Thứ Hai, 24 tháng 4, 2017

THẮNG LỢI CỦA CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG
VÀ NỔI DẬY MÙA XUÂN 1975 - THẮNG LỢI CỦA
TƯ TƯỞNG NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ HỒ CHÍ MINH

                                                                                                                                                                        HC

Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 đã ghi vào lịch sử của dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính chất thời đại sâu sắc. Đó cũng là thắng lợi của tư tưởng nghệ thuật quân sự Hồ Chí Minh.
Tuy nhiên, trên các phương tiện thông tin đại chúng vẫn còn một vài bài viết của một số tác giả có dụng ý xuyên tạc, hạ thấp thắng lợi vĩ đại của dân tộc, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, nghệ thuật quân sự nói riêng và vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Đây là một biểu hiện không bình thường, dù vô tình hay cố ý nhưng đã cổ súy cho tư tưởng “chống Cộng” của các thế lực thù địch, chống phá cách mạng nước ta, đi ngược lại truyền thống hào hùng của dân tộc. Từ các góc độ tiếp cận khác nhau, bài viết này xin được làm sáng tỏ thêm, vai trò của Đảng trong vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về nghệ thuật quân sự vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc, nhân tố quyết định thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.
Trước hết, thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 là thắng lợi của nghệ thuật nắm vững tư tưởng chiến lược tiến công, luôn giữ quyền chủ động.
Tư tưởng tiến công, “kiên quyết không ngừng thế tiến công” là nét đặc sắc trong nghệ thuật quân sự Hồ Chí Minh. Theo Hồ Chí Minh, chỉ có tiến công mới giành được thế chủ động, giành được thế chủ động mới phát triển được thế tiến công. Đồng thời Người cũng chỉ rõ, muốn tiến công phải chuẩn bị tốt về mọi mặt. “Chuẩn bị càng đầy đủ, thật đầy đủ, thì thời giờ tổng phản công càng mau chóng”[1].
Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đã khẳng định tính đúng đắn đường lối quân sự của Đảng trong chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Một trong những biểu hiện đúng đắn, sáng tạo đó là Đảng ta luôn nắm vững và quán triệt sâu sắc tư tưởng chiến lược tiến công, tích cực chủ động xây dựng, phát triển lực lượng rộng khắp trong cả nước; gắn bó chặt chẽ giữa hậu phương với tiền tuyến, giữa xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân với xây dựng lực lượng chính trị hùng hậu của quần chúng, giữa các binh đoàn chủ lực với lực lượng vũ trang địa phương. Đặc biệt, coi trọng xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng có khả năng tiêu diệt lớn quân chủ lực của địch trên các mũi, các hướng chủ yếu và địa bàn chiến lược quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ.
Hai là, thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 là thắng lợi của nghệ thuật phát huy sức mạnh tổng hợp.
Chiến tranh là sự thử thách toàn diện giữa các bên tham chiến, muốn giành thắng lợi nhất thiết phải mạnh hơn đối phương. Hồ Chí Minh cho rằng, “không dùng toàn lực của nhân dân về đủ mọi mặt để ứng phó, không thể nào thắng lợi được”[2]. Theo đó, toàn dân đánh giặc phải gắn với đánh giặc toàn diện; phát huy lực lượng toàn dân mới thực hiện được đánh giặc toàn diện, đánh giặc toàn diện cũng là nhằm huy động cao nhất lực lượng của toàn dân để giành thắng lợi.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tư tưởng về phát huy sức mạnh tổng hợp đã được quân và dân ta phát triển đến đỉnh cao của nghệ thuật quân sự Hồ Chí Minh. Nổi bật là sáng tạo của quân và dân ta trong việc kết hợp chặt chẽ giữa các hình thức, lực lượng, quy mô tác chiến của ba thứ quân, đánh địch bằng cả ba mũi giáp công, trên cả ba vùng chiến lược và giữa đánh lớn, đánh vừa và đánh nhỏ... Đó cũng là thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa đường lối chính trị đúng đắn với đường lối quân sự tài giỏi, giữa chiến lược cách mạng với phương pháp cách mạng sáng tạo của Đảng ta trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Chính vì vậy, chúng ta đã huy động được cao nhất nguồn sức mạnh chính trị - tinh thần và nguồn sức mạnh vật chất của mọi lực lượng, phương tiện, hình thức, qui mô trên các lĩnh vực quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, ngoại giao tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn áp đảo, đè bẹp sự phản kháng của địch, tiến lên giành toàn thắng.
Ba là, thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 là thắng lợi của Nghệ thuật tạo lực, lập thế, tranh thời và dùng mưu
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử là thể hiện sự vận dụng sáng tạo nghệ thuật quân sự Hồ Chí Minh về tạo lực, lập thế, tranh thời, dùng mưu và phát huy các nhân tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Về lực, Đảng ta chủ trương huy động sức mạnh của toàn dân cả về vật chất và tinh thần, xây dựng lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị quần chúng, phát huy sức mạnh tổng hợp của dân tộc và thời đại, sức mạnh của hậu phương và tiền tuyến, sức mạnh ở chiến trường và sức mạnh của địa phương tại chỗ.
