Thứ Tư, 6 tháng 12, 2017

NHẬN DIỆN NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC,
PHẢN ĐỘNG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH HIỆN NAY

Minh Quân

Thời gian gần đây, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ra sức chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội ta với nhiều phương thức, thủ đoạn rất tinh vi, có tổ chức, có sự cấu kết, tiếp tay giữa lực lượng trong nước và ngoài nước. Chúng triệt lợi dụng các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước; vấn đề phức tạp, nhạy cảm được dư luận quan tâm; những sơ hở, hạn chế trong công tác lãnh đạo, quản lý của một số bộ, ngành, địa phương... để viết các tin, bài, thư nặc danh, mạo danh; tạo dựng các videoclip có nội dung xấu độc tán phát trên các phương tiện truyền thông, Internet... Với cái nhìn rất phiến diện, thái độ thù địch, chúng ra sức thổi phồng khuyết điểm, bôi đen xã hội nhằm kích động “cộng đồng mạng” và dư luận xã hội, kêu gọi sự can thiệp của các nước vào công việc nội bộ của Việt Nam, “để mượn gió bẻ măng” thực hiện các âm mưu chính trị đen tối, nổi lên là:
    Trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận: Các thế lực thù địch đã chuyển từ việc công khai nói xấu Đảng, nói xấu chế độ sang công khai đòi ta từ bỏ vai trò lãnh đạo Đảng, từ bỏ chế độ. Chúng đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênnin, nhưng thực chất là đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênnin và đích cuối cùng là phủ nhận cả hai. Chúng cổ súy “con đường thứ 3” đó là: xây dựng “xã hội dân chủ”, nhưng thực chất là xã hội tư bản chủ nghĩa, nhằm thúc đẩy xã hội dân chủ ở Việt Nam; lợi dụng Đảng ta chỉ đạo phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, chúng kêu gọi Việt Nam không cần chống “diễn biến hòa bình” nữa, chỉ cần chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, vì chúng cho rằng, chiến lược“diễn biến hòa bình” đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử, cựu thù của Việt Nam (ý muốn nói là Mỹ) nay đã thành đối tác.
    Lợi dụng các sự kiện chính trị, vấn đề phức tạp, nhạy cảm để chống phá nội bộ ta và mối quan hệ Việt Nam với các nước: Lợi dụng các hoạt động của Trung Quốc trên biển Đông, chúng tuyên truyền trong Đảng ta có “phe thân Mỹ”, “phe thân Trung Quốc” hoặc tung hỏa mù “đi theo Trung Quốc thì còn Đảng, mất đảo”, “theo Mỹ thì còn đảo, mất Đảng”; nhằm gây mất đoàn kết nội bộ, chia rẽ mối quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, kích động tư tưởng “thoát Trung, thoát cộng, theo Mỹ. Chúng lợi dụng tự do báo chí truyền thông và hoạt động văn hóa, văn học nghệ thuật để vận động, gây sức ép đòi ta thành lập “hội nhà báo độc lập”; “văn đoàn độc lập”; phát động chiến dịch tẩy chay truyền thông chính thống”, thúc đy người dân và các nhà báo “tự do” sử dụng mạng xã hộihình thành “diễn đàn về các vấn đề xã hội”cổ súy số văn nghệ sĩ bất mãn; viết, tán phát các tác phẩm văn học nghệ thuật kích động lối sống đề cao bản năng, thực dụng, vô cảm, lai căng, sùng ngoại... để chống phá ta.
Đẩy mạnh các hoạt động chống phá Quân đội: Chúng tập trung tuyên truyền, xuyên tạc phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, tiếp tục đòi “phi chính trị hóa” quân đội. Xuyên tạc bản chất nền quốc phòng toàn dân, “hướng lái” Việt Nam liên minh quân sự với Mỹ để bảo vệ chủ quyền biển, đảo; đồng thời tham gia diễn tập quân sự với các nước trên biển Đông, “tập trận” với các nước đồng minh của Mỹ. Triệt để lợi dụng một số ít cán bộ, chiến sĩ vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội; tác phong sinh hoạt chưa chuẩn mực, thiếu gương mẫu trong quan hệ, ứng xử với nhân dân và lực lượng chức năng để đẩy mạnh các hoạt động chống phá bản chất, truyền thống, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội....
Như vậy, hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội ta của các thế lực thù địch trong thời gian gần đây là nghiêm trọng. Tuy mục tiêu chống phá của chúng không thay đổi, song phương thức, thủ đoạn chống phá của chúng thay đổi linh hoạt, ngày càng tinh vi, khó nhận diện hơn; tính chất công khai, quyết liệt hơn; cường độ, tần suất chống phá cao và trực diện hơn; phạm vi chống phá ngày càng rộng hơn, đối tượng tác động chủ yếu nhằm vào vấn đề nội bộ, cán bộ cấp cao, lão thành cách mạng, cán bộ, công chức; công an, quân đội; lực lượng, phương tiện chống phá được tăng cường và tổ chức chặt chẽ hơn, có sự liên kết cả trong nước và ngoài nước; môi trường và diễn đàn chống phá chủ yếu là trên Internet, mạng xã hội.
Những luận điệu của chúng nhằm gieo rắc sự hoài nghi, hoang mang dao động cho độc giả, nhất là những người trẻ tuổi thiếu kinh nghiệm sống và sự từng trải. Từ đó nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng, xã hội của Đảng và Nhà nước ta, làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; phá hoại truyền thống văn hóa dân tộc, văn hóa cách mạng, các chuẩn mực đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa; hình thành tệ sùng ngoại, coi thường những giá trị văn hóa của dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân vị kỷ, ham muốn làm giàu, ham muốn quyền lực cực đoan... đã và đang làm băng hoại thuần phong mỹ tục của dân tộc… thông qua đó để tạo ra sự bất ổn về chính trị xã hội để chúng có môi trường thực hiện những âm mưu đen tối của mình.




