Thứ Tư, 21 tháng 3, 2018

NGUYỄN ĐỨC NHÂN – QUẢN XỨ KẺ GAI VÀ NHỮNG NGƯỜI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG, CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ PHẢI CHỊU SỰ TRỪNG TRỊ CỦA PHÁP LUẬT !

 

Nguyễn Đức Nhân, người được gọi là linh mục, quản xử Kẻ gai (Hưng Nguyên, Nghệ An) đã kích động một số giáo dân lấn chiếm đất trái pháp luật và chống người thi hành công vụ, gây thương tích cho nhiều người.

Từ ngày 17/12/2017, linh mục Nguyễn Đức Nhân quản xứ Kẻ Gai đã dùng loa phát thanh kích động bà con giáo dân đưa máy xúc, cuốc xẻng ra đào đất ruộng và phá mương thủy lợi để làm một con đường rộng khoảng 2,5-3m dài khoảng 80m. Số đất bị lấn chiếm có tổng diện tích 9.000m2 - đây là ruộng 2 lúa được giao cho hộ dân canh tác theo Nghị định 64 của Chính phủ.
Trước hành vi vi phạm pháp luật của Nguyễn Đức Nhân và một số người, các lực lượng chức năng đã có mặt yêu cầu số người này ra về và thu các dụng cụ thì ông này lại tiếp tục kích động một số người tấn công lại lực lượng chức năng và cán bộ chính quyền, gây thương tích cho một số người đang thi hành công vụ và một số người dân. Hành vi của vị linh mục này và một số người đã vi phạm pháp luật nghiêm trọng.
Điều đáng nói, đây không phải lần đầu vị linh mục này có các hành vi kích động, xúi giục một số giáo dân vi phạm pháp luật. Từ khi về nhận quản xứ Kẻ Gai (ngày 31/1/2015) đến nay, ông ta đã chỉ đạo tiến hành các hoạt động xây dựng cơ sở vật chất, sử dụng, lấn, chiếm đất đai trái pháp luật.
Có thể điểm lại một số sai phạm có hệ thống của Nguyễn Đức Nhân trong thời gian vừa qua như: Chỉ đạo không làm thủ tục xây dựng nhà học giáo lý tại khu đất nhà trẻ thuộc thửa số 101, tờ bản đồ số 16, diện tích 1017,1m2, bản đồ địa chính xã Hưng Tây đo năm 2000 (vị trí đất giáo xứ đã từng đề nghị cho làm các thủ tục để xây dựng nhà học giáo lý và đã được UBND tỉnh đồng ý bằng văn bản).
Tháng 10/2016, chỉ đạo mua 5000 cây tràm và huy động gần 100 giáo dân trồng cây trái phép tại khu vực đất lò gạch thủ công cũ (thuộc xóm Hưng Thịnh 1, xã Hưng Tây) nhằm chiếm đất. Đây là diện tích đất do UBND xã Hưng Tây quản lý, đã ký hợp đồng giao đất cho hộ gia đình thuê đất theo quy định của pháp luật vào tháng 6/2016.
Tháng 02/2017, vị này chỉ đạo mua vật liệu xây dựng bờ bao trái phép (cao khoảng 1m) xung quanh diện tích đất trước nhà thờ giáo họ (thửa đất số 207, bản đồ địa chính năm 2000, diện tích 508 m2 do UBND xã Hưng Tây quản lý) nhằm mục đích chiếm đất. Ông ta đã nhiều lần tổ chức làm lễ trái phép ngoài khuôn viên nhà thời tại xóm Đại Đồng, xã Hưng Tây, vi phạm các quy định tại điều 11, 12 pháp lệnh số 21/2004/PL-UBTVQH ngày 18/6/2004 của ủy ban Thường vụ Quốc hội về tín ngưỡng tôn giáo.
Liên quan đến việc đền bù giải phóng mặt bằng dự án đường 72m, ông này đã chỉ đạo một số giáo dân họ Phúc Long gây áp lực lên chính quyền trong giải quyết vấn đề cấp đất xây dựng nhà nguyện; kích động một số giáo dân không ký vào hồ sơ nhận tiền đền bù GPMB, từ đó gây ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án.
Tháng 2/2017, vị này đã chỉ đạo tiến hành lấn, chiếm, xây dựng công trình trái phép trên đất sân vận động xóm Trung Kẻ Gai thuộc quyền quản lý của chính quyền địa phương (khu đất đã được UBND tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất giao cho UBND xã Hưng Tây quản lý).
Từ năm 2012 – 2017, tỉnh Nghệ An đã chấp thuận thành lập 37 giáo xứ, giáo họ và cơ sở dòng; tổ chức giao đất, công nhận đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 42 giáo xứ, giáo họ với tổng diện tích là 181.540 m2 đất...Trước những hành vi vi phạm pháp luật của vị linh mục này, các cấp chính quyền đã làm việc nhiều lần với ông ta với tinh thần thiện chí trong giải quyết xử lý các vụ việc tại giáo xứ Kẻ Gai, yêu cầu ông chấp hành các quy định pháp luật của Nhà nước, tuy nhiên vị linh mục này đã có thái độ không hợp tác.
Từ đầu năm 2018 đến nay, vị linh mục này vẫn tiếp tục xúi giục đồng bào giáo dân lấn chiếm đất công, gây mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Những hành động của vị linh mục này và một số người đã vi phạm Luật Đất đai 2013. Hành vi đó có thể bị xử lý vi phạm hành chính khi chuyển mục đích sử dụng đất mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép theo điểm a, khoản 3, Điều 6 Nghị định 102/2014/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực đất đai, sẽ bị buộc phải khôi phục tình trạng của đất trước khi vi phạm.
Ngoài ra, các hành vi nêu trên còn có dấu hiệu cấu thành tội gây rối trật tự công cộng và tội chống người thi hành công vụ quy định tại Điều 245 Bộ Luật hình sự về tội gây rối trật tự công cộng và Điều 257 quy định về tội chống người thi hành công vụ. Pháp luật cần trừng trị thích đáng đối với những người này.
QC.504


