Chủ Nhật, 13 tháng 5, 2018

HỌC VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG “TRỌNG DỤNG HIỀN TÀI” 
CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Trọng dụng nhân tài là truyền thống quý báu của dân tộc ta, bởi "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp". Kế thừa và pháy huy truyền thống ấy lên tầm cao mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tập hợp được lực lượng nhân tài hùng hậu, góp phần quan trọng quyết định trực tiếp đến thắng lợi của cách mạng Việt Nam. 
Quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương mẫu mực về trọng dụng nhân tài. Người xác định, việc dùng người phải hợp lý, đúng năng lực và sở trường của họ, đúng người, đúng việc, chớ “dùng thợ mộc làm nghề thợ rèn” và  phải để họ hiểu rõ mọi mặt các công việc mà họ phụ trách. Dùng người mà không đúng công việc sẽ không chạy, không được việc, làm thui chột nhân tài, có hại cho Đảng và cũng thể hiện sự yếu kém trong công tác cán bộ của Đảng. Người cho rằng, vì “cách lãnh đạo của ta còn kém, thói quan liêu còn nồng cho nên có những người như thế cũng bị dìm xuống, không được cất nhắc. Muốn tránh khỏi sự hao phí nhân tài, chúng ta cần phải sửa chữa cách lãnh đạo”[1]Quan điểm này bắt nguồn từ tư tưởng trọng dân, tin dân, nêu cao vai trò làm chủ đất nước của dân, là sự nối tiếp và phát triển tư tưởng cầu hiền tài của ông cha trong điều kiện mới; coi nhân tố con người là vấn đề có tính chất phương pháp luận quan trọng nhất và nhân tài có vai trò to lớn - động lực để phát triển đất nước. 
Không chỉ bản thân biết dùng người mà Người còn yêu cầu lãnh đạo, quản lý các cấp phải biết trọng dụng nhân tài, nếu không sẽ làm “thui chột” nhân tài. Việc trọng dụng nhân tài theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là phải làm thường xuyên, liên tục như “người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta”[2]. Người cho rằng, trọng dụng nhân tài phải biết tuỳ tài mà dùng người: “Tài to ta dùng làm việc to, tài nhỏ ta cắt làm việc nhỏ, ai có năng lực về việc gì, ta đặt ngay vào việc ấy. Biết dùng người như vậy, ta sẽ không lo gì thiếu cán bộ”[3]. Bởi vậy, ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được thành lập, trong lúc còn bộn bề khó khăn, thù trong, giặc ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm tìm người tài để xây dựng đất nước và Người chính là tấm gương sáng cho việc tìm nhân tài và trọng dụng nhân tài. Ngày 14 - 11 - 1945, trên báo Cứu quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Kiến thiết cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển, càng thêm nhiều”[4]. Người chủ trương phải “tìm người tài đức”, bởi, một quốc gia, một đất nước không biết sử dụng nhân tài là một khuyết điểm to, làm lãng phí một vốn quý của Đảng và Nhà nước trong xây dựng và kiến thiết nước nhà mà khuyết điểm đó trước hết là của những người lãnh đạo Đảng và Chính phủ và chính Người cũng tự phê bình và nhận khuyết điểm đó. Người chủ trương phải “tìm người tài đức” vì “kiến thiết cần phải có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài có đức. E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bậc tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận”. Vì vậy, sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Hồ Chí Minh đã tập hợp được nhiều nhân sĩ, trí thức khác nhau về xuất thân, địa vị xã hội nhưng họ đều là những trí thức có tâm huyết xây dựng nước Việt Nam mới. Tháng 1 - 1946, trong tình thế cách mạng diễn biến hết sức phức tạp, nhưng cuộc Tổng tuyển cử đã diễn ra thành công, lập ra Quốc hội dân chủ nhân dân đầu tiên, đánh dấu bước ngoặt mới trong đời sống chính trị của người lao động Việt Nam. Điều đặc biệt, thành viên Chính phủ rất đa dạng, thuộc các tầng lớp khác nhau, trí thức Hán học có các nhân sĩ, như: cụ Huỳnh Thúc Kháng, Phan Kế Toại, Bùi Bằng Đoàn, Phạm Khắc Hòe..., trí thức Tây học có Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Trần Văn Giàu, Nguyễn Khánh Toàn, Trần Huy Liệu, Đặng Thai Mai... Họ đều chung một ý chí, đó là đoàn kết dân tộc chung tay góp sức xây dựng chế độ mới, bảo vệ độc lập dân tộc. Trong các giai đoạn cách mạng sau này, Người đã thu phục được nhiều nhân sĩ, trí thức tài năng tham gia và làm nên những thắng lợi vang dội của dân tộc trong các cuộc kháng chiến trường kỳ. 
Trên cương vị là Chủ tịch nước, vấn đề chăm lo bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, rèn luyện các thế hệ cách mạng luôn được Người coi trọng và quan  tâm hàng đầu. Trước lúc đi xa, trong Di chúc, Người căn dặn: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Quan điểm, tư tưởng và nghệ thuật trọng dụng nhân tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nay vẫn còn nguyên giá trị và là bài học kinh nghiệm quý báu cho công tác cán bộ của Đảng ta. Đảng và Nhà nước không chỉ coi thu hút và sử dụng nhân tài là một nội dung quan trọng trong công tác cán bộ, bởi nhân tài - cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ; là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng mà còn coi trọng nhân tài, phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài "đúng người, đúng việc, đúng vị trí" nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh về thu hút và trọng dụng hiền tài là vấn đề vừa cần thiết, vừa cấp bách. Đại hội X của Đảng khẳng định: “Xúc tiến xây dựng một số trường đại học của Việt Nam đạt đẳng cấp quốc tế, đào tạo nhân tài cho đất nước”, “Thực hiện chính sách trọng dụng nhân tài, các nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư, kỹ sư trưởng, kỹ thuật viên lành nghề và công nhân kỹ thuật có tay nghề cao... Thu hút chuyên gia, đặc biệt là chuyên gia giỏi người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia giảng dạy, phát triển khoa học và công nghệ ở Việt Nam”; “Thực sự tôn vinh các doanh nhân có tài và thành đạt, đóng góp nhiều cho xã hội”[5]. Đại hội XI tiếp tục chỉ đạo: “Muốn tạo nên một tập thể vững mạnh, phải xây dựng từng con người, quan tâm phát hiện và bồi dưỡng nhân tài”, “Có chính sách trọng dụng trí thức, đặc biệt đối với nhân tài của đất nước”, “Hình thành đồng bộ cơ chế, chính sách khuyến khích, sáng tạo, trọng dụng nhân tài và đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ”, “Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, phát huy nhân tài; đào tạo nhân lực cho phát triển kinh tế tri thức”[6]. Văn kiện XII của Đảng nhấn mạnh: để có cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đủ năng lực và phẩm chất, ngang tầm nhiệm vụ, bên cạnh việc đổi mới bầu cử trong Đảng, thay đổi phương thức tuyển chọn, bổ nhiệm cần có cơ chế, chính sách phát hiện, thu hút, sử dụng nhân tài và “có cơ chế, chính sách phát hiện, thu hút, sử dụng nhân tài”. Luật Cán bộ, Công chức cũng nêu rõ: “Nhà nước có chính sách để phát hiện, thu hút, bồi dưỡng, trong dụng và đãi ngộ xứng đáng đối với người có tài năng”. Điều này chứng tỏ, Đảng và Nhà nước ta kịp thời nhận thức đầy đủ về vai trò của người hiền tài và có cách thức sử dụng nhân tài hợp lý nhằm phát huy cao nhất mọi nguồn lực sáng tạo của nhân dân vào sự phát triển bền vững và thịnh vượng của đất nước. Bên cạnh đó, những sinh viên xuất sắc, cán bộ có năng lực... đều được Chính phủ trợ cấp chí phí sinh hoạt và học tập ở nước ngoài để mai này phục vụ đất nước. Các trường học được đầu tư xây dựng ở vùng sâu, xa, biên giới và hải đảo, tạo điều kiện cho trẻ em ở đó có cơ hội học tập, các chính sách miễn giảm học phí cho các em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, quỹ học bổng dành cho em có thành tích cao trong học tập cũng được xây dựng và duy trì.
Thêm vào đó, Đảng và Nhà nước ta đã áp dụng các hình thức phát hiện, thu hút nhân tài phù hợp với từng lĩnh vực và điều kiện của mỗi tổ chức, cơ quan, đơn vị. Không chỉ phát hiện những nhân tài đã lộ rõ, mà quan trọng là phải nghiên cứu, xây dựng chính sách thích hợp để thu hút được những nhân tài tiềm năng. Song song với đó, để thu hút và trọng dụng nhân tài rất, Nhà nước đã có nhiều chính sách về tôn vinh và chính sách khuyến khích vật chất, đồng thời tạo lập môi trường, điều kiện làm việc, trong đó có cả điều kiện cơ sở vật chất và cơ chế dân chủ cho cống hiến, sáng tạo, đồng thời có chiến lược thu hút nhân tài là người Việt Nam ở nước ngoài về nước.
Thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, hội nhập quốc tế sâu rộng với sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt đang đòi hỏi Việt Nam phải xây dựng chiến lược nhân tài quốc gia, tạo thành chủ trương, cơ chế thống nhất để thu hút, trọng dụng, bồi dưỡng và phát triển hiền tài. Hiền tài sẽ là những người cống hiến, vạch đường đi để dân tộc ta tiếp tục giành những thắng lợi to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Điều này đòi hỏi, các cấp ủy, chính quyền từ Trung ương xuống cơ sở tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng của Người về trọng dụng hiền tài nói riêng, coi trọng, thu hút, trọng dụng nhân tài, bố trí, sử dụng cán bộ phải "đúng người, đúng việc, đúng vị trí", cần loại bỏ tư tưởng bổ nhiệm cán bộ theo hình thức thân - quen, "cục bộ địa phương", "con ông cháu cha", "một người làm quan cả họ được nhờ" để lựa chọn hiền tài "đúng" góp công - sức, tâm - trí vào sự nghiệp kiến thiết và bảo vệ đất nước.