Thứ Ba, 5 tháng 12, 2017

THẮNG LỢI CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM
KHÔNG THỂ TÁCH RỜI CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Lê Phi
  V.I.Lênin đã từng khẳng định rằng: “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng”, “chỉ đảng nào được một lý luận tiên phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong”. Học thuyết Mác-Lênin với bản chất cách mạng và khoa học đã trang bị cho giai cấp vô sản, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức vũ khí tư tưởng lý luận sắc bén để đấu tranh xóa bỏ chế độ thống trị của giai cấp tư sản, tiến lên xây dựng một xã hội mới không còn áp bức, bóc lột, bất công.
  Với Việt Nam, luận điểm của Lênin càng tỏ rõ lên giá trị khoa học và chân lý. Trước khi được ánh sáng chủ nghĩa Mác-Lênin chiếu rọi tới, cách mạng Việt Nam như trong đêm tối, các cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược đều lần lượt thất bại, đất nước chìm trong đêm dài nô lệ. Chỉ đến khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu được Luận cương của Lênin, xác định đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga và truyền bá chủ nghĩa Mác -Lênin về nước, thì cách mạng Việt Nam mới có lý luận cách mạng dẫn đường.   
  Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nghiên cứu, học tập và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam, kết hợp với những giá trị truyền thống của dân tộc và tinh hóa văn hóa nhân loại cùng với trí tuệ, bản lĩnh của Người đã hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh - một di sản lý luận có ý nghĩa to lớn cho dân tộc Việt Nam. Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã đề ra đường lối đúng đắn, lãnh đạo khối đại đoàn kết dân tộc giành độc lập dân tộc, tiến hành 2 cuộc trường kỳ kháng chiến thành công, đưa Việt Nam từ một đất nước bị xóa tên trên bản đồ chính trị thế giới đã trở thành một nước độc lập, có chủ quyền; người Việt Nam từ thân phận của nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, chủ thể của một tiến trình quá độ lên CNXH và bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc và CNXH.
  Từ khi thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Đảng cũng chỉ rõ nguồn gốc sâu xa của mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam là do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo, được chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường, chỉ lối. Tổng kết thực tiễn lịch sử hoạt động lãnh đạo của Đảng và thực tiễn phong phú, sinh động của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Điều này tiếp tục khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng nhận thức đầy đủ hơn, toàn diện, sâu sắc hơn về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và khẳng định chỉ trên cơ sở trung thành, vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn Việt Nam thì Đảng mới có khả năng lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng và tránh được nguy cơ sai lầm về đường lối.
  Mặc dù vậy, lợi dụng tình hình chính trị thế giới diễn biến phức tạp, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin; rêu rao chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ có giá trị ở cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX, thế kỉ XXI không còn phù hợp nữa, rằng sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu là minh chứng cho sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác-Lênin. Họ còn vin vào một số khuyết điểm, sai lầm trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng, sự tha hóa, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên, chúng bôi xấu chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
  Mặt khác, được sự hậu thuẫn tích cực của các thế lực phản động bên ngoài, các phần tử cơ hội chính trị, chống đối ở trong nước tăng cường viết và phát tán các tài liệu đưa ra những luận điệu, quan điểm, sai trái phủ định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ cho rằng đã đến lúc phải xét lại cả những nguyên lý cơ bản có tính chất thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, họ tung ra luận điệu tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với học thuyết Mác-Lênin. Họ ngụy biện rằng, bây giờ học thuyết Mác-Lênin đã lỗi thời, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là đáng giá, vì vậy chỉ cần dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh và đề cao thành chủ nghĩa Hồ Chí Minh. Đây là một luận điệu rất nguy hiểm vì làm như vậy là cô lập, suy yếu tư tưởng Hồ Chí Minh và thực chất là để phủ định chủ nghĩa Mác-Lênin, tiến tới phủ định chính ngay tư tưởng Hồ Chí Minh.
  Phương thức chống phá của họ hết sức đa dạng, có lúc lợi dụng sự công khai của báo chí, truyền thông, lợi dụng sự tự do tư tưởng; có lúc ngụy trang dưới nhiều hình thức, vỏ bọc tinh vi. Sự tuyên truyền, chống phá của họ hướng đến nhiều giới, nhiều tầng lớp trong xã hội. Nguy hiểm hơn cả là hướng tới tác động vào lớp trẻ, những người tài giỏi, thông minh, đầy nhiệt huyết nhưng thiếu sự trải nghiệm và cảm nhận thấu đáo về cách mạng Việt Nam và chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Chúng cố tình lờ đi một thực tế rằng, với bản chất khoa học, cách mạng, chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là một học thuyết mở, nó không chấp nhận sự giáo điều bất biến, mà đòi hỏi những người học tập và vận dụng phải luôn sáng tạo, trong quá trình áp dụng vào thực tiễn cụ thể. Chính nhờ thuấm nhuần tinh thần đó, trên cơ sở giữ vững những vấn đề có tính nguyên tắc, đồng thời, nêu cao tinh thần sáng tạo cùng với thời đại, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã giành được những thắng lợi to lớn và có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới, và có vị thế uy tín cao trên trường quốc tế. Đó là một thực tế không thể phủ nhận, không thể bôi đen.
Bất cứ đất nước nào, trong quá trình phát triển của mình, tất nhiên sẽ có những hạn chế không thể tránh khỏi, Việt Nam cũng vậy! Tuy nhiên, đen gom tất cả những hạn chế đó ở Việt Nam đổ lỗi cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là cách làm hết sức chủ quan, hằn học, phi khoa học và thiếu lương tâm.


































