Thứ Tư, 15 tháng 3, 2017



MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN
NÂNG CAO VĂN HÓA CHÍNH TRỊ VIỆT NAM HIỆN NAY
Phú Quốc
Văn hóa chính trị Việt Nam hiện nay là văn hóa chính trị hiện đại, mang bản chất của giai cấp công nhân, bao gồm tổng hòa các giá trị về chính trị mà nhân dân Việt Nam đã tạo ra dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tính chân, thiện, mĩ, hợp quy luật khách quan, xu thế thời đại của những giá trị đó đã được thực tiễn chứng minh và khẳng định. Do đó, việc giữ vững và nâng cao văn hóa chính trị Việt Nam hiện nay là yêu cầu khách quan, cần thiết và cấp bách để bảo đảm cho sự ổn định chính trị, tạo môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước vì sự phồn vinh, tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Để giữ vững và nâng cao văn hóa chính trị ở nước ta hiện nay cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó tập trung vào một số giải pháp cơ bản sau đây:
Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Thực tế cho thấy, sau khi đảm nhiệm sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta rất coi trọng và quan tâm xây dựng nền văn hóa Việt Nam nói chung, văn hóa chính trị của dân tộc nói riêng. Từ Nghị quyết đầu tiên của Đảng về văn hóa là Đề cương văn hóa năm 1943, đến nay Đảng ta đã có gần hai mươi Nghị quyết có tính chất chuyên đề về xây dựng văn hóa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, diện mạo đời sống chính trị của nhân dân ta đã thay đổi về chất và không ngừng được nâng cao, bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền lợi chính trị của người dân. Vì vậy, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam nói chung, với sự nghiệp xây dựng nền văn nói riêng, trong đó có văn hóa chính trị là giải pháp cơ bản quyết định nhất.
Giải pháp này đòi hỏi cấp ủy đảng các cấp phải quán triệt và thực hiện nghiêm các Nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Người đứng đầu các cấp ủy, tổ chức Đảng phải thực sự tiêu biểu về văn hóa chính trị mà cụ thể là: có sự hiểu biết từ cơ bản đến sâu sắc về chính trị; có phẩm chất đạo đức, nhân cách chính trị; có văn hóa lãnh đạo, quản lý, năng lực hiện thực hóa các Nghị quyết của Đảng phù hợp với yêu cầu, điều kiện của địa phương, cơ quan, đơn vị mình… luôn lấy việc bảo đảm lợi ích của tập thể, của cộng đồng dân tộc và quyền lợi của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Mỗi cán bộ lãnh đạo phải là tấm gương tiêu biểu về văn hóa chính trị, được cán bộ, đảng viên cấp dưới và nhân dân noi theo.
Hai là, đổi mới công tác tư tưởng, lý luận của Đảng; nâng cao chất lượng giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Sự phát triển của văn hóa nói chung, văn hóa chính trị nói riêng diễn ra bắt đầu từ nhận thức của con người. Đây vừa là chức năng, vừa là động lực phát triển của văn hóa. Nhận thức của con người sẽ chuyển hóa thành thái độ, động cơ và quyết tâm trong hoạt động thực tiễn. Nhận thức đúng sẽ có thái độ tích cực, động cơ đúng đắn, quyết tâm cao và ngược lại. Vì vậy, muốn phát triển văn hóa chính trị ở nước ta cần phải phát huy cao độ chức năng giáo dục của văn hóa theo định hướng chính trị của Đảng. Đó chính là hình thức hoạt động của công tác tư tưởng, lý luận mà Đảng ta đang tiến hành.
Tuy nhiên, trong điều kiện cụ thể của nước ta hiện nay, công tác tư tưởng, lý luận cần được đổi mới cả nội dung và hình thức. Trước hết cần củng cố nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của công tác tư tưởng, lý luận với tính cách là mặt trận xung kích trên con đường phát triển của đất nước và trong sự nghiệp xây dựng con người mới. Mặt khác, trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, cần định hình rõ mục tiêu của công tác tư tưởng, lý luận là vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; vì sự nghiệp xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội mang bản sắc Việt Nam. Đây chính là cơ sở, là tiêu chuẩn để xem xét tính phù hợp hay lỗi thời, lạc hậu của một số giá trị văn hóa đã ra đời trong bối cảnh xã hội khác xa hiện nay. Trong thực tiễn cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã nêu tấm gương sáng về việc tiến hành công tác tư tưởng, lý luận phù hợp với mục tiêu chính trị, môi trường chính trị và con người chính trị cụ thể. Do đó, Người đã để lại một hệ thống di sản văn hóa chính trị có giá trị to lớn đối với sự phát triển, tiến bộ của dân tộc, góp phần nâng cao giá trị của nền văn hóa chính trị Việt Nam hiện đại.