[1] Hồ Chí Minh toàn tập, t.5, Nxb CTQG, H.2011, tr.281
[2] Hồ Chí Minh toàn tập, sđd, t.5, tr.313
[3] Hồ Chí Minh toàn tập, sđd, t.4, tr.43
[4] Hồ Chí Minh toàn tập, sđd, t.4, tr.114
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, Hà Nội, 2006, tr.207, 12, 232.
[6] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, 2011, tr. 130,

Nguồn:http://www.xaydungdang.org.vn/Home/tutuonghochiminh/2018/11502/Hoc-va-lam-theo-tu-tuong-trong-dung-hien-tai-cua-Chu.aspx

CHIÊU TRÒ CŨ RÍCH CỦA NICKNAME “DÂN VIỆT”

Long Vĩ

Gần đây, cư dân mạng rất bức xúc khi “Dân Việt” tung lên bài viết “Cha Già Dân Tộc”, nội dung bài viết đã bôi nhọ nhân cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh; xuyên tạc giá trị của Bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam; và giở trò khóc mướn cho một số địa chủ cường hào, những kẻ can tâm làm tay sai cho thực dân, có nhiều nợ máu với nhân dân đã gây nên bao nhiêu thảm cảnh đau thương cho dân tộc Việt Nam, bị nhân dân Việt Nam trừng trị và bị lịch sử chôn vùi vào quá khứ. Vì vậy, tôi xin có mấy điều cần phải chỉ ra cho Dân Việt thấu tỏ.

Thứ nhất, Dân Việt cho rằng: “Nội dung Tuyên ngôn Độc lập là vay mượn ý tưởng Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ và tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp”. Điều này cho thấy, Dân Việt chưa bao giờ đọc nội dung bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà chỉ quen thói mở miệng là phán bừa vô căn cứ. Bởi, không chỉ có nhân dân Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam mà các đảng chính trị, các chính thể quốc gia, các chính khách cùng các dân tộc và nhân dân toàn thế giới thừa nhận giá trị của bản Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo và đọc trước quốc dân đồng bào trong ngày Tuyên bố Độc Lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (02/9/1945). Giá trị đó được kiểm chứng qua ý chí độc lập, tự chủ, lòng tự hào và những thành quả của toàn thể dân tộc Việt Nam đã giành được; cùng sự tỏa sáng giá trị của nó đến ý thức độc lập, tự chủ của nhiều dân tộc và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới. Giá trị đó là bất hủ, được nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới mãi mãi tôn vinh, ghi nhận, nó không chỉ soi sáng cách mạng Việt Nam trong công cuộc đổi mới hiện nay mà còn có giá trị to lớn cho sự nghiệp giải phóng xã hội, giải phóng con người khỏi áp bức, bất công trong tình hình mới. Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam mới không chỉ được dư luận thế giới so sánh và đánh giá ngang tầm với Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ; Tuyên ngôn nhân quyền, dân quyền của Cách mạng tư sản Pháp, mà nó còn có những giá trị tiến bộ hơn về quyền con người với ý nghĩa lớn lao.

Thứ hai, Dân Việt giở trò xuyên tạc, bôi xấu Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là, sự tiếp nối những âm mưu, thủ đoạn xấu xa, phản động của các thế lực thù địch. Thực ra, chúng hiểu rất rõ trí tuệ, nhân cách vĩ đại, cùng những cống hiến vô cùng to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho dân tộc Việt Nam và nhân loại. Những cống hiến vĩ đại ấy không chỉ nhân dân Việt Nam mà cả nhân dân thế giới thừa nhận, tôn vinh. Song chúng vẫn cố tình nhào nặn, tô vẽ sai sự thật về cuộc đời, sự nghiệp của Người nhằm xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng, đạo đức, nhân cách Hồ Chí Minh, tiến tới phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, đòi xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Điều đó cho thấy bản chất xấu xa, phản động và nhân cách bỉ ổi của Dân Việt.

Thứ ba, lợi dụng vấn đề cải cách ruộng đất những năm 50 - 60 của thế kỷ trước, Dân Việt đã xuyên tạc sai sự thật và phủ nhận kết quả cải cách ruộng đất do Đảng và nhân dân ta tiến hành.

