chính của chính nghĩa, công lý, tự do, niềm tin và những giá trị tinh thần khác đã từng bị chà đạp. Niềm vinh quang của dân tộc Việt Nam gắn liền với sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người tượng trưng cho chiến thắng, ý nguyện hòa bình và hạnh phúc của loài người. Đêvit Anxơn, nhà thơ Mêhicô đã gửi đến Bác tâm tình của những người du kích khi còn đang trong cuộc chiến đấu ác liệt: "Chúng tôi những người du kíchỞ châu Mỹ la tinhTrong rừng sâuNghe tiếng bước chân NgườiNhững bước chân đã dẫn đầu cuộc chiến tranh giải phóngNgười luôn bên cạnh chúng tôiVì tinh thần của Người vẫn còn mãi mãiSẽ chiếu sángCon đường của chúng tôi đi."
Đó là một niềm hy vọng lớn lao, niềm tin sắt đá của nhân loại nói chung và các dân tộc đang đấu tranh giải phóng áp bức nói riêng. Có lẽ vì thế, không nỗi đau nào xót xa hơn nỗi đau của người con mất cha, dân tộc phải vĩnh biệt lãnh tụ yêu kính của mình. Ngày Bác Hồ vào cõi vĩnh hằng, cả dân tộc và nhân loại tiễn đưa Người trong những dòng nước mắt tiếc thương vô hạn "đời tuôn nước mắt trời tuôn mưa", nỗi đau thấu cả đất trời! Cụ Riôkêônisi - vị cao tăng hơn 100 tuổi, có uy tín lớn trong giới Phật tử và nhân dân Nhật Bản - khi được tin Bác mất đã đau xót, bỏ ăn và với lòng ngưỡng mộ đã viết lên những dòng thơ trĩu nặng nỗi lòng: "Trời xanh đón người cứu nước vềĐau lòng, chúng sinh trên đường mêXưa nay hiếm bậc lão anh kiệtChiếc lá thu bay: trời ủ ê!"
Nữ thi sĩ Blaga Đimitơrôva nói thay cho nỗi bàng hoàng, sững sờ tưởng chừng không thể nào tin được của cả nhân dân Bungari khi nghe vị cha già kính yêu của dân tộc Việt Nam đã qua đời. Nhà thơ Haiti Ranê Đêpêxtrơ đã gợi lại tiếng khóc, nỗi đau âm thầm vò xé trái tim người thanh niên yêu nước, người chiến sĩ cộng sản Nguyễn Ái Quốc trên boong tàu lúc ra đi tìm đường cứu nước - đó là những giọt nước mắt vì đất nước đắm chìm trong cực nhục đau thương; còn "ngày nay, toàn thế giới không sao cầm được nước mắt trước thi thể của Người vừa lặng tắt" - đó là tiếng khóc thương tiếc một người thầy, một người đồng chí lỗi lạc. Sự đối lập hai hoàn cảnh nảy sinh tiếng khóc làm tăng thêm giá trị biểu cảm của bài thơ đồng thời thể hiện sự cảm nhận tinh tế của tác giả trước nỗi mất mát, đau thương của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, tên tuổi, sự nghiệp và công ơn của Bác vẫn mãi tượng trưng cho những giá trị tinh thần cao đẹp nhất, và bất diệt, như bài thơ của nhân dân Hy Lạp đề dưới bức ảnh Bác Hồ: "Người đã trở thành bất tửNgười đã đứng vào hàng ngũNhững vị anh hùng của đỉnh Acôrôpôn."
*
*     *
Hình tượng Bác đã được quốc tế hóa, được kết tinh trong những dòng thơ ngân vang xúc động, những tình cảm trìu mến, chan chứa tự hào của loài người tiến bộ về Bác, về dân tộc Việt Nam. Điều đó thể hiện sự hiểu biết tinh tế, sức cảm nhận sâu xa và tình cảm chân thành của bầu bạn khắp năm châu đối với Bác Hồ - như nhận định của Phêlich Pitarôđơrighêt - "một trong những con người kỳ diệu ít có, những con người như những tảng đá lớn làm nền cho nhân loại, những con người qua cuộc đời của mình đã dạy cho mọi người hiểu rằng: đối với con người không có đỉnh cao nào là không thể đạt tới"./.                         
                                                             