Nội dung cốt lõi của công tác tư tưởng, lý luận ở nước ta hiện nay là khẳng định giá trị, ý nghĩa vận dụng và sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Bên cạnh đó, cần làm rõ tính đúng đắn, giá trị nhân văn, nhân đạo trong các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nhiệm vụ của công tác tư tưởng, lý luận là khái quát và giải đáp về mặt nhận thức những vấn đề quan trọng của chính trị như: vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp trong điều kiện mới; vấn đề đảng chính trị và đảng cầm quyền trong xu thế dân chủ hóa; vấn đề kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa; vấn đề Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa… Song song với đó, nhiệm vụ hết sức quan trọng của công tác tư tưởng, lý luận là nâng cao chất lượng hiệu quả tuyên truyền, giáo dục làm cho các giá trị chính trị của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng giữ địa vị chủ đạo trong đời sống chính trị của mọi tầng lớp nhân dân, tạo tiền đề, điều kiện để nhân dân góp phần giữ vững và nâng cao văn hóa chính trị ở nước ta hiện nay.
Ba là, kết hợp chặt chẽ giữa phát huy các giá trị văn hóa chính trị truyền thống của dân tộc với tiếp thu và vận dụng sáng tạo các giá trị mới của nhân loại. Đặc trưng cơ bản của văn hóa là tính kế thừa và sáng tạo, văn hóa chính trị cũng không ngoại lệ. Vì vậy, chỉ có trên cơ sở giữ vững và phát huy các giá trị truyền thống mới có thể tiếp biến các giá trị mới của nhân loại. Trong các giá trị văn hóa chính trị truyền thống của dân tộc, có những giá trị bất biến như: yêu nước, đoàn kết, nhân văn nhân ái, tương thân, tương ái…cần được bổ sung tính chất mới để mở rộng không gian tồn tại cho các giá trị này. Bên cạnh đó có những giá trị đã không còn phù hợp với hiện thực cần được thay thế bằng các giá trị mới như: tư tưởng cá nhân, manh mún; gia trưởng, bảo thủ, trì trệ; quan niệm phép vua thua lệ làng; tư tưởng duy tình hơn duy lý…
Do đó, để làm giàu cho nền văn hóa chính trị của dân tộc, cần mở rộng hội nhập và giao lưu văn hóa với thế giới để chủ động lựa chọn, tiếp thu, cải biến những giá trị phù hợp với mục tiêu, lý tưởng, môi trường, truyền thống và con người chính trị Việt Nam. Đây là con đường ngắn nhất để phát triển nền văn hóa chính trị của dân tộc. Bởi lẽ, văn hóa là những giá trị chung của nhân loại, sự lan tỏa của văn hóa là tự nhiên do giá trị nội tại của nó quy định. Tuy nhiên, văn hóa lại mang bản chất giai cấp, cho nên, lựa chọn giá trị nào lại phụ thuộc vào định hướng chính trị của giai cấp cầm quyền.
Bốn là, nâng cao chất lượng, hiệu quả đấu tranh trên mặt trận tư tưởng - văn hóa; xây dựng và hoàn thiện các chuẩn mực văn hóa chính trị của con người Việt Nam trong thời kỳ hiện nay. Cùng với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng, tính chất cạnh tranh về không gian tồn tại của các giá trị văn hóa có bản sắc khác nhau cũng ngày càng gay gắt. Mặt khác, các chủ thể chính trị, nhất là các đảng cầm quyền đều nhận rõ vai trò chi phối của văn hóa nói chung, văn hóa chính trị nói riêng đối với con người và xã hội, cho nên cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa được coi trọng ở tất cả các quốc gia.
