Thứ Ba, 6 tháng 2, 2018

ĐẠI SỨ QUÁN HOA KỲ CẦN NHÌN THẲNG
VÀO SỰ THẬT, NÓI ĐÚNG SỰ THẬT!
Vừa qua, sau khi cơ quan chức năng của Việt Nam đưa ra xét xử công khai một số người vì có hành vi tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam lập tức một số tổ chức và đại diện một số quốc gia, trong đó có Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội lại bất chấp sự thật để lên tiếng bênh vực, đồng thời phê phán Nhà nước Việt Nam và đưa ra các đòi hỏi phi lý!
Đài Á Châu Tự Do (RFA) cho biết, Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội vào ngày 2/2 ra thông cáo báo chí bày tỏ quan ngại về các bản án mới nhất mà tòa tại Việt Nam tuyên đối với các nhà “hoạt động” trong nước.
Theo Đại sứ quán Hoa Kỳ thì cáo buộc “tuyên truyền chống nhà nước” dùng để tuyên án các bị cáo Vũ Quang Thuận, Nguyễn Văn Điển, Trần Hoàng Phúc và Hồ Văn Hải là “mơ hồ”?!.
Phía Hoa Kỳ kêu gọi “Việt Nam lập tức trả tự do ngay cho bốn bị cáo trên”. Đồng thời “cho phép các các nhân tại Việt Nam được bày tỏ quan điểm chính trị của bản thân họ một cách ôn hòa mà không sợ bị trừng phạt”.
Trước đó, ngày 31/01/2018, TAND TP Hà Nội đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm các bị cáo Vũ Quang Thuận (sinh năm 1966, quê Thái Bình), Nguyễn Văn Điển (sinh năm 1983, quê Yên Bái) và Trần Hoàng Phúc (sinh năm 1994, quê TP Hồ Chí Minh) bị VKSND TP Hà Nội truy tố về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam”, theo quy định tại Điều 88 BLHS năm 1999. Kết thúc phiên tòa, HĐXX đã tuyên phạt bị cáo Vũ Quang Thuận 8 năm tù, Nguyễn Văn Điển 6 năm 6 tháng tù, Trần Hoàng Phúc 6 năm tù về cùng tội “Tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam”.
Tiếp đến, vào ngày 01/02/2018, TAND TP HCM xử sơ thẩm, tuyên phạt bị cáo Hồ Văn Hải 4 năm tù về tội “Ttuyên truyền chống phá Nhà nước CHXHCN Việt Nam”.
Trước tiên cần khẳng định, những phiên tòa trên đã diễn ra theo đúng pháp luật với bản án được tuyên dựa trên những chứng cứ về sự vi phạm pháp luật Việt Nam rõ ràng của các bị cáo.
Theo cáo trạng: “từ tháng 10/2016 đến tháng 3/2017, Vũ Quang Thuận và Nguyễn Văn Điển có hành vi làm, đăng tải 17 video clip lên mạng internet; tàng trữ tài liệu có nội dung chống phá Nhà nước ta, phỉ báng chính quyền nhân dân.  Các đối tượng cũng phao tin bịa đặt, xuyên tạc sự thật về sự lãnh đạo của Đảng trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước hiện nay, kích động kêu gọi chống đối Nhà nước CHXHCN Việt Nam.
Từ tháng 1/2017, Trần Hồng Phúc có hành vi giúp sức cho các bị cáo Điển và Thuận tàng trữ tài liệu, làm, đăng tải 3 video cố nội dung chống Nhà nước ta lên mạng internet.
Quá trình làm, đăng tải các video nói trên, Vũ Quang Thuận đã nhận 50 triệu đồng của các cá nhân ủng hộ bằng hình thức chuyển khoản hoặc trực tiếp. Số tiền này được các bị cáo dùng để mua thiết bị và chi phí ăn uống hằng ngày.”
Trong khi đó, tại vụ án “Hồ Văn Hải phạm tội tuyên truyền chống Nhà nước”, các cơ quan chức năng cũng có đủ tài liệu, chứng cứ để chứng minh hành vi phạm tội của đối tượng này. Theo kết quả điều tra, Hồ Văn Hải, chủ tài khoản Facebook “Hồ Hải” và blog “BS Hồ Hải” đã phát tán thông tin, tài liệu chống Nhà nước. Trong số 75 bài viết đã được đăng tải trên mạng và tàng trữ trong máy tính của Hải, có 36 bài vi phạm quy định của Nghị định số 72/2013/NĐ-CP của chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng.
Hành vi lợi dụng quyền tự do dân chủ để “tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam” của các đối tượng Vũ Quang Thuận, Nguyễn Văn Điển, Trần Hoàng Phúc và Hồ Văn Hải đã vi phạm Điều 88 BLHS. Hành vi ấy là hành vi phạm tội có tổ chức, có sự móc nối với bên ngoài… Hành vi đó là biểu hiện của chủ nghĩa tự do cực đoan, không chỉ gây ảnh hưởng đến cá nhân, tổ chức, mà còn gây nguy hiểm cho xã hội, làm phương hại đến lợi ích của quốc gia, dân tộc. Việc các cơ quan bảo vệ pháp luật Việt Nam bắt giữ, khởi tố, điều tra và đưa ra xét xử các đối tượng trên về tội “tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam” là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng luật pháp Việt Nam và phù hợp với công ước quốc tế.
Đó là bộ mặt thật của những kẻ mà Đại sứ quán Hoa Kỳ kêu gọi trả tự do ngay lập tức, vô điều kiện. Thiết nghĩ, trước khi lên tiếng bảo vệ, bao che một số cá nhân được gán nhãn hiệu “nhà bảo vệ nhân quyền”, Đại sứ quán Hoa Kỳ cần nhìn thẳng vào bản chất sự thật để qua đó không dung túng cái xấu, không về hùa với những kẻ vi phạm pháp luật, chống phá đất nước Việt Nam./.
Phúc Sơn (VNTL)
Nguồn:http://ngheanthoibao.com/dai-su-quan-hoa-ky-can-nhin-thang-vao-su-that-noi-dung-su-that/


Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản và giá trị định hướng con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
170 năm đã qua kể từ khi tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản ra đời, song nhiều luận điểm được nêu trong Tuyên ngôn đến nay vẫn còn nguyên giá trị mà mỗi nước trên con đường xây dựng CNXH đều có thể vận dụng một cách sáng tạo phù hợp với điều kiện của nước mình. Đối với nước ta, con đường quá độ lên CNXH mà Việt Nam lựa chọn có sự định hướng, soi rọi của Tuyên ngôn, rộng hơn là của chủ nghĩa Mác - Lênin. Sức sống của Tuyên ngôn tiếp tục truyền cảm hứng đòi hỏi chúng ta cần bổ sung, phát triển lý luận về CNXH và con đường quá độ lên CNXH ở Việt Nam trong bối cảnh mới.
170 năm trước, xuất phát từ nhu cầu phải xây dựng, phát triển lý luận để soi rọi cho thực tiễn phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại ách áp bức bóc lột của giai cấp tư sản trong chế độ tư bản chủ nghĩa, thay mặt Liên đoàn những người cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản. Từ khi ra đời, Tuyên ngôn không chỉ là cương lĩnh chính trị của tổ chức mà còn có sức lan tỏa nhanh chóng mang tầm ảnh hưởng quốc tế, trở thành cương lĩnh cách mạng đầu tiên của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Tuyên ngôn là tác phẩm lý luận khoa học và cách mạng mang tầm khái quát cao toàn bộ tiến trình của cuộc cách mạng XHCN và luận giải một cách khoa học về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh lật đổ ách áp bức thống trị hàng trăm năm của chủ nghĩa tư bản để cho ra đời một chế độ xã hội mới - xã hội XHCN, một xã hội mang bản chất nhân văn giải phóng con người.
Từ trong Tuyên ngôn, các đảng cộng sản ở mỗi nước đều có thể tìm thấy những chỉ dẫn lý luận nền tảng để vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng. Giá trị, sức sống của Tuyên ngôn phản ánh giá trị khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác, đã được thực tiễn kiểm nghiệm trong suốt 170 năm qua với mục tiêu xuyên suốt là giải phóng con người, thiết lập một xã hội trên thực tế mà ở đó “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”(1).
Bằng phương pháp luận duy vật biện chứng, trong Tuyên ngôn, C.Mác và Ph.Ăngghen đã luận giải một cách khoa học và cách mạng về tiến trình phát triển lịch sử - tự nhiên của nhân loại. Theo đó, sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã tạo ra những tiền đề hiện thực để phá hủy, tiêu diệt chính chủ nghĩa tư bản và một chế độ xã hội mới sẽ thay thế - đó là xã hội cộng sản chủ nghĩa. Đó là vì trong chủ nghĩa tư bản,“giai cấp tư sản không thể tồn tại nếu không luôn luôn cách mạng hóa công cụ sản xuất”(2).
Song chính quá trình “cách mạng hóa những quan hệ sản xuất, nghĩa là cách mạng hóa toàn bộ những quan hệ xã hội(3)sẽ khách quantạo ra những điều kiện,tiền đề hiện thực để phủ định chủ nghĩa tư bản -bởi trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản, mâu thuẫn giữa trình độ xã hội hóa của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩasẽ trở nên gay gắt, đặt ra yêu cầu phải thiết lập những quan hệ sản xuất mới với trình độ xã hội hóa cao - tức là tất yếu phải thiết lập một chế độ sở hữu mới - chế độ sở hữu xã hội, thì mới phù hợp với trình độ cao của lực lượng sản xuất và tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển. Tuyên ngôn viết: “...Lịch sử công nghiệp và thương nghiệp không phải là cái gì khác hơn là lịch sử cuộc nổi dậy của lực lượng sản xuất hiện đại chống lại những quan hệ sản xuất hiện đại, chống lại những quan hệ sở hữu đang quyết định sự tồn tại và sự thống trị của giai cấp tư sản(4).Tính biện chứng chính là ở chỗ, chủ nghĩa tư bản càng phát triển thì càng gần đến chỗ bị sụp đổ, gần với cách mạng XHCN. Cuộc cách mạng này sẽ được tiến hành qua hai giai đoạn: Bước thứ nhất, giai cấp công nhân “lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản”(5), “biến thành giai cấp thống trị, và giành lấy dân chủ”(6)về tay mình. Bước thứ hai, giai cấp công nhân và nhân dân lao động sử dụng chính quyền như một công cụ có hiệu lực nhất để cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới và đẩy nhanh sự phát triển của lực lượng sản xuất. Tuyên ngôn cũng gợi ý những biện pháp cần thực hiện để cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Tuy nhiên, C.Mác và Ph.Ăngghen lưu ý rằng: “Trong những nước khác nhau, những biện pháp ấy dĩ nhiên sẽ khác nhau rất nhiều”(7). Nói cách khác, các ông chỉ dẫn mỗi nước phải căn cứ vào hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của mình để vận dụng một cách sáng tạo những nguyên lý của Tuyên ngôn.
Toàn bộ lý luận về cách mạng XHCN (bao gồm mục tiêu, đặc trưng, con đường, các giai đoạn tiến hành, các biện pháp...) đã được phác thảo trên những nét căn bản nhất trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản và tiếp tục được bổ sung, phát triển, làm rõ hơn trong các tác phẩm tiếp sau của chủ nghĩa Mác - Lênin. Khẳng định giá trị vững bền của Tuyên ngôn, V.I.Lênin viết: “Điểm chủ yếu trong học thuyết của Mác là ở chỗ nó làm sáng rõ vai trò lịch sử thế giới của giai cấp vô sản là người xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa”(8).
Đối với Việt Nam, những tư tưởng của Tuyên ngôn và trong toàn bộ học thuyết Mác - Lênin có giá trị lý luận nền tảng vô cùng quan trọng cho việc lựa chọn định hướng con đường phát triển vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Vào thời điểm này, Việt Nam đang là một nước thuộc địa nửa phong kiến với hai mâu thuẫn cơ bản chi phối bóp nghẹt đời sống xã hội: mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp. Đã có nhiều cuộc đấu tranh yêu nước theo các xu hướng  khác nhau nhằm đánh đuổi thực dân xâm lược, đồng thời tìm đường đi cho cách mạng Việt Nam. Song tất cả đều rơi vào bế tắc! Câu hỏi cách mạng Việt Nam sẽ đi con đường nào luôn đau đáu thường trực và trở thành động lực thôi thúc mạnh mẽ các lực lượng yêu nước. Chỉ khi bắt gặp chủ nghĩa Mác - Lênin, đến với “Tuyên ngôn”, câu hỏi này mới có lời giải. Do vậy, Tuyên ngôn của Đảng cộng sảnvà chủ nghĩa Mác - Lênin thực sự có giá trị định hướng con đường phát triển của Việt Nam. Điều này đã được thực tiễn lịch sử kiểm chứng qua các giai đoạn phát triển của cách mạng nước ta.
Trên cơ sở vận dụng sáng tạo những tư tưởng của Tuyên ngôn và chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã tìm ra con đường phát triển mang tính đặc thù của Việt Nam - con đường quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu. Cách thức phát triển này cho phép giải quyết một cách triệt để cả hai mâu thuẫn, và con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là một tất yếu lịch sử mang tính đặc thù của Việt Nam đã được Tuyên ngônsoi rọi, định hướng. Từ sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ (1975), cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH theo con đường phát triển rút ngắn (hay còn gọi theo phương thức quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa). Đây là sự lựa chọn đúng đắn đã được thực tiễn cách mạng Việt Nam chứng minh trong nhiều thập niên qua.
Sau đổ vỡ của CNXHhiện thực ở Liên Xô,Đông Âuvà những khó khăn đang gặp phải của nhiều nước XHCN hiện thực còn lại, không ít người, bao gồm cả một số người cộng sản đã tỏ ra hoài nghi về con đường quá độbỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đilên CNXH của Việt Nam. Họ cho rằng: Việt Nam cần xem xét lại con đường phát triển vì đó là sự phát triển vi phạm quy luật khách quan; và rằng chủ nghĩa tư bản hiện đại đã thay đổi về bản chất trở thành chủ nghĩa tư bản nhân đạo, vì dân. Do vậy, Việt Nam cần phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa để  bảo đảm đúng quy luật!