Thứ Năm, 15 tháng 3, 2018

CẦN NHẬN RÕ QUAN ĐIỂM SAI TRÁI
 CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH VỀ GIÁ TRỊ CỦA HỒ CHÍ MINH
Cao Lê

Đã từ lâu, nhân dân thế giới nói chung và nhân dân Việt Nam nói riêng luôn tự hào về  một người con vĩ đại, người con của dân tộc Việt Nam, nhưng lại được cả nhân dân thế giới biết đến, tôn vinh, trân trọng và yêu mến, đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam.
Nói đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta không chỉ biết đến một tấm gương vĩ đại đã hy sinh suốt cuộc đời mình cho sự nghiệp đấu tranh đòi độc lập, tự do cho đất nước cho dân tộc mình khỏi ách áp bức bóc lột của chủ nghĩa đế quốc, thực dân, phong kiến tay sai, mà đó còn là một con người vĩ đại cả về phong cách, đạo đức. Vậy mà thật trớ trêu thay, một con người vĩ đại như thế, một con người đã làm nên lịch sử của một dân tộc, được nhân dân yêu chuộng hòa bình của cả thế giới biết đến tôn vinh, nhưng các thế lực đã tìm mọi cách để phủ nhận vai trò to lớn của một anh hùng giải phóng dân tộc, phủ nhận tư tưởng đấu tranh đòi độc lập, phủ nhận con đường đi lên CNXH mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn. Chúng cho rằng đó là một sai lầm to lớn của một Đảng lãnh đạo được bắt đầu từ vai trò của một con người đã đi theo một con đường thiếu đúng đắn, không nhìn thấy con đường phát triển, sai lầm tụt hậu, chúng cho rằng sự hy sinh của biết bao thế hệ nhân dân thật là vô ích và phí phạm, không đáng có. Những lý luận sáo rỗng, những luận điệu ngụy biện cho những điều đã lạc hậu, lỗi thời đó không chỉ làm cho nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, nhân dân Việt Nam thấy rõ được bản chất thù địch, xuyên tạc, núp đằng sau những cái gọi là đi tìm chân lý cho sự thật về con người Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Thật quá nực cười, có lẽ đây là cái mơ hồ nhất trong những cái mơ hồ. Bởi vì có lẽ nào những kẻ núp trong bóng tối lại có thể thấy được con đường chân lý đúng đắn cho một dân tộc. Chúng cần thấy rằng một dân tộc đã quật khởi đấu tranh, đã phải hy sinh, đã phải đổ biết bao nhiêu máu của nhiều thế hệ để giành cho được độc lập, tự do, hòa bình. Ngày nay, dân tộc ấy đang đi lên xây dựng một xã hội tốt đẹp bằng chính tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Một nước Việt Nam tự tin vươn lên hội nhập cùng bạn bè năm châu, xây dựng và phát triển đất nước bằng sự nghiệp CNH, HĐH theo định hướng XHCN, để chính ngày hôm nay và những chặng đường tiếp theo đất nước Việt Nam luôn và sẵn sàng khẳng định vị trí của mình trên trường quốc tế với vị thế một nước độc lập, hòa bình và tự do. Sự hội nhập và ngày càng phát triển trên mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa xã hội, quốc phòng an ninh của đất nước được giữ vững, đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện...đã khẳng định con đường phát triển đất nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh là hoàn toàn đúng đắn. Có hay chăng đã đến lúc những kẻ núp đằng sau bóng tối hãy suy ngẫm và nhìn thẳng vào sự thật những giá trị chân thực của con người vĩ đại Chủ tịch Hồ Chí Minh để thấy được ánh sáng và chân lý.

                                                             