Cùng với tạo lực, Đảng ta luôn chú trọng và phát huy cao độ thế mạnh của cuộc chiến tranh chính nghĩa, được lòng dân. Đồng thời, chỉ đạo tích cực xây dựng, phát triển thế trận thuận lợi trên toàn bộ chiến trường, chặn hướng tiến công chính của địch, bao vây, chia cắt địch, làm thay đổi thế và lực trên chiến trường, chủ động tổ chức những trận đánh then chốt, thúc đẩy thời cơ đến gần. Khi thế và lực của ta đã có, thời cơ đã đến còn phải biết dùng mưu. Mưu trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 được thể hiện trong toàn bộ các chủ trương, kế hoạch chiến lược, chiến dịch, tài chỉ huy, thao lược của tướng lĩnh, binh sĩ trong chiến đấu, tài nghi binh đánh lừa địch... Trong chiến tranh nhân dân, mưu kế, mưu lược là của nhân dân, của toàn quân, của mỗi cán bộ, chiến sĩ, không riêng gì của bộ thống soái.
Việc Bộ chính trị quyết định chọn Tây Nguyên làm hướng tiến công mở màn là thể hiện nghệ thuật nghi binh lừa địch tài giỏi của Đảng ta. Tiếp đó, thừa thắng xốc tới Bộ chính trị quyết định mở chiến dịch Huế - Đà Nẵng đập tan ý đồ “tử thủ” của địch trong một thời gian ngắn, làm thay đổi tương quan so sánh lực lượng về mặt chiến lược, hoàn toàn có lợi cho ta, tạo điều kiện để tập trung một lực lượng lớn vào trận quyết chiến tại Xuân Lộc - “cánh cửa thép” vào Sài Gòn. Sau thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên và chiến dịch Huế - Đà Nẵng, Bộ chính trị đã nhận định, thời cơ chiến lược mới đã đến, ta có đủ khả năng và lực lượng để kết thúc chiến tranh ngắn hơn so với thời gian dự kiến. Theo đó, chiến dịch giải phóng Sài Gòn được mang tên chiến dịch Hồ Chí Minh với quyết tâm “thần tốc, táo bạo, quyết thắng”. Đến sáng 30/4/1975, năm cánh quân của ta từ năm hướng đồng loạt tiến thẳng vào Sài Gòn, chiếm Dinh Độc lập và các mục tiêu trọng yếu, bức hàng Chính phủ ngụy quyền, làm tan rã hoàn toàn bộ máy chính quyền của chúng, giành thắng lợi hoàn toàn.
 Bốn là, Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 - thắng lợi của nghệ thuật biết thắng từng bước.
Đại thắng mùa Xuân 1975 là thắng lợi của nghệ thuật quân sự, “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”. “Thắng từng bước là qui luật phản ánh tính tất yếu của chiến tranh cách mạng đối với các dân tộc nhỏ, chống lại chiến tranh xâm lược của các nước đế quốc có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh, có đội quân xâm lược nhà nghề. Đồng thời, đó cũng là qui luật giành thắng lợi của Cách mạng việt Nam.
Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngay từ đầu Đảng ta đã xác định phương châm chỉ đạo cách mạng miền Nam, phát triển theo hướng giành thắng lợi từng phần, tiến tới tổng công kích, tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi hoàn toàn. Nghị quyết Trung ương 9 (12/1963) chỉ rõ: “Đánh lui địch từng bước, giành thắng lợi từng phần, tiến tới giành thắng lợi toàn bộ”[3]. “Thắng từng bước”, còn được Đảng ta nhấn mạnh là “phải biết thắng từng bước cho đúng… để tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn”[4].
 Thực tế cho thấy, sau thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu thân 1968, như “một đòn sét đánh” làm cho Mỹ, ngụy choáng váng, buộc Mỹ từng bước xuống thang, rút quân về nước và chuyển sang thi hành chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, hòng kéo dài chiến tranh ở nước ta. Cuối năm 1972, quân và dân miền Bắc đã đánh bại lần thứ hai cuộc tập kích đường không của quân đội Mỹ, làm nên thắng lợi “Điện Biên phủ trên không”, buộc Mỹ phải ký hiệp định Pari (1/1973), rút hết quân về nước. Nắm vững phương châm chiến lược “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”, Đảng ta đã hạ quyết tâm nhanh chóng giải phóng hoàn toàn miền Nam, càng sớm càng tốt và đã làm nên đại thắng mùa Xuân 1975, thống nhất Tổ quốc.
Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, không những là thắng lợi của nghệ thuật quân sự biết thắng từng bước mà còn là thắng lợi của nghệ thuật biết khởi đầu và kết thúc chiến tranh đúng lúc trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh đã được Đảng ta vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đồng thời, thực hiện triệt để lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thống nhất nước nhà là con đường sống của nhân dân ta”[5]. Khẳng định giá trị to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và về quân sự nói riêng đối cách mạng Việt Nam, trong cuốn sách “Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết: “Tư tưởng cách mạng và tư tưởng quân sự của Bác đã mang về thắng lợi trọn vẹn cho sự  nghiệp giải phóng dân tộc”[6].
Ngày nay, chúng ta đang ra sức thực hiện thắng lợi hai chiến lược cách mạng, xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh tình hình thế gới, trong nước có nhiều biến động phức tạp, khó lường... Những thành quả mà nhân dân ta đã giành được là rất to lớn, rất đáng tự hào, cần phải được bảo vệ và phát triển vào điều kiện, hoàn cảnh mới của đất nước. Tuy nhiên, để đi tới thắng lợi cuối cùng, đòi hỏi mỗi chúng ta cần phải tiếp tục nghiên cứu một cách sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, nghệ thuật quân sự nói riêng, trên cơ sở đó biết vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo phù hợp với sự phát triển của tình hình mới, theo đúng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Đồng thời, phải thường xuyên nêu cao cảnh giác cách mạng, tích cực, chủ động đấu tranh phản bác với các quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch, hòng xuyên tạc, bóp méo lịch sử dân tộc, lịch sử chiến tranh cách mạng Việt Nam, phủ nhận tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh và vai trò của Đảng đối với cách mạng nước ta, nhất là tình hình hiện nay.