LẠI THÊM MỘT CÁI NHÌN SAI TRÁI
VỀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Nguyên Mạnh
                                                                           
Vừa rồi, tình cờ tôi đọc được một bài viết với nhan đề “Bàn về điều mà CSVN “gọi là” tư tưởng Hồ Chí Minh sự thực? hay sản phẩm của dối trá, lường gạt, bịp bợm?” của tác giả Nguyễn Lương Tuyền nói về tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam. Là một độc giả quan tâm tới vấn đề này, tôi muốn trao đổi với tác giả một số vấn đề sau:
Tác giả khẳng định rằng, Hồ Chí Minh không phải một nhà tư tưởng. Điều này không có gì mới, là luận điệu của những người thiếu hiểu biết, hay cố tình thiếu hiểu biết vẫn vốn thường rêu rao. Để khẳng định điều này, chúng ta phải xem thế nào là nhà tư tưởng. Quan niệm về nhà tư tưởng ở phương Đông và phương Tây là không giống nhau và cũng không giống với quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin. Theo V.I.Lênin, một người được gọi là nhà tư tưởng khi họ có sự chuẩn bị đầy đủ về mặt lý luận, có khả năng đi trước, dự báo chỉ đường của phong trào quần chúng; có được tầm mắt chính trị rộng lớn để giải quyết thành công mọi vấn đề chiến lược và sách lược của cách mạng; có tài ba tổ chức để sáng lập một chính đảng cách mạng có sức chiến đấu mạnh mẽ; có một nghị lực cách mạng phi thường, vượt qua mọi trở lực, khó khăn để thực hiện tư tưởng của mình. Nếu đem đối chiếu với quan niệm truyền thống, hiểu nhà tư tưởng là những người hay suy tư, luôn trầm mặc tư tưởng, chỉ đề xuất ý tưởng mà không hành động, để lại những tác phẩm và đôi khi nó chẳng có tác động gì lớn đối với cuộc sống, thì quan niệm của V.I.Lênin có khác. Nhà tư tưởng theo chủ nghĩa Mác - Lênin, phải thống nhất được ý chí và hành động, lý luận và thực tiễn, phải biết sử dụng được các lực lượng vật chất để thực hiện tư tưởng của mình.
Như vậy, dù ông Tuyền có ủng hộ quan điểm truyền thống thì cũng không thể  phủ nhận được quan điểm của V.I.Lênin về nhà tư tưởng, bởi quan điểm của V.I.Lênin bao quát hơn và sâu sắc hơn. Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng, mà ở đó lý luận luôn gắn với thực tiễn, nhận thức thế giới luôn gắn với cải tạo thế giới, không phải thuyết giáo suông!
Trên thực tế, trải qua một quá trình nghiên cứu công phu, nghiêm túc,  Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể Việt Nam; kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền vớichủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về phát triển kinh tế, văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; về đạo đức cách mạng “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”; về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên “vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân”...
Và trong bài viết của mình, khi xét về khái niệm tư tưởng, tác giả cũng thừa nhận những quan điểm trên là của Hồ Chí Minh. Như thế, xin hỏi tác giả Nguyễn Lương Tuyền rằng: Hồ Chí Minh có xứng đáng được xem là một nhà tư tưởng hay không?
Không chỉ vậy, công lao của Hồ Chí Minh đã được dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam và cả thế giới ghi nhận, tôn vinh. Năm 1987, UNESCO ra nghị quyết về tổ chức kỉ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và công nhận Người là anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất. Công lao của Hồ Chí Minh không chỉ thể hiện ở việc Người tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc thoát khỏi ách thống trị của thực dân Pháp, cùng Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đất nước kháng chiến chống thực dân Pháp quay lại xâm lược thành công và kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược; mà bằng trí tuệ thiên tài, sự học hỏi nghiên cứu không mệt mỏi, Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc Việt Nam và thế giới di sản trí tuệ vô cùng quý báu, đó là tư tưởng Hồ Chí Minh. Qua đó, không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới hiện nay, rất nhiều nước tôn vinh và đi sâu nghiên cứu di sản của Người.
Trong bài viết của tác giả có đề cập tới nhiều luận điểm cho rằng Hồ Chí Minh chỉ sao chép, nói lại lời của tiền bối đi trước. Tôi chỉ dẫn lại hai nội dung sau. Thứ nhất, cho rằng Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được đọc ngày 2 tháng 9 năm 1945 không phải do Hồ Chí Minh soạn thảo mà do thiếu tá người Mỹ Patti soạn. Trước hết, lí do gì để một thiếu tá Mỹ soạn tuyên ngôn độc lập cho Việt Nam; tiếp theo, theo một tác giả người Mỹ - không phải người của Đảng Cộng sản Việt Nam - William J. Duiker, Patti không có liên quan gì tới tuyên ngôn độc lập của Việt Nam và bản tuyên ngôn đó là do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn tại số nhà 48 phố Hàng Ngang, với sự chứng kiến của rất nhiều người. Vậy có bằng chứng nào, để tác giả chứng tỏ nói rằng, đó không phải do Hồ Chủ tịch soạn ra thì hãy nêu ra để mọi người được tham khảo. Nhưng xin tác giả hãy nêu đúng sự thật, đúng lịch sử!
Ngoài ra, tác giả cho rằng Hồ Chí Minh lãnh đạo hai cuộc kháng chiến của dân tộc chống lại kẻ thù xâm lược là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ là cuộc chiến phi nhân đạo, “chỉ có chết chóc tang thương cho người dân, tàn phá đến tận cùng cho quê hương”, là sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản. Nếu là một người dân Việt Nam phải sống trong cảnh mất nước, bị thực dân Pháp đô hộ hoặc chỉ cần có một chút quan tâm tới lịch sử thì không ai có thể quên được những đau thương tột cùng mà thực dân, đế quốc đã đem tới cho dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam trong thế kỷ XIX, XX. Những mất mát, đau thương ấy cả nhân loại lên án, và ngay chính nhân dân Pháp, nhân dân Mỹ sau này cũng lên án những cuộc chiến tranh phi nghĩa của chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc gây ra ở Việt Nam. Ấy vậy mà, có kẻ tự xưng vì tiến bộ, hòa bình, độc lập cho dân tộc vẫn cho rằng cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam chống lại thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược để giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân là cuộc chiến phi nghĩa. Phải chăng, theo tác giả, cứ để thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược thống trị, còn nhân dân ta mãi làm nô lệ của chúng mới là chính nghĩa?
Đọc bài viết của tác giả, tôi thấy ông đem đến cho mọi người một cách nhìn nhận hằn học chứ không phải khoa học về Hồ Chí Minh, và có những chỗ là đổi trắng thay đen chứ không phải là một cách nhìn khách quan. Vậy không hiểu tại sao ông lại đem quan điểm phi khoa học, phản đạo đức ấy để đầu độc mọi người. Tôi tự hỏi rằng: có phải Lương tâm của ông đã để rơi xuống chốn Tuyền đài rồi chăng?                           