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhân dân Việt Nam nói chung và  nông dân nói riêng được giải phóng, từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ cuộc sống của mình. Cải cách ruộng đất, hiện thực hóa chủ trương “người cày có ruộng”, là thành quả của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta được giải phóng khỏi ách thống trị, bóc lột của thực dân, phong kiến. Kết quả của cải cách đã đem lại ruộng đất cho hàng triệu nông dân, trả về cho họ những tư liệu sản xuất mà địa chủ, cường hào đã tước đoạt. Thành tựu đó đã giải phóng cho nông dân thoát khỏi ách thống trị của giai cấp bóc lột, tạo tiền đề về mọi mặt cho thắng lợi trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước. Thành quả đó dù tiếp cận ở góc độ nào cũng không thể phủ nhận được, nó có giá trị lịch sử và hiện thực to lớn đối với dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, quá trình cải cách ruộng đất ở một số địa phương đã mắc phải sai lầm chủ quan, điều đó đã được Đảng, Nhà nước kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, khắc phục, sửa chữa…Không thể lợi dụng một số sai lầm, khuyết điểm để phủ nhận thành quả của cải cách ruộng đất và đồng nhất những khuyết điểm đó với sai lầm về chủ trương, đường lối của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh.


Đôi lời nhắn nhủ, Dân Việt nên tự hỏi mình là ai, cần phải làm việc gì có lợi ích cho dân, cho nước?. Trước khi phê phán cái gì cũng nên tìm hiểu cho thấu tình, đạt lý, phân biệt trắng đen, đúng sai rõ ràng, đừng vì lòng thâm thù chế độ mà cố tình thêu dệt, xuyên tạc sai sự thật, mắc tội hại dân, hại nước với những chiêu trò cũ rich, khó nghe như thế này./. 

CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM PHẢI CHĂNG LÀ ẢO TƯỞNG?