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.2011, Tập 7, tr. 31
[2]Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.2011, Tập 4, tr. 344.
[3] ĐCSVN, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 24, tr. 832
[4] ĐCSVN, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 34, tr. 142
[5] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.2011, Tập 10, tr. 360
[6] Võ Nguyên Giáp, Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng, Nxb CTQG, Hà Nội.2000, tr 343.

Thứ Tư, 19 tháng 4, 2017

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC
GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM LÀ HOÀN TOÀN ĐÚNG ĐẮN, KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC
                                                                       Nghĩa Trí
  Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc là một tư tưởng khoa học và cách mạng, điều đó được Đảng ta vận dụng trong toàn bộ tiến trình cách mạng giải phóng dân tộc giành độc lập và tiếp tục theo đuổi lý tưởng xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đó là tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Thế nhưng trong tình hình hiện nay, kẻ thù luôn tìm mọi cách xuyên tạc, bóp méo để tư tưởng của Người về vấn đề độc lập dân tộc nhằm hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh trong trái tim mọi người dân Việt Nam và nhân dân thế giới.
  Bằng cách thông qua việc sử dụng các cơ quan phát thanh, báo chí, xuất bản...cùng với thủ đoạn sử dụng Internet, mạng xã hội và blog có nội dung xấu, độc hại, liều lượng, tần xuất ngày càng tăng. Chúng tập trung tuyên truyền, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta. Chúng xuyên tạc chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là trước thềm đại hội Đảng các cấp. Chúng cho rằng, Hồ Chí Minh thực chất chỉ là người “dân tộc chủ nghĩa”. Chúng cố chứng minh tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, không có gì quý hơn độc lập tự do của Hồ Chí Minh là “phi nhân tính”.  Chúng suy luận: “Nhân dân Việt Nam đi theo con đường cách mạng Hồ Chí Minh là sai lầm, là đi vào ngõ cụt”... Do vậy, khi cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là “chủ nghĩa dân tộc” là một cách diễn đạt thiếu chính xác, không đầy đủ. Cách diễn đạt này dù vô tình hay hữu ý đã bỏ qua tính giai cấp, làm mờ đi lập trường, quan điểm giai cấp của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam. Với cách diễn đạt ấy đã tước bỏ nội dung cách mạng, tiên tiến nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh, hạ thấp tư tưởng Hồ Chí Minh và thực chất là để phủ nhận tư tưởng của Người. 
  Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc gắn bó thống nhất với tư tưởng của Người về chủ nghĩa xã hội. Người cho rằng, trong thời đại ngày nay, con đường phát triển tất yếu của cách mạng giải phóng dân tộc do đảng tiên phong của giai cấp công nhân lãnh đạo sẽ là tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Người khẳng định: cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn. Bởi: “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Và theo Người, chủ nghĩa xã hội là làm cho dân giàu, nước mạnh, mọi người được ăn no, mặc ấm, sung sướng, tự do; về bản chất, chủ nghĩa xã hội là một xã hội do nhân dân lao động làm chủ, một xã hội không có chế độ người bóc lột người, một xã hội bình đẳng, ai làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm là không hưởng; bảo đảm phúc lợi cho người già, trẻ mồ côi; một xã hội có nền sản xuất phát triển gắn liền với sự phát triển khoa học -kỹ thuật và không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân lao động. Đó là một xã hội có kỷ cương, đạo đức, văn minh, trong đó người với người là bạn bè, đồng chí, anh em, mọi người được phát triển hết khả năng của mình; hòa bình hữu nghị, làm bạn với các nước; một xã hội do nhân dân lao động làm chủ thực sự dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là sự phản ánh chính xác mục đích, lý tưởng, khát vọng và ham muốn tột bậc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Trong tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh, để bảo đảm vững chắc độc lập dân tộc, không rơi vào lệ thuộc, đói nghèo lạc hậu, chặng đường tiếp theo chỉ có thể là đi lên CNXH. Do những đặc trưng nội tại của mình, CNXH sẽ củng cố những thành quả đã giành được trong cách mạng dân tộc dân chủ, tạo điều kiện để bảo đảm cho độc lập và sự phát triển của dân tộc.
  Tư tưởng độc lập dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh mang một nội dung sâu sắc, triệt để là độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc. CNXH không chỉ củng cố những giá trị nêu trên mà còn làm phong phú về mặt nội dung, xác lập các điều kiện để hiện thực hóa các nội dung đó. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Chỉ có CNXH, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng triệt để các dân tộc bị áp bức khỏi ách nô lệ; chỉ có cách mạng XHCN mới bảo đảm cho một nền độc lập thật sự, chân chính. Hiện nay, đất nước chúng ta chuyển sang phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh mặt tích cực, kinh tế thị trường cũng tác động tiêu cực đến đời sống xã hội, nó kích thích chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng phát triển, coi tiền là tất cả mà coi thường đạo lý, coi nhẹ lý tưởng, tình đồng chí, làm băng hoại những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, làm tăng phân hóa giàu nghèo, khuyến khích lối sống hưởng thụ ích kỷ, không có tình nghĩa. Trong bối cảnh đó, nếu cán bộ, đảng viên không có bản lĩnh chính trị vững vàng, thiếu tu dưỡng, rèn luyện thường xuyên thì rất dễ dao động về lý tưởng, suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống, dễ sa ngã bởi những cám dỗ vật chất tầm thường, rơi vào vũng bùn của chủ nghĩa cá nhân.
  Như vậy, đấu tranh chống quan điểm sai trái như một nhiệm vụ tất yếu chúng ta cần làm và nhất định phải làm thật tốt. Để thực hiện được điều đó, cần nhận rõ các dạng quan điểm sai trái để có những đối sách phù hợp. Yêu cầu chung nhất của việc đấu tranh chống quan điểm sai trái chính là làm tốt công tác tư tưởng trong Đảng và toàn dân bằng cách tuyên truyền, tổ chức, giáo dục hướng tới sự thống nhất tư tưởng và thống nhất hành động trong toàn xã hội.