Thứ Hai, 4 tháng 12, 2017

MỘT SỐ GIẢI PHÁP CỦA QUÂN ĐỘI NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ  ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG VẤN ĐỀ TÔN GIÁO Ở VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ
  Huy Lê
“Diễn biến hoà bình” là phương thức chống phá chủ nghĩa xã hội của các thế lực thù địch bằng các biện pháp phi vũ trang. Với chiến lược này, chúng đã nhanh chóng xoá bỏ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, để rồi làm cho chủ nghĩa xã hội trên thế giới lâm vào khủng hoảng, thoái trào.
Đối với Việt Nam, các thế lực thù địch xác định là một trọng điểm chống phá, vì thế họ ra sức tuyên truyền, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Lợi dụng ưu thế về công nghệ thông tin, các phương tiện thông tin hiện đại, chúng thiết lập trên 40 đài phát thanh tiếng nước ngoài, trong đó đặc biệt là đài “Châu Á tự do”, với gần 600 tờ báo và tạp chí, với hơn 50 nhà xuất bản,… nhằm đẩy mạnh tuyên truyền tư tưởng, đạo đức, lối sống phương Tây - thực dụng, truỵ lạc, tôn thờ đồng tiền là trên hết, cá nhân ích kỷ, phi đạo đức, phi luân lý, làm băng hoại phẩm chất, đạo đức, lối sống tốt đẹp của xã hội, của nhân dân và quân đội ta. Đặc biêt, họ ra sức lợi dụng vấn đề dân tộc, sắc tộc, tôn giáo và chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” và “tự do tín ngưỡng”, đi sâu khai thác những sơ hở, thiếu sót của Đảng, Nhà nước ta ở các cấp trong việc thực hiện các chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng trước đây và đồng bào theo đạo để lừa bịp, chia rẽ, phân hoá, tạo ra mâu thuẫn dân tộc, sắc tộc, gây rối trật tự trị an ở những nơi này. Chúng tìm mọi cách gây biến động về chính trị tư tưởng, kích động chia rẽ nội bộ Đảng, Nhà nước, quân đội với công an, gây “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta; ra sức tuyên truyền xuyên tạc hòng gây mất đoàn kết, mất lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước và mục tiêu, con đường chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất, Quân đội ta có nhiệm vụ tuyên truyền, vận động đồng bào các dân tộc thiểu số thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về vấn đề dân tộc và vấn đề tôn giáo, góp phần đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo để tuyên truyền xuyên tạc nói xấu Đáng, Nhà nước ta.
Để nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, Quân đội ta trong đó đặc biệt là các đơn vị trực tiếp làm nhiệm vụ ở vùng dân tộc thiểu số phải thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:
Một là, thực hiện tốt chức năng đội quân công tác, cùng với cấp ủy, chính quyền địa phương làm tốt việc tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số thực hiện tốt chủ trương, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước.
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách lợi dụng khó khăn về đời sống, trình độ dân trí thấp của đồng bào dân tộc thiểu số và những sai sót của các cấp, các ngành trong việc thực hiện chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta để kích động, chia rẽ các dân tộc nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị. Vì vậy, nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta phải chăm lo xây dựng, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chia rẽ dân tộc của các thế lực thù địch. Ra sức tuyên truyền, giáo dục các chủ trương, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước cho mọi cán bộ, đảng viên và đồng bào các dân tộc thiểu số. Phổ biến sâu rộng chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Phổ biến pháp luật và giáo dục ý thức chấp hành pháp luật của Nhà nước cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Khơi dậy trong đồng bào dân tộc thiểu số lòng tự hào, tự tôn dân tộc và truyền thống đoàn kết giữa các dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục để đồng bào dân tộc thiểu số hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn chia rẽ gây mất đoàn kết các dân tộc của các thế lực phản động, thù địch, để giúp đồng bào đề cao cảnh giác, không bị chúng lừa gạt, lôi kéo, lợi dụng.
Tham mưu và hỗ trợ việc tiếp tục thực hiện các chương trình phủ sóng phát thanh, truyền hình; tang cương các hoạt động văn hóa, thông tin, truyền thông tuyên truyền hướng về cơ sở bản, làng; đề xuất, kiến nghị tăng thời lượng và nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc thiểu số; tham gia làm tốt công tác nghiên cứu, sưu tầm, giữ gìn và phát huy các giá trị, truyền thống tốt đẹp trong văn hóa của các dân tộc.
Hai là, phối hợp cùng các lực lượng trên địa bàn và địa phương giúp đồng bào dân tộc thiểu số xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội.