Khánh Anh
Hiện nay, có một số người phủ định con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, họ cho rằng CNXH chỉ là "bóng ma", đi theo con đường CNXH là "mơ hồ", "ảo tưởng" về một chế độ xã hội. Có thể khẳng định, đó chỉ là luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch nhằm chống phá cách mạng Việt Nam.
Tổng kết 30 năm đổi mới, Đại hội XII của Đảng khẳng định: "đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên CNXH của nước ta là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử"[1].
Con đường đi lên CNXH chính thức đã được Đảng Cộng sản Việt
Nam – người lãnh đạo giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc Việt Nam nhất quán và xác định ngay từ khi ra đời (1930) và kiên định thực hiện bằng cả trí tuệ và tình cảm, cùng với sự đồng thuận của cả dân tộc trong suốt tiến trình cách mạng. Đó hoàn toàn không phải là sự lựa chọn ngẫu hứng của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, của Đảng Cộng sản Việt Nam, cũng tuyệt nhiên không là ảo tưởng, mà là hiện thực của con đường cách mạng Việt Nam.
Lịch sử Việt Nam chứng minh, toàn dân tộc đã vùng lên chống thực dân Pháp xâm lược ngay từ năm 1858, với khát vọng độc lập dân tộc. Tuy nhiên các cuộc đấu tranh đều thất bại do chưa có đường lối cách mạng đúng đắn. Có thể thấy rất rõ, toàn bộ trí lực, tình cảm của dân tộc hướng vào tìm kiếm con đường cứu nước, giải phóng dân tộc lúc này. Và Nguyễn Ái Quốc đã xác định được con đường cách mạng giải phóng dân tộc trên cơ sở lý luận của học thuyết Mác – Lênin để vận dụng vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Lựa chọn con đường cách mạng vô sản, đi lên CNXH của cách mạng Việt Nam hoàn toàn không là ảo tưởng hay cảm tính mà là kết quả của nhiều năm Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc nghiên cứu thực tiễn cách mạng thế giới, các học thuyết từ cổ chí kim bằng cả tình cảm và lí trí. Người đã hiểu rõ và nhận thức đúng đắn từ khát vọng của dân tộc Việt Nam, từ quy luật vận động của sự thay đổi, phát triển của các chế độ xã hội lịch sử nhân loại và tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu để nhận thức ngày càng sâu sắc hơn và vận dụng vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, đó là: tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, gắn phong trào cách mạng giải phóng dân tộc trong nước với phong trào cách mạng thế giới. Người khẳng định: "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản"[2]. Khi thành lập, Chánh cương vắn tắt của Đảng đã xác định: "làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản"[3]. Và, thành lập chính đảng là điều trước hết, nhân tố hàng đầu để sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người đi đến thành công. "Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức ra để lãnh đạo quần chúng lao khổ làm giai cấp tranh đấu để tiêu trừ tư bản đế quốc chủ nghĩa, làm cho thực hiện xã hội cộng sản"[4].
Tại Đại hội  II (tháng 2- 1951) tiếp tục cụ thể hóa Chánh cương vắn tắt của Đảng, nêu rõ: "Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam nhất định sẽ đưa Việt Nam tiến tới chủ nghĩa xã hội"[5].
Đến Đại hội III (tháng 9-1960), đường lối chung của miền Bắc bước vào thời kì quá độ được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta xác định là "đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội"[6], là hậu phương vững mạnh cho công cuộc đấu tranh giải phóng miền nam, thống nhất nước nhà.
Sau Đại thắng mùa xuân năm 1975, đất nước thống nhất, mặc dù hai miền Nam, Bắc còn có những nhiệm vụ cụ thể riêng, khác nhau, song trên cơ sở nhận định về nội dung cơ bản của thời đại, Đại hội IV của Đảng (1976) xác định: "trong thời đại ngày nay, khi độc lập dân tộc và CNXH không thể tách rời nhau, và ở nước ta, khi giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo cách mạng thì thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa, sự bắt đầu của thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội"[7]. Với nhận thức sâu sắc này, Đảng đã quyết định con đường lựa chọn cả nước cùng đi lên CNXH với phương thức "bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa để tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội"[8]. Lựa chọn này vừa mang tính khoa học sâu sắc, vừa phù hợp với thực tiễn phát triển của cách mạng Việt Nam, vừa phù hợp với xu thế chung của thời đại. Tuy nhiên, Đảng ta cũng nhận thức rất rõ hoàn cảnh điều kiện thực tại của nước mình "vẫn đang ở trong quá trình từ một xã hội mà nền kinh tế còn phổ biến là sản xuất nhỏ"[9] rất lạc hậu, cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn, trình độ lao động vẫn thủ công là chính…
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện con đường đó, chúng ta lại mắc không ít sai lầm, khuyết điểm như "chủ quan, nóng vội, bảo thủ, trì trệ", chưa nắm vững những quy luật của quá trình phát triển từ sản xuất nhỏ lên đến sản xuất lớn, còn thiếu kiến thức về thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội… đã để đất nước rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội... Tình hình đó làm cho niềm tin vào con đường đi lên CNXH ở không ít người giảm sút, thậm chí có ý kiến cho rằng, việc lựa chọn con đường đó là sai lầm, ảo tưởng! Với nhận thức khách quan, khoa học, Đảng ta tiếp tục khẳng định: Không phải sai lầm dẫn tới khủng hoảng kinh tế - xã hội là do lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa, mà là ở việc chúng ta đã thiết kế mô hình phát triển kinh tế không phù hợp với thực tiễn đất nước và cách thức tiến hành không thích hợp, đòi hỏi chúng ta phải thiết kế lại, đổi mới nhận thức và triển khai các bước đi lên CNXH cho phù hợp.
Đại hội VI (1986) mở đầu cho công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta khẳng định: "do tiến thẳng lên CNXH từ một nền sản xuất nhỏ, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, đương nhiên phải lâu dài và khó khăn. Đó là một thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc, toàn diện, triệt để nhằm xây dựng từ đầu một chế độ xã hội mới cả về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng… Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng, thực hiện công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa"[10]. Phương thức phát triển kinh tế nhiều thành phần để huy động sức mạnh của toàn xã hội, trong và ngoài nước được triển khai để tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đường lối đó được cụ thể hóa hơn tại Đại hội VII (1991). Giữa lúc tình hình thế giới biến đổi sâu sắc, đặc biệt là hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu tan rã, tại Hội nghị giữa nhiệm kì, Đảng ta vẫn nhất quán xác định: "CNXH biện chứng đứng trước nhiều khó khăn, thử thách. Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song, loài người nhất định sẽ tiến tới CNXH vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử"[11]. Đảng tiếp tục khẳng định con đường cách mạng Việt Nam là quá độ lên chủ nghĩa xã hội; "nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội" là bài học xuyên suốt của cách mạng Việt Nam. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện CNXH và CNXH là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Quá độ lên CNXH là "quá trình lâu dài; trải qua nhiều chặng đường: Mục tiêu của chặng đường đầu là: thông qua đổi mới toàn diện, xã hội đạt tới trạng thái ổn định vững chắc, tạo thế phát triển nhanh ở chặng sau"[12].
Đổi mới nhưng không xa rời mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, kiên trì chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được Đại hội VIII, IX, X, XI chứng minh tính đúng đắn trong thực tiễn của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng tiếp tục khẳng định sự nhận thức ngày càng rõ hơn về các bước quá độ lên CNXH ở Việt Nam.
Đại hội XI (2011) đã khẳng định: "Sau 20 năm thực hiện Cương lĩnh, chúng ta đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước thực hiện thành công bước đầu công cuộc đổi mới, ra khỏi tình trạng kém phát triển; đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết dân tộc được củng cố, tăng cường. Độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của đất nước đã tăng lên rất nhiều, tạo tiền đề để nước ta tiếp tục phát triển mạnh mẽ hơn theo con đường xã hội chủ nghĩa"[13]. "Đi lên CNXH là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử"[14].
Đại hội XII (2016) đánh giá 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XI (2011-2015) và tổng kết chặng đường 30 năm đổi mới, Đảng ta đã khẳng định: "Nhìn tổng thể, qua 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa"[15]. Đồng thời, Đại hội cũng khẳng định "…con đường đi lên CNXH của nước ta là phù hợp với … xu thế phát triển của lịch sử".
Nhìn lại một cách xuyên suốt, từ khi Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tìm thấy con đường cách mạng vô sản (7- 1920) trong sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lênin đến Chánh cương vắn tắt ở Hội nghị thành lập Đảng, với 88 năm lãnh đạo, qua 12 lỳ đại hội, con đường đi lên CNXH luôn được Đảng xác định là sợi chỉ đỏ dẫn dắt cách mạng Việt Nam. Đó là sự trung thành, vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng xã hội chủ nghĩa vào hoàn cảnh, điều kiện Việt Nam.
Sự lựa chọn, kiên định và luôn luôn bổ sung, phát triển một cách sáng tạo làm cho con đường đi lên CNXH của Việt Nam ngày càng sáng tỏ, cụ thể hơn, với những phương cách phù hợp, hiệu quả, thiết thực hơn với trách nhiệm của toàn Đảng và toàn dân là quá trình với cả lý trí, trên cơ sở khách quan, khoa học, đúng đắn, phù hợp với điều kiện và khát vọng chân chính của dân tộc Việt Nam và xu thế phát triển tất yếu của lịch sử xã hội loài người. Đó là con đường giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, để mang lại tự do, ấm no, hạnh phúc cho mỗi người và tất cả mọi người, chứ tuyệt nhiên không giành riêng cho một nhóm người nào đó. Cả phương diện lí luận lẫn thực tiễn từ cách mạng Việt Nam 88 năm qua dưới ngọn cờ của Đảng đã và đang minh chứng cho sự lựa chọn và kiên định con đường đi lên CNXH hiện thực này.
Trước hết về mặt lý luận, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã nhận thức rõ tính khoa học và cách mạng của con đường đi lên CNXH trong học thuyết Mác – Lênin. Đó sự nhận thức thế giới và giải thích thế giới một cách khoa học, duy vật, biện chứng đúng đắn và là cơ sở khoa học, cách mạng để cải tạo thế giới theo chiều hướng phát triển, văn minh, nhân văn. Học thuyết đó cũng đã chứng minh một cách khoa học, biện chứng về sự sụp đổ tất yếu của chủ nghĩa tư bản và sự quá độ sang một xã hội mới, vạch ra những nguyên lý cơ bản nhất, chung nhất về con đường, về hình thức, phương pháp, lực lượng đấu tranh cách mạng. Chỉ có CNXH – chủ nghĩa cộng sản mới triệt để giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người khỏi ách áp bức bóc lột, đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, đem lại vị trí làm chủ chân chính cho mỗi người và mọi người.
Về thực tiễn, lịch sử nhân loại đã lần lượt trải qua các chế độ xã hội khác nhau từ thấp đến cao, từ mông muội tới văn minh mà các nhà lý luận đã khái quát thành sự thay đổi các hình thái kinh tế - xã hội là một tất yếu. Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng mười Nga năm 1917 thắng lợi mở ra một thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới, đã tạo khả năng và điều kiện để hình thành hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới và hàng chục nước trong dòng thác giải phóng dân tộc ở thế kỷ XX đã giành được độc lập dân tộc. Hơn 7 thập kỷ xây dựng, hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới đã đạt được những thành tựu to lớn. Nhưng hệ thống xã hội chủ nghĩa hiện thực thế giới đã vấp phải những sai lầm dẫn tới sụp đổ. Song, đó không phải là sự sụp đổ của học thuyết Mác – Lênin về chủ nghĩa xã hội, không phải là sự sụp đổ của phong trào xã hội chủ nghĩa thế giới, bởi vẫn trên cơ sở lý luận của học thuyết ấy, một số nước xã hội chủ nghĩa đã vận dụng sáng tạo, với những bước đi phù hợp với hoàn cảnh nước mình nên đang tiếp tục đứng vững và từng bước phát triển dẫu trong bão giông, thử thách.
Là một dân tộc đã từng là nạn nhân của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc xâm lược, mỗi người dân Việt Nam, hơn ai hết thấu hiểu bản chất thực sự của chế độ tư bản chủ nghĩa là bất công, nô dịch, bần cùng hóa đối với nhân dân lao động. Từ đầu thế kỷ XX, khi có các đảng phái, tổ chức, cá nhân hướng lái đất nước đi theo con đường tư bản chủ nghĩa nhưng cả dân tộc vẫn kiên định đi theo con đường cách mạng đã chọn. Chủ nghĩa tư bản là mới đối với Việt Nam, nhưng người Việt Nam không xa lạ với bản chất bóc lột, bất công của chủ nghĩa tư bản, mà điển hình là sự nô dịch, thống trị của thực dân Pháp ở Việt Nam. Vì thế, khước từ con đường phát triển của chủ nghĩa tư bản và kiên định con đường xã hội chủ nghĩa đã lựa chọn là yếu tố tất yếu đối với dân tộc Việt Nam. Dẫu con đường xây dựng CNXH còn nhiều gian nan, thử thách, song, với nhận thức khoa học và cách mạng, với những thành quả trong thực tiễn đấu tranh giải phóng dân tộc, nhất là những thành tựu qua hơn 30 năm đổi mới, con đường đi lên CNXH là quy luật tiến hóa của lịch sử nhân loại, là hiện thực ở Việt Nam.