KHÔNG THỂ TÁCH RỜI
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỚI CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
                                                       Đồng Mạnh
Trong những năm gần đây, các thế lực thù địch đang tăng cường thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, chống phá cách mạng Việt Nam trên mặt trận tư tưởng, văn hóa nhằm làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào Đảng chế độ ngày một quyết liệt hơn, với âm mưu, thủ đoạn cũng tinh vi, xảo quyệt hơn. Trong đó, chúng tập trung phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng ta, xóa bỏ vị trí thống trị của hệ tư tưởng vô sản trong Đảng và trong xã hội, từ đó đòi thay nền tảng tư tưởng trong xã hội ta bằng hệ tư tưởng tư sản. Trong số những quan điểm chống phá đó, có quan điểm đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, nhưng cùng với đó phủ nhận học thuyết Mác - Lênin, với biện giải học thuyết này đã lỗi thời, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là “đáng giá” và rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ, bởi trong đó đã bao hàm chủ nghĩa Mác - Lênin, thậm chí còn cao hơn chủ nghĩa Mác - Lênin!
Chúng ta khẳng định quan điểm sai trái trên là rất nguy hiểm và thâm độc, vì chúng đã tách rời mối quan hệ biện chứng giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin. Quan điểm này thể hiện tính ngụy biện, dễ làm cho một số người cả tin, ngộ nhận khi chúng không phủ nhận sạch trơn nền tảng tư tưởng của Đảng ta mà lại nâng tầm một cách giả tạo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá một cách khách quan, chính xác, đầy đủ và sâu sắc vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với cách mạng Việt Nam. Ngay từ năm 1927, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh - đã viết: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”[1]. Theo Người, chủ nghĩa Mác - Lênin không những là “cẩm nang” thần kỳ, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động, mà còn là “mặt trời soi sáng” con đường chúng ta đi đến thắng lợi cuối cùng - CNXH và chủ nghĩa cộng sản. Trả lời phỏng vấn nhà báo Pháp Sáclơ Phuốcniô, ngày 15-7-1969, Hồ Chí Minh khẳng định: “…chính là do cố gắng vận dụng những lời dạy của Lê-nin, nhưng vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tế Việt Nam ngày nay, mà chúng tôi đã chiến đấu và giành được những thắng lợi to lớn như đồng chí đã biết. Chúng tôi giành được thắng lợi là do nhiều nhân tố, nhưng cần phải nhấn mạnh rằng… chúng tôi giành được những thắng lợi đó trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là chủ nghĩa Mác - Lênin”.
Khi nghiên cứu lịch sử hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta thấy rõ tư tưởng của Người có nguồn gốc từ chủ nghĩa Mác - Lênin. Người đã nghiên cứu, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin một cách cơ bản, hệ thống. Ngày 12-7-1946, trả lời trong cuộc họp báo tại biệt thự Roayan Môngxô, Hồ Chí Minh đã nói: “Tất cả mọi người đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa. Riêng tôi, tôi đã nghiên cứu chủ nghĩa Các Mác”. Hồ Chí Minh không bao giờ “tách mình” ra khỏi C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin để đưa ra các quan điểm riêng, mà như Người nói là “cố gắng vận dụng” tư tưởng của các nhà kinh điển đó, “nhưng vận dụng một cách sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam”Nếu không có chủ nghĩa Mác - Lênin thì không có tư tưởng Hồ Chí Minh. Chỉ khi tiếp nhận được chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mới thực sự được xác lập và phát triển.
Trong bài “con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lê-nin”, Hồ Chí Minh đã nói: trước khi đến với chủ nghĩa Lênin, “tôi ủng hộ Cách mạng Tháng Mười chỉ là theo cảm tính tự nhiên”[2], tham gia Đảng Xã hội Pháp vì họ ủng hộ cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức, còn “Đảng là gì, công đoàn là gì, CNXH và chủ nghĩa cộng sản là gì thì tôi không hiểu”[3]. Thế rồi, “Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có CNXH, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ[4].
Chủ nghĩa Mác - Lênin là nguồn gốc lý luận chủ yếu của sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Trước hết, chủ nghĩa Mác - Lênin đã cung cấp cho Hồ Chí Minh thế giới quan, phương pháp luận khoa học, những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời, đặt “hòn đá tảng” những vấn đề có tính nguyên tắc về lập trường quan điểm, về phương pháp chỉ đạo cách mạng. Những phạm trù cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh nằm trong những phạm trù cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Trên cơ sở nắm vững và quán triệt sâu sắc lập trường, quan điểm và phương pháp biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã tiếp thu được những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tinh hoa văn hóa phương Đông và phương Tây để hình thành tư tưởng của mình. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Những cống hiến đó có được trước hết do Người đã nắm được bản chất cốt lõi, “linh hồn sống” trong tư tưởng của các nhà kinh điển Mác - Lênin là phép biện chứng duy vật.
Hồ Chí Minh nghiên cứu, tiếp thu, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin không phải theo lối giáo điều, kinh viện, mà có sự phát triển, làm phong phú thêm chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện lịch sử mới. Người không bao giờ coi chủ nghĩa Mác - Lênin là “cái gì đã xong xuôi hẳn”, là “đơn thuốc vạn năng”, mà như Người nói: “Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được. Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”[5]. Trong bài “V.I.Lênin, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam” đăng trên báo Sự thật (Liên Xô), Hồ Chí Minh khẳng định: “Thắng lợi của cách mạng Việt Nam là một thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lênin ở một nước trước đây là thuộc địa. Những kinh nghiệm thành công của cách mạng Việt Nam cũng góp phần ít nhiều vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin”[6].
Bản chất của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là khoa học và cách mạng, “tuy hai mà một, tuy một mà hai”. Vì thế, không thể tách rời mối quan hệ vốn có giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin, không thể lấy tư tưởng Hồ Chí Minh để thay thế cho chủ nghĩa Mác - Lênin và ngược lại. Cũng không thể đề cao được tư tưởng Hồ Chí Minh, khi mà bằng cách này hay cách khác lại phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin. Đại hội XI của Đảng khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta,…”. Vì thế, những quan điểm tách rời chủ nghĩa Mác - Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh, hoặc đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin đều sai trái, thậm chí thù địch, với dụng ý xấu. Như thế, không phải là ca ngợi, đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh theo đúng giá trị đích thực, vốn có trong tư tưởng của Người. Trái lại, người ta muốn cô lập, tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi nguồn gốc lý luận chủ yếu của tư tưởng này là chủ nghĩa Mác - Lênin, làm suy yếu và tiến tới phủ định chính tư tưởng Hồ Chí Minh. Nguy hiểm của luận điểm sai trái đó là cùng một lúc nhằm ba mục tiêu: phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin; phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh; theo đó, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, hòng làm suy yếu và đi đến xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy, cần kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm sai trái, xấu độc đó để bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” mà Đại hội XII của Đảng đề ra.