Theo đó, muốn giữ vững và nâng cao văn hóa chính trị ở nước ta hiện nay cần nâng cao chất lượng, hiệu quả cuộc đấu tranh tư tưởng - văn hóa. Đây là một quá trình vừa xây, vừa chống. Do vậy, một mặt, không ngừng bổ sung, phát triển làm gia tăng tính chính đáng và tính phổ quát của các giá trị văn hóa chính trị truyền thống của dân tộc; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; sáng tạo những giá trị mới về tư tưởng, hành vi và sản phẩm chính trị. Mặt khác, cần làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn, mục đích chính trị của việc truyền bá các giá trị chính trị mang bản chất giai cấp đối lập với bản chất của giai cấp công nhân vào nước ta. Phát huy vai trò của hệ thống giáo dục, của cấp ủy, người đứng đầu các cấp chính quyền, các cơ quan, đơn vị trong việc phát hiện và ngăn chặn biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Cùng với việc nâng cao hiệu quả đấu tranh trên mặt trận tư tưởng - văn hóa, cần quan tâm đến sự nghiệp “trồng người” với tính cách là xây dựng các chủ thể của văn hóa chính trị. Sự nghiệp “trồng người” bao gồm một chỉnh thể các hoạt động có mục đích nhằm tạo ra những con người có phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Trong đó, việc xây dựng và hoàn thiện các chuẩn mực mà con người chính trị cần có là một yêu cầu quan trọng và có ý nghĩa thiết thực. Các chuẩn mực văn hóa chính trị bao gồm: chuẩn mực về tư tưởng; về phẩm chất đạo đức và năng lực công tác; về phương pháp và phong cách tham dự chính trị… Đây không chỉ là cơ sở để tiến hành công tác đào tạo, bồi dưỡng con người mới, mà còn là tiêu chuẩn để mỗi chủ thể chính trị phấn đấu, rèn luyện nhằm chiếm lĩnh các giá trị, chuẩn mực phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn đời sống chính trị.
Năm là, nâng cao hiệu quả công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn sự suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống; đẩy lùi nạn tham nhũng, lãng phí trong hệ thống chính trị. Thực tế cho thấy, hệ thống chính trị là bộ phận quan trọng nhất, có vai trò chi phối sự tồn tại, vận động phát triển của toàn bộ nền văn hóa chính trị; vừa là nơi chỉ đạo, tổ chức xây dựng văn hóa nói chung, văn hóa chính trị nói riêng, vừa là nơi biểu hiện tập trung và trực tiếp nhất của văn hóa chính trị. Một hệ thống chính trị trong sạch, đoàn kết, thống nhất ý chí, hành động, kiên định mục tiêu, lý tưởng chính trị và luôn vận hành thông suốt sẽ là tiền đề, điều kiện để xây dựng và phát triển một nền văn hóa chính trị đúng định hướng của giai cấp cầm quyền. Ngược lại, nếu một hệ thống chính trị chứa đựng những yếu tố như: Suy thoái về tư tưởng chính trị;  tha hóa về đạo đức, lối sống; tham nhũng, lãng phí; mất đoàn kết; lợi ích nhóm…thì sẽ là nguyên nhân làm suy thoái hoặc biến chất nền văn hóa chính trị. Bởi lẽ, những yếu tố đó sẽ phá hủy niềm tin của nhân dân với đảng cầm quyền, với mục tiêu, lý tưởng chính trị, tạo sự chia rẽ, mất đoàn kết và thiếu thống nhất trong lựa chọn giá trị chính trị, dẫn đến mất ổn định chính trị - xã hội.
Ở Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, hệ thống chính trị luôn được củng cố, hoàn thiện cả về cơ cấu tổ chức, phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức. Cho nên, hệ thống chính trị nước ta luôn tỏ rõ là hạt nhân của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; luôn lấy lợi ích của quốc gia dân tộc và quyền lợi của nhân dân làm mục tiêu tồn tại và phấn đấu. Vì vậy, trải qua hơn 70 năm xây dựng và phát triển, hệ thống chính trị đã góp phần quan trọng tạo nên nền văn hóa chính trị Việt Nam hiện đại ngày nay. Tuy nhiên, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; tham nhũng, lãng phí; quan liêu, xa dân của một bộ phận cán bộ, đảng viên đang trở thành lực cản cho sự phát triển của hệ thống chính trị với tính cách là căn bản, cốt lõi của nền văn hóa chính trị Việt Nam hiện đại. Vì vậy, tiếp tục quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI), nâng cao hiệu quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; đẩy lùi nạn tham nhũng, lãng phí trong hệ thống chính trị nói chung, cán bộ, đảng viên của hệ thống chính trị nói riêng là một trong những giải pháp cơ bản có ý nghĩa thực tiễn to lớn đối với sự nghiệp giữ vững và nâng cao văn hóa chính trị Việt Nam hiện nay./.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG “DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH” TRONG QUÂN ĐỘI TA HIỆN NAY



MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG “DIỄN BIẾN
HOÀ BÌNH” TRONG QUÂN ĐỘI TA HIỆN NAY
Thiên Thanh
Trong nhiều năm qua, các thế lực phản động, thù địch luôn coi Việt Nam là một trọng điểm chống phá bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Những thủ đoạn chủ yếu mà chúng thường xuyên sử dụng, đó là: tuyên truyền, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; tuyên truyền tư tưởng, đạo đức, lối sống thực dụng, ích kỷ, tôn thờ đồng tiền nhằm làm băng hoại phẩm chất, đạo đức và lối sống tốt đẹp của xã hội, của con người Việt Nam; lợi dụng vấn đề về dân tộc, tôn giáo và chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, “tự do tín ngưỡng” để kích động nhân dân chống lại Đảng, chính quyền Nhà nước; đi sâu khai thác những thiếu sót, khuyết điểm của một số cán bộ, đảng viên, từ đó xuyên tạc bản chất của Đảng, gây hoang mang tư tưởng, chia rẽ nội bộ Đảng, Nhà nước, gây “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta; v.v.