[1]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, Hà Nội, 2016, tr.66
[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 12, tr. 30.
[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 3, tr. 1.
[4]Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 3, tr. 5.
[5]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, 2001, t.12, tr.434.
[6]Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 12, tr. 604.
[7]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, 2004, t.37, tr.499.
[8]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, 2004, t.37, tr.146.
[9]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, 2005, t.37, tr.505.
10.ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc thời kì đổi mới (khóa VI, VII, VIII, IX, X), Sđd, phần I, tr. 38.
[11]ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc thời kì đổi mới (khóa VI, VII, VIII, IX, X), Sđd, phần I, tr. 410.
[12]ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc thời kì đổi mới (khóa VI, VII, VIII, IX, X), Sđd, phần I, tr. 414.
13 ĐCSVN, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần tứ XI, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 20-21.
[14] ĐCSVN, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần tứ XI, Nxb CTQG, Hà Nội, 2011, tr. 70.
[15] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần tứ XII, Nxb CTQG, Hà Nội, 2016, tr. 65.
NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU
CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG, VĂN HÓA HIỆN NAY
Khánh Anh
Để thực hiện được mưu đồ chính trị của mình, các thế lực thù địch không từ bất cứ thủ đoạn nào để chống phá, xuyên tạc, bôi nhọ, phủ nhận thành quả cách mạng nước ta. Chúng sử dụng các thủ đoạn tinh vi, thâm độc thông qua các cơ quan báo chí, xuất bản ở nước ngoài, móc nối với các phần tử cơ hội chính trị ở trong nước; thông qua con đường ngoại giao, hợp tác kinh tế, đầu tư... hòng chuyển hóa nước ta theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta, hòng làm mất ổn định chính trị - xã hội, tạo cớ và điều kiện để can thiệp sâu hơn, nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Nội dung quan điểm sai trái, thù địch của chúng trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa là:
- Các thế lực thù địch lợi dụng khoét sâu những thiếu sót, yếu kém trong công tác lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước cũng như sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, lãng phí của một bộ phận cán bộ, đảng viên để gây ra những dao động về tư tưởng, mất lòng tin, thiếu đồng thuận trong nhân dân, kích động, chia rẽ nội bộ để chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa, tạo dựng “ngọn cờ”, tập hợp lực lượng, hình thành các tổ chức chống đối ở trong và ngoài nước.
- Chúng dùng mọi biện pháp để đánh vào nền tảng tư tưởng, văn hóa của Đảng hòng gây hoang mang, dao động về hệ tư tưởng, về lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Chúng tiếp tục xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin không còn phù hợp với xã hội ngày nay, sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông  Âu những năm 90 của thế kỷ XX báo hiệu “sự cáo chung của chủ nghĩa xã hội hiện thực” (!).
- Các thế lực thù địch còn đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, ca ngợi chủ nghĩa tư bản, cổ xúy văn hóa tư bản, chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng, cho rằng chủ nghĩa tư bản là chế độ xã hội cuối cùng của lịch sử loài người, chủ nghĩa tư bản đã thay đổi bản chất, không còn là một xã hội áp bức, bóc lột nữa. Đồng thời, chúng coi con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta lựa chọn là “mù mờ”, “không tưởng”, “không rõ chủ nghĩa xã hội là gì mà dám lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa”; hoặc cho rằng “chủ nghĩa nào, chế độ nào cũng được, miễn dân giàu, nước mạnh”; chúng tách rời và đối lập độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, thậm chí cho rằng, thời kỳ trước năm 1975, miền Nam Việt Nam dưới sự hậu thuẫn của chủ nghĩa tư bản đã phát triển vượt trội so với miền Bắc, do đó nếu Việt Nam đi theo con đường tư bản thì kinh tế hiện nay đã phát triển như các con rồng châu Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapo...) (!).
- Chúng còn xuyên tạc, bôi nhọ tư tưởng, đạo đức, tác phong, cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh như:
Viết sách, báo, sản xuất băng hình nhằm “hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh”. Chúng đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin, coi Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ là người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không phải là người cộng sản (!).
- Chúng xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo. Hằng năm, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ có báo cáo tình hình nhân quyền, trong đó họ tự dành cho mình cái quyền phán xét tình hình nhân quyền của các nước khác, bao gồm cả Việt Nam, cố tình lờ đi tình trạng vi phạm nhân quyền đầy rẫy trên đất Mỹ, can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta trái với Hiến chương Liên hợp quốc. Họ còn tài trợ cho các lực lượng chống đối trong tôn giáo và người đi khiếu kiện; tổ chức đình công, bãi công, kích động biểu tình trong giáo dân, người dân tộc thiểu số, sinh viên, học sinh.
- Gắn liền với việc chống phá quyết liệt trên lĩnh vực tư tưởng, chúng rất coi trọng chống phá ta về văn hóa, nghệ thuật. Mục tiêu của các thế lực thù địch là khuyến khích các khuynh hướng văn hóa, nghệ thuật độc lập với chính trị; phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng đối với văn hóa, nghệ thuật; phủ định văn học cách mạng, lôi kéo các văn nghệ sĩ đi theo các trào lưu văn hóa phương Tây, coi nhẹ văn hóa, nghệ thuật truyền thống dân tộc. Chúng tìm mọi cách phủ định, làm hạn chế đến mức thấp nhất các giá trị nền tảng tư tưởng, văn hóa Việt Nam (bản lĩnh chính trị, truyền thống đoàn kết toàn dân tộc chống ngoại xâm, bảo vệ đất nước...) là cội nguồn sức mạnh làm nên chiến thắng của dân tộc ta trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc trước đây cũng như trong sự nghiệp xây dựngvà bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ngày nay. Đồng thời, thông qua nhiều con đường khác nhau, chúng khuếch trương các giá trị văn hóa phương Tây, gieo rắc sản phẩm đồi trụy, độc hại, quan điểm, tư tưởng, lối sống thực dụng, đề cao giá trị vật chất, sùng ngoại, tạo tâm lý hưởng thụ, từ đó từng bước chuyển hóa tư duy, nếp nghĩ, quan điểm của các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ theo hướng đối lập với quan điểm, tư tưởng của Đảng và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.
Với những vấn đề trên, đấu tranh phản bác những quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch chống phá trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa là cuộc chiến đấu lâu dài, khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải phát huy sức mạnh  tổng hợp của các tổ chức, các lực lượng và toàn thể nhân dân, trong đó sự tham gia của lực lượng vũ trang, Công an nhân dân và Quân đội nhân dân có vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền, giáo dục, định hướng thông tin dư luận, tổ chức trực tiếp đấu tranh phản bác các quan điểm sai sự thật, trái với nhân đạo và chính nghĩa, đồng thời đưa ra truy tố kịp thời, nghiêm minh các đối tượng cố tình vi phạm pháp luật trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo hành lang pháp lý chặt chẽ cho cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch trên mọi lĩnh vực.