[1] Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 2, tr.289, Nxb CTQG, H.2011.
[2] Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 12, tr.561, Nxb CTQG, H.2011.
[3] Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 12, tr.561, Nxb CTQG, H.2011.
[4] Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 12, tr.563, Nxb CTQG, H.2011.
[5] Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 1, tr.510, Nxb CTQG, H.2011.
[6] Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 13, tr.381, Nxb CTQG, H.2011. 

Thứ Hai, 10 tháng 4, 2017

LUẬN ĐIỆU: Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ĐE DỌA ỔN ĐỊNH
Ở VIỆT NAM LÀ HOÀN TOÀN BỊA ĐẶT VÀ PHI LÝ!

 

Thời gian gần đây, những kẻ phản động đã lợi dụng sự cố ô nhiễm môi trường biển miền Trung để tung tin bịa đặt, khuếch trương, tô vẽ vấn đề cho thật trầm trọng, thậm chí chúng cho rằng đó là thách thức chính trị đang diễn ra ở Việt Nam. Những luận điệu đó là hoàn toàn bịa đặt và phi lý.

Mới đây, trên trang mạng tiếng Việt của một hãng truyền thông nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam tung lên bài viết “Ô nhiễm môi trường đe dọa ổn định ở Việt Nam”. Bài viết này nhận định: “Hầu hết người Việt Nam bất bình với Đảng Cộng sản đã cho phép một công ty nước ngoài xả độc ra biển… Nhiều người dân miền Trung đã tham gia các cuộc biểu tình đòi được Formosa và chính phủ bồi thường quyền lợi thích đáng. Kể cả nhiều người không bị ảnh hưởng vì thảm họa này cũng bày tỏ sự bất bình. Điều này là đáng sợ đối với Đảng Cộng sản Việt Nam” (!)…
“Mượn gió bẻ măng” và “theo đóm ăn tàn”, những kẻ bất đồng chính kiến, những nhà “đấu tranh dân chủ”, một số tổ chức “xã hội dân sự” nhân cơ hội này tiếp tục có những động thái hô hào, cổ vũ cho cái gọi là “thúc giục mọi người chung tay để đấu tranh với vấn đề Formosa”. Nào là lén lút, âm thầm sản xuất phim về sự cố môi trường biển để tán phát trên mạng xã hội hòng mang đến “cho những người ở xa hiểu hơn vấn đề thảm họa môi trường ở Việt Nam”. Nào là kêu gào quyên góp, ủng hộ cho Quỹ “Thương về miền Trung” mà thực chất chỉ nhằm phục vụ cho các hoạt động lôi kéo, kích động những người dân nhẹ dạ cả tin tụ tập đông người để tạo áp lực với chính quyền. Nào là trao “thỉnh nguyện thư” của các tổ chức “xã hội dân sự” để vận động chính giới quốc tế can thiệp, hậu thuẫn cho ngư dân miền Trung khởi kiện Công ty Formosa.
Trong khi đó, lợi dụng chính sách bảo đảm tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta và được sự tiếp tay của thế lực thù địch bên ngoài, có kẻ đã kêu gọi, kích động giáo dân tụ tập, biểu tình, tuần hành, gây rối tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Có mặt và chứng kiến đoàn người đi khởi kiện Formosa, một “nhà báo độc lập” đã tuyên bố “hùng hồn”: “Lời khuyên của tôi mà có thể ngắn nhất, gọn nhất dành cho nhà cầm quyền Việt Nam là: Hãy trở về với nhân dân! Hãy trả lại cho nhân dân những gì đã bị cướp đi. Còn lời khuyên cho người dân Việt Nam là: Hãy giành lấy những gì của mình bởi vì tự do không bao giờ được cho không” (!)
Thật không khó để nhận diện những ý kiến, nhận định, hành vi trên không chỉ nhằm xuyên tạc, đánh lạc hướng dư luận, mà còn ra sức đơm đặt, dệt thêu, đánh tráo khái niệm, đánh đồng giữa vấn đề ô nhiễm môi trường biển với vấn đề chính trị, lợi dụng đấu tranh phòng, chống ô nhiễm môi trường biển để chống phá Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân và đoàn kết lương-giáo, làm lung lay niềm tin của nhân dân với Đảng và chế độ. 
Đã gần một năm trôi qua, sự cố ô nhiễm môi trường biển miền Trung do Formosa gây ra là một thảm họa môi trường biển lớn nhất xảy ra tại Việt Nam từ trước đến nay. Đại diện công ty này đã cúi đầu nhận lỗi trước Đảng, Nhà nước và toàn thể nhân dân Việt Nam, đồng thời đã cam kết bồi thường 500 triệu USD (tương đương hơn 11.000 tỷ đồng) để khắc phục sự cố nghiêm trọng này.
Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, Đảng và Nhà nước ta đã nhìn nhận: Sự cố môi trường biển miền Trung tháng 4-2016 diễn ra trên diện rộng, gây ra hậu quả lớn về kinh tế, xã hội, môi trường trước mắt và lâu dài; đã ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành đánh bắt, nuôi trồng, chế biến thủy, hải sản, làm muối, dịch vụ hậu cần nghề cá, du lịch; làm xáo trộn an ninh trật tự, gây tâm lý bức xúc, bất an trong một bộ phận nhân dân.
Để góp phần khắc phục hậu quả do sự cố môi trường này gây ra, Đảng, Chính phủ, các cấp, các ngành Trung ương và các cấp chính quyền địa phương đã khẩn trương đề ra các giải pháp để sớm ổn định cuộc sống và lao động của bà con ngư dân ở các tỉnh miền Trung. Ngày 29-9-2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định về định mức bồi thường thiệt hại cho bà con ngư dân tại 4 tỉnh: Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế bị thiệt hại vì sự cố môi trường biển do Formosa gây ra. Theo đó, có 7 nhóm đối tượng thiệt hại được xác định bồi thường gồm: Khai thác hải sản; nuôi trồng thủy sản; sản xuất muối; hoạt động kinh doanh thủy sản ven biển; dịch vụ hậu cần nghề cá; dịch vụ du lịch, thương mại ven biển; thu mua, tạm trữ thủy sản. Chỉ ít ngày sau đó, ngày 7-10-2016, Bộ Tài chính đã tạm cấp 3.000 tỷ đồng cho 4 tỉnh miền Trung bị thiệt hại. Từ đó đến nay, hầu hết ngư dân bị thiệt hại đã được nhận tiền đền bù từ khoản tiền này. Đại đa số bà con nhận tiền đền bù đều hài lòng, phấn khởi trước sự quan tâm hỗ trợ kịp thời của Đảng và Nhà nước. Nhiều gia đình nhận tiền bồi thường đã liên kết với nhau đóng tàu mới có công suất lớn để tiếp tục đánh bắt xa bờ, yên tâm lao động và từng bước ổn định cuộc sống.  
Có thể nói rằng, sự cố ô nhiễm môi trường biển miền Trung đã để lại cho chúng ta một bài học đắt giá về công tác quản lý môi trường. Một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự cố đáng tiếc này, theo như phân tích của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà, đó là do nhận thức, ý thức trách nhiệm về bảo vệ môi trường của chủ đầu tư, một số ngành, cấp chính quyền, tổ chức kinh tế còn hạn chế; tình trạng chú trọng lợi ích kinh tế trước mắt, coi nhẹ công tác bảo vệ môi trường còn khá phổ biến, nhất là trong quá trình thẩm định, xét duyệt, thực hiện các dự án đầu tư”.
Không chỉ kết luận công khai, chỉ rõ nguyên nhân gây ra thảm họa môi trường biển, Đảng, Nhà nước ta còn xác định cụ thể những tập thể, cá nhân liên quan đến trách nhiệm sự cố này. Mới đây, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã họp, xem xét, kết luận Ban cán sự Đảng Bộ Tài nguyên và Môi trường giai đoạn 2008-2016 và Ban cán sự Đảng UBND tỉnh Hà Tĩnh các nhiệm kỳ 2004-2011, 2011-2016 đã thiếu trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, buông lỏng quản lý; để xảy ra vi phạm trong công tác thẩm định, phê duyệt, chấp thuận thay đổi đánh giá tác động môi trường, cũng như sai phạm trong việc phê duyệt, cấp phép và quản lý nhà nước đối với dự án Formosa Hà Tĩnh. Những vi phạm, khuyết điểm của Ban cán sự Đảng Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ban cán sự Đảng UBND tỉnh Hà Tĩnh là nghiêm trọng, đến mức phải xem xét, thi hành kỷ luật. Cùng với đó, nhiều cán bộ lãnh đạo của Bộ Tài Nguyên và Môi trường, lãnh đạo Tổng cục Môi trường và lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh, lãnh đạo Ban quản lý Khu kinh tế Vũng Áng liên quan đến sự cố môi trường biển miền Trung cũng bị xem xét, xử lý kỷ luật. Điều đó cho thấy, Đảng và Nhà nước ta rất nghiêm minh đối với những tập thể, cá nhân vi phạm khuyết điểm, chứ không dung túng, bao che, “đóng cửa bảo nhau”, né tránh trách nhiệm để “mọi việc đâu lại vào đó”… như một vài ý kiến từng lan truyền trên mạng.
Sau sự cố môi trường biển miền Trung, Đảng và Nhà nước ta đã có thêm kinh nghiệm về việc nhìn nhận, đánh giá, giải quyết, xử lý những “điểm nóng” về môi trường, không ngừng nỗ lực tìm ra các giải pháp phù hợp, khả thi để vừa đẩy nhanh phát triển kinh tế-xã hội mà vẫn bảo đảm giữ gìn, bảo vệ được môi trường trong lành. Đúng như Thủ tướng Chính phủ đã tuyên bố, cam kết trước quốc dân đồng bào: “Đã đến lúc chúng ta phải thay đổi tư duy phát triển, không đánh đổi môi trường lấy kinh tế gây ảnh hưởng cuộc sống bình yên của người dân!”.
Thông điệp đó của người đứng đầu Chính phủ cùng ý chí quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân ta đang chung sức, nỗ lực khắc phục hậu quả sự cố ô nhiễm môi trường biển miền Trung bước đầu đã đạt được hiệu quả tích cực, là minh chứng rõ ràng, nhất quán về con đường, mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Đó cũng là minh chứng phủ nhận, bác bỏ những luận điệu sai trái, thù địch lợi dụng vấn đề ô nhiễm môi trường biển miền Trung để chống phá Đảng, Nhà nước và chống phá cách mạng Việt Nam.  

                                                                                                 Q.C.504

Thứ Hai, 3 tháng 4, 2017

CHỐNG LẠI ÂM MƯU LỢI DỤNG CHIÊU BÀI TÔN GIÁO CỦA
CÁC THẾ LỰC PHẢN ĐỘNG, THÙ ĐỊCH

 

Chiêu bài tôn giáo mà các thế lực phản động, thù địch đang sử dụng hiện nay là âm mưu để chúng kích động, gây rối, phá hoại, gây mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội đối của đất nước ta. Chiêu bài này, được chúng xem như những cách làm dân chủ, nhân quyền, dân tộc mà chúng đã và đang chuốc lấy thất bại.

Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo. Mặc dù nguồn gốc, đặc điểm và thời điểm hình thành, phát triển của mỗi tôn giáo có khác nhau, nhưng nhìn chung các tôn giáo luôn có tinh thần bao dung, đoàn kết, gắn bó trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Cộng đồng các tôn giáo ở Việt Nam luôn đồng hành cùng dân tộc, hòa chung cùng niềm vui và nỗi đau của dân tộc trong những thời khắc lịch sử, góp phần phát triển và làm rạng rỡ nền văn hoá Việt Nam phong phú, đa dạng và đặc sắc. Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các tôn giáo đã đóng góp xứng đáng vào thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược và tiếp tục phát huy trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhiều chức sắc tôn giáo, tăng ni, phật tử đã làm tốt việc đạo, việc đời, hướng dẫn tín đồ chấp hành đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, sống “tốt đời, đẹp đạo”, “kính Chúa yêu nước” được ghi nhận và tôn vinh.
Nhận thức đúng vai trò của các tôn giáo và các tín đồ tôn giáo, Đảng và Nhà nước ta luôn có quan điểm, chính sách đúng đắn về vấn đề này và khẳng định: “Tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới”; trên cơ sở đó, thường xuyên quan tâm, tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hệ thống giáo lý, giáo luật và quy định của pháp luật Việt Nam. Đồng thời, chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc hoặc những hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trái quy định của pháp luật. Chính sách tôn giáo đúng đắn đó đã có tác dụng cổ vũ, động viên đồng bào theo đạo và các chức sắc tôn giáo phấn khởi, chung sức, chung lòng cùng cộng đồng, làm tròn nghĩa vụ, trách nhiệm công dân đối với Tổ quốc.
Thế nhưng với bản chất ngoan cố, hiếu chiến, thù địch và dã tâm xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, các thế lực thù địch, phản động đang điên cuồng chống phá Đảng, Nhà nước ta thông qua chiến lược “Diễn biến hòa bình” với mọi thủ đoạn tinh vi, thâm độc. Trong đó, vấn đề “tôn giáo” được chúng sử dụng như một vũ khí đặc biệt quan trọng để xuyên tạc, vu khống, kích động, phá hoại, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm mất ổn định chính trị-xã hội, tiến tới chuyển hóa chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Phương thức hoạt động chủ yếu của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị là kích động tâm lý mặc cảm, tư tưởng chống đối, hậu thuẫn về vật chất, tinh thần đối với những phần tử bất mãn, cực đoan, quá khích trong các tôn giáo; thúc đẩy thành lập các hội đoàn trái pháp luật trong xứ đạo để thách thức, chống phá chính quyền. Cùng với đó, chúng tiến hành các hoạt động chiến tranh tâm lý, phá hoại tư tưởng, gây hoang mang dư luận về sự đối lập hệ tư tưởng giữa “hữu thần” với “vô thần”, giữa thế giới quan tôn giáo với thế giới quan cộng sản hoặc vu cáo, xuyên tạc “Cộng sản diệt đạo”, “Nhà nước đàn áp tôn giáo”; từ đó, kích động mâu thuẫn, tập hợp lực lượng, tổ chức biểu tình, gây rối trật tự, mất ổn định an ninh chính trị, an toàn xã hội trên địa bàn...
Đáng chú ý, thời gian qua, lợi dụng những hạn chế, yếu kém trong quản lý, điều hành xã hội của chính quyền các cấp về vấn đề đầu tư, ô nhiễm môi trường, giải phóng mặt bằng, đền bù giải tỏa, … các phần tử cực đoan trong tôn giáo nói chung, công giáo nói riêng, ra sức “bới lông, tìm vết”, tổ chức các hoạt động vi phạm pháp luật Nhà nước, trái với giáo lý tôn giáo. Mới đây, trên trang mạng tiếng Việt của một hãng truyền thông nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam tung lên bài viết “Ô nhiễm môi trường đe dọa ổn định ở Việt Nam”, xuyên tạc rằng: “… hầu hết người Việt Nam bất bình với Đảng Cộng sản đã cho phép một công ty nước ngoài xả độc ra biển. Nhiều người dân miền Trung đã tham gia các cuộc biểu tình đòi Formosa và Chính phủ bồi thường quyền lợi thích đáng. Kể cả nhiều người không bị ảnh hưởng vì thảm họa này cũng bày tỏ sự bất bình...”(!),... Thế là ngay lập tức, những kẻ bất đồng chính kiến, những “nhà đấu tranh dân chủ”, một số tổ chức phản động nhân cơ hội này “theo đóm ăn tàn”, “tát nước theo mưa” nhao nhao hô hào, cổ súy “thúc giục mọi người chung tay để đấu tranh với vấn đề Formosa”. Lợi dụng chính sách tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta và được sự tiếp tay của các thế lực phản động bên ngoài, những kẻ cực đoan đội lốt tôn giáo kêu gọi, kích động giáo dân tụ tập, biểu tình, tuần hành, gây rối, tấn công người thi hành công vụ, đập phá phương tiện, cản trở hoạt động giao thông, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Khi chính quyền thực thi chức trách theo quyền hạn thì chúng vu cáo cơ quan chức năng “đàn áp, bắt giữ và đánh đập” người tham gia biểu tình; tán phát trên mạng xã hội “Thư ngỏ”, “Bản lên tiếng”, “Kháng thư”,… với nội dung vu cáo chính quyền bao che cho Formosa, “đàn áp, đánh đập” những người đi khiếu kiện đòi quyền lợi, kêu gọi người dân khởi kiện Formosa ra Tòa án hình sự quốc tế, “cùng đứng lên đuổi Formosa khỏi Việt Nam”,...