Đối với Quân đội, các thế lực thù địch và tay sai của chúng đặc biệt coi trọng việc tuyên truyền phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, làm xói mòn lòng tin của cán bộ, chiến sĩ đối với Đảng. Kích động tính tự do vô kỷ luật trong quân đội, gây mất đoàn kết trong nội bộ đơn vị, cơ quan. Mặt khác, chúng tìm mọi cách để mua chuộc, làm tha hóa đội ngũ cán bộ, sĩ quan các cấp, nhất là sĩ quan cao cấp, … Tất cả những điều đó nhằm làm cho mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta từng bước bị chệch hướng; cán bộ, chiến sĩ thờ ơ với chính trị, với tình hình của đất nước, sao nhãng nhiệm vụ được giao.
Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, khó lường. Sau 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng rất đáng tự hào, nhưng cũng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức cần tập trung giải quyết. Yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc đang đặt ra đối với Quân đội ta ngày càng nặng nề. Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt…Chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch”[1].
Trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch và những yêu cầu mới ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi quân đội ta phải tiếp tục nâng cao hơn nữa tính chủ động, tích cực trong đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình” của các lực lượng phản động, thù địch. Để thực hiện tốt nhiệm vụ đó, đòi hỏi công tác tư tưởng trong quân đội phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó tập trung làm tốt những vấn đề sau đây:
Một là, tăng cường quán triệt, giáo dục sâu sắc quan điểm, đường lối của Đảng, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho cán bộ, chiến sĩ trong quân đội. Đây là vấn đề quan trọng hàng đầu nhằm nâng cao giác ngộ chính trị và củng cố vững chắc trận địa tư tưởng trong quân đội. Thực hiện tốt điều này sẽ làm cho cán bộ, chiến sĩ luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng, nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, chủ động, sáng tạo giải quyết các vấn đề trong thực hiện nhiệm vụ, chức trách được giao. Các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần tích cực đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp giáo dục làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ nhận rõ tình hình của đất nước, nhiệm vụ quân đội trong tình hình mới. Vạch trần những âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” chống phá của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam nói chung, đối với Quân đội ta nói riêng. Thông qua đó, mỗi người nâng cao ý thức chính trị, ý thức cảnh giác cách mạng, tạo sức “đề kháng, miễn dịch” trước những quan điểm sai trái, phản động, những tư tưởng và hành động nguy hại như: cơ hội chủ nghĩa, thực dụng, lối sống cá nhân ích kỷ, cực đoan, xa hoa, truỵ lạc.
Hai là, kết hợp chặt chẽ và phát huy đồng bộ sức mạnh của công tác tư tưởng với công tác tổ chức và công tác chính sách nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác tư tưởng trong đấu tranh chống “diễn biến hoà bình” trong tình hình hiện nay. Xây dựng tư tưởng phải đi đôi với xây dựng tổ chức và giải quyết chính sách thì mới phát huy đồng bộ sức mạnh của công tác này. Trong xây dựng ý thức tư tưởng, không được xem nhẹ vai trò của công tác tổ chức và công tác chính sách. Nâng cao năng lực lãnh đạo của các tổ chức đảng các cấp, nhất là ở đơn vị cơ sở. Khắc phục triệt để hiện tượng mất đoàn kết, cục bộ, bè phái. Duy trì thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện và xử lý các trường hợp cán bộ, đảng viên mắc khuyết điểm.