Nguyễn Trọng Hoàn
http://dangcongsan.vn/tu-tuong-van-hoa/hinh-tuong-bac-ho-trong-tho-the-gioi-483682.html

Thứ Hai, 14 tháng 5, 2018

TÍNH KHOA HỌC CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN
                            
                                      Trọng Thành
Hiện nay, những người bài bác chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn cố chứng minh rằng: C.Mác, Ph.Ăng ghen, V.I.Lênin không phải là các nhà khoa học. Họ cố tình xuyên tạc rằng, “chủ nghĩa Mác chỉ là một ý thức hệ hư ảo”, “một thứ nói dối có ý thức”, “những vở kịch trá hình”, “chứa đầy tính chất huyễn tưởng”; còn V.I.Lênin thì làm tăng sự huyễn tưởng ấy của C.Mác “lên hơn một lần”; rằng “Mác và Lênin là những nhà xã hội duy tâm, siêu hình và không tưởng”, chủ nghĩa Mác – Lênin là “ảo tưởng” và “giả tưởng”!...
Bất chấp những luận điệu xuyên tạc nói trên, thực tiễn đã chứng minh chủ nghĩa Mác – Lênin là một khoa học, hơn nữa là một khoa học biện chứng, hiện đại, khoa học về những quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội, về cách mạng của quần chúng bị áp bức và bóc lột, về thắng lợi của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác – Lênin chính là ở sự chân xác về khoa học, ở tính toàn diện, tính hệ thống, tính biện chứng của nó nhằm mục đích giải phóng người lao động, giải phóng xã hội khỏi mọi ách áp bức, bóc lột, mọi sự tha hóa, thực hiện một xã hội công bằng, nhân đạo.
Với linh hồn sống là phép biện chứng duy vật, với hòn đá tảng là học thuyết giá trị thặng dư, với những phát kiến vĩ đại về chủ nghĩa duy vật lịch sử mà nội dung cơ bản là học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, vai trò lịch sử của giai cấp công nhân, … chủ nghĩa Mác – Lênin cho đến hiện nay vẫn là đỉnh cao trí tuệ loài người, là khoa học chính xác và hoàn bị, chưa có gì thay thế được. Cho dù có phải bổ sung, phát triển hoàn thiện thêm (đây là điều tất yếu) thì những nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin trong điều kiện ngày nay vẫn đúng. Chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn là vũ khí tinh thần của giai cấp công nhân và nhân dân lao động bị áp bức trên toàn thế giới trong cuộc đấu tranh để tự giải phóng mình. Cho dù có những kẻ cố tình bóp méo, xuyên tạc thì chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn có sức sống dẻo dai và giá trị đời đời bền vững, xanh tươi của nó.
Việc chủ nghĩa Mác – Lênin bị tấn công, xuyên tạc không có gì là khó hiểu cả. Người ta thâm thù, xuyên tạc từ lâu rồi, từ hơn 170 năm nay đối với chủ nghĩa Mác và 110 năm đối với chủ nghĩa Lênin. Chẳng những thế, người ta còn tìm mọi cách hòng bóp chết chủ nghĩa Mác – Lênin. Từ năm 1913, Lênin đã nói về chủ nghĩa Mác rằng: Trong toàn thế giới văn minh, học thuyết của Mác đã gây ra cừu địch mạnh nhất và lòng căm thù toàn thế giới khoa học tư sản … Không thể trông mong có một thái độ nào khác thế được, vì trong một xã hội xây dựng trên đấu tranh giai cấp thì không thể có một khoa học xã hội “vô tư”… Mong đợi một khoa học “vô tư” trong một xã hội xây dựng trên chế độ nô lệ làm thuê là một sự ngây thơ, khờ khạo.
Việc các thế lực thù địch bài bác chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ càng chứng tỏ tính đúng đắn, tính khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, điều mà các nhà tư tưởng chống cộng rất lo sợ. Và cứ mỗi lần phải đấu tranh chống lại các trào lưu tư tưởng đối lập thì chủ nghĩa Mác – Lênin lại một lần nữa tỏ rõ sức sống mãnh liệt của mình. Chủ nghĩa Mác – Lênin chẳng những phải đấu tranh chống lại những quan điểm tư tưởng tư sản phản động mà còn phải đương đầu với những khuynh hướng sai lầm trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, như: Chủ nghĩa xã hội Vương quốc Phổ của Latxan ở Đức, chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản của phái Pruđông ở Pháp và ở Bỉ, chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh của các thủ lĩnh công đoàn Anh, chủ nghĩa phiêu lưu “tả” khuynh của những người cộng sản Đức, chủ nghĩa vô chính phủ của phái Bacunin ở Nga, chủ nghĩa dân tộc tư sản trên các vấn đề chiến tranh và thuộc địa…, và ngày nay là đủ các thứ “trào lưu” như chúng ta đã biết.

Chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn đang có sức hấp dẫn, chinh phục hàng tỷ con người trên hành tinh này bởi tính khoa học, tính cách mạng và tính nhân đạo sâu sắc của nó.
CÓ PHẢI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
TRÊN THỰC TẾ ĐÃ TỪ BỎ CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN?

                                      Trọng Thành
Hiện nay, có quan điểm cho rằng trên thực tế Đảng Cộng sản Việt Nam đã từ bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, từ bỏ chủ nghĩa xã hội, nhưng “vì sĩ diện” cho nên trong lời nói và trong các văn bản chính thức Đảng cứ phải kiện định chủ nghĩa Mác – Lênin!. Một mặt, những người có quan điểm này đòi đất nước ta phải “đổi mới triệt để, không nửa vời”, nghĩa là phải thực hiện “tư nhân hóa hoàn toàn”, “đa nguyên, đa đảng”; mặt khác, họ xuyên tạc rằng Đảng ta đã từ bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin; rằng sự nghiệp đổi mới của chúng ta là “đầu Ngô, mình Sở, “không chính danh”…
Thực tế kinh nghiệm cho thấy, nếu mơ hồ, dao động về hệ tư tưởng thì nhất định sẽ lung túng trong chủ trương, đường lối, rối loạn trong tổ chức, và tất nhiên dẫn đến thất bại trong hành động. Vì vậy, Đảng ta đã nhiều lần khẳng định kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin là vấn đề có tính nguyên tắc số một đối với Đảng ta, là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong toàn bộ công tác tư tưởng, lý luận của chúng ta.
Đương nhiên, nói kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin không có nghĩa là rập khuôn, giáo điều, mà phải sáng tạo, luôn luôn sáng tạo; sáng tạo mà không cực đoan, không rơi vào cơ hội, xét lại. Kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin là kiên định những nguyên tắc lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, vận dụng sáng tạo nó, chống cả chủ nghĩa cơ hội, xét lại và chủ nghĩa giáo điều. Kiên định, bảo vệ phải đi đôi với vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin. Phát triển sáng tạo là để bảo vệ một cách tốt nhất, khoa học nhất chủ nghĩa Mác – Lênin. Đảng ta đã nhiều lần khẳng định rằng không nên coi lý luận C. Mác và V.I.Lênin như một công thức cứng nhắc, như một cái gì đã xong xuôi và bất khả xâm phạm; trái lại, phải vận dụng sáng tạo và tiếp tục phát  triển hơn nữa về mọi mặt. Đúng như V.I.Lênin đã nói: Chúng ta không kỳ vọng rằng C. Mác hay những người theo chủ nghĩa Mác đều biết đến mọi mặt cụ thể của con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội. Như thế sẽ là phi lý. Chúng ta chỉ biết phương hướng của con đường đó, còn về cụ thể và trên thực tế con đường đó ra sao thì kinh nghiệm của hàng triệu con người sẽ chỉ rõ khi họ bắt tay vào hành động.

Như vậy, một lần nữa chúng ta khẳng định: Quan điểm cho rằng trên thực tế Đảng Cộng sản Việt Nam đã từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin là hoàn toàn sai trái, phản động của các thế lực thù địch, cơ hội, xét lại. 