Tiếp tục quán triệt, thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương (khóa IX) về những nhiệm vụ chủ yếu và cấp bách của công tác dân tộc ở nước ta hiện nay, quân đội ta mà trực tiếp là các đơn vị đóng quân trên địa bàn tham gia cải tạo, xây dựng mới hệ thống đường giao thông vùng dân tộc thiểu số, góp phần cùng địa phương có đường ô tô đến trung tâm xã, các bản làng trong xã có đường đi lại thuận tiện. Tham gia xây dựng hệ thống trạm biến áp và đường xây tải điện đến các xã vùng sâu, vùng xa, hỗ trợ đồng bào thiết bị tải điện để gia đình có điện thắp sáng. Tham gia xây dựng và củng cố hệ thống trạm y tế quân dân y kết hợp, cử quân y khám, chữa bệnh cho đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần giúp các xã vùng sâu, vùng xa có trạm y tế, mọi người được thụ hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Tham gia xây dựng các trung tâm tiếp sóng phát thanh, truyền hình và hỗ trợ đồng bào các phương tiện chuyển tải, phương tiện nghe, nhìn để đồng bào được tiếp cận và hưởng thụ văn hóa, thông tin, truyền thông của đất nước. Tham gia củng cố, nần cấp và xây dựng hệ thống trường phổ thông tiểu học và trung học cơ sở, bán trú, tạo điều kiện trường lớp cho con em dân tộc thiểu số đi học, cử cán bộ, chiến sĩ dạy chữ cho con em họ, để phấn đấu hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở ở vùng dân tộc theo mục tiêu của Đảng, Nhà nước đề ra đối với những vùng này.
Ba là, tích cực và trực tiếp tham gia giúp đồng bào ổn định cuộc sống, chuyển đổi cơ cấu sản xuất, xóa đói, giảm nghèo.
Quán triệt chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về đẩy mạnh công tác xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của đồng bào dân tộc thiểu số, trọng tâm là đồng bào ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa. Theo đó, trong những năm trước mắt tập trung giúp đỡ đồng bào nghèo, các dân tộc đặc biệt khó khăn giải quyết ngay những vấn đề bức xúc như: tình trạng thiếu lương thực, thiếu nước sinh hoạt, nhà ở tạm bợ, không đủ tư liệu sản xuất, dụng cụ sinh hoạt tối thiểu. Đồng thời giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đất sản xuất, đất ở và vấn đề tranh chấp đất đai ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là vùng trọng điểm Tây Nguyên, Tây Bắc và vùng đồng bào dân tộc Khơme Nam Bộ… Quân đội ta phải chủ động phối hợp với các lực lượng trên địa bàn và các lực lượng khác, cùng với cấp ủy, chính quyền địa phương vận động và tổ chức đồng bào định canh, định cư; tổ chức các cụm dân cư mới theo yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và củng cố quốc phòng ở miền núi, biên giới; hướng dẫn giúp đỡ đồng bào trồng trọt, chăn nuôi theo giống mới, công nghệ mới, chuyển đổi cơ cấu cây tròng, vật nuôi, chuyển đổi sản xuất trên cơ sở thế mạnh của từng địa phương xã, bản làng. Đối với những đơn vị đóng quân trên địa bàn có điều kiện, tổ chức làm mẫu, hướng dẫn mô hình sản xuất cho đồng bào học tập; trong quá trình triển khai các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, nhất là dự án khu kinh tế - quốc phòng, phải tạo thêm nhiều việc làm để tăng thêm thu nhập cho cho đồng bào các dân tộc thiểu số để giảm bớt khó khăn, cải thiện phần nào đời sống cho họ.
Bốn là, tích cực tham gia xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Làm tốt tham mưu cho cấp ủy đảng và chính quyền địa phương kiện toàn tổ chức, xây dựng quy chế làm việc, quy chế dân chủ, hương ước làng, bản…;giúp đỡ các tổ chức quần chúng Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh hoạt động có hiệu quả với những nội dung, hình thức phong phú, thích hợp; giúp địa phương phát hiện nguồn cán bộ, bồi dưỡng trình độ và phương pháp công tác cho đội ngũ cán bộ ở địa phương; trực tiếp tạo nguồn địa phương vùng dân tộc thiểu số bằng cách tuyển chọn những thanh niên ưu tú người dân tộc thiểu số vào đơn vị tham gia nghĩa vụ quân sự, tích cực bồi dưỡng, rèn luyện họ trở thành đảng viên, đoàn viên ưu tú để  khi họ hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về địa phương sẽ tham gia vào cán bộ, cấp ủy địa phương xã, làng bản vùng dân tộc thiểu số.  Thực tế trong nhiều năm qua, rất nhiều địa phương đã và đang phối hợp với các đơn vị quân đội làm tốt công tác tạo nguồn cán bộ dân tộc thiểu số cho địa phương.
Vận động đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là thanh niên, phụ nữ tham gia các tổ chức quần chúng cách mạng như: Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ,…ở địa phương; thông qua hoạt động của các tổ chức này mà phát hiện, bồi dưỡng tạo nguồn cán bộ tại chỗ. Đồng thời, thực hiện đa dạng hóa các loại hình đào tạo, bồi dưỡng, dạy nghề ở vùng dân tộc thiểu số. Trong đó, kết hợp tốt đào tạo chính quy với bồi dưỡng tại chức, giữa đào tạo tại trường với bồi dưỡng cán bộ thông qua các lớp tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ. Thực hiện đồng bộ đối tượng đào tạo, bồi dưỡng người dân tộc thiểu số đối với cả cán bộ đảng, chính quyền và cán bộ các đoàn thể trong hệ thống chính trị, cán bộ cho các lĩnh vực kinh tế, khoa học kỹ thuật, y tế, giáo dục, văn hóa nghệ thuật…
Các đơn vị quân đội công tác và đóng quân ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số phải giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ luôn chấp hành nghiêm chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta; tôn trọng phong tục, tập quán của đồng bào; trong mọi hoàn cảnh, khi tiếp xúc với đồng bào dân tộc thiểu số phải thực hiện nghiêm 10 lời thề danh dự và 12 điều kỷ luật của quân đội. Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, gắn bó mật thiết với đồng bào dân tộc thiểu số, giúp đỡ đồng bào về mọi mặt, thực hiện “đi dân nhớ, ở dân thương” như Bác Hồ thường căn dặn bộ đội ta./.