Thứ Tư, 14 tháng 3, 2018

LẠI LÀ LUẬN ĐIỆU BÓP MÉO SỰ THẬT CỦA NHÓM “HAI LÚA”
                                                       Thành Đăng
Hiện nay, trên một số trang mạng xuất hiện một số bài viết về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội về vai trò lãnh đạo của Đảng ta, về vấn đề dân chủ... nhằm tạo ra sự hoài nghi trong xã hội, làm giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước. Trong một số bài viết đó, có bài viết với tiêu đề “Dấn Thân Hơn Nữa, Quyết Liệt Hơn Nữa” của một số kẻ có danh xưng là “Nhóm Hai Lúa”.
Thứ nhất, bài viết đã xuyên tạc, phủ nhận quá trình đổi mới và phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta. Chúng cho rằng chế độ ở nước ta hiện nay không thể kéo dài quá năm 2020. Thực chất của luận điệu này là phủ nhận thành tựu công cuộc đổi mới và phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đất nước. Công cuộc đổi mới đất nước thực sự là quá trình cải biến tích cực, thực chất, sâu sắc, toàn diện vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Qua hơn 30 năm đổi mới, diện mạo đất nước có nhiều thay đổi, kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện. Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình. Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, nếu năm 1990, tổng thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam chỉ ở mức 220USD thì đến năm 2016 con số này đã tăng lên 2.215USD. Tăng trưởng kinh tế đi đôi với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển. An sinh xã hội được đảm bảo; hệ thống an sinh xã hội và phúc lợi xã hội phát triển khá đồng bộ, đặc biệt là trong vấn đề giảm nghèo, giải quyết việc làm, phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội, chính sách ưu đãi người có công với nước, trợ giúp xã hội, chính sách bảo hiểm y tế toàn dân tạo điều kiện để người dân được hưởng thụ nhiều hơn về văn hóa, y tế và giáo dục. Thành tựu công cuộc đổi mới đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng ta với tiến trình cách mạng và tương lai, tiền đồ tươi sáng của đất nước, của dân tộc.
Thành tựu qua hơn 30 năm đổi mới được các nước trên thế giới và khu vực ghi nhận và đánh giá cao. Vậy mà, “Nhóm Hai Lúa” cố tình bóp méo sự thật về tình hình Việt Nam. Qua đó bôi nhọ, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đất nước. Đây là luận điệu phản động cần phải đấu tranh bác bỏ.
Thứ hai, chúng xuyên tạc tình hình, phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Chúng cho rằng: từ giữa năm 2017 đến nay nhà nước ta đã bắt và bỏ tù tới 23 người mà chúng gọi là “nhà đấu tranh” cho dân chủ. Những “nhà đấu tranh” cho dân chủ theo cách gọi của “Nhóm Hai Lúa” là những phần tử hoạt động chống đối chế độ và Nhà nước, gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, vi phạm pháp luật nhà nước.
Nền dân chủ của Việt Nam nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Bản chất cốt lõi nhất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, đáp ứng được yêu cầu, nguyện vọng, lợi ích chính đáng của đại đa số Nhân dân. Trong Hiến pháp đầu tiên năm 1946 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngay lời nói đầu đã khẳng định ba nguyên tắc cơ bản của bản Hiến pháp: 1) Đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, gái, trai, giai cấp, tôn giáo; 2) Đảm bảo các quyền tự do, dân chủ; 3) Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục nêu rõ: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước”.  
Thực tiễn ở Việt Nam cho thấy, mọi đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, có sự tham gia ý kiến của nhân dân. Nhân dân lao động là chủ thể mọi quyền lực; quyền lợi và nghĩa vụ, quyền hạn và trách nhiệm, cống hiến và hưởng thụ luôn gắn bó chặt chẽ với nhau. Hiện nay, Việt Nam có trên 70.000 chức sắc trong các tổ chức tôn giáo đang hoạt động tại hơn 24.000 cơ sở thờ tự trên cả nước; có hơn 20 triệu người theo tôn giáo. Quyền tự do báo chí, tự do hội họp được thực hiện theo quy định của pháp luật. Những số liệu trên trên đã thể hiện một cách rõ ràng và sinh động quyền làm chủ, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do ngôn luận, báo chí của nhân dân, thể hiện sâu sắc bản chất tốt đẹp, ưu việt của chế độ dân chủ ở nước ta.
Sự thật tình hình Việt Nam là như vậy, nhưng “Nhóm Hai Lúa” vẫn cố tình đổi trắng thay đen, xuyên tạc, bóp méo sự thật về tình hình đất nước ta. Một việc làm hại dân, hại nước cần phải lên án và loại bỏ./.


CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM LÀ THỰC TIỄN SINH ĐỘNG
Công Đặng
Với cái nhìn của kẻ cơ hội, phản động, trong bài viết “Quan điểm về cộng sản ở Việt Nam” trên BlogFRA, Nguyễn Vũ Bình đã cố tình bịa đặt, xuyên tạc cho rằng: “nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đã lợi dụng quyền lực, sử dụng quyền lực để trục lợi từ các chính sách kinh tế” và Y còn vu cáo trắng trợn rằng Đảng, Nhà nước ta: “đã dồn nén mọi giai tầng xã hội, mọi tôn giáo một cách cực kỳ khốc liệt”. Tuy nhiên, lịch sử và thực tiễn ở Việt Nam đã bác bỏ hoàn toàn các luận điệu sai trái của y.
Ngay khi mới ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định: chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. Với mục tiêu, lý tưởng cao đẹp đó Đảng cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam đấu tranh anh dũng, kiên cường giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Như chúng ta đã biết, Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, lại chịu hậu quả rất nặng nề của chiến tranh. Sau khi thống nhất đất nước, đời sống nhân dân hết sức khó khăn, khoảng 3/4 dân số sống ở mức nghèo khổ. Nhờ thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, hơn 30 năm qua nền kinh tế liên tục phát triển. Từ một nước bị thiếu lương thực triền miên, đến nay Việt Nam không chỉ đã đảm bảo được an ninh lương thực mà còn trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới. Từ một nước thuần nông, thu nhập bình quân đầu người khoảng 100 đô la/năm (1986), đến nay Việt Nam đã có sự chuyển dịch tích cực trong cơ cấu nền kinh tế, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đạt trên 83%; thu nhập bình quân đầu người đạt 2.300 đô la/năm (2015). Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày một nâng cao. Tỉ lệ người nghèo giảm từ 75% năm 1986 xuống còn 5,6% năm 2017. Người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và người cao tuổi được cấp bảo hiểm y tế miễn phí. Tỉ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em giảm gần 3 lần; tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh giảm 6 lần. Tuổi thọ trung bình của dân cư tăng từ 62 tuổi năm 1990 lên 74 tuổi năm 2017, đứng thứ 2 khu vực Đông Nam Á… Cũng nhờ kinh tế có bước phát triển nên đất nước có điều kiện để chăm sóc tốt hơn những đối tượng chính sách, người có công, thực hiện an sinh và nhiều vấn đề xã hội được giải quyết.
Cùng với phát triển kinh tế, Đảng và Nhà nước luôn luôn quan tâm tốt giải quyết vấn đề an sinh xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Thường xuyên chăm lo, tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi cho sinh hoạt tín ngưỡng của đồng bào trên mọi miền đất nước. Tính đến năm 2017, cả nước có 13 tôn giáo với 37 tổ chức tôn giáo được công nhận tư cách pháp nhân hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, với trên 30 triệu tín đồ, hơn 100.000 chức sắc và nhà tu hành đang hoạt động tại hơn 24.000 cơ sở thờ tự trên cả nước. Trong những ngày lễ lớn của các tôn giáo như: Nô-en của đạo Công giáo, Phật đản của Phật giáo… đều được chính quyền các cấp tạo điều kiện tổ chức và lãnh đạo Đảng, Nhà nước đến chúc mừng, động viên. Cùng với đó, các tổ chức tôn giáo vẫn duy trì tốt những hoạt động đào tạo, bồi dưỡng chức sắc, phong chức, phong phẩm và bổ nhiệm chức sắc, chức việc nhà tu hành tôn giáo.
Những kết quả thực tế đó chứng minh thuyết phục ở Việt Nam, tín đồ và chức sắc các tôn giáo đã và đang yên tâm hành đạo, tin tưởng ở chủ trương, chính sách đối với tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Họ gắn bó với quốc gia, dân tộc theo phương châm: “Đạo pháp, dân tộc và chủ nghĩa xã hội”, thực hiện “sống phúc âm trong lòng dân tộc”, “nước vinh, đạo sáng”, với tấm lòng “kính chúa, yêu nước”; vừa hoàn thành trách nhiệm, nghĩa vụ của “con Lạc, cháu Hồng” đối với Tổ quốc, vừa làm tròn bổn phận của một tín đồ đối với tôn giáo; hăng hái thi đua lao động, sản xuất, tham gia các hoạt động xã hội, góp phần quan trọng vào thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Bên cạnh những thành tựu, mặt tích cực là cơ bản, thì Việt Nam cũng đang phải đối mặt với những thách thức mới trong quá trình phát triển đất nước. Đặc biệt, trong điều kiện Đảng cầm quyền, nhất là trước tác động của mặt trái kinh tế thị trường, một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, quan liêu, tham nhũng, lãng phí đã tác động không nhỏ tới niềm tin của nhân dân đối với vai trò lãnh đạo của Đảng. Nhưng Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam đã và đang kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi những tiêu cực đó.
Với những thành tựu to lớn trên, có thể khẳng định rằng: dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc ta đang vững bước trên con đường xây dựng nước một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đây cũng là bằng chứng sinh động, thể hiện bản lĩnh, sự kiên định, tính đúng đắn, sáng tạo của những người cộng sản Việt Nam.
Vì thế, những luận điệu bịa đặt của Nguyễn Vũ Bình chẳng những không đánh lừa được ai mà còn làm cho mọi người nhận rõ bản chất cơ hội, phản động của hắn. Chúng ta cần lên án, đấu tranh kiên quyết với những luận điệu sai trái nêu trên./.