Trước hết phải khẳng định rằng:chủ nghĩa tư bảnhiện đạiđã phát triển mang tính toàn cầu, và đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhất là trong lĩnh vực phát triển lực lượng sản xuất, khoa học -công nghệ hiện đạivà hiện nay đạt đến trình độ Cách mạng công nghiệp 4.0 với đặc trưng là ứng dụng rộng rãi những thành tựu của công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo để tạo ra nhiều sản phẩm thông minh kết nối toàn thế giới, giữa thế giới thực và ảo. Đây là điều kiện để chủ nghĩa tư bản thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng, đồng thời cónhững điều chỉnh về chế độ phúc lợi, an sinh xã hội tiến bộ, làm cho đời sống vật chất, tinh thần của công nhân và người lao động trong nhiều nước tư bản chủ nghĩa đượccải thiện vượt bậc so với trước. Song bản chất “bóc lột” của chủ nghĩa tư bản vẫn không hềthay đổi. Trên thực tế, các nước tư bản phát triển nhất hiện nay vẫn đang phải đối mặt với nhiều vấn đề nan giải như:bất ổn xã hội,phân hóa giàu nghèo, tỷ lệ đói nghèo cao (năm 2014, tỷ lệ đói nghèo ở Mỹ là 17,4% và thuộc những quốc gia có tỷ lệ chênh lệch giàu nghèo lớn nhất thế giới(9)). Tình trạng bạo lực, xung đột sắc tộc; nạn khủng bố, người di cư khó kiểm soát,... vẫn là bài toán khó tìm lời giải đối với nước Mỹ và các nước TBCN khác. Người dân ở những nước này luôn phải sống trong cảnh lo âu thường trực vì bạo lực, bất ổn, tình trạng sử dụng vũ khí tràn lan không kiểm soát được có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Một cuộc sống như vậy chắc chắn không phải là “thiên đường hạnh phúc” như nhiều người suy nghĩ. Do vậy, kiểu phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện nay không phải là một sự phát triển bền vững để Việt Nam có thể lựa chọn.
Những tư tưởng khoa học và phương pháp cách mạng của Tuyên ngôn, của chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn tiếp tục được Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng sáng tạo trong công cuộc đổi mới theo định hướng XNCH. Giá trị khoa học thể hiện trước hết ở chỗ giúp cho Đảng ta có cơ sở lý luận và phương pháp luận đúng đắn trong bổ sung, phát triển lý luận, tổng kết thực tiễn nhằm làm sáng tỏ hơn nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.
Sau 30 năm đổi mới, mặc dù còn nhiều khó khăn, thách thức, nhưng Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu khá toàn diện trên các lĩnh vực. Năm 2017, tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức 6,81%, là mức tăng trưởng cao nhất trong vòng một thập kỷ trở lại đây, trên nền tảng kinh tế vĩ mô vững chắc hơn. Diễn đàn Kinh tế thế giới xếp hạng năng lực cạnh tranh của Việt Nam tăng 5 bậc, lên thứ 55/137. Ngân hàng thế giới xếp hạng về môi trường kinh doanh của Việt Nam tăng 14 bậc, lên thứ 68/190 quốc gia, vùng lãnh thổ(10).
Chính trị - xã hội được ổn định, niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng được củng cố nhờ những kết quả đạt được trong phát triển kinh tế và đặc biệt là sự chỉ đạo quyết liệt, hiệu quả của Đảng trong công tác đấu tranh, phòng, chống tham nhũng; những nỗ lực của Chính phủ trong việc đổi mới thể chế kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư; sự đánh giá ngày càng cao của các nước về Việt Nam trên trường quốc tế... Đây là những minh chứng cho thấy sự lựa chọn con đường quá độ lên CNXH của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn.
Mặc dù vậy, về mặt lý luận, con đường quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, đi lên CNXH ở nước ta đến nay vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ. Việc xác định thời kỳ quá độ lên CNXHnằm ở đâu trong chiều dài phát triển của lịch sử nhân loại là điều cần thiết,vì đó là cơ sở khách quan để xác địnhđặc điểm của đất nước, của thời đại và những cải biến xã hội tất yếu diễn ra; đồng thời trên cơ sở đó mà xác định đường lối, chủ trương, chính sách và phương pháp tổ chức thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc phù hợp. Nếu không xác định đúng vị trí của nó sẽ dễ dẫn đến những quyết sách chủ quan, duy ý chí.
Trong tác phẩm Phê phán Cương lĩnh Gôta(1875), khi đưa ra quan niệm về thời kỳ quá độ lên CNXH, C.Mác viết: “Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia. Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị, và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản”(11).Do vậy,thời kỳ quá độ lên CNXH chỉ có thểlà thời kỳ nằm trong hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa và là giai đoạn đầu của hình thái này. Bởi theo định nghĩa của C.Mác thì tiêu chí để nhận diện thời kỳ quá độ lên CNXHbắt đầu từ khi giai cấp công nhân tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng XHCNvà bắt tay vào thiết lập, xây dựng nhà nước của mình, đồng thời thiết lập “nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản” để thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ chế độ mới, cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới qua hai giai đoạn (đây đồng thời là tinh thần mà Tuyên ngôn đã chỉ ra) -đó là xã hội XHCNvà tiến lên chủ nghĩa cộng sản.
Cũng cần làm rõ thời kỳ quá độ lên CNXHliệu có trùng khít với giai đoạn đầu -nghĩa là xã hội XHCNhay không ? Nếu đúng vậy thì có nghĩa là sau khi tiến hành xong thời kỳ quá độ lên CNXHcũng có nghĩa là về cơ bản đã hoàn thành các nội dung, nhiệm vụ của giai đoạn đầu để bước vào giai đoạn cao - chủ nghĩa cộng sản.
Nghiên cứu về thời kỳ quá độ lên CNXH, một câu hỏi thường xuyên được đặt ra kể cả trong giới lý luận và trong xã hội: khi nào kết thúc thời kỳ quá độ lên CNXHở Việt Nam? Liệu có thể xác định được độ dài của nó hay không?Tại Đại hội XII (2016), Đảng ta xác định Việt Nam “phấn đấu sớm trở thành một nước công nghiệp hiện đại”, nhưng chưa đưa ra dấu mốc cụ thể. Cách diễn đạt này dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau.
Chúng tôi cho rằng: sẽ khó có thể đưa ra được thời hạn cụ thể của thời kỳ quá độ lên CNXH, bởi vì, thời kỳ này dài hay ngắn phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi nước, trước hết là phụ thuộc vào năng lực lãnh đạo của đảng cầm quyền và sự đồng thuận của dân. V.I. Lênin từng nói: Đảng phải đại biểu cho lương tri và trí tuệ của thời đại. Nếu tạo được sự hòa quyện, gắn kết chặt chẽ giữa hai yếu tố này thì thời kỳ quá độ sẽ sớm hoàn thành, nói cách khác xã hội XHCNsẽ sớm trở thành hiện thực. Ngược lại, nếu Đảng và Nhà nước mắc những sai lầm lớn trong hoạt động lãnh đạo, quản lý; nếu tổ chức Đảng yếu kém, nhiều cán bộ, đảng viên suy thoái đạo đức, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tư tưởng và tham nhũng thì chắc chắn sẽ không nhận được sự đồng thuận của dân. Trong trường hợp này, độ dài của thời kỳ quá độ lên CNXHkhó mà xác định, thậm chí những thành quả mà giai cấp công nhân và nhân dân lao động đã đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản rất có thể sẽ bị tiêu tan. Bài học của Liên Xô và các nước XHCNĐông Âu sẽ mãi là lời cảnh tỉnh có giá trị đối với các nước trên con đường quá độ lên CNXH.
Nếu nhìn vào nền kinh tế và thể chế chính trị của Việt Nam những năm qua, nhất là những thành tựu đạt được trong phát triển kinh tế - xã hội theo chiều hướng tích cực đi lên, và nếu kinh tế - chính trị thế giới không có những biến động lớn tác động đến Việt Nam thì mục tiêu Việt Nam trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại nhiều khả năng sẽ đạt được vào những năm giữa thế kỷ XXI.
Cho dù còn nhiều khó khăn, thách thức ở phía trước, song con đường quá độ lên CNXH mà Tuyên ngôn của Đảng Cộng sảnvà chủ nghĩa Mác - Lênin soi sáng sẽ mãi là lý tưởng mà Việt Nam kiên định và phấn đấu để đạt được.
___________________
Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 1 năm 2018
 (1), (2), (3), (4), (5), (6), (7), C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị quốc gia, 1995, Hà Nội, tr.628, 600, 600-601, 604, 612, 626, 627.
(8) V.I.Lênin: Toàn tập, t.23, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tr.1.
(9) Những quốc gia có chênh lệch giàu nghèo lớn nhất thế giới, http://kenh14.vn.
(10)Kinh tế Việt Nam 2017 ngược dòng lập kỷ lục,  https://news.zing.vn.
(11) C.Mác và Ph.Ăngghen; Toàn tập, t.19, NxbChính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.47.