Thứ Năm, 30 tháng 11, 2017

 LUẬN ĐIỂM “ĐẢNG CÓ VỮNG CÁCH MẠNG MỚI THÀNH CÔNG ” CỦA HỒ CHÍ MINH
 Anh Đồng
Trong tác phẩm Đường kách mệnh năm 1927, Hồ Chí Minh đưa ra luận điểm “Đảng có vững cách mệnh mới thành công[1]. Luận điểm của Hồ Chí Minh tưởng đơn giản, một chân lý ai cũng có thể biết, song trên thực tế nó vừa là một đúc rút, kết luận mang tính khoa học, vừa là một lời nhắc nhở đối với Đảng ta ở mọi thời kỳ lịch sử, là định hướng lớn có giá trị không thể thiếu trong gian đoạn cách mạng hiện nay, khi Đảng ta đang thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, gắn với thực hiện Chỉ thi 05 của BCT về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
 Luận điểm “Đảng có vững cách mệnh mới thành công” của Hồ Chí Minh cho thấy ở mọi thời kỳ lịch sử, đứng trước bất cứ một nhiệm vụ cách mạng nào, để xây dựng Đảng “vững” về chính trị, tư tưởng, tổ chức, phải gắn với việc đấu tranh không khoan nhượng với chủ nghĩa cá nhân, bệnh quan liêu, tham nhũng, lãnh phí trong Đảng. Thực tế từ năm 1930 đến nay đã chứng minh tính cách mạng, khoa học, sự đúng đắn của luận điểm trong đấu tranh giành độc lập dân tộc và trong xây dựng chủ nghĩa xã hội. Mọi người đều biết, Việt Nam trong những thập kỷ đầu của thế kỷ XX chìm trong đêm dài nô lệ, bởi sự nô dịch, đàn áp, bóc lột của chế độ thực dân - phong kiến. Khi Đảng ta ra đời, đã tổ chức và lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành được những thắng lợi hết sức quan trọng tạo nên lịch sử phát triển của dân tộc. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công là một dấu mốc lịch sử khởi đầu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân ta, sau đó nhân dân ta giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, năm 1946 đến năm 1954, cuộc kháng chiến chống Mỹ, năm 1954 đến năm 1975, đó là những thắng lợi rất hiếm có trong lịch sử nhân loại. Thắng lợi trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, cũng như những thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực của công cuộc đổi mới đất nước 31 năm qua là bằng chứng thực tế về luận điểm “Đảng có vững cách mạng mới thành công” của Hồ Chí Minh.
 Không có một cách lý giải, hay biện luận nào, có thể phủ nhận, xuyên tạc được thực tế lịch sử quá trình lãnh đạo đất nước đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác của Đảng ta với luận điểm “Đảng có vững cách mạng mới thành công”.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta vận dụng luận điểm “Đảng có vững cách mạng mới thành công” còn những hạn chế nhất định, đặc biệt việc diễn ra tình trạng tham nhũng, quan liêu, lãng phí, sự suy thoái, tiêu cực ở một bộ phận nhỏ cán bộ, đảng viên hiện nay. Chúng ta cũng nhận thức rằng, chủ nghĩa cá nhân, quan liêu, tham nhũng, lãng phí là bệnh cố hữu, có thể phát sinh ở bất cứ đảng phái nào, dù đó là chính đảng của giai cấp vô sản, hay các đảng của giai cấp tư sản, căn bệnh đó sẽ có ở bất cứ chế độ chính trị nào, ở thể chế một đảng hay nhiều đảng, chỉ là nhận thức và đấu tranh ngăn chặn nó ra sao? Tình hình chính trị của nhiều nước trên thế giới trong thời gian vừa qua, dù là nhóm các nước tư bản phát triển hay không phát triển… đã và đang chứng minh điều đó.
Đảng ta hiện nay đã và đang  nhìn thẳng vào sự thật, khẳng định quyết tâm khắc phục những hạn chế, khuyết đểm, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tình trạng tham nhũng, quan liêu, lãng phí, sự suy thoái, tiêu cực ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ, đảng viên có chức, có quyền. Quá trình đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, bệnh quan liêu, tham nhũng, lãnh phí đã và đang thu được những kết quả bước đầu, từ đó khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng với công cuộc đổi mới ở Việt Nam.
Thực tế cho thấy, sự chống phá của các thế lực thù địch ở thời điểm lịch sử nào cũng có, khi đấu tranh giàng độc lập dân tộc và khi xây dựng đất nước, điều này cũng không làm mọi người ngạc nhiên. Gần đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước đang thu được những thành tự quan trong trên tất cả các lĩnh vực, vì vậy sự chống phá của các thế lực thù địch diễn ra ngày càng thâm độc hơn; những vụ việc tiêu cực lớn hiện nay có liên quan đến một số cán bộ, đảng viên có chức, có quyền trong bộ máy Đảng, Nhà nước, được Đảng ta chỉ đạo xử lý nghiêm khắc, thì các thế lực thù địch rêu rao rằng các phe cánh trong Đảng đang “thanh trừng”, “hạ bệ” lẫn nhau, “đảng độc tôn lãnh đạo lên dẫn đến bệnh tham nhũng, lãng phí”, “phải đa đảng để chống tham nhũng”….. Từ cách lập luận mập mờ, thiếu cơ sở khoa học, chúng tìm cách bôi đen, phủ nhận, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ai cũng hiểu rằng, để phân tích, luận giải một vấn đề, nhất thiết phải trên cơ sở khoa học, cơ sở lý luận và thực tiễn đúng đắn, mới khách quan, trung thực, chứ không vì mục đích đen tốt, “vụ lợi” đưa ra những nội dung thiếu căn cứ./.