Thứ Bảy, 12 tháng 5, 2018

LINH MỤC NGUYỄN ĐÌNH THỤC LẠI KÍCH ĐỘNG PHẢN ĐỐI 
XÂY DỰNG MÔ HÌNH GIÁO XỨ BÌNH YÊN
Mô hình giáo xứ bình yên lâu nay được xem là một mô hình hiệu quả để phát huy tinh thần đoàn kết lương giáo, đẩy mạnh các phong trào thi đua, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội tại các giáo xứ. Trên địa bàn huyện Nghi Lộc, mô hình này đã phát huy hiệu quả tại một số giáo xứ (như giáo xứ Lộc Mỹ, giáo xứ Bố Sơn…).
Nhận thấy hiệu quả của mô hình này, thời gian qua, cấp ủy, chính quyền xã Nghi Thuận (Nghi Lộc) đã phối hợp ban hành giáo xứ Bình Thuận triển khai các nội dung cần thiết để xây dựng mô hình giáo xứ bình yên tại đây. Việc làm này nhận được sự hưởng ứng tích cực của xóm trưởng, ban công tác mặt trận và nhân dân các xóm 2,3, 4.
Vậy mà, mới đây, linh mục Nguyễn Đình Thục (quản xứ Song Ngọc thuộc địa bàn huyện Quỳnh Lưu) khi đến thăm giáo xứ Bình Thuận (thuộc địa bàn huyện Nghi Lộc) đã ra sức kêu gọi bà con giáo dân nơi đây phản đối việc xây dựng mô hình giáo họ bình yên bằng những lời lẽ hết sức phản động: “Nếu xây dựng giáo họ bình yên thì chúng ta không còn giáo xứ Bình Thuận nữa”; “Nhà Cầm Quyền đang càng ngày muốn can thiệp sâu vào nội bộ của Giáo Xứ Chúng Ta”; “Chúng ta hãy nhìn gương Cộng Sản, trong nội bộ Đảng bị chia năm xẻ bảy. Chúng ta có muốn Giáo xứ Chúng Ta cũng như vậy? Xin Thưa: Đừng!”.
Tuy nhiên, những luận điệu đó của Nguyễn Đình Thục bị cộng đồng lên án kịch liệt bởi:
1. Việc kêu gọi giáo dân phản đối xây dựng mô hình giáo xứ bình yên chứng tỏ Nguyễn Đình Thục không muốn các con chiên của mình có một cuộc sống bình yên. Điều này rõ ràng đi ngược lại với mong muốn của bà con giáo dân ở bất kỳ nơi đâu.
2. Nguyễn Đình Thục là kẻ vô ơn khi cho rằng từ khi thành lập Xứ Bình Thuận (năm 1943) cho đến nay chưa hề nhận một ân huệ nào từ nhà cầm quyền, chính quyền chưa hề cho 1 xe đá hay 1 bao xi măng. Thực tế, người dân Bình Thuận đã nhận được những gì thì chắc hẳn Nguyễn Đình Thục – vốn là một kẻ được sinh ra và lớn lên tại đây không thể không nắm được. Đơn cử: năm 2014, chính quyền đã hỗ trợ toàn bộ xi măng để làm đường bê tông vào nhà thờ xứ Bình Thuận. Hay chỉ trong 4 tháng đầu năm 2018 này, cấp ủy, chính quyền và các ban ngành đoàn thể vác cấp đã hỗ trợ gần 100 triệu đồng cho nhân dân xóm 3 và 4 để tu sửa nhà văn hóa xóm. Hiện tại, nhân dân xóm 2 đang xây dựng nhà văn hóa và trước mắt huyện sẽ hỗ trợ 150 triệu đồng theo cơ chế.
3. Nguyễn Đình Thục cho rằng việc ban hành các quy chế hay quy định của giáo xứ bình yên không hỏi ý kiến của người dân mà chỉ dựa vào những người chóp bu Cộng Sản tại Bình Thuận. Xin thưa, việc xây dựng mô hình giáo họ bình yên tại Bình Thuận đã được cấp ủy, chính quyền và các đoàn thể xã Nghi Thuận trực tiếp gặp gỡ, trao đổi với Ban hành giáo. Không lẽ đây chính là những “người chóp bu cộng sản” như Nguyễn Đình Thục nói?
4. Nguyễn Đình Thục cho rằng “Bản cam kết phối hợp triển khai giữa nhà cầm quyền với bộ phận chóp bu mà lại không hề có Cha Xứ” là một văn bản không có hiệu lực. Nhưng thực tế buổi lễ ra mắt mô hình giáo họ bình yên tại Bình Thuận chưa diễn ra, đồng nghĩa với việc bản cam kết chưa được ký kết. Vậy thì chưa thể khẳng định linh mục quản xứ Bình Thuận không có mặt khi bản cam kết phối hợp được ký kết.
Những giọng điệu cố tình bẻ cong sự thật của Nguyễn Đình Thục chỉ chứng minh một điều: hắn luôn muốn các giáo xứ không được yên bình (và mục đích là gì thì chắc hẳn không ít người không biết) và giáo dân chính là con cờ để hắn thực hiện mục tiêu đó!

Nguồn:http://ngheanthoibao.com/linh-muc-nguyen-dinh-thuc-lai-kich-dong-phan-doi-xay-dung-mo-hinh-giao-xu-binh-yen/