CẦN NHẬN RÕ SỰ PHẢN ĐỘNG SAU BÀI THUYẾT GIẢNG VỀ LÒNG YÊU NƯỚC CỦA NGUYỄN NGỌC NAM PHONG TẠI NHÀ THỜ THÁI HÀ

Trong buổi Thánh lễ cầu nguyện cho Công lý và Hòa bình diễn ra vào tối 25/2/2018 tại nhà thờ Thái Hà, trước hàng trăm giáo dân, linh mục Nguyễn Ngọc Nam Phong ngạo nghễ thuyết giảng về lòng yêu nước.
Ông ta nói rằng: “Người giáo dân tốt cũng là người công dân tốt. Chúng ta không thể là giáo dân tốt nếu chúng ta không sống tốt tư cách của một công dân, một công dân mẫu mực, yêu nước thương nòi. Thư chung viết: yêu tổ quốc, yêu đồng bào. Đối với người công giáo không những là một tình cảm tự nhiên mà nó còn là một đòi hỏi của tin mừng.” Hoàn toàn đúng, người công giáo tốt phải là người công dân tốt. Nhưng thử xem, nếu xét trên phương diện này, liệu linh mục Nguyễn Ngọc Nam Phong có phải là công dân tốt hay không?
Nguyễn Ngọc Nam Phong được biết đến là một vị linh mục với “bề dầy” thành tích xuyên tạc, phản động và học được nhiều chiêu được cho là có “năng khiếu” hò la giáo dân quấy rối chống phá Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương. Cộng thêm với việc tán dương, ca ngượi, khích lệ hoạt động chống phá của các đối khác, đã và đang bị cơ quan chức năng xét xử và giam giữ.
Điển hình, tháng 9/2016, ông ta từng nói: “Những người như anh Nguyễn Hữu Vinh, chị Cấn Thị Thêu và rất nhiều những tù nhân lương tâm khác – những người đã chấp nhận trả một cái giá quá đắt cho sự thật, chấp nhận chịu tù đầy, không vì sự an nguy của bản thân, của gia đình, đã can đảm lên tiếng trước những bất công của xã hội, nhất là trước sự an nguy của tổ quốc; một cách nào đó, họ đang làm nhiệm vụ của một ngôn sứ thay cho chúng ta”. Hay ngay trước buổi Thánh lễ cầu nguyện cho công lý và hòa bình ngày 25/2/2018 vừa qua, Nguyễn Ngọc Nam Phong còn tỏ ra vui mừng giới thiệu sự có mặt của Cấn Thị Thêu và suy tôn ả là “nữ anh hùng của làng Dương Nội” bị “giam giữ bất công”, “đấu tranh vì quyền lợi hợp pháp”…. Vậy, suy tôn những kẻ bị pháp luật xét xử; ngang nhiên vi phạm pháp luật, liệu linh mục Nguyễn Ngọc Nam Phong có tư cách để nói về lòng yêu nước, công dân tốt, giáo dân tốt hay không?
Và như để biện minh cho những hành vi sai trái của mình, vị linh mục này lấp liếm rằng: “Nhưng thưa anh chị em, ở đất nước chúng ta, người ta hay đánh đồng yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội cho nên hôm nay chúng ta phải dứt khoát nói với nhau rằng yêu nước không phải là yêu chủ nghĩa xã hội như những người cộng sản người ta thường tuyên truyền vì chế độ chính trị nào rồi cũng sẽ thay đổi theo thời gian chỉ có dân tộc là trường tồn thôi. Do đó, yêu nước là đặt lợi ích của dân tộc lên trên hết, là đồng hành với những con người cụ thể, đã và đang làm nên dân tộc này, nhất là những người cùng khổ.” Đúng, dân tộc thì trường tồn, chế độ thì cũng có sự thay đổi, nhưng không thể vin vào cớ đó để cho rằng yêu nước là phải chống đối chế độ. Vấn đề ở đây là cần phải xác định chế độ đó là chế độ xấu hay tốt, có hướng tới mục tiêu phát triển đất nước và dân tộc mình hay không. Khi một chế độ tốt lãnh đạo đất nước, góp phần giúp đất nước phát triển, cải thiện đời sống của người dân, thì lúc đó, yêu nước chính là yêu chế độ, cống hiến để chế độ phát triển và ngược lại.
Trong lịch sử, chúng ta chứng kiến rất nhiều bài học về lòng yêu nước và thực sự chỉ với lòng yêu nước, dân tộc ta mới có thể trường tồn và phát triển đến ngày hôm nay. Chúng ta nhớ lại thời kỳ nhà Trần với 3 lần chiến thắng quân Mông Nguyên. Trong thời khắc vận nước mong manh như vậy, chỉ có tinh thần yêu nước mà biểu hiện rõ nét nhất ở đây là chung sức, chung lòng với vua tôi nhà Trần - chế độ chính trị lúc đó, nhân dân ta mới giành được chiến thắng, bảo vệ sự độc lập chủ quyền của đất nước. Chúng ta nhớ tới thời kỳ 1954 -1975, khi nhà nước Việt Nam Cộng hòa trở thành tay sai của đế quốc Mỹ, sẵn sàng dùng vũ lực để giết hại hàng vạn đồng bào, cán bộ chiến sỹ của ta, thì lúc đó, yêu nước không còn là yêu chế độ nữa mà yêu nước phải là đứng lên lật đổ chế độ bán nước để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trong thời kỳ hiện nay, mặc dù trong xã hội còn một số vấn đề như tham nhũng, khoảng cách giàu nghèo, nhưng xét một cách tổng thể, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã và đang lãnh đạo dân tộc Việt Nam đi đúng con đường phát triển, nền kinh tế phát triển nhanh, đời sống về vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao một cách toàn diện. Điều đó khẳng định chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta là đúng đắn, là lựa chọn khách quan của lịch sử. Và như vậy, yêu nước chính là yêu chế độ, yêu Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Bằng sự lắt léo trong câu chữ của mình, Nguyễn Ngọc Nam Phong định bao biện, lấp liếm hành vi vi phạm pháp luật của mình, đánh đồng những kẻ bán nước, phản quốc như ông ta với những con người yêu nước chân chính. Tuy nhiên, dù có diễn giải như thế nào, dư luận vẫn nhìn thấy rõ bộ mặt và ý đồ đen tối của y mà thôi!