[1] Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 267, 268.
CẢNH GIÁC VỚI XU HƯỚNG
“XÉT LẠI LỊCH SỬ”, “VIẾT LẠI LỊCH SỬ”
                                                                                              
Gần đây, ý kiến “xét lại lịch sử”, “viết lại lịch sử” được nêu lên dưới một số hình thức với một số biến tướng khác nhau, nhưng qua biểu hiện của chúng có thể sơ bộ quy lại trong ba nhóm: Một là, Viết lại lịch sử vì cho rằng thiếu chân thực (về tư liệu) và thiếu hiểu biết (về phương pháp); Hai là, Viết lại lịch sử để tô vẽ bản thân; Ba là, Viết lại lịch sử với mưu đồ chính trị”.
Không rõ do động cơ và ý đồ không trong sáng, do thiếu hiểu biết và thiếu trách nhiệm, hay do “thói quen giật tít câu like hay comment” mà một số tờ báo, tạp chí đã góp phần làm sai lệch một số vấn đề lịch sử? với mức độ, tốc độ lan truyền thông tin như hiện nay, với sự thiếu trách nhiệm trong kiểm chứng hoặc thẩm tra độ chính xác của thông tin, thì điều này gây tác hại rất lớn. Như có tờ báo phỏng vấn “nhà cách mạng lão thành”, nhưng “nhà” này “nhớ nhầm”, nói sai, quy công lao, “tự nhận” thành tích về mình. Có sách lại viết về “nhân vật lịch sử quá cố” với bao niềm thương tiếc, trong khi chính người này lại vẫn sống khỏe mạnh. Có báo, sách công bố sai lệch nhiều tư liệu, chữa lại cả sự kiện lịch sử đã được khẳng định - mà cái “sự mới” do họ viết ra lại không dựa trên cơ sở khoa học nào… Những ấn phẩm đó mang danh viết về lịch sử nhưng lại làm “nhiễu”, sai lệch chân lý, kiến thức, gây mơ hồ và chính sự mơ hồ đó dẫn đến sai lệch trong tư duy, dẫn đến nghi vấn về sự thật.
Ðiều đáng nói là một số cơ quan, cán bộ có trách nhiệm tổ chức, quản lý công việc viết sử lại bỏ qua, giữ thái độ im lặng, “án binh bất động”, tuy họ thừa hiểu rằng làm như vậy là sai. Do đó, họ đã (vô tình hay hữu ý) im lặng trước một việc sai, có thể tiếp tay cho cái sai tiếp theo, đó là điều cần phê phán. Bên cạnh đó, việc một số cuốn sách, tờ báo thiếu cẩn trọng đưa thông tin sai sự thật tới công chúng, hoặc đưa thông tin không chính xác, thậm chí sai về lịch sử cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhận thức chung. Việc nghiên cứu và viết sử cần ở người viết một cái tâm trong sáng, khách quan, tầm nhìn rộng hơn ngoài chuyên môn sâu của mình để phân định điều gì của lịch sử đã được khẳng định, điều gì còn là tồn nghi, điều gì bị chi phối bởi “tâm lý xã hội”.
Nhu cầu hiểu biết về quá khứ luôn là một đòi hỏi của con người. Nhà sử học Nga O Va-in-xten cho rằng: “Lịch sử là sự tập hợp những tấm gương để cho người ta bắt chước những hành vi tốt và tránh đi những hành vi xấu”. Các bài học, kinh nghiệm từ quá khứ lịch sử vẫn mang những giá trị to lớn đối với xã hội hiện tại. Để động viên nhân dân trong cuộc đấu tranh giành lại độc lập dân tộc năm 1942, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Dân ta phải biết sử ta. Sử ta dạy cho ta những chuyện vẻ vang của tổ tiên ta. Dân tộc ta là con Rồng, cháu Tiên, có nhiều người tài giỏi,… yêu dân trị nước tiếng để muôn đời”; “Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn…”. Sự khách quan, tính trung thực chính là điều làm cho sử học hấp dẫn, hứng thú khi đọc và học lịch sử cũng bắt nguồn từ đó. Nhưng lịch sử không cần và không chấp nhận việc “xét lại lịch sử”, “viết lại lịch sử” với tầm nhìn hẹp, hoặc từ cái tâm thiếu trong sáng.