Thứ Tư, 9 tháng 5, 2018

GIÁO DỤC, RÈN LUYỆN BẢN LĨNH CHÍNH TRỊ CHO
 CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN TRONG THỜI KỲ MỚI
Đại Nguyễn
Đối với mỗi cá nhân, bản lĩnh đó chính là sự vững vàng, tính kiên định, sự chủ động thể hiện trong hành động trước những thử thách mà cuộc sống đặt ra. Đối với mỗi cán bộ, đảng viên và toàn Đảng ta, bản lĩnh chính trị là phẩm chất hàng đầu không thể thiếu. Bản lĩnh chính trị của Đảng chính là sự kiên định với mục tiêu, lý tưởng, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định nền tảng tư tưởng là Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng. Đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng vững vàng về bản lĩnh phải luôn kiên định, không dao động trước mọi khó khăn, thử thách, hoàn cảnh, có ý chí, quyết tâm chiến đấu cao, sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn, vượt lên mọi gian khổ để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Mỗi cán bộ, đảng viên vững vàng về bản lĩnh chính trị phải luôn nêu cao tính chiến đấu, kiên quyết đấu tranh vạch trần, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch, góp phần làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc trong thời kỳ mới.
Thời gian qua, đúng như nhận định của Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ: “Các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo và những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để xuyên tạc, bóp méo tình hình, sự thật. Đồng thời, chúng còn cấu kết với các phần tử cơ hội và bất mãn chính trị hoạt động ráo riết, chống phá cách mạng ngày càng tinh vi, rầm rộ. Đặc biệt, chúng tìm mọi phương kế tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phủ nhận bản chất cách mạng, khoa học của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Bằng những giọng điệu xuyên tạc nguy hiểm, chúng muốn gieo rắc vào cán bộ, đảng viên tư tưởng hoài nghi về mục tiêu, con đường đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.
Trước sự chống phá quyết liệt đó, toàn Đảng, toàn dân và toàn qân ta phải có nhận thức đúng, không dao động, hoài nghi, luôn vững vàng về bản lĩnh chính trị; nhận thức đúng về bản chất cách mạng và khoa học; kiên định Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tích cực, chủ động đấu tranh với những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch. Tuy nhiên, những tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường, những khó khăn, phức tạp nảy sinh trong quá trình hội nhập, đặc biệt là sự chống phá quyết liệt bằng nhiều âm mưu, thủ đoạn tinh vi của các thế lực thù địch, phản động đã làm cho một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức của ta có phần hoang mang, dao động, giảm sút ý chí đấu tranh và niềm tin vào chế độ, điều này là vô cùng nguy hiểm. Nghị quyết hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII đã chỉ rõ: “Nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; việc đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị còn bị động, thiếu sắc bén và hiệu quả chưa cao”. Một số cán bộ, đảng viên không chủ động tự giác, tích cực kiên quyết đấu tranh với những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc mà cổ vũ, theo quan điểm nửa vời, vừa tin vừa không tin. Đặc biệt, hiện nay có một bộ phận cán bộ, đảng viên còn có biểu hiện không thiết tha với việc học tập lý luận Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh; không muốn tham gia các buổi học tập, quán triệt chủ trương, đường lối nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động mà trong xã hội đã có sự xuất hiện của những quan điểm phủ định mục tiêu và con đường đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta. Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã chỉ rõ những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, trong đó biểu hiện đầu tiên được đề cập là: “Phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”.
Một trong những biện pháp đấu tranh phòng, chống những biểu hiện ấy là mỗi cán bộ, đảng viên phải xây dựng cho mình bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng trên cơ sở tăng cường niềm tin, cơ sở khoa học, luận giải sâu sắc thuyết phục về mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta. Có thể nói, bản lĩnh chính trị vững vàng là một phẩm chất quyết định sự sống còn và thành công của mỗi cán bộ, đảng viên và toàn Đảng ta. Bản lĩnh chính trị của mỗi cán bộ, đảng viên không phải tự nhiên mà có. Bản lĩnh chính trị là sản phẩm của quá trình giáo dục, bồi dưỡng, học tập và rèn luyện thường xuyên, kiên trì, bền bỉ trong thực tiễn phong trào hành động cách mạng. Bên cạnh vai trò, ý nghĩa quan trọng hàng đầu của việc đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong Đảng, để xây dựng cho mình bản lĩnh chính trị vững vàng, từng cán bộ, đảng viên vừa phải tích cực học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ lý luận, chuyên môn nghiệp vụ, vừa phải đắm mình vào phong trào hành động cách mạng để rèn luyện, tu dưỡng, bồi đắp.
Để ngăn chặn những tác động xấu từ các quan điểm sai trái, thù địch, nhất là trên không gian mạng, đòi hỏi chúng ta phải có giải pháp tổng thể, từ việc ban hành và thực thi chính sách, pháp luật của cơ quan quản lý Nhà nước, đến ý thức tham gia xây dựng môi trường thông tin, một không gian mạng an toàn, lành mạnh của mỗi người và mỗi cơ quan đơn vị. Trong đó, phải thực hiện tốt công tác tuyên truyền, giáo dục các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch là một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu hiện nay, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, phòng chống có hiệu quả. Về nội dung tuyên truyền: trước hết, chúng ta phải tuyên truyền, giáo dục để mọi người hiểu rõ bản chất cách mạng, khoa học của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tính đúng đắn, sáng tạo trong đường lối lãnh đạo của Đảng ta; qua tuyên truyền phải định hướng, cung cấp đầy đủ thông tin để người dân hiểu đúng, hiểu sâu về lịch sử truyền thống dân tộc, về thành tựu của cách mạng đã và đang làm được, nhất là sự nghiệp đổi mới đất nước hơn 30 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đồng thời, chủ động thông tin kịp thời, phong phú và có định hướng cho công chúng về các sự kiện, vấn đề nảy sinh trong nước cũng như trong khu vực và trên thế giới, đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu nhận thức, thị hiếu chính đáng của nhân dân, thông qua đó để định hướng tư tưởng, hướng dẫn nhận thức, xây dựng, củng cố niềm tin cách mạng cho mọi đối tượng.
Cùng với đó là đẩy mạnh tuyên truyền để nhân dân nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đặc biệt là xu hướng, triển vọng và những tác động của cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0, các phương thức, thủ đoạn truyền bá những quan điểm sai trái mà các thế lực thù địch sử dụng ngày càng tinh vi, xảo quyệt, khó nhận biết. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, theo dõi, các cơ quan chức năng cần thông báo, phổ biến kịp thời để nhân dân nhận biết được những chiêu trò mà các thế lực thù địch, phản động áp dụng, từ đó đề cao tinh thần cảnh giác, không mắc mưu kẻ địch, tăng cường và đề cao trách nhiệm, tính tự giác trong đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái. Đề cao tinh thần cảnh giác là tốt và rất cần thiết, nhưng trong điều kiện hội nhập trở thành một xu thế lớn của thế giới hiện đại thì cần tránh tư tưởng cảnh giác cực đoan, nhìn đâu cũng thấy “thù địch”. Quá trình hội nhập đồng thời mở ra cả thời cơ và thách thức, đưa tới cả thuận lợi lẫn khó khăn, đó là lẽ đương nhiên. Chúng ta không nên cảnh giác một cách cực đoan, cứng nhắc, một chiều mà bỏ lỡ thời lớn, cần phải đón nhận những làn gió trong lành, những thời cơ, vận hội, những nhân tố tích cực phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước./.