Q.C.504


Chủ Nhật, 11 tháng 3, 2018

CẦN NHẬN RÕ THỦ ĐOẠN PHỦ NHẬN SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỐI VỚI QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM
                                                An Nhiên
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân Việt Nam là nguyên tắc bất di, bất dịch không thể xuyên tạc!
Thế nhưng, hiện nay, các thế lực thù địch với dã tâm chống phá đến cùng cách mạng Việt Nam nên đang ra sức thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, bằng nhiều hình thức, thủ đoạn tinh vi, thâm độc. Đặc biệt, sự chống phá đó của chúng càng quyết liệt hơn khi phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội là một trọng điểm của “chiến dịch” chống phá toàn diện mà họ tiến hành. Hình thức và thủ đoạn chống phá rất đa dạng, xảo quyệt, thường là lợi dụng những khuyết điểm của một số cán bộ, đảng viên để xuyên tạc, bôi nhọ, nói xấu Đảng; kích động, lôi kéo những người cơ hội, tiêu cực, bất mãn, suy thoái về tư tưởng chính trị đưa ra luận điệu, yêu sách đòi tách Quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng và trung lập về chính trị. Họ rêu rao rằng: Quân đội chỉ trung thành với Tổ quốc và nhân dân chứ không phải trung thành với tổ chức hay cá nhân nào. Thực ra luận điểm này ít có tác dụng, nhưng với chiêu bài “lặp đi lặp lại” vẫn có người nhẹ dạ, nao núng, lầm tưởng, thậm chí còn có một số ít người cho rằng: đó là ý kiến khách quan, nhằm mang lại lợi ích cho đất nước và nhân dân, mà không thấy hết âm mưu nguy hiểm, thâm độc của chúng. Thực chất đây là âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, tiến tới xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, làm cho quân đội mất phương hướng về chính trị, xa rời mục tiêu lý tưởng chiến đấu, thủ tiêu sức mạnh chính trị - tinh thần, dẫn đến mất sức chiến đấu, phản bội lại lợi ích của quốc gia, dân tộc. Vì thế, việc nhận thức đúng đắn và đầy đủ rằng: Đảng lãnh đạo Quân đội là tất yếu khách quan, có tính quy luật trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam là rất quan trọng, đặc biệt trong tình hình hiện nay. Sự khẳng định đó có cơ sở lý luận, thực tiễn vững chắc.
Trước hết, xuất phát từ thực tiễn lịch sử ra đời, hình thành, phát triển của Quân đội ta. Theo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, giai cấp và nhà nước, chiến tranh và quân đội là những hiện tượng chính trị - xã hội mang tính lịch sử. Sự xuất hiện của chiến tranh và quân đội gắn chặt với sự xuất hiện của giai cấp và nhà nước. Từ bản chất giai cấp và quy luật đấu tranh giai cấp, sự xuất hiện của chiến tranh đã khẳng định sự ra đời của quân đội là tất yếu, phù hợp quy luật lịch sử. Bất cứ quân đội nào cũng đều do giai cấp thống trị xã hội đó tổ chức ra và là công cụ bạo lực vũ trang để bảo vệ lợi ích và địa vị thống trị của giai cấp ấy. Giai cấp thống trị xã hội bao giờ cũng nắm quân đội để thực hiện mục đích chính trị của giai cấp mình. Đây là vấn đề mang tính quy luật về sự lãnh đạo của giai cấp thống trị xã hội đối với quân đội do giai cấp đó tổ chức ra. Như vậy, không có bất cứ quân đội nào trung lập về chính trị, không bảo vệ lợi ích của giai cấp nào trong một chế độ xã hội nhất định.
Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện. Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời có đặc thù là trước khi nhân dân ta giành được chính quyền, thành lập Nhà nước. Sự lãnh đạo của Đảng trở thành nguyên tắc căn bản trong xây dựng quân đội, quyết định bản chất giai cấp, mục tiêu lý tưởng chiến đấu, sự trưởng thành, lớn mạnh và chiến thắng của Quân đội ta trong mọi thời kỳ cách mạng. Sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội và sự trung thành tuyệt đối của Quân đội đối với Đảng là hai mặt thống nhất của một vấn đề; hai mặt đó có mối quan hệ biện chứng, không tách rời, được thực tiễn kiểm nghiệm trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta.
Hai là, xuất phát từ bản chất chính trị của Quân đội và mối quan hệ của Quân đội với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Bản chất giai cấp, mục tiêu chiến đấu và chức năng, nhiệm vụ của Quân đội phụ thuộc vào bản chất giai cấp, mục đích chính trị của nhà nước tổ chức ra và nuôi dưỡng nó, không có quân đội trung lập về chính trị, quân đội đứng ngoài giai cấp và nhà nước. Chính trị quy định bản chất, chức năng, nhiệm vụ, các mối quan hệ cơ bản của quân đội với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Trong xã hội có giai cấp, không bao giờ có quân đội đứng ngoài chính trị, không mang bản chất chính trị của giai cấp, nhà nước nào. Thực tiễn lịch sử nhân loại chứng minh rằng, sự nghiệp cách mạng và con đường phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc, bao giờ cũng do một lực lượng chính trị đại biểu cho lợi ích quốc gia, dân tộc dẫn dắt và lãnh đạo. Lực lượng chính trị lãnh đạo quốc gia, dân tộc ấy sẽ tổ chức, lãnh đạo quân đội, đảm bảo cho nó thực sự là công cụ bạo lực vũ trang của lực lượng chính trị đại biểu cho lợi ích quốc gia, dân tộc đang lãnh đạo, dẫn dắt dân tộc đó phát triển. Điều này cho thấy rõ tính chất phi lý, phản khoa học của cái gọi là “quân đội phi giai cấp”.
Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo nhân dân Việt Nam đấu tranh giành độc lập dân tộc, mang lại quyền tự do, dân chủ, hòa bình, hạnh phúc cho nhân dân. Đảng là đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc. Vì thế, lợi ích của Đảng, Nhà nước và Nhân dân là thống nhất. Mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước, Nhân dân là một chỉnh thể thống nhất, trong đó Đảng giữ vai trò lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ đã tạo được sự thống nhất giữa quyền lực chính trị với quyền lực xã hội trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Để Quân đội thực sự trung thành, phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc, Đảng ta luôn quan tâm chăm lo xây dựng Quân đội về chính trị, củng cố, tăng cường bản chất giai cấp công nhân, chú trọng xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu. Đồng thời, chăm lo xây dựng các mối quan hệ giữa Quân đội với Đảng, Nhà nước và Nhân dân.
Mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam với Quân đội nhân dân việt Nam là mối quan hệ lãnh đạo và phục tùng, Đảng giữ vai trò lãnh đạo đối với Quân đội bằng một cơ chế đặc thù, bảo đảm cho Đảng thường xuyên giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt. Thực tiễn xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam đã khẳng định: sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định sự trưởng thành và chiến thắng vẻ vang của Quân đội; mối quan hệ giữa Đảng với Quân đội đã trở thành bản chất, truyền thống quý báu của Quân đội nhân dân Việt Nam. Mọi âm mưu tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng đều nhằm cô lập Đảng, làm cho Đảng mất đi lực lượng chính trị trung thành, tin cậy nhất, mất đi sức mạnh vật chất to lớn để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.
Trong mối quan hệ giữa Quân đội với Nhà nước và Nhân dân, Quân đội là công cụ bạo lực của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, do Nhà nước quản lý, chăm sóc và nuôi dưỡng. Quân đội là công cụ bạo lực của Nhà nước thực chất cũng chính là công cụ bạo lực của Nhân dân; Quân đội bảo vệ Nhà nước xét đến cùng cũng chính là bảo vệ Nhân dân. Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, tất yếu phải lãnh đạo Quân đội. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta rất quan tâm xây dựng, củng cố và phát triển mối quan hệ giữa Quân đội với Nhân dân, coi đây là một trong những nguyên tắc hết sức quan trọng để làm cho quân đội kiểu mới khác hẳn về chất với các kiểu quân đội của giai cấp, nhà nước bóc lột trước đây.
Ba là, xuất phát từ thực tiễn xây dựng, chiến đấu, trưởng thành và chiến thắng vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam trong suốt 74 năm qua. Đảng Cộng sản Việt Nam là người tổ chức và lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam; Quân đội phục tùng sự lãnh đạo của Đảng là hai mệnh đề song hành ngay từ khi mới thành lập Quân đội cho đến nay, đã tồn tại trong suốt quá trình xây dựng, trưởng thành và chiến thắng của Quân đội ta. Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân khi mới ra đời đã là đội quân mang bản chất của giai cấp công nhân Việt Nam, gánh vác sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong Báo cáo tại Hội nghị lần thứ Ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá II), tháng 4 năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Quân đội ta là quân đội “quyết chiến quyết thắng”, “có lập trường vững chắc, lập trường quân đội của nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo”. Tư tưởng đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho thấy bản chất giai cấp của Quân đội ta là bản chất giai cấp công nhân và Quân đội là của nhân dân, do Đảng Cộng sản – đội tiên phong của giai cấp công nhân lãnh đạo.
Thực tiễn xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, Quân đội ta đã thường xuyên quán triệt, thấm nhuần sâu sắc mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Quân đội ta luôn lấy mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của giai cấp công nhân, mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng, của dân tộc làm mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của mình. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội luôn nhận rõ kẻ thù của nhân dân, của dân tộc; xác định đúng đối tượng tác chiến; vận dụng, phát triển sáng tạo nghệ thuật quân sự truyền thống của dân tộc, luôn kề vai, sát cánh, đoàn kết, gắn bó máu thịt với nhân dân, tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc – sức mạnh vô cùng to lớn để chiến đấu và giành những chiến thắng vĩ đại, đánh bại những tên đế quốc đầu sỏ, có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh hơn nhiều lần. Nhờ có sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội ta đã xây dựng được sức mạnh chiến đấu vô địch, trở thành một trong những quân đội bách chiến, bách thắng ở thế kỷ XX.
Thực tiễn đó là không thể phủ nhận. Hơn thế còn là minh chứng thuyết phục nhất để bác bỏ mọi luận điểm xuyên tạc, kích động đòi tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng. Những luận điểm phi lý này của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị cũng như mọi mưu đồ chống phá cách mạng Việt Nam, đi ngược lại quy luật sẽ tất yếu thất bại./.