PGS, TS Bùi Thị Ngọc Lan
Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh


Chủ Nhật, 4 tháng 2, 2018

CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN HỌC TẬP VÀ LÀM THEO LỜI DẠY CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH “MUỐN LÀM CÁCH MẠNG, PHẢI CẢI CÁCH TÍNH NẾT MÌNH TRƯỚC TIÊN”
                                                                                                             Huy Lê
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những nhà tư tưởng, vị lãnh tụ cách mạng luôn quan tâm chăm lo giáo dục lý tưởng cách mạng và bồi dưỡng, rèn luyện đạo đức mới cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng. Vốn là người phương Đông, Hồ Chí Minh hiểu sâu sắc vai trò, sức mạnh của đạo đức trong đời sống xã hội, nhất là trong nhân cách người cán bộ cách mạng. Người đã có rất nhiều bài nói, bài viết về đạo đức, đặt nền móng cho việc xây dựng nền đạo đức mới - đạo đức cách mạng ở nước ta. Người cũng luôn dành nhiều tâm sức trong việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng đối với cán bộ, đảng viên của Đảng. Tại buổi Lễ bế mạc Hội nghị cán bộ của Đảng lần thứ sáu (Khoá I - ngày 18/01/1949), Bác căn dặn cán bộ, đảng viên: “Muốn làm cách mạng, phải cải cách tính nết mình trước tiên”[1]. Bản thân Người suốt cả cuộc đời vì nước, vì dân, luôn nêu gương sáng mẫu mực về đạo đức cách mạng để các thế hệ người Việt Nam học tập, noi theo.
            Đề cao ý thức cộng đồng và giá trị đạo đức đã trở thành truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Đối với Hồ Chí Minh, Người đã đến với Lênin không chỉ ở lý tưởng giải phóng triệt để con người, mà quan trọng nữa là sự ngưỡng mộ về đạo đức vĩ đại của Lênin. Ca ngợi tấm gương đạo đức vĩ đại của Lênin, Hồ Chí Minh đã viết: “Không phải chỉ thiên tài của Người, mà chính là tính coi khinh sự xa hoa, tinh thần yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị, tóm lại là đạo đức vĩ đại và cao đẹp của người thầy, đã ảnh hưởng lớn lao tới các dân tộc châu Á và đã khiến cho trái tim của họ hướng về Người không gì ngăn cản nổi”[2].
            Từ lôgíc biện chứng “Cách mệnh trước hết phải có Đảng cách mệnh”, “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”“Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”, Hồ Chí Minh xác định: khi đã có đường lối, quan điểm đúng thì mọi việc tốt hay xấu đều do cán bộ. Có cán bộ tốt thì thành công, không có cán bộ tốt thì hỏng việc. Cán bộ tốt ở đây theo Người bao hàm cả đức và tài trong đó đức là gốc. Trau dồi đạo đức vì thế là yêu cầu nền tảng hết sức quan trọng không thể thiếu đối với cán bộ, đảng viên của Đảng. Hồ Chí Minh căn dặn: “Người cán bộ cách mạng phải có đạo đức cách mạng. Phải giữ vững đạo đức cách mạng mới là người cán bộ cách mạng chân chính...Mọi việc thành hay bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không”[3].
            Uy tín của người cán bộ được tạo nên không chỉ bởi tài năng, trí tuệ, mà trước hết còn bởi đạo đức cách mạng trong sáng của họ. Người nhắc nhở: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức”[4]. Theo Người: “Đảng viên và cán bộ cũng là người. Ai cũng có tính tốt và tính xấu. Song đã hiểu biết, đã tự nguyện vào một Đảng vì dân, vì nước, đã là một người cách mạng thì phải cố gắng phát triển những tính tốt và sửa bỏ những tính xấu. Vì tính xấu của một người thường chỉ có hại cho người đó; còn tính xấu của một đảng viên, một cán bộ, sẽ có hại cho Đảng, có hại đến nhân dân”[5].
            Sửa đổi tính nết, trau dồi đạo đức đối với cán bộ, đảng viên của Đảng là yêu cầu đầu tiên, quan trọng trong xây dựng nhân cách người cách mạng. Hồ Chí Minh thường căn dặn: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành một xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”[6]. Cán bộ, đảng viên phải coi việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức là vấn đề thường xuyên và suốt đời. Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống, mà do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố, cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong. Tu dưỡng, rèn luyện, sửa đổi tính nết của mình phải thông qua hoạt động thực tiễn, bền bỉ mọi lúc, mọi nơi, trong mọi điều kiện, hoàn cảnh... Người nêu rõ: “đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnh nào cũng phải quyết tâm đấu tranh, chống mọi kẻ địch, luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, quyết không chịu khuất phục, không chịu cúi đầu”[7]. Người đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải luôn học lấy bốn đức cách mạng: Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Nếu như “Trung với nước, hiếu với dân” là phẩm chất đạo đức bao trùm xuyên suốt, phản ánh mối quan hệ giữa cá nhân với Tổ quốc và nhân dân thì Cần, Kiệm, Liêm, Chính là phẩm chất nền tảng của đạo đức cách mạng mà mỗi người phải quán triệt và trau dồi. Nó phản ánh mối quan hệ “tự mình đối với mình”, nghĩa là mỗi người phải lấy chính bản thân mình làm đối tượng để tu dưỡng, rèn luyện trong hoạt động hàng ngày để hình thành những phẩm chất đạo đức tốt đẹp đáp ứng yêu cầu, tiêu chuẩn về đạo đức của người cán bộ của Đảng.
            Trong xã hội tồn tại đan xen nhiều lợi ích khác nhau, giữa lợi ích chung với lợi ích riêng, lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể - xã hội, lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần... liên quan chặt chẽ với nhau. Là người cán bộ của Đảng, phải giải quyết hài hoà các lợi ích đó và mối quan hệ giữa người với người. Đạo đức cách mạng luôn đòi hỏi: “Mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng[8]. Hồ Chí Minh thường nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải thường xuyên chống chủ nghĩa cá nhân, vì nó là một thứ “vi trùng” rất độc. Do chủ nghĩa cá nhân mà đẻ ra các sai lệch khác, từ đó sinh ra các thói hư tật xấu, mắc phải khuyết điểm nghiêm trọng như: bệnh tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, ham địa vị, thiếu kỷ luật, óc lãnh tụ, kéo bè kéo cánh, bệnh cận thị không biết nhìn xa trông rộng. Những người mắc bệnh ấy, theo Hồ Chí Minh “có mắt cũng như mù, có tai không chịu nghe thấy, có kỷ luật mà không giữ vững”.
Vì thế, Người thường căn dặn cán bộ, đảng viên, nhất là những người giữ chức vụ cao trong cơ quan Đảng, Nhà nước, phải tự mình sáng suốt nhìn nhận và lắng nghe ý kiến đóng góp của quần chúng để sửa mình và sửa người nhằm nâng cao chất lượng công việc. Người nêu rõ: “Trong công tác, trong tranh đấu, trong huấn luyện, các đảng viên, các cán bộ, cần phải luôn luôn tự hỏi mình, tự kiểm điểm mình và đồng chí mình. Luôn luôn dùng và khéo dùng cách phê bình và tự phê bình, thì khuyết điểm nhất định sẽ hết dần, ưu điểm nhất định thêm lên và Đảng ta nhất định sẽ thắng lợi”[9].
            Hiện nay, sau hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, “đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”[10]. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, chúng ta còn nhiều hạn chế, khuyết điểm, trong đó “tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí diễn biến phức tạp”[11].
            Vì vậy, việc bồi dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên của Đảng, Nhà nước nói chung, cán bộ, đảng viên trong quân đội nói riêng theo tư tưởng Hồ Chí Minh hiện nay vừa là yêu cầu cơ bản thường xuyên, đồng thời mang tính cấp thiết. Để thực hiện được yêu cầu đó, đòi hỏi phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp:
            Một là, tiến hành thường xuyên và nghiêm túc việc học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất đạo đức, nhân cách người cán bộ của Đảng, Nhà nước, Quân đội.
            Hai là, duy trì thực hiện tốt các biện pháp phòng, chống sự suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên mà Đại hội XI và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng đã chỉ ra, trong đó biện pháp hàng đầu là cá nhân phải tích cực tự tu dưỡng, rèn luyện thường xuyên gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng,đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị, Chỉ thị 87 của Quân ủy Trung ương..
            Ba là, sử dụng đồng bộ hệ thống giám sát cán bộ, đảng viên, nhất là sự giám sát của tổ chức đảng, của đội ngũ cán bộ và sự giám sát của công luận đối với phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, đặc biệt là những cán bộ có chức, có quyền.
            Bốn là, các cấp uỷ, tổ chức đảng và những người đứng đầu các cơ quan, các cấp, các ngành từ Trung ương đến cơ sở phải chịu trách nhiệm chống tham nhũng, tiêu cực ở nơi mình phụ trách...
            Ngăn ngừa, sửa chữa sai lầm, khuyết điểm và tích cực tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên là nhiệm vụ của toàn Đảng mà trực tiếp là các tổ chức cơ sở đảng, nhưng trước hết là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên. Thấu suốt tư tưởng Hồ Chí Minh “Muốn làm cách mạng, phải cải cách tính nết mình trước tiên”, đồng thời trên cơ sở quán triệt, thực hiện Nghị quyết Đại hội XII và các nghị quyết Trung ương (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn chặt với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, sẽ góp phần quan trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên thực sự là đội tiền phong của giai cấp công nhân và của dân tộc Việt Nam vừa “hồng” vừa “chuyên”, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới./.



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.16.
[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 1, tr.317.
[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập,  Sđd, tập 9, tr.354.
[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 6, tr.16.
[5] Hồ Chí Minh, Toàn tập,  Sđd, tập 5, tr. 294
[6] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 11, tr.601.
[7] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 11, tr.606.
[8] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 15, tr.547.
[9] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 5, tr.305.
[10] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.65.
[11] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.74.