                               Bình Nguyễn
                 


“Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không"
Chiến thắng của nhân tố chính trị, tinh thần
Cách đây hơn bốn thập kỷ, thời gian càng lùi xa, càng cho chúng ta có cái nhìn toàn diện và sâu sắc về sự kiện trọng đại  – “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”. Đó là biểu tượng cao đẹp về sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, thể hiện bản lĩnh, trí tuệ, tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Chiến thắng  “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” là kết quả tổng hợp của nhiều nhân tố, trong đó nhân tố chính trị, tinh thần có ý nghĩa quyết định và thể hiện trước hết ở sự  lãnh đạo, chỉ đạo tài tình, sáng suốt của Đảngvà Chủ tịch Hồ Chí Minh. Với tư duy chính trị, quân sự sắc sảo, độc đáo, Đảng tavà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận ra âm mưu, thủ đoạn thâm độc của đế quốc Mỹ ngay từ những  năm 1960 và dự báo: “Sớm muộn đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B-52 ra đánh Hà Nội”. “Mỹ sẽ nhất định thua, nhưng nó chỉ thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.
Từ dự báo chiến lược đó, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho Quân chủng Phòng không - Không quân và các quân khu: Phải sẵn sàng đối phó với khả năng Mỹ đưa không quân chiến lược đánh phá trở lại miền Bắc. Những dự báo cùng những chỉ thị, chỉ đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu vang lên như lời hịch kêu gọi toàn dân, toàn quân ta với ý chí quyết tâm dám đánh, biết đánh và quyết thắng giặc Mỹ xâm lược.
Từ 18/12 đến 30/12/1972, Quân và dân Hà Nội mà nòng cốt là các lực lượng phòng không - không quân đã làm nên chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”, giáng đòn quyết định vào cố gắng cuối cùng của Mỹ, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri về kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, tạo ra bước ngoặt lịch sử làm tiền đề để đi đến thắng lợi của sự nghiệp giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước.
Kỷ niệm 45 năm Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” vừa là dịp để chúng ta cùng nhau ôn lại chiến công hào hùng của quân và dân ta, đồng thời, thêm một lần khẳng định tầm nhìn chiến lược, sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là sức mạnh của cuộc chiến tranh chính nghĩa - cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc đã nhận được sự giúp đỡ to lớn, hiệu quả của các nước XHCN anh em; sự đồng tình, ủng hộ mạnh mẽ của các lực lượng cách mạng, hòa bình và của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới. Đó còn là sự thể hiện sức sống mãnh liệt của học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh cách mạng.
Tự hào về Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta đã và đang vượt qua thử thách, vươn lên giành thắng lợi mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, khó lường. Vì vậy, chúng ta phải xây dựng, chuẩn bị toàn diện, nhằm huy động cao nhất sức mạnh tổng hợp của cả nước, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới. Trong các nhân tố đó, xây dựng và phát huy nhân tố chính trị, tinh thần của quân và dân vẫn giữ vai trò đặc biệt quan trọng.
Để xây dựng và phát huy nhân tố chính trị, tinh thần trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, trước hết phải giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; trang bị vũ khí, kỹ thuật ngày càng hiện đại cho lực lượng vũ trang trước hết cho một số lực lượng, trong đó có bộ đội phòng không - không quân. Chủ động xây dựng, phát triển, huy động tiềm lực chính trị - tinh thần sẵn có thành sức mạnh chính trị - tinh thần khi chiến tranh xảy ra nhằm, đó là sự chủ động bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới.
Gần 45 năm đã qua, trở lại với một sự kiện lịch sử mà tầm vóc, ảnh hưởng và ý nghĩa của nó không chỉ đối với Tổ quốc - dân tộc Việt Nam mà còn vang vọng khắp năm châu bốn biển. Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” gợi mở nhiều vấn đề chúng ta cần phải tiếp tục tìm tòi, làm sáng tỏ thêm về sự kiện lịch sử này, đúc rút những bài học về phát huy nhân tố chính trị, tinh thần trong nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. 
                                                                  Hùng Mạnh



Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...