         


Thứ Năm, 8 tháng 3, 2018

CẢNH GIÁC VỚI CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ 

TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

                                           Trần Trí Nam

Trong khoảng hai tháng qua, lợi dụng chính sách, pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam, nhất là khi Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo có hiệu lực từ ngày 01/01/2018, trên trang mạng “Baotiengdan”, Nguyễn Công Bình – Linh mục Giáo phận Vinh và Nguyễn Mạnh Hùng – Mục sư Sài Gòn (sau đây gọi tắt là Linh mục Bình và Mục sư Hùng) cho rằng: “Các tôn giáo thay vì được tự do để thành nhà giáo dục lương tâm cho xã hội thì bị chế độ tìm mọi cách để bó buộc im tiếng hay biến thành công cụ”. Vậy có đúng là các tôn giáo ở Việt Nam hiện nay đang bị chế độ tìm mọi cách để bó buộc im tiếng hay biến thành công cụ? Phải khẳng định chắn chắn rằng hoàn toàn không đúng như vậy. Thực chất của luận điệu này, là cố tình xuyên tạc chính sách, pháp luật về tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam không chấp nhận mọi sự suy diễn, ngụy tạo, quy chụp nguy hiểm này. Đồng thời, cần phải kiên quyết đấu tranh với mọi luận điệu cáo buộc sai trái như của Linh mục Bình và Mục sư Hùng.