Chủ Nhật, 13 tháng 5, 2018

HỌC VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG “TRỌNG DỤNG HIỀN TÀI” 
CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Trọng dụng nhân tài là truyền thống quý báu của dân tộc ta, bởi "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp". Kế thừa và pháy huy truyền thống ấy lên tầm cao mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tập hợp được lực lượng nhân tài hùng hậu, góp phần quan trọng quyết định trực tiếp đến thắng lợi của cách mạng Việt Nam. 
Quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương mẫu mực về trọng dụng nhân tài. Người xác định, việc dùng người phải hợp lý, đúng năng lực và sở trường của họ, đúng người, đúng việc, chớ “dùng thợ mộc làm nghề thợ rèn” và  phải để họ hiểu rõ mọi mặt các công việc mà họ phụ trách. Dùng người mà không đúng công việc sẽ không chạy, không được việc, làm thui chột nhân tài, có hại cho Đảng và cũng thể hiện sự yếu kém trong công tác cán bộ của Đảng. Người cho rằng, vì “cách lãnh đạo của ta còn kém, thói quan liêu còn nồng cho nên có những người như thế cũng bị dìm xuống, không được cất nhắc. Muốn tránh khỏi sự hao phí nhân tài, chúng ta cần phải sửa chữa cách lãnh đạo”[1]Quan điểm này bắt nguồn từ tư tưởng trọng dân, tin dân, nêu cao vai trò làm chủ đất nước của dân, là sự nối tiếp và phát triển tư tưởng cầu hiền tài của ông cha trong điều kiện mới; coi nhân tố con người là vấn đề có tính chất phương pháp luận quan trọng nhất và nhân tài có vai trò to lớn - động lực để phát triển đất nước. 
Không chỉ bản thân biết dùng người mà Người còn yêu cầu lãnh đạo, quản lý các cấp phải biết trọng dụng nhân tài, nếu không sẽ làm “thui chột” nhân tài. Việc trọng dụng nhân tài theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là phải làm thường xuyên, liên tục như “người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta”[2]. Người cho rằng, trọng dụng nhân tài phải biết tuỳ tài mà dùng người: “Tài to ta dùng làm việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ, ai có năng lực về việc gì, ta đặt ngay vào việc ấy. Biết dùng người như vậy, ta sẽ không lo gì thiếu cán bộ”[3]. Bởi vậy, ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được thành lập, trong lúc còn bộn bề khó khăn, thù trong, giặc ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm tìm người tài để xây dựng đất nước và Người chính là tấm gương sáng cho việc tìm nhân tài và trọng dụng nhân tài. Ngày 14 - 11 - 1945, trên báo Cứu quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Kiến thiết cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển, càng thêm nhiều”[4]. Người chủ trương phải “tìm người tài đức”, bởi, một quốc gia, một đất nước không biết sử dụng nhân tài là một khuyết điểm to, làm lãng phí một vốn quý của Đảng và Nhà nước trong xây dựng và kiến thiết nước nhà mà khuyết điểm đó trước hết là của những người lãnh đạo Đảng và Chính phủ và chính Người cũng tự phê bình và nhận khuyết điểm đó. Người chủ trương phải “tìm người tài đức” vì “kiến thiết cần phải có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài có đức. E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bậc tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận”. Vì vậy, sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Hồ Chí Minh đã tập hợp được nhiều nhân sĩ, trí thức khác nhau về xuất thân, địa vị xã hội nhưng họ đều là những trí thức có tâm huyết xây dựng nước Việt Nam mới. Tháng 1 - 1946, trong tình thế cách mạng diễn biến hết sức phức tạp, nhưng cuộc Tổng tuyển cử đã diễn ra thành công, lập ra Quốc hội dân chủ nhân dân đầu tiên, đánh dấu bước ngoặt mới trong đời sống chính trị của người lao động Việt Nam. Điều đặc biệt, thành viên Chính phủ rất đa dạng, thuộc các tầng lớp khác nhau, trí thức Hán học có các nhân sĩ, như: cụ Huỳnh Thúc Kháng, Phan Kế Toại, Bùi Bằng Đoàn, Phạm Khắc Hòe..., trí thức Tây học có Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Trần Văn Giàu, Nguyễn Khánh Toàn, Trần Huy Liệu, Đặng Thai Mai... Họ đều chung một ý chí, đó là đoàn kết dân tộc chung tay góp sức xây dựng chế độ mới, bảo vệ độc lập dân tộc. Trong các giai đoạn cách mạng sau này, Người đã thu phục được nhiều nhân sĩ, trí thức tài năng tham gia và làm nên những thắng lợi vang dội của dân tộc trong các cuộc kháng chiến trường kỳ. 