Thứ Năm, 1 tháng 2, 2018

MỘT ĐÒI HỎI PHI LÝ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH KHI ĐÒI QUÂN ĐỘI “TRUNG LẬP VỀ CHÍNH TRỊ”
         
An Nhiên

Trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” các thế lực thù địch luôn tìm cách chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội nhân dân Việt Nam với các chiêu bài, các luận điệu phi lý khác nhau trong đó chúng đưa ra đòi hỏi quân đội “trung lập về chính trị” để chống phá quân đội, chống phá cách mạng Việt Nam và đặc biệt là tách rời sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Mục tiêu xuyên suốt của các thế lực thù địch là xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm cho Quân đội nhân dân Việt Nam mất phương hướng và lý tưởng chiến đấu.
Quân đội nhân dân Việt Nam là công cụ bạo lực chủ yếu bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Sức mạnh chiến đấu của Quân đội là sự đoàn kết, thống nhất về tư tưởng, nhận thức và hành động đặt dưới sự lãnh đạo bằng đường lối đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam. Do vậy, nếu làm xa rời sự lãnh đạo của Đảng sẽ làm cho quân đội mất đi mục tiêu, lý tưởng và sức mạnh chiến đấu. Rõ ràng đây là âm mưu, thủ đoạn hết sức thâm độc, nguy hiểm của các thế lực thù địch. Bằng nhiều giọng điệu khác nhau, chúng đưa ra những quan điểm: Quân đội cần phải “trung lập về chính trị”, Quân đội “không cần sự lãnh đạo của đảng phái nào cả”, Quân đội “không cần trung thành với Đảng Cộng sản”, v.v. Để nhấn mạnh thêm “ý nghĩa” các quan điểm đó, chúng đã bịa đặt rằng: “do phải trung thành với Đảng Cộng sản, nên Quân đội chỉ lo chống “Diễn biến hòa bình”, mà lơ là nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc”; đồng thời chúng đưa ra lời “khuyên” hãy “học tập cách thức xây dựng quân đội của các nước tư bản”.
          Đây thực sự là những luận điệu sai trái, phi lý và phản động! Cán bộ, chiến sỹ và nhân dân ta đều biết được rằng trong suốt 74 năm xây dựng, chiếu đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam, mỗi bước trưởng thành của Quân đội đều gắn liền với vai trò lãnh đạo của Đảng, sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ quân đội, và sự thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân. Trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ dân tộc Việt Nam anh hùng, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, Quân đội ta cùng với toàn dân đã lập nên những chiến công hiển hách, đánh bại các đội quân xâm lược nhà nghề, có tiềm lực bậc nhất thế giới. Là những cán bộ, chiến sỹ trong quân đội dù trên bất kỳ cương vị, chức trách nào nhưng họ vẫn kiên cường chiến đấu và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao mà không sợ hy sinh, gian khổ. Tất cả cán bộ, chiến sỹ trong quân đội đều có điểm chung là một lòng theo tiếng gọi của Đảng, cầm súng chiến đấu vì độc lập, thống nhất của Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân. Nhờ đường lối đúng đắn của Đảng, mà dân tộc, quê hương, bà con họ hàng và bản thân gia đình họ thoát khỏi cảnh mất nước, lầm than, vươn lên tự quyết định lấy tương lai tươi sáng của mình. Trong giai đoạn hiện nay, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam vẫn ngày đêm vững chắc tay súng, cùng toàn dân giữ vững chủ quyền, biển đảo, vùng trời và môi trường hòa bình, ổn định, xây dựng đời sống ngày càng ấm no, tự do, hạnh phúc. Dù trong điều kiện, hoàn cảnh nào, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam cũng tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; luôn gắn bó mật thiết với Đảng, Nhà nước và nhân dân, quyết tâm thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.
Yêu cầu Quân đội “trung lập về chính trị”, thực chất là hòng xóa bỏ bản chất cách mạng, xóa bỏ tất cả những gì tốt đẹp nhất của Quân đội nhân dân được xây đắp trong suốt mấy mươi năm qua, hơn thế, còn đẩy Quân đội đối lập với Đảng và nhân dân; vô hiệu hóa vai trò “Quân đội là lực lượng cách mạng trung thành và tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”. Để thực hiện mưu đồ đó, các thế lực thù địch đã tập trung công kích vào những vấn đề cơ bản nhất tạo nên sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta, đó là: phủ nhận đường lối lãnh đạo của Đảng; xuyên tạc mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; phá hoại sức mạnh đoàn kết giữa Đảng, Quân đội và nhân dân. Chúng ra sức xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng - an ninh; bôi nhọ, nói xấu và đòi xóa bỏ hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội. Đồng thời, dựng chuyện, bóp méo một số sự kiện để vu khống, bôi nhọ Đảng và Nhà nước trong quá trình lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước. Dù biết, không gì có thể phá hoại được sức mạnh đoàn kết dân tộc, cũng như không gì có thể xóa bỏ được vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, nhưng đối với họ, chí ít thì cũng gây ra sự hoài nghi đối với Đảng trong một bộ phận cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, từ đó tạo sự lơ là, thiếu cảnh giác, để dễ bề lung lạc bản chất cách mạng của Quân đội. Những thủ đoạn đó là vô cùng nguy hiểm, cần hết sức cảnh giác; những đòi hỏi của các thế lực thù địch, những phần tử chống đối là hết sức phi lý, không thể chấp nhận, cần bác bỏ!
Trước hết, chúng ta khẳng định rằng, trên thế giới không có và không thể có một quân đội nào “trung lập về chính trị” hay “đứng ngoài chính trị”. Lịch sử nhân loại chứng minh rằng, mọi quốc gia và ở mọi thời điểm, sự xuất hiện của quân đội luôn gắn liền với chính trị. Về bản chất, quân đội bao giờ cũng là công cụ bạo lực của một giai cấp, nhà nước và do nhà nước, giai cấp đó thành lập, nuôi dưỡng, sử dụng để tiến hành đấu tranh vũ trang, thực hiện mục đích chính trị của giai cấp, nhà nước đã tổ chức và nuôi dưỡng nó. Quân đội các nước tư bản mang bản chất của giai cấp tư sản, được nhà nước tư sản tổ chức, nuôi dưỡng để bảo vệ chính thể và quyền lợi của giai cấp tư sản, bảo vệ chế độ tư hữu, luật pháp và trật tự của xã hội tư bản. Quân đội vô sản là quân đội kiểu mới, mang bản chất giai cấp công nhân, do Đảng Cộng sản sáng lập, tổ chức, giáo dục, rèn luyện. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Quân đội chiến đấu vì độc lập, chủ quyền quốc gia - dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân và đoàn kết quốc tế. Để nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội, Đảng Cộng sản hết sức coi trọng xây dựng Quân đội về chính trị. Kinh nghiệm xây dựng Quân đội ở các nước xã hội chủ nghĩa chỉ ra rằng, việc giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là điều kiện tiên quyết bảo đảm Quân đội vững mạnh, hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của mình. Ở đâu và nơi nào xem nhẹ nhân tố chính trị hoặc nhân nhượng, thỏa hiệp, thậm chí từ bỏ quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với Quân đội, thì ở đó Quân đội mất mục tiêu, lý tưởng, phương hướng chiến đấu, đất nước rơi vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Một minh chứng cụ thể, rõ ràng đó là sự mất phương hướng của Quân đội Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây đã kéo theo sự sụp đổ của mô hình Chủ nghĩa xã hội.
Thứ hai, phải thấy rõ được sự khác nhau giữa đòi hỏi quân đội phải “trung lập về chính trị” của các “nhà dân chủ” Việt Nam với đòi hỏi quân đội phải “trung lập” trong bầu cử ở một số nơi trên thế giới. Để thực hiện âm mưu của chúng trước sự đòi hỏi Quân đội nhân dân Việt Nam phải “trung lập về chính trị”, các “nhà dân chủ” thường dẫn giải về sự “trung lập” của quân đội các nước tư bản trong các cuộc vận động bầu cử. Các thế lực thù địch đã đưa ra những phân tích, dẫn ra nhiều thí dụ để nói về ý nghĩa của việc thực hiện đòi hỏi đó, nhưng lại lẩn tránh làm rõ sự khác nhau giữa chúng. Thực tế thì ở một số nước tư bản thực hiện chế độ đa đảng, cuộc đấu tranh giữa các đảng phái tư sản để giành quyền kiểm soát cơ quan quyền lực nhà nước diễn ra hết sức quyết liệt và phức tạp. Trong cuộc đấu tranh đó, quan điểm: “quân đội chỉ tuân theo pháp luật” hay “quân đội phải trung lập”, được các bên cổ súy, nhằm bảo đảm cho đảng phái mình chiến thắng trong bầu cử. Về bản chất, đấy không phải là quan điểm đòi quân đội “phi chính trị hóa”, hay quân đội “trung lập về chính trị” để nhằm mục đích chuyển hóa chế độ chính trị của đất nước như đòi hỏi của các “nhà dân chủ” Việt Nam. Đó chỉ là những đòi hỏi: quân đội “đứng ngoài cuộc” trong quá trình tranh giành quyền lực giữa các đảng phái của giai cấp tư sản, chứ không hề đụng đến chế độ chính trị - xã hội của đất nước họ. Trên thực tế cho thấy, ở các nước tư bản, quân đội không những không “trung lập về chính trị”, mà còn là công cụ đắc lực để thực hiện tham vọng chính trị của giai cấp cầm quyền. Chẳng phải ở Mỹ và phương Tây, quân đội luôn là lực lượng để bảo vệ thể chế chính trị đất nước; đồng thời, là công cụ hữu hiệu để can thiệp quân sự, lật đổ chính quyền những quốc gia không thân thiện với họ đó sao? Từ năm 1990, Mỹ và liên quân đã tiến hành can thiệp vào đời sống chính trị của nhiều nước độc lập có chủ quyền, kể cả tiến hành chiến tranh ở các nước, như: Nam Tư, Áp-ga-ni-xtan, I-rắc, Li-bi. Các “nhà dân chủ” thường “quên” những vấn đề cốt lõi này, để đưa ra những khái niệm mập mờ, nhằm phục vụ cho mưu đồ xấu của họ. Thật là sự đòi hỏi phi lý không thể chấp nhận!
Thứ ba, yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ mới, đòi hỏi phải tập trung xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị; trong đó, phải: “chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; ngăn chặn, phản bác những thông tin và luận điệu sai trái”, như quan điểm Đại hội Đảng lần thứ XII đã nêu. Để thực hiện tốt điều đó, cần tập trung nâng cao nhận thức về mục tiêu, lý tưởng, đường lối đổi mới đất nước; chức năng, nhiệm vụ của Quân đội, cũng như yêu cầu đối với Quân đội trong thời kỳ mới. Đồng thời, tăng cường đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng - lý luận, nhất là trên các phương tiện truyền thông, nhằm vạch trần bản chất phản động, phản khoa học và tính chất nguy hiểm của âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình”, luận điệu đòi Quân đội “trung lập về chính trị” của các thế lực thù địch.
Để tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, kiên định với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch đòi “phi chính trị hóa” Quân đội ta, chúng ta cần tiếp tục coi trọng nâng cao chất lượng công tác đảng, công tác chính trị; tập trung xây dựng các tổ chức đảng, nhất là tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh để lãnh đạo đơn vị thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Tiếp tục đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao bản lĩnh chính trị, xây dựng ý chí quyết tâm, rèn luyện và trau dồi phẩm chất đạo đức cách mạng cho mọi quân nhân, tạo sự “miễn dịch” và tăng cường sức “đề kháng” để ngăn chặn mọi sự xâm nhập và phá hoại của các luận điệu thù địch, nhất là luận điệu: quân đội “trung lập về chính trị”. Đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc, Nhà nước và nhân dân; có đủ sức mạnh hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng với lời khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.