Hiện nay, trên thế giới, có lẽ ai cũng biết rằng, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người được ghi nhận trong Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (theo Nghị quyết số 2200 (XXI) ngày 16/12/1966 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc). Theo đó, Điều 18 Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền năm 1948 ghi nhận: Ai cũng có quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo; quyền này bao gồm cả quyền tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng và quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng qua sự giảng dạy, hành đạo, thờ phụng và nghi lễ, hoặc riêng mình hoặc với người khác, tại nơi công cộng hay tại nhà riêng. Các quyền này đã được Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị cụ thể hoá và quy định tại Điều 18 rằng: “Mọi người đều có quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo…; Không ai bị ép buộc làm những điều tổn hại đến quyền tự do lựa chọn hoặc tin theo tôn giáo hoặc tín ngưỡng của họ… Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác”.
Như vậy, theo quan điểm được thể hiện trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, mặc dù tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một quyền cơ bản của con người, nhưng quyền đó không phải là tuyệt đối, mà là một quyền có thể bị giới hạn bởi pháp luật, nếu việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo xâm hại tới an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác.
Ở Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không chỉ được Hiến pháp và nhiều văn bản quy phạm pháp luật ghi nhận, mà trong thực tế, quyền cơ bản này còn được Nhà nước ta tôn trọng, bảo đảm. Theo đó, Điều 24, Hiến pháp năm 2013 hiến định: “1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.
2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”[1].
Để cụ thể hoá quy định của Hiến pháp về tín ngưỡng, tôn giáo, Điều 3 Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016 của Nhà nước Việt Nam quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; trong đó “Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; Nhà nước tôn trọng, bảo vệ giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng đáp ứng nhu cầu tinh thần của Nhân dân. Đồng thời, Điều 6 của Luật này quy định “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào; Mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; tham gia lễ hội; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo”.
Bộ Luật hình sự (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018) quy định: người nào có hành vi “gây chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người theo các tôn giáo khác nhau, chia rẽ các tín đồ tôn giáo với chính quyền nhân dân, với các tổ chức chính trị – xã hội” là tội phá hoại chính sách đoàn kết (Điều 116) sẽ bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm. Và “Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác ngăn cản hoặc ép buộc người khác thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào” là tội xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo sẽ bị phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm (Điều 164).
Như vậy, Hiến pháp, Bộ Luật hình sự, Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo và một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam đã quy định rõ ràng về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của mọi người, mọi tổ chức tôn giáo cũng như Nhà nước trong việc thực hiện và bảo đảm thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Các văn bản quy phạm pháp luật này trước khi ban hành đều được lấy ý kiến công khai, rộng rãi trong xã hội và phù hợp với các điều luật quốc tế về tín ngưỡng, tôn giáo. Nhưng tại sao Linh mục Bình và Mục sư Hùng lại cho rằng, ở Việt Nam không có tự do tôn giáo, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo bị vi phạm, bóp nghẹt? Thậm chí, dù là công dân của nước Việt Nam, song họ lại rắp tâm vu cáo chính quyền Việt Nam hạn chế các hoạt động tôn giáo, đàn áp tôn giáo, đòi thả tự do cho những người vi phạm pháp luật liên quan đến tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Không chỉ xuyên tạc chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về tự do tín ngưỡng, tôn giáo, Linh mục Bình và Mục sư Hùng còn phủ nhận toàn bộ thành quả về thực hiện chính sách, pháp luật về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cũng như tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam. Và họ ngang nhiên lớn tiếng ra yêu sách đòi hỏi hoạt động của các tôn giáo là một quyền tuyệt đối, không bị hạn chế, không chịu sự quản lý của Nhà nước. Đây rõ ràng là quan điểm sai trái, hết sức vô lý, không thể chấp nhận. Bởi lẽ, cũng như mọi nhà nước trên thế giới, Nhà nước Việt Nam có toàn quyền quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Và trên thực tế, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm việc thụ hưởng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Nhà nước Việt Nam đã và đang thực thi quyền ngăn chặn sự vi phạm các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Nhà nước đã có những biện pháp, chế tài nhằm hỗ trợ cho công dân được hưởng đầy đủ các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Bên cạnh đó, Nhà nước Việt Nam còn rất tích cực, chủ động đưa ra các kế hoạch, chính sách, đề án, chương trình cụ thể để mọi công dân thực hiện các quyền, nghĩa vụ về tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định của pháp luật Nhà nước.
Tóm lại, việc Đảng, Nhà nước Việt Nam từng bước hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo không phải là để can thiệp, hay hạn chế tự do tín ngưỡng, tôn giáo như Linh mục Bình và Mục sư Hùng rêu rao, mà nhằm bảo đảm tốt hơn các quyền về tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển bền vững đất nước. Vì vậy, mọi luận điệu suy diễn, quy chụp về tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam và yêu sách về một thứ tự do tôn giáo tuyệt đối như Linh mục Bình và Mục sư Hùng là vô lý, hoang đường và không thể chấp nhận./.






[1] Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Tuyên ngôn độc lập và các hiến pháp Việt Nam (1946, 1959, 1980, 1992, 2013), Hà Nội, 2015, tr.203-204.

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...