Ba là, tích cực bồi dưỡng, rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống và năng lực hoạt động thực tiễn cho đội ngũ cán bộ chính trị các cấp, chính ủy, chính trị viên người chủ trì về chính trị ở đơn vị. Các tổ chức đảng phải thường xuyên chăm lo xây dựng bản lĩnh chính trị, nắm vững quan điểm tư tưởng trong các nghị quyết của Đảng, của Quân ủy Trung ương để khi có tình hình biến động phức tạp thì đủ sức lãnh đạo về chính trị tư tưởng, không để bị động, bất ngờ trước những âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Phải tăng cường chỉ đạo, quan tâm chăm lo bồi dưỡng nâng cao kỹ năng giáo dục chính trị đối với đội ngũ những người làm công tác chính trị tư tưởng, đối với cán bộ chính trị các cấp trong quân đội. Bởi vì, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Tư cách của chính trị viên có ảnh hưởng rất quan trọng đến bộ đội. Người chính trị viên tốt, thì bộ đội ấy tốt. Người chính trị viên không làm tròn nhiệm vụ, thì bộ đội ấy không tốt. Vô luận ở cấp bậc nào, chính trị viên có ba nhiệm vụ chính: Đối với bộ đội, Đối với nhân dân, Đối với quân địch… Đối với bộ đội, chính trị viên phải thân thiết như một người chị, công bình như một người anh, hiểu biết như một người bạn”[2].
Bốn là, tiếp tục thực hiện tốt việc đẩy mạnh xây dựng môi trường văn hoá quân sự, xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện, lấy xây dựng vững mạnh về chính trị làm cơ sở. Môi trường văn hoá quân sự đóng vai trò hết sức quan trọng trong giáo dục xây dựng tư tưởng và nhân cách quân nhân. Bởi giáo dục không nằm ngoài mối liên hệ biện chứng với các mối quan hệ xã hội và hoàn cảnh xã hội nhất định. Các đơn vị cơ sở là nơi trực tiếp giáo dục, định hướng thái độ, hành vi hoạt động của quân nhân. Chỉ có ở trong tập thể quân nhân có mục đích hoạt động thống nhất, mang ý nghĩa xã hội cao, có bầu không khí, tâm lý lành mạnh, dân chủ, đoàn kết, quan tâm đến nhau đúng mức, có các qui định chế độ chặt chẽ trong một môi trường văn hoá quân sự giàu tính lý tưởng, giàu lòng nhân ái, thấm đượm tình đồng chí đồng đội, có nếp sống chính qui hoá, có thẩm mỹ quân sự thì sẽ xây dựng, bồi dưỡng, rèn luyện nên những người quân nhân xứng đáng là “Bộ đội Cụ Hồ”.
Xây dựng Quân đội nhân dân vững mạnh về chính trị tư tưởng là cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, khả năng sẵn sàng chiến đấu và sức mạnh chiến đấu của quân đội. Là sức mạnh trực tiếp làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, đấu tranh thắng lợi trên mặt trận chính trị tư tưởng, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay./.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XII, Nxb CTQG-ST, Hà Nội, 2011, tr.148

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG-ST, Hà Nội, 2011, tr.484.

Thứ Hai, 27 tháng 2, 2017

VỀ CÁI GỌI LÀ “CHỦ NGHĨA CHIA RẼ VÀ CỰC ĐOAN DƯỚI HÌNH THỨC CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN”
                                                                                   Thanh Thiên
Trong các quan điểm, luận điệu xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin của các thế lực phản động hiện nay, có cái gọi là “chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan thể hiện dưới hình thức chủ nghĩa Mác - Lênin”. Thực chất của quan điểm này đem quy chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan, đối lập với tư tưởng đoàn kết giai cấp vô sản của chủ nghĩa Mác – Lênin.
Đây là sự quy chụp, áp đặt cho chủ nghĩa Mác - Lênin một cách vô căn cứ, vu khống, bịa đặt. Bởi vì chia rẽ, cực đoan không phải là bản chất của chủ nghĩa Mác - Lênin mà đó là tư tưởng sai lầm của những người theo chủ nghĩa chia rẽ, bè phái, tả khuynh hoặc hữu khuynh... Chủ nghĩa Mác - Lênin là một hệ thống các nguyên lý, quy luật khoa học phản ánh những quy luật khách quan của thế giới, dựa trên phương pháp biện chứng duy vật với các quan điểm khách quan, toàn diện, phát triển, lịch sử - cụ thể và thực tiễn chứ không phải dựa trên chia rẽ và cực đoan, phiến diện, không thể đồng nhất, lẫn lộn những sai lầm đó với chủ nghĩa Mác - Lênin.