Thứ Tư, 31 tháng 1, 2018

NHẬN DIỆN ĐÚNG NHỮNG KẺ
ĐÒI “PHI CHÍNH TRỊ HÓA” QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY
Khánh Anh
Thất bại trong các cuộc chiến tranh chống Việt Nam, các thế lực thù địch chuyển hướng chống phá cách mạng nước ta bằng phương thức phi vũ trang, thông qua chiến lược “diễn biến hòa bình”. Một trong những hướng tấn công chủ yếu của chúng là tập trung mũi nhọn đòi phi chính trị hóa quân đội, yêu cầu Quân đội phải đứng ngoài chính trị, phủ định vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội nhân dân.
Phi chính trị hóa quân đội là một thủ đoạn không mới, nhưng cực kỳ nguy hiểm. Thủ đoạn trên đã được các nước đế quốc và các thế lực thù địch thực hiện thành công ở Đông Âu, Liên Xô, để lại hậu quả vô cùng đau xót cho nhân loại tiến bộ và tương lai của chủ nghĩa xã hội.
          Nhận diện đúng những kẻ đòi “phi chính trị hóa” Quân đội giúp chúng ta nhận rõ bản chất và mưu đồ của họ. Tại sao họ lại không tiếc công sức, tiền của để triển khai quyết liệt “chủ trương” này? Vậy họ là ai?
          Một là, chủ nghĩa đế quốc và một số nhà tư tưởng của giai cấp tư sản – kẻ thù truyền kiếp của chủ nghĩa xã hội cùng những kẻ cơ hội phản bội là lãnh đạo cấp cao trong một số Đảng Cộng sản thoái hóa biến chất
          Mũi tiến công chính diện của thủ đoạn này là đòi phi chính hóa quân đội nhằm tiêu diệt hoàn toàn tính nhân dân và bản chất giai cấp của quân đội.      Thực tiễn lịch sử cho thấy, sự sụp đổ của Liên bang Xô viết – nhà nước công nông đầu tiên của nhân loại do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân cốt lõi nhất chính là ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô, đứng đầu là Tổng Bí thư M.Gorbachev đã phản bội những nguyên lý cốt lõi trong học thuyết của chủ nghĩa Mác – Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới. Những kẻ phản bội đã xóa bỏ Điều 6 Hiến pháp Liên bang Xô viết; thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô đối với quân đội. Khi B.Yeltsin lên làm Tổng thống Liên bang Nga, ngay lập tức đã ban bố sắc lệnh “phi đảng hóa”, cấm tất cả các hoạt động trong các cơ quan nhà nước và lực lượng vũ trang. Do đó, quân đội xô viết bị vô hiệu hóa, mất sức chiến đấu, Đảng Cộng sản mất quyền lãnh đạo, đất nước mất chế độ, dân tộc ly tán, loạn lạc, kinh tế - xã hội rơi vào khủng khoảng, suy thoái trầm trọng.
          Do đã đã từng thực hiện phi chính trị hóa thành công với quân đội Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu trước đây, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch tiếp tục “ảo tưởng” với tham vọng đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, trong đó trọng tâm là phi chính trị hóa quân đội để chống phá các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, trong đó Việt Nam được chúng xác định là một trọng điểm.
          Hai là, những kẻ phản bội Tổ quốc, có nợ máu với nhân dân cấu kết với những phần tử thoái hóa, biến chất về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, số văn nghệ sĩ, nhà báo, nhà văn…biến chất, quay lưng, trở cờ lập những cái gọi là câu lạc bộ nhà báo tự do, hội dân oan, văn đoàn độc lập, quỹ người thượng…, thậm chí lập cả các tổ chức chính trị đối lập. Số đối tượng này thông qua các hình thức: “Thư ngỏ”, “Kiến nghị”, “Góp ý”…(72), (65), (61), (215)…, trả lời phỏng vấn, viết bài cho các trung tâm truyền thông để tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội ta.
          Ba là, nhóm đối tượng núp bóng dưới cái gọi là phong trào đòi dân chủ nhân quyền, xã hội dân sự, hoặc núp bóng tôn giáo. Những đối tượng này sử dụng các phương tiện, hình thức thể hiện khác nhau, đa dạng, thâm độc để hoạt động như: các trung tâm tâm truyền thông BBC, RFI, VOA…, truyền đơn, vận động, cổ vũ trực tiếp bằng các phong trào, các cuộc biểu tình, mạng xã hội, một số cơ quan báo chí chính thống (do sơ suất trong biên tập, trách nhiệm, trình độ chính trị non kém, hoặc vô tình hay hữu ý trở thành phương tiện, công cụ hoạt động của chúng)… Cùng với đó là nhóm đối tượng phản động trong các tôn giáo, các tà đạo cũng là những lực lượng cổ súy cho tư tưởng phi chính trị hóa quân đội nhân dân.
          Bốn là, những đối tượng có nhận thức non kém về tư tưởng chính trị, thiếu bản lĩnh, dễ bị lợi dụng, lôi kéo như: trí thức trẻ, công nhân, một bộ phận người dân bất mãn, bất đồng chính kiến hùa theo.
Trong số những đối tượng này có cả người Việt Nam ở nước ngoài sống trong môi trường tự do dân chủ tư sản, hấp thu một chiều lối sống phương Tây. Một bộ phận cán bộ, học sinh, sinh viên đi học tập, nghiên cứu, công tác ở nước ngoài bị kẻ xấu mua chuộc, dụ dỗ “té nước theo mưa”, quay lưng, trở cờ, suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, thông qua các bài viết, luận văn, luận án, hội thảo, hội họp để kích động chống phá. Cùng với đó, cũng có những kẻ bị tác động bởi mặt trái cơ chế thị trường, cơ hội, lợi dụng chính trị để mưu cầu lợi ích vật chất trước mắt.
          Tuy nhiên, loại trừ sự thiếu hiểu biết chính trị, hoặc sự “a dua” theo số đông, những kẻ chống chủ nghĩa xã hội đều hiểu biết rất rõ bản chất của vấn đề nhưng cố tình lảng tránh và ngây ngô để dễ bề che đậy dã tâm đen tối của chúng. Không ai có thể phủ nhận rằng, cả lý luận tư sản và lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin đều thừa nhận, nhà nước là một hiện tượng xã hội lịch sử, gắn liền với cuộc đấu tranh giai cấp, là công cụ để giai cấp cầm quyền hiện thực hóa quyền lực và bảo vệ quyền thống trị của mình. Bên cạnh việc tổ chức ra Nhà nước, giai cấp cầm quyền cũng đồng thời tổ chức ra quân đội – công cụ bạo lực nhằm thực hiện chức năng trấn áp, bảo vệ lợi ích sống còn của mình. Do là một bộ phận cấu thành bộ máy nhà nước, nên quân đội bao giờ cũng mang bản chất giai cấp của nhà nước đã tổ chức và nuôi dưỡng nó. Tính giai cấp của nó được thể hiện nổi bật ở sự lãnh đạo của một đảng phái chính trị đại diện cho giai cấp cầm quyền đối với quân đội; quân đội cũng luôn đặt mọi hoạt động theo đường lối chính trị của đảng cầm quyền và pháp luật của nhà nước do đảng cầm quyền chi phối. Không có quân đội nào phi giai cấp, đứng ngoài lợi ích của giai cấp cầm quyền.
          Thực tiễn lịch sử cũng cho thấy, cả học giả tư sản và vô sản đều thừa nhận “chiến tranh là sự kế tục của chính trị”, và như vậy sẽ không thể có quân đội phi chính trị, vì quân đội ra đời là để đáp ứng yêu cầu của chiến tranh, để thực hiện mục tiêu chính trị của chiến tranh. Chính V.I.Lênin cũng là người đã từng đánh giá cao luận điểm này, Người chỉ rõ: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị - đó là khẩu hiện của bọn tôi tớ giả nhân giả nghĩa của giai cấp tư sản và của chế độ Nga hoàng, bọn này trong thực tế bao giờ cũng đã lôi kéo quân đội vào chính trị phản động”[1]; hiện nay cũng như trước kia và sau này, quân đội không bao giờ có thể trung lập được. Điều đó hiển nhiên đến mức không có bất kỳ người nào dù ngây thơ về chính trị cũng không khó để nhận ra. Cô lập và vô hiệu hóa quân đội, tách quân đội ra khỏi Đảng là phương thức hiệu quả nhất triệt tiêu sự tồn tại của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Đây chính là phương thức đấu tranh giai cấp, đấu tranh ý thức hệ trong điều kiện mới: đấu tranh phi vũ trang.
         