Trên cương vị là Chủ tịch nước, vấn đề chăm lo bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, rèn luyện các thế hệ cách mạng luôn được Người coi trọng và quan  tâm hàng đầu. Trước lúc đi xa, trong Di chúc, Người căn dặn: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Quan điểm, tư tưởng và nghệ thuật trọng dụng nhân tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nay vẫn còn nguyên giá trị và là bài học kinh nghiệm quý báu cho công tác cán bộ của Đảng ta. Đảng và Nhà nước không chỉ coi thu hút và sử dụng nhân tài là một nội dung quan trọng trong công tác cán bộ, bởi nhân tài - cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ; là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng mà còn coi trọng nhân tài, phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài "đúng người, đúng việc, đúng vị trí" nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh về thu hút và trọng dụng hiền tài là vấn đề vừa cần thiết, vừa cấp bách. Đại hội X của Đảng khẳng định: “Xúc tiến xây dựng một số trường đại học của Việt Nam đạt đẳng cấp quốc tế, đào tạo nhân tài cho đất nước”, “Thực hiện chính sách trọng dụng nhân tài, các nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư, kỹ sư trưởng, kỹ thuật viên lành nghề và công nhân kỹ thuật có tay nghề cao... Thu hút chuyên gia, đặc biệt là chuyên gia giỏi người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia giảng dạy, phát triển khoa học và công nghệ ở Việt Nam”; “Thực sự tôn vinh các doanh nhân có tài và thành đạt, đóng góp nhiều cho xã hội”[5]. Đại hội XI tiếp tục chỉ đạo: “Muốn tạo nên một tập thể vững mạnh, phải xây dựng từng con người, quan tâm phát hiện và bồi dưỡng nhân tài”, “Có chính sách trọng dụng trí thức, đặc biệt đối với nhân tài của đất nước”, “Hình thành đồng bộ cơ chế, chính sách khuyến khích, sáng tạo, trọng dụng nhân tài và đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ”, “Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, phát huy nhân tài; đào tạo nhân lực cho phát triển kinh tế tri thức”[6]. Văn kiện XII của Đảng nhấn mạnh: để có cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đủ năng lực và phẩm chất, ngang tầm nhiệm vụ, bên cạnh việc đổi mới bầu cử trong Đảng, thay đổi phương thức tuyển chọn, bổ nhiệm cần có cơ chế, chính sách phát hiện, thu hút, sử dụng nhân tài và “có cơ chế, chính sách phát hiện, thu hút, sử dụng nhân tài”. Luật Cán bộ, Công chức cũng nêu rõ: “Nhà nước có chính sách để phát hiện, thu hút, bồi dưỡng, trong dụng và đãi ngộ xứng đáng đối với người có tài năng”. Điều này chứng tỏ, Đảng và Nhà nước ta kịp thời nhận thức đầy đủ về vai trò của người hiền tài và có cách thức sử dụng nhân tài hợp lý nhằm phát huy cao nhất mọi nguồn lực sáng tạo của nhân dân vào sự phát triển bền vững và thịnh vượng của đất nước. Bên cạnh đó, những sinh viên xuất sắc, cán bộ có năng lực... đều được Chính phủ trợ cấp chí phí sinh hoạt và học tập ở nước ngoài để mai này phục vụ đất nước. Các trường học được đầu tư xây dựng ở vùng sâu, xa, biên giới và hải đảo, tạo điều kiện cho trẻ em ở đó có cơ hội học tập, các chính sách miễn giảm học phí cho các em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, quỹ học bổng dành cho em có thành tích cao trong học tập cũng được xây dựng và duy trì.
Thêm vào đó, Đảng và Nhà nước ta đã áp dụng các hình thức phát hiện, thu hút nhân tài phù hợp với từng lĩnh vực và điều kiện của mỗi tổ chức, cơ quan, đơn vị. Không chỉ phát hiện những nhân tài đã lộ rõ, mà quan trọng là phải nghiên cứu, xây dựng chính sách thích hợp để thu hút được những nhân tài tiềm năng. Song song với đó, để thu hút và trọng dụng nhân tài rất, Nhà nước đã có nhiều chính sách về tôn vinh và chính sách khuyến khích vật chất, đồng thời tạo lập môi trường, điều kiện làm việc, trong đó có cả điều kiện cơ sở vật chất và cơ chế dân chủ cho cống hiến, sáng tạo, đồng thời có chiến lược thu hút nhân tài là người Việt Nam ở nước ngoài về nước.
Thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, hội nhập quốc tế sâu rộng với sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt đang đòi hỏi Việt Nam phải xây dựng chiến lược nhân tài quốc gia, tạo thành chủ trương, cơ chế thống nhất để thu hút, trọng dụng, bồi dưỡng và phát triển hiền tài. Hiền tài sẽ là những người cống hiến, vạch đường đi để dân tộc ta tiếp tục giành những thắng lợi to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Điều này đòi hỏi, các cấp ủy, chính quyền từ Trung ương xuống cơ sở tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng của Người về trọng dụng hiền tài nói riêng, coi trọng, thu hút, trọng dụng nhân tài, bố trí, sử dụng cán bộ phải "đúng người, đúng việc, đúng vị trí", cần loại bỏ tư tưởng bổ nhiệm cán bộ theo hình thức thân - quen, "cục bộ địa phương", "con ông cháu cha", "một người làm quan cả họ được nhờ" để lựa chọn hiền tài "đúng" góp công - sức, tâm - trí vào sự nghiệp kiến thiết và bảo vệ đất nước.