Với mưu đồ chống phá đến cùng, những kẻ cực đoan đội lốt tôn giáo đẩy mạnh tuyên truyền, kích động “con chiên ngoan đạo” rằng: “Không ngừng duy trì nhiệt huyết và tính liên tục của các cuộc tuần hành, tụ tập đông người phản đối chính quyền và yêu cầu Formosa ra khỏi Việt Nam vào chủ nhật hằng tuần. Các cuộc tuần hành cần tập trung vào một số địa điểm nhạy cảm, đông người, như: Nhà riêng các lãnh đạo địa phương, công sở, khu công nghiệp, … tại Nghệ An, Hà Tĩnh. Lấy vụ việc Formosa làm điểm nhấn để tăng cường khoét sâu mâu thuẫn giữa giáo dân nói riêng và nhân dân nói chung với chính quyền địa phương” và ủng hộ cái gọi là “cuộc chiến” hiện tại của giáo dân. Không những thế, họ còn thay đổi phương thức tụ tập sao cho bảo đảm tính thường xuyên, liên tục và sinh hoạt, hoạt động sản xuất của giáo dân. Mưu đồ của họ là “chia giáo xứ thành nhiều bộ phận theo các họ đạo, thay nhau tụ tập vào các ngày nghỉ, ngày chính quyền tổ chức cấp phát tiền đền bù, khi cần thiết mới huy động toàn xứ đạo tham gia; thay đổi quy luật, cách thức tụ tập tuần hành...
Tiếp tay cho hành động đó, Ủy ban Tự do Tôn giáo quốc tế/BNG (USCIRF) đã công bố tài liệu tổng kết tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam, với những đánh giá thiếu khách quan khi cho rằng: Việt Nam chưa thực sự tôn trọng quyền tự do tôn giáo. Tình trạng xâm phạm tự do tôn giáo vẫn diễn ra, nhiều nơi chính quyền địa phương và lực lượng an ninh thường xuyên sách nhiễu, phân biệt các tổ chức tôn giáo, bắt giữ những người “đấu tranh” cho tự do tín ngưỡng tôn giáo; đề nghị Chính phủ Mỹ cần sớm đưa Việt Nam trở lại danh sách những nước cần quan tâm đặc biệt về tôn giáo (CPC). Cùng với đó, các thành viên của cái gọi là “Đảng Việt Tân”, trú tại Mỹ thông qua các trang mạng tuyên truyền, xuyên tạc rằng: Đến thời điểm hiện tại (thang 4 năm 2017), Chính phủ Việt Nam “mới đền bù thiệt hại được một phần cho ngư dân, số tiền còn lại các cơ quan chức năng của Việt Nam gửi ngân hàng để chia chác kiếm lợi”; đồng thời, yêu cầu Việt Nam “đóng cửa” Công ty Formosa!... Thật nực cười! Chẳng hiểu họ lấy thông tin từ đâu, với tư cách gì mà có những nhận định và đòi hỏi hồ đồ như vậy. Phải chăng đây là hành động “vì dân, vì nước” của các nhà dân chủ, tổ chức lưu vong? Không, hoàn toàn không! Thực chất đó là những luận điệu lạc lõng, hại dân, hại nước, trò “lập lờ đánh lận con đen”, “đổ thêm dầu vào lửa” hòng đánh lừa dư luận, can thiệp vào tình hình tôn giáo ở Việt Nam, nhưng không che mắt được ai. Hành động của họ không vì cuộc sống của đồng bào ngư dân miền Trung mà chỉ là nhằm lợi dụng “vấn đề formosa” để kích động chống Đảng, Nhà nước và chế độ ta!
Chúng ta đều biết, đã gần một năm trôi qua, sự cố ô nhiễm môi trường biển miền Trung do Formosa gây ra là một thảm họa lớn nhất xảy ra tại Việt Nam từ trước đến nay. Để khắc phục hậu quả đó, Đảng, Chính phủ, các ban ngành Trung ương và cấp ủy, chính quyền địa phương đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt bằng các giải pháp đồng bộ nhằm sớm ổn định cuộc sống và lao động của bà con ngư dân các tỉnh miền Trung. Với nỗ lực đó, đại diện Công ty Formosa đã phải công khai nhận trách nhiệm và hứa sẽ không tái phạm; đồng thời, cam kết bồi thường 500 triệu USD (tương đương hơn 11.000 tỷ đồng Việt Nam) để khắc phục sự cố nghiêm trọng này. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định về mức bồi thường thiệt hại cho bà con ngư dân tại 4 tỉnh: Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế bị thiệt hại vì sự cố môi trường biển, theo 7 nhóm đối tượng, gồm: Khai thác hải sản; nuôi trồng thủy sản; sản xuất muối; hoạt động kinh doanh thủy sản ven biển; dịch vụ hậu cần nghề cá; dịch vụ du lịch, thương mại ven biển; thu mua, tạm trữ thủy sản. Các địa phương trong diện được đền bù đã thành lập ban quản lý, điều hành cấp phát cho bà con theo các nhóm đối tượng; Quy chế Dân chủ ở cơ sở được phát huy; những nơi làm chưa đúng được phát hiện và chấn chỉnh kịp thời. Đến nay, hầu hết những người bị thiệt hại đã được đền bù và đều hài lòng, phấn khởi trước sự quan tâm hỗ trợ thỏa đáng của Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp, tạo niềm tin vững chắc để họ tiếp tục yên tâm bám biển, vươn khơi đánh bắt hải sản, cải thiện cuộc sống gia đình, góp phần xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Thực tế là vậy, nhưng các thế lực phản động, phần tử cực đoan trong tôn giáo không những không thừa nhận, mà còn cố tình lờ đi như người không có mắt, hơn thế còn ra sức xuyên tạc, bịa đặt, “bóp méo sự thật”, “đổi trắng thay đen” về những gì đang diễn ra trên mảnh đất này. Thật nực cười, trớ trêu!
Sự chống phá quyết liệt của những kẻ cực đoan trong tôn giáo cùng sự “hà hơi, tiếp sức” của các thế lực thù địch bên ngoài nguy hiểm ở chỗ làm cho một số người “nhẹ dạ cả tin” trong bà con giáo dân lầm tưởng rằng việc làm đó là đi theo “tiếng gọi của Chúa” mang phúc lộc cho các con chiên ngoan đạo để rồi nghe lời xúi giục kích động của họ tham gia tụ tập, biểu tình, gây rối vi phạm pháp luật. Chúng ta hãy cảnh giác, chủ động và tích cực đấu tranh lật tẩy những mưu đồ đen tối, những kẻ đeo mặt nạ trá hình đội lốt tôn giáo trước ánh sáng công lý và pháp luật. Đó là việc cần làm và nhất thiết phải làm của tất cả những người Việt Nam yêu nước chân chính.
Q.C.504