[1] V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matsx cơ va, 1979, tập 12, tr. 136.
NHẬN DIỆN ĐÚNG MƯU ĐỒ CỦA ĐẢNG “DÂN CHỦ VIỆT”
Long Vĩ
                                                           
               Thời gian gần đây, các hội, nhóm người Việt sống lưu vong ở nước ngoài tự dấy lên phong trào đấu tranh đòi dân chủ ở Việt Nam, trên mạng xã hội và bằng những con đường bất hợp pháp họ phát tán tài lệu vào nước ta, kêu gọi tập hợp lực lượng, hỗ trợ tài chính để hoạt động chống Đảng, Nhà nước và chống phá cuộc sống lao động hòa bình của nhân dân ta. Thoảng qua bề ngoài, tưởng như một cao trào đấu tranh dân chủ thời kỳ 1936 - 1939, nhưng tìm hiểu thực chất bên trong, đó chỉ là lời lẽ lừa đảo của một nhóm người, thậm chí một vài người đói ăn, đang sống lưu vong vì phản bội Tổ quốc. Đọc trên mạng xã hội thấy các đảng phái ra đời, phát triển như nấm sau mưa với rất nhiều danh xưng như “Đảng Lâm thời Việt Nam”, “Đảng dân chủ thế kỷ 21”, “Đảng Dân Chủ Việt Nam”, “Đảng Thăng Tiến”, “Cao trào nhân bản”, “Diễn đàn xã hội dân sự”, “Phong trào con đường Việt Nam”, “Hội phụ nữ nhân quyền”.v.v. Họ kêu gọi đấu tranh đòi quyền dân chủ cho nhân dân trong nước, tự sắc phong cho mình những chức vụ quan trọng, tự huyễn hoặc bản thân một ảo tưởng chính trị để tập hợp lực lượng, huy động tài chính hoạt động.
Đặc biệt, gần đây nhất, Nguyễn Thế Quang - nói chưa thạo tiếng Việt đang sống ở Mỹ đã tuyên bố thành lập cái gọi là đảng “Dân chủ Việt” (gọi tắt là “Đảng Việt”) cho khỏi lẫn với mấy đảng đàn anh, đồng thời phát tán bản Hiến chương (gồm 10 chương, 45 điều) nhằm tập hợp lực lượng trong và ngoài nước đoàn kết “đấu tranh” đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam bằng cách đấu tranh “bất bạo động”. Trong bản Hiến chương ấy, diễn đạt chưa thạo tiếng Việt, lời lẽ hô hào tham gia như một đứa trẻ ngây ngô dạy đời, xúc phạm tới lòng tự trọng của mỗi người dân đang sinh sống, lao động hòa bình trên quê hương đất nước có độc lập, dân chủ, tự do. Phải chăng, đây là thứ đảng “Dân chủ Việt” của mấy kẻ mạt hạng. Không thể có từ ngữ nào diễn tả nổi sự thiếu hiểu biết của mấy người về nhân tình thế thái mà dám bàn chuyện đại sự quốc gia. Theo bản Hiến chương của “Đảng Việt”, có vô số điều tức cười không thể nói hết được, xin dẫn ra mấy câu để mọi người cùng suy ngẫm.
Trong “Lời Nói Đầu” của Hiến chương Đảng “Dân chủ Việt”, sau vài đoạn viết lăng nhăng, sai lỗi ngữ pháp tiếng Việt như đã dẫn ở trên; lời nói đầu xác định “cùng nhau khởi sự hình thành đảng chính trị Dân chủ Việt để phụng sự dân nước”, “để đấu tranh cho sự nghiệp dân chủ hóa đất nước… cũng như bất cứ thế lực xâm lược độc tài nào khác”. Và trong Điều 1, của Chương 1lại tự cho mình “làm cột xương sống cho một chế độ mới có tiềm năng, có sức mạnh và có lòng cương quyết đối đầu với ngoại xâm”. Thật đáng thương cho lời lẽ ngây ngô của những người không hiểu biết gì về thực tế lịch sử và lòng người Việt Nam. Bởi lẽ, chẳng có người dân Việt Nam nào lại dám tin, liều lĩnh giao vận mệnh quốc gia, dân tộc cho vài người “thần kinh có vấn đề” như vậy được. Nhân dân Việt Nam có trí tuệ thông minh, mọi người đều hiểu rõ cách đây 74 năm, dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh, nhân dân ta trên mọi miền đất nước đã vùng lên giành chính quyền về tay mình, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa; đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi gần 100 năm đô hộ của thực dân Pháp. Tiếp theo đó, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh bảo vệ chính quyền, tiến hành các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược giành thắng lợi không để lại hậu quả chia cắt gia đình, người thân như ở bán đảo Triều Tiên hiện nay. Sau chiến tranh Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta khắc phục hậu quả chiến tranh, thực hiện đổi mới toàn diện, đưa đất nước ta thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, bước vào đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Một thực tế không thể phủ định, đó là sự lãnh đạo của Đảng được nhân dân ta thừa nhận, biết ơn và gọi là “Đảng ta” - Đảng của giai cấp công nhân, đội tiền phong, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc; Đảng không có lợi ích riêng ngoài lợi ích của nhân dân và dân tộc. Vậy mà, thật trớ trêu, mấy người sống lưu vong, kể cả những kẻ vong ơn bội nghĩa với Đảng lại tự lập ra những đảng chính trị như “Dân chủ Việt” để tranh dành, đòi quyền lãnh đạo đất nước với một đảng có bề dày cống hiến hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.
Ông cha ta có câu “hữu xạ tự nhiên hương”, nếu đảng “Dân chủ Việt” thơm tho chắc nhiều người sẽ tự nguyện tìm đến, ủng hộ cả vật chất và tinh thần. Nhưng cớ gì “Dân chủ Việt” làm việc đại sự quốc gia lại phải đi kêu ăn xin ? “Dân chủ Việt” tài cao, trí rộng mà ăn nói lại “tiền hậu bất nhất” như thế? Chẳng hạn như  Điều 8, chương 1 có ghi: “Dân chủ Việt hoạt động như một tổ chức từ thiện”, vậy cớ sao Điều 9 lại phải ghi “Dân chủ Việt quan tâm tìm kiếm trợ giúp tài chánh từ những quỹ chính phủ khắp nơi để phụ giúp cho thành viên có nhu cầu và những chi phí sinh hoạt của tổ chức”? Phải chăng, mâu thuẫn ngay tại 2 điều này đã cho thấy sự mập mờ, lừa đảo của những người khốn khổ, hầu bao đang trống rỗng, định mượn cờ dân chủ để lừa đảo những người nhẹ dạ, cả tin ? Bài học thực tế cho thấy, đã có biết bao người dân lương thiện bị kẻ xấu kích động, lừa đảo bỏ nhà, bỏ cửa, bỏ sự nghiệp đi làm tay sai để rồi có ngày vào nhà lao bóc lịch oan ? Và rồi rốt cuộc “Dân chủ Việt” có học tập những đàn anh đi trước như việc Ông Hoàng Minh Chính khôi phục “Đảng dân chủ Việt Nam” sau đó đổi tên thành “Đảng dân chủ Việt Nam thế kỷ 21” chỉ vì tranh dành cái danh “Tổng thư ký” hão và những nhu cầu vật chất tầm thường. Mọi người đều thấy, có một câu chuyện thật đáng kinh tởm đối với những người mang danh dân chủ. Ông Trần Khuê (phó tổng thư ký) khi không dành được chức Tổng thư ký đảng Đảng dân chủ Việt Nam, sau khi ông Hoàng Minh Chính qua đời, Trần Khuê tuyên bố ly khai đảng Dân chủ Việt Nam và tự phong mình là Chủ tịch kiêm thủ quỹ “Đảng dân chủ thế kỷ 21”. Mọi khoản tài trợ và chi tiêu đều do ông Trần Khuê quyết định. Và có một một “sự kiện” đáng chú ý là: khi ông Hà Sỹ Phu bị bệnh phải nằm viện tại thành phố Hồ Chí Minh. Ông Trần Khuê thay mặt đảng đứng ra vận động quyên góp tiền với lý do “giúp ông Hà Sỹ Phu chữa” bệnh, anh em quý mến ông Phu nên đã dốc hầu bao ủng hộ gửi vào tài khoản của ông Khuê số tiền cả chục ngàn đô la. Ông Khuê nhận số tiền trên và chỉ đưa cho ông Phu vẻn vẹn 4 triệu tiền Việt, nhưng lại nói là tiền lương hưu cá nhân tích góp được nay mang đến giúp đỡ ông Phu lúc khó khăn. Ông Hà Sỹ Phu xúc động trào nước mắt, cảm ơn ân nhân! Nào ngờ, khi ông Phu hết bệnh về Đà Lạt mới biết đó là sự giúp đỡ, quan tâm của anh em với mình. Ông Phu uất ức, đấm tay lên ngực đau đớn kêu trời và tuyên bố từ mặt Trần Khuê.
Phải chăng bản chất của đảng “Dân chủ Việt” cũng vậy, đói ăn thì cứ tự tìm cách ra đường ăn xin sẽ được bố thí và thương tình, chứ thành lập ra đảng chữ V (biểu tượng giơ 2 tay đầu hàng) để lừa đảo, ăn chặn của nhau và mị dân, tất yếu sẽ có ngày “đấu nhau” như ông Trần Khuê, rồi để lại tiếng cho đời thì nhục lắm. Bản Hiến chương còn nhiều điều phải bàn, thôi dẹp đi càng sớm càng tốt, đừng cố sờ vào “của ngựa” có ngày bị ngựa đá gãy chân./.