[1] Hồ Chí Minh toàn tập, t.5, Nxb CTQG, H.2011, tr.281
[2] Hồ Chí Minh toàn tập, sđd, t.5, tr.313
[3] Hồ Chí Minh toàn tập, sđd, t.4, tr.43
[4] Hồ Chí Minh toàn tập, sđd, t.4, tr.114
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, Hà Nội, 2006, tr.207, 12, 232.
[6] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, 2011, tr. 130,

Nguồn:http://www.xaydungdang.org.vn/Home/tutuonghochiminh/2018/11502/Hoc-va-lam-theo-tu-tuong-trong-dung-hien-tai-cua-Chu.aspx

CHIÊU TRÒ CŨ RÍCH CỦA NICKNAME “DÂN VIỆT”

Long Vĩ

Gần đây, cư dân mạng rất bức xúc khi “Dân Việt” tung lên bài viết “Cha Già Dân Tộc”, nội dung bài viết đã bôi nhọ nhân cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh; xuyên tạc giá trị của Bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam; và giở trò khóc mướn cho một số địa chủ cường hào, những kẻ can tâm làm tay sai cho thực dân, có nhiều nợ máu với nhân dân đã gây nên bao nhiêu thảm cảnh đau thương cho dân tộc Việt Nam, bị nhân dân Việt Nam trừng trị và bị lịch sử chôn vùi vào quá khứ. Vì vậy, tôi xin có mấy điều cần phải chỉ ra cho Dân Việt thấu tỏ.