HOẠT ĐỘNG TRÁI PHÁP LUẬT CỦA
HỘI THÁNH ĐỨC CHÚA TRỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
                                                          Đại Nguyễn
1. Sự ra đời của Hội thánh Đức chúa trời
Hội thánh đức chú trời được hình thành từ năm 1985 tại Hàn Quốc, do Kim Joo - Cheol và Jang Gil – Ja, phát triển từ Hội thánh do Ahn  Sahng –Hong, được sáng lập từ năm 1964. Hội này hiện có mặt ở hơn 175 quốc gia trên thế giới và có khoảng hơn 2 triệu thành viên tham gia. Giáo phái này có rất nhiều quan điểm khác lạ trái ngược với Cơ đốc giáo truyền thống. Theo những người theo Hội này thì Ahn  Sahng – Hong, chính là Đức chúa trời cha và Jang Gil – Ja chính là đức chúa trời mẹ. Họ cho rằng đức chúa trời tái sinh ở trong hai người này, ứng nghiệm với lời tiên tri của Kinh thánh. Họ cho rằng những chỉ trích của người khác nhằm vào hội thánh là sự bức hại mà họ phải gánh chịu sự đau đớn, vì tin vào JeSus trong xác thịt người thường. Cơ đốc giáo phản đối rất gay gắt và chỉ trích nặng nề những quan điểm trên. Năm 2012 Hội đồng quốc gia các giáo hội tại Hàn Quốc chính thức lên án và cấm các hoạt động của phong trào này, họ cho rằng đây là phong trào phạm thượng và hoàn toàn không phù hợp . 
Tại Việt Nam, đặc biệt trong những năm gần đây lấy danh nghĩa là Hội thánh đức chúa trời đã xâm nhập và hoạt động trái pháp luật do một số kẻ cầm đầu tổ chức gọi là “Hội Thánh Đức Chúa Trời” hay còn gọi là “Hội Thánh Đức Chúa Trời Mẹ”. Những kẻ cầm đầu đã đang lôi kéo, dụ dỗ những người nhẹ dạ cả tin, nhất là nữ học sinh, sinh viên và phụ nữ trẻ có chồng đi theo tà đạo này, khiến bao gia đình rơi vào cảnh vợ chồng, cha con, mẹ con ly tán, học hành dang dở, tinh thần, thể xác suy sụp, tiền mất tật mang, cuộc sống bị đảo lộn, gây bức xúc trong xã hội và nhân dân.
2. Thủ đoạn, chiêu bài hoạt động và hậu quả của cái gọi là Hội thánh đức chúa trời
Bằng nhiều thủ đoạn và chiêu bài khác nhau, chúng tiến hành tiếp cận, dụ dỗ, lôi kéo các thành phần nhẹ dạ cả tin, chủ yếu là thế hệ trẻ để gia nhập vào hội.
Khi gia nhập hội, họ được cho uống thứ nước màu đỏ và ăn miếng bánh được cho là máu và thịt của Chúa. Chỉ cần thực hiện xong nghi thức này, thì họ đã chính thức là con của Chúa, sẽ được Chúa ban tặng cuộc sống vĩnh hằng ở nơi “Nước Thiên Đàng”. Sau khi uống xong sẽ làm nhận thức, tính cách thay đổi một cách nhanh chóng, trở thành những người thần kinh không bình thường. Nguy hiểm hơn càng ngày họ càng xa lánh với người thân và gia đình, thậm chí họ đề nghị hoặc trực tiếp đập bỏ bàn thờ tổ tiên. Đặc biệt, chúng đã làm cho nhiều cặp vợ chồng bỏ nhau sau nhiều năm vun vén hạnh phúc trở nên ly tán, vợ xa chồng, mẹ xa con...Những đứa con đang độ tuổi xuân xanh, sôi nổi nhất vì sự lôi kéo của bạn bè mà gia nhập tà đạo sẵn sàng từ bỏ cha mẹ, anh em ruột thịt vì nhiều lý do hết sức vô lý. Nguy hiểm hơn, thay vì tin yêu và kính trọng cha mẹ thì lại xem cha mẹ là qủi giữ cần phải xa lánh. Đối với những người theo Hội này họ xem cái chết như là một niềm sung sướng, họ xem cái chết như là một niềm vinh hạnh vì khi chết đi thì sẽ được giải thoát khỏi nổi khổ của trần gian để trở về với thiên đường đáng sống. Theo họ, con người không phải do cha mẹ sinh ra mà do hòn đất nặn ra con người và thổi hồn vào đó để tồn tại. Con người chết sẽ trở về với cát bụi hết, cát bụi về với cát bụi. Ai mà chết sớm thì được lên thiêng đàng càng sớm bằng con tàu Seon, chỉ chở được 30 người trên chuyến, do đó ai chết càng sớm thì càng được sung sướng và gặp nhiều may mắn hơn những người chết sau.
Theo lý luận tuyên truyền của tà đạo này, tiền bạc là thứ vô cùng tội lỗi, không để làm gì cả và không có giá trị đối với cuộc sống. Tuy nhiên, họ lại giở chiêu trò ‘móc túi’ của các tín đồ bằng cách, mỗi tuần, các tín đồ phải bỏ 200 đến 500 nghìn đồng để đóng góp vào hội, cho vào một cái phong bì, bên ngoài có chữ “Cha mẹ yêu anh em rất nhiều”, rồi đưa cho trưởng nhóm. Bên cạnh đó họ còn quy định mọi thành viên hàng tháng phải đóng góp 10% thu nhập cho hội; ngoài ra, mỗi tín đồ phải ngồi ‘hầu thánh’ 3 lần/tuần, mỗi lần phải đóng 50 nghìn đồng, cũng được bỏ vào cái phong bì có chữ nêu trên để đóng góp. Những kẻ tuyên truyền của tà đạo đã đưa ra những luận điệu xuyên tạc hết sức phi lý, phản khoa học, tiêm nhiễm vào đầu nạn nhân những thứ triết lý vô thức để chiếm đoạt tinh thần cũng như vật chất của các thành viên, rồi điều khiển hành động của họ, sai khiến họ làm những việc thất đức với cha mẹ, người thân trong gia đình và xã hội.
Một trong những hậu quả của Hội thánh đức chúa trời là tiêm nhiễm vào đầu nạn nhân ý thức không thiết tha đến cuộc sống hiện tại, không cần thiết phải lao động nhiều để đóng góp cho gia đình và xã hội mà chỉ mong chờ để được chết đi trở về với Chúa và được chúa cưu mang, che chở, giúp đỡ. Họ cho rằng cuộc sống trần gian chính là ngục tù, hình hài do cha mẹ ban cho thật ra là lớp áo tù, nên nhất định phải sớm cởi bỏ được nó để về với Chúa, trở về  một nơi có sự sống mãi mãi, vĩnh hằng do Chúa Trời tạo ra.
3. Định hướng tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ trong các cơ quan đơn vị
Để tăng cường nhận thức, rèn luyện tốt bản lĩnh chính trị cho mọi cán bộ, chiến sĩ trong toàn học viện, các cơ quan đơn vị cần quán triệt và thực hiện tốt một số yêu cầu cơ bản, chủ yếu sau đây.
Một là, tổ chức tuyên truyền, quán triệt đến từng cán bộ, đảng viên, quần chúng, đặc biệt là học viên hiểu rõ âm mưu, ý đồ, phương thức, thủ đoạn tuyên truyền xuyên tạc của Hội thánh đức chúa trời là trái với Hiến pháp và pháp luật của nhà nước; kịp thời phát hiện và có biện pháp ngăn chặn hiệu quả.
Hai là, tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ và quản lý tốt cán bộ, đảng viên có liên quan đến tình hình tôn giáo; có kế hoạch nắm bắt và ngăn chặn kịp thời các tác hại xấu có thể xảy ra ở cơ quan đơn vị.
Ba là, tích cực, chủ động nắm bắt tình hình diễn biến tư tưởng, tâm trạng trong cán bộ, đảng viên, học viên cũng như âm mưu, ý đồ, phương thức, thủ đoạn hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc, hoạt động trái phép của Hội Thánh đức Chúa trời; chủ động và kịp thời xử lý các tình huống xảy ra, không để bị động, bất ngờ; giải quyết tốt những vấn đề bất cập, bức xúc của cán bộ, chiến sĩ trong cơ quan đơn vị, không để chúng lợi dụng, kích động, gây mất ổn định chính trị nội bộ.
Bốn là, tiếp tục quán triệt, nâng cao nhận thức trong các cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên về vai trò, tầm quan trọng của công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn chống phá, lôi kéo, dụ dỗ để trục lợi bất chính của các tổ chức, cá nhân.
Năm là, đề nghị cán bộ, đảng viên tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân nơi cư trú không tham gia, ủng hộ, cổ vũ các hoạt động tôn giáo trái pháp luật; kiên quyết không nghe kẻ xấu lợi dụng, dụ dỗ, mua chuộc gây mất ổn định chính trị cũng như trật tự an toàn xã hội./.




Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...