Thứ Ba, 30 tháng 1, 2018

 Bộ Công an vừa có thông báo về tổ chức "Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời" là tổ chức khủng bố.
Theo thông báo của Bộ Công an, tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” tiền thân là tổ chức “Tân Dân chủ”, có trụ sở đặt tại 2807 Anaheim, CA 92814, Mỹ; điện thoại 7605233011; trang web: chinhphuquocgia.com, cuutuchinhtri.org, phamvanlong.com, cpqgvnlt.com.
Đối tượng cầm đầu, chỉ huy là Đào Minh Quân (Đào Văn, sinh 27/7/1952 tại Thừa Thiên - Huế, quốc tịch Mỹ, trú tại Santa Ana, California, Mỹ). Quân tự xưng “Thủ tướng” của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”.
Người kế tiếp được nhắc đến trong thông báo của Bộ Công an là Quách Thế Hùng (sinh ngày 1/4/1948, trú tại 5386 Somerset St, Los Angeles, California 90032, Mỹ); Kelly Triệu (Triệu Thanh Hoa, sinh năm 1968, quốc tịch Mỹ); Phạm Lisa (Phạm Anh Đào, sinh năm 1979, trú tại 614 Progressive Way, Denmark, South California 29042, Mỹ).
Theo Bộ Công an, quá trình hình thành tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” do Đào Minh Quân (nguyên Trung úy ngụy) cùng một số đối tượng ngụy quân, ngụy quyền thành lập năm 1991, tại Mỹ.
Về hoạt động khủng bố: Sau khi thành lập, Đào Minh Quân và số cầm đầu “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” đến các trại tị nạn người Việt ở Hồng Kông và các nước Đông Nam Á tuyển mộ lực lượng, đưa về Việt Nam theo đường hồi hương để tiến hành các hoạt động khủng bố, phá hoại.
Năm 2015, số cầm đầu “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” chỉ đạo cơ sở móc nối, lôi kéo phát triển lực lượng, thành lập các “chí nguyện đoàn” trong nước; khảo sát tìm địa điểm lập căn cứ, mua vũ khí nhằm thực hiện các hoạt động manh động, khủng bố, nhưng đã bị cơ quan An ninh Việt Nam kịp thời phát hiện ngăn chặn, bắt, xử lý 4 đối tượng (Hà Ngọc Hân, Mai Xuân Nghĩa, Lương Tuấn Vinh, Nguyễn Văn Hội).
Riêng Mai Xuân Nghĩa lẩn trốn sang Lào, sau đó xâm nhập về nước cùng với Đào Quang Thực lên kế hoạch mua vũ khí tấn công khủng bố nhưng bị cơ quan chức năng Việt Nam phát hiện, bắt giữ.
Năm 2017, số cầm đầu “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” bên ngoài ráo riết phát triển lực lượng, thành lập các nhóm “Phượng hoàng”, “Mãng xà”, “Biệt động quân”, “Đại Việt” nhằm khủng bố, phá hoại, ám sát cán bộ.
Chúng đã cử 2 thành viên là Phan Angel (Phan Thị Đào, sinh 1956, quốc tịch Mỹ) và Nguyen James Han (Nguyễn Thanh Hân, sinh 1967, quốc tịch Mỹ) về nước cung cấp tài chính và trực tiếp chỉ đạo hoạt động.
Theo sự chỉ đạo của số cầm đầu “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”, các đối tượng trong nước đã thực hiện ném bom xăng gây cháy 320 chiếc xe tại kho tạm giữ xe vi phạm giao thông của Công an TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai vào ngày 8/4/2017; đặt bom xăng tại nhà xe và cổng ga đến quốc tế sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất ngày 22/4/2017 và tiến hành khảo sát, lên kế hoạch gây cháy, nổ trụ sở các cơ quan công quyền và một số nhà máy, xí nghiệp, nhưng đã bị cơ quan chức năng Việt Nam ngăn chặn.
Tháng 4/2017, cơ quan chức năng Việt Nam đã khởi tố, bắt tạm giam 15 đối tượng là thành viên của tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” về tội “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân” (Điều 84 BLHS Việt Nam năm 1999); tháng 12/2017, Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh đã đưa vụ án trên ra xét xử và tuyên phạt các đối tượng từ 4 đến 16 năm tù.
Vẫn theo thông báo của Bộ Công an, “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” là tổ chức khủng bố, do đó, người nào có hành vi tham gia, tuyên truyền, lôi kéo, xúi giục người khác tham gia, tài trợ, nhận tài trợ của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”; tham gia các khóa đào tạo, huấn luyện do “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” tổ chức; hoạt động theo chỉ đạo của “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”… là phạm tội “Khủng bố”, “Tài trợ khủng bố” và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/phap-luat/bo-cong-an-chinh-phu-quoc-gia-vn-lam-thoi-la-to-chuc-khung-bo-426828.html

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...