Thứ Sáu, 31 tháng 3, 2017

BẢO VỆ ĐẢNG – TẤT YẾU PHẢI CHỐNG LẠI QUAN ĐIỂM
SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

Hội nghị giữa nhiệm kỳ Đại hội VII của Đảng (1/1994), đã đưa ra 4 nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng, của cách mạng Việt Nam là: Tụt hậu, chệch hướng, tham nhũng và diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch. Thời kỳ hiện nay, bốn nguy cơ đó vẫn còn tồn tại, thậm chí có mặt diễn biến phức tạp hơn, tinh vi hơn, nhất là khi kẻ thù và các thế lực phản động lợi dụng không gian mạng và các phương tiện thông tin, truyền thông để tung ra nhiều chiêu trò hòng xuyên tạc, chống phá các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng.
Tổng kết 30 năm đổi mới, trên cơ sở phân tích, nhận định, đánh giá và dự báo tình hình thế giới, khu vực và trong nước từ nay đến 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Văn kiện Đại hội XII của Đảng xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư tưởng, lý luận trong nhiệm kỳ tới là: “Tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch” .
Tuyên truyền quan điểm sai trái là một trong nhiều âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch đối với Việt Nam, mà bản chất là nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng với Nhà nước, xã hội; đòi xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện toan tính đó, các thế lực thù địch ráo riết đẩy mạnh đầu tư, hiện đại hóa trang thiết bị, các phương tiện thông tin, truyền thông, triệt để sử dụng Internet và địa chỉ truyền thông nước ngoài để phát tán tài liệu, tuyên truyền quan điểm xuyên tạc, vu cáo, gieo rắc thông tin xấu, độc hại hòng làm nhiễu loạn đời sống văn hóa, tinh thần của xã hội, làm nhân dân mất niềm tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Để phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc các vấn đề cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin (như học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, thời đại ngày nay và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, bản chất của chủ nghĩa tư bản hiện đại, giai cấp và đấu tranh giai cấp, học thuyết giá trị thặng dư)... kết hợp tuyên truyền quan điểm xuyên tạc, bóp méo sự thật nhằm phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin; phát tán tài liệu, ấn phẩm xuyên tạc cuộc đời hoạt động và tấm gương đạo đức của Người. Gần đây, trước, trong và sau Đại hội XII của Đảng, nhiều mạng xã hội đăng tải khá nhiều bài, tin, tranh ảnh chống phá quan điểm, chủ trương, đường lối, tung tin bịa đặt, vu khống, vu cáo lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Quân đội và Công an, đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đòi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”,... Đồng thời tuyên truyền kích động, phủ nhận chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phủ nhận vai trò kinh tế nhà nước, đòi tư nhân hóa đất đai; xuyên tạc tình hình dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền; kích động chia rẽ nội bộ Đảng và Nhà nước, gieo rắc hoài nghi, bi quan, bất bình trong nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và Quốc hội.
Đặc biệt, các thế lực thù địch đẩy mạnh việc tuyên truyền các quan điểm sai trái, đòi “phi chính trị hóa” Quân đội và Công an, phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp mọi mặt đối với Quân đội; tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng về công tác quân sự, quốc phòng, xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng thế trận lòng dân gắn với xây dựng an ninh nhân dân. Qua đó chúng trông đợi sẽ truyền bá tư tưởng, đạo đức, lối sống phương Tây vào quân đội, làm cán bộ, chiến sĩ mơ hồ, lơi lỏng nhiệm vụ, rơi vào lối sống thực dụng, từng bước tác động nhằm làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, xa rời bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc và truyền thống tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”.
Nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn thâm độc, nham hiểm của các thế lực thù địch, những năm qua, Đảng và Nhà nước chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức tốt việc phòng, chống các quan điểm sai trái và đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ, qua đó góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, giữ vững định hướng tư tưởng, nâng cao cảnh giác cách mạng, củng cố lòng tin trong cán bộ, đảng viên và quần chúng vào công cuộc đổi mới, từ đó đoàn kết, cố gắng thực hiện tốt hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó, cuộc đấu tranh chống các quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch còn có hạn chế nhất định. Văn kiện Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” còn bị động, hiệu quả chưa cao”. Biểu hiện cụ thể của hiện tượng này là một số hạn chế, bất cập trong nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân về âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Hơn thế nữa, tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường, quá trình mở cửa, hội nhập quốc tế,… đã làm cho một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và quần chúng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Cộng hưởng các nguyên nhân này đã làm cho một bộ phận cán bộ, đảng viên bị “lây nhiễm”, mắc bệnh “tự diễn biến” và tự đẩy mình vào quá trình “tự chuyển hóa”, như Văn kiện Đại hội XII của Đảng đã nhận định: “…những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có xu hướng diễn biến phức tạp trong Đảng, trong hệ thống chính trị và trong xã hội. Không ít cán bộ, đảng viên có những biểu hiện dao động, mất phương hướng, hoài nghi về vai trò lãnh đạo của Đảng, về mục tiêu, lý tưởng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đã xuất hiện những việc làm và phát ngôn vô nguyên tắc, trái với Cương lĩnh, đường lối, Điều lệ Đảng ở một số cán bộ, đảng viên”.
Trong thời gian tới, tình hình quốc tế, khu vực và trong nước còn diễn biến phức tạp, đối với sự nghiệp cách mạng nước ta, bên cạnh những thuận lợi là cơ bản, đã và sẽ còn có diễn biến khó lường với khó khăn, thách thức mới. Đặc biệt, trong quá trình chúng ta tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng, Nghị quyết trung ương 4 khóa XII về Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; Chỉ thị 05 – CT/TW về Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng,, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Điều đó cho thấy, cần phải chống tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên.
Trong bối cảnh ấy, các thế lực thù địch sẽ triệt để lợi dụng mọi phương tiện để chống phá, nhất là sử dụng không gian mạng, sử dụng các phương tiện truyền thông quốc tế để đẩy mạnh “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”… Tình hình đó đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống các quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch, góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”. Và để hoàn thành nhiệm vụ quan trọng đó, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cần quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc các chủ trương, đường lối, giải pháp mà Văn kiện Đại hội XII của Đảng đã xác định, đó là:
Kiên định Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Để đấu tranh chống các quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch một cách có hiệu quả, trước hết cần phải kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là đòi hỏi khách quan, yêu cầu có tính nguyên tắc và có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp đổi mới, đối với việc hoàn thành hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Văn kiện Đại hội XII của Đảng đã xác định cụ thể: “Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới” . Đồng thời, Văn kiện cũng xác định tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống các quan điểm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, cung cấp luận cứ khoa học, lý luận cho việc hoạch định, phát triển đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Đổi mới công tác tư tưởng, lý luận
Chúng ta khẳng định rằng, khi mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi công dân trong xã hội có sự giác ngộ sâu sắc về chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, về mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, về các đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thì không chỉ mỗi người mà toàn xã hội sẽ có bản lĩnh chính trị vững vàng, tự ý thức trong việc nâng cao khả năng “tự bảo vệ”, ngăn chặn sự xâm nhập, lây lan của tư tưởng ngoại lai đi ngược lý tưởng của Đảng, vô hiệu hóa các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch. Về điều này, Văn kiện Đại hội XII của Đảng đã xác định: “Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tính thuyết phục, hiệu quả của công tác tư tưởng phục vụ yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị, phù hợp với từng giai đoạn, tạo sự thống nhất trong Đảng, đồng thuận trong xã hội; đẩy mạnh tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phù hợp với từng đối tượng theo hướng cụ thể, thiết thực, hiệu quả”. Đồng thời, Văn kiện cũng xác định, đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục lý luận chính trị, học tập nghị quyết của Đảng. Thực hiện nền nếp việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là cấp Trung ương; tiếp tục đổi mới hệ thống chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị theo hướng nâng cao chất lượng, chú trọng tính hiệu quả và phù hợp với từng đối tượng.
Chủ động nâng cao chất lượng, hiệu quả đấu tranh ngăn chặn chống các quan điểm sai trái, thù địch
Một trong những biện pháp quan trọng trong đấu tranh chống các quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch là chủ động nghiên cứu dự báo, sớm phát hiện âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; kịp thời ngăn chặn việc tuyên truyền, phát tán các thông tin xấu độc, tài liệu xuyên tạc, sai trái, thù địch của chúng.
Cùng với việc sớm phát hiện để kịp thời ngăn chặn, cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của cấp ủy các cấp và người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, đặc biệt là các Ban Chỉ đạo về đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chuyên trách ở các cơ quan báo chí, truyền thông, các học viện, trường đại học, viện nghiên cứu, các lực lượng nòng cốt ở các ban, bộ, ngành và địa phương trong đấu tranh chống các quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch. Bảo đảm các hoạt động đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận theo đúng định hướng của Đảng, chặt chẽ về nguyên tắc, vững vàng về quan điểm chính trị, sâu sắc về lý luận khoa học, sắc bén trong phương pháp và đạt hiệu quả cao. Đồng thời, huy động lực lượng rộng rãi trong nhân dân, các dân tộc, tôn giáo và kiều bào ở nước ngoài, các tổ chức tiến bộ … tiến công chống các quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch, nhằm bảo vệ lẽ phải, chân lý, thực hiện sự tiến bộ xã hội.
Đẩy mạnh đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ
Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là “mảnh đất màu mỡ” để các thế lực thù địch đẩy mạnh “diễn biến hòa bình” chống phá nước ta trên các lĩnh vực, nhất là lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Các quan điểm sai trái, thù địch sẽ gây tác hại trong môi trường xã hội có sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và có những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Do vậy, đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” nói chung và chống các quan điểm sai trái, thù địch nói riêng phải gắn với việc đẩy mạnh đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Văn kiện Đại hội XII của Đảng đã xác định phải: “Ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” . Đồng thời, Văn kiện Đại hội XII nhấn mạnh phải kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, đấu tranh ngăn chặn chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, cục bộ, bè phái, “lợi ích nhóm”, nói không đi đôi với làm.
Như vậy, đấu tranh chống các quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch luôn được Đảng, Nhà nước, nhân dân và xã hội ta đặc biệt quan tâm. Đại hội XII của Đảng xác định đó là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư tưởng, lý luận trong nhiệm kỳ tới. Chúng ta tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành, quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân sẽ thực hiện thắng lợi chủ trương chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch, góp phần làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch.

                                                                                    Q.C.504

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...