Thứ nhất, Dân Việt cho rằng: “Nội dung Tuyên ngôn Độc lập là vay mượn ý tưởng Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ và tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp”. Điều này cho thấy, Dân Việt chưa bao giờ đọc nội dung bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà chỉ quen thói mở miệng là phán bừa vô căn cứ. Bởi, không chỉ có nhân dân Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam mà các đảng chính trị, các chính thể quốc gia, các chính khách cùng các dân tộc và nhân dân toàn thế giới thừa nhận giá trị của bản Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo và đọc trước quốc dân đồng bào trong ngày Tuyên bố Độc Lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (02/9/1945). Giá trị đó được kiểm chứng qua ý chí độc lập, tự chủ, lòng tự hào và những thành quả của toàn thể dân tộc Việt Nam đã giành được; cùng sự tỏa sáng giá trị của nó đến ý thức độc lập, tự chủ của nhiều dân tộc và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới. Giá trị đó là bất hủ, được nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới mãi mãi tôn vinh, ghi nhận, nó không chỉ soi sáng cách mạng Việt Nam trong công cuộc đổi mới hiện nay mà còn có giá trị to lớn cho sự nghiệp giải phóng xã hội, giải phóng con người khỏi áp bức, bất công trong tình hình mới. Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam mới không chỉ được dư luận thế giới so sánh và đánh giá ngang tầm với Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ; Tuyên ngôn nhân quyền, dân quyền của Cách mạng tư sản Pháp, mà nó còn có những giá trị tiến bộ hơn về quyền con người với ý nghĩa lớn lao.

Thứ hai, Dân Việt giở trò xuyên tạc, bôi xấu Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là, sự tiếp nối những âm mưu, thủ đoạn xấu xa, phản động của các thế lực thù địch. Thực ra, chúng hiểu rất rõ trí tuệ, nhân cách vĩ đại, cùng những cống hiến vô cùng to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho dân tộc Việt Nam và nhân loại. Những cống hiến vĩ đại ấy không chỉ nhân dân Việt Nam mà cả nhân dân thế giới thừa nhận, tôn vinh. Song chúng vẫn cố tình nhào nặn, tô vẽ sai sự thật về cuộc đời, sự nghiệp của Người nhằm xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng, đạo đức, nhân cách Hồ Chí Minh, tiến tới phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, đòi xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Điều đó cho thấy bản chất xấu xa, phản động và nhân cách bỉ ổi của Dân Việt.

Thứ ba, lợi dụng vấn đề cải cách ruộng đất những năm 50 - 60 của thế kỷ trước, Dân Việt đã xuyên tạc sai sự thật và phủ nhận kết quả cải cách ruộng đất do Đảng và nhân dân ta tiến hành.

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhân dân Việt Nam nói chung và  nông dân nói riêng được giải phóng, từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ cuộc sống của mình. Cải cách ruộng đất, hiện thực hóa chủ trương “người cày có ruộng”, là thành quả của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta được giải phóng khỏi ách thống trị, bóc lột của thực dân, phong kiến. Kết quả của cải cách đã đem lại ruộng đất cho hàng triệu nông dân, trả về cho họ những tư liệu sản xuất mà địa chủ, cường hào đã tước đoạt. Thành tựu đó đã giải phóng cho nông dân thoát khỏi ách thống trị của giai cấp bóc lột, tạo tiền đề về mọi mặt cho thắng lợi trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước. Thành quả đó dù tiếp cận ở góc độ nào cũng không thể phủ nhận được, nó có giá trị lịch sử và hiện thực to lớn đối với dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, quá trình cải cách ruộng đất ở một số địa phương đã mắc phải sai lầm chủ quan, điều đó đã được Đảng, Nhà nước kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, khắc phục, sửa chữa…Không thể lợi dụng một số sai lầm, khuyết điểm để phủ nhận thành quả của cải cách ruộng đất và đồng nhất những khuyết điểm đó với sai lầm về chủ trương, đường lối của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh.


Đôi lời nhắn nhủ, Dân Việt nên tự hỏi mình là ai, cần phải làm việc gì có lợi ích cho dân, cho nước?. Trước khi phê phán cái gì cũng nên tìm hiểu cho thấu tình, đạt lý, phân biệt trắng đen, đúng sai rõ ràng, đừng vì lòng thâm thù chế độ mà cố tình thêu dệt, xuyên tạc sai sự thật, mắc tội hại dân, hại nước với những chiêu trò cũ rich, khó nghe như thế này./. 

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...