Trên thực tế, như chúng ta biết, Mác, Ăngghen, Lênin luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, thống nhất trong phong trào cách mạng. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Mác và Ăngghen đã đưa ra khẩu hiệu “vô sản toàn thế giới hãy đoàn kết lại!”. Về sau này Lênin bổ sung thêm: “Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức hãy đoàn kết lại”. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, xây dựng các chính đảng cách mạng, Mác, Ăngghen, Lênin đều yêu cầu phải đoàn kết, thống nhất để tạo thành sức mạnh của tổ chức cách mạng. Lênin coi giữ gìn sự đoàn kết trong Đảng Cộng sản như giữ gìn con ngươi của mắt mình.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn giương cao ngọn cờ đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, đoàn kết toàn dân, đoàn kết toàn Đảng. Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy khi nào đoàn kết thì thắng lợi, chia rẽ là thất bại. Đảng đấu tranh chống lại tư tưởng và hành động cực đoan, phiến diện, duy ý chí, chia rẽ, bè phái. Coi chia rẽ, bè phái là một trong những tội nặng nhất, làm phá hoại tổ chức đảng. Tổng kết 80 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Cương lĩnh năm 2011 của Đảng đã đúc rút bài học quan trọng: “Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đó là truyền thống quý báu và là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công”. Đảng cũng khẳng định, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực chủ yếu, là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam.
Có ý kiến cho rằng “ngày nay chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan làm cho Việt Nam hòa bình đã 40 năm, song vẫn còn bị chia rẽ”.
Ý kiến trên đây là cực đoan, võ đoán, bất chấp thực tế lịch sử. Trước kia đất nước bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị - xã hội khác nhau là do sự xâm lược của đế quốc Mỹ muốn xâm chiếm Việt Nam, chia cắt đất nước ta. Để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, nhân dân ta phải tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trong suốt 21 năm. Đến ngày 30-4-1975 với Chiến dịch Hồ Chí Minh đại thắng, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước được hòa bình, thống nhất, không còn bị chia rẽ. Hiện nay, đối với những người đã từng tham gia chế độ cũ trước đây, đường lối của Đảng và Nhà nước ta là khép lại quá khứ, hướng tới tương lai, lấy lợi ích của Tổ quốc, của dân tộc làm mẫu số chung để đoàn kết toàn dân; lấy dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm mục tiêu chung, làm điểm tương đồng; xóa bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, tôn trọng những người có ý kiến khác, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; thực hiện hòa hợp dân tộc, đề cao truyền thống nhân nghĩa, khoan dung… để tăng cường đồng thuận xã hội, tập hợp đoàn kết mọi người vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chỉ có những người nào sau 40 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước rồi nhưng vẫn ôm mối hận thù dân tộc, vẫn bị định kiến chi phối, không vượt qua được sự mặc cảm của quá khứ mới tách mình ra khỏi dân tộc, thậm chí tìm cách chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Một bộ phận nhỏ người Việt ở nước ngoài do thiếu thông tin khách quan, trung thực về tình hình trong nước, vẫn ôm hận thù, chống phá Đảng và Nhà nước ta, vu khống Việt Nam đàn áp tôn giáo, dân tộc thiểu số, vi phạm dân chủ, nhân quyền, vận động các thế lực thù địch tiếp tục chống phá Việt Nam. Chính những người này mới là lực lượng đang theo chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan./.


CN CÓ THÁI Đ ĐÚNG TRƯC NHNG LUN ĐIU
XUYÊN TC NN TNG TƯ TƯNG CA ĐNG
                                                                                        Cường Duy

Đảng ta lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động. Tuy nhiên, sự chống phá của các thế lực thù địch nhằm xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng đã và đang được ráo riết thực hiện. Vấn đề này không phải cho đến hôm nay các thế lực cơ hội, thù địch mới tiến hành chống phá, mà chúng đã theo đuổi từ lâu, nhất quán và xuyên suốt. Nhưng trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt là các dịp đại hội của Đảng, dịp kỷ niệm ngày thành lập Đảng, các ngày lễ lớn... họ triển khai quyết liệt hơn, đề cập nhiều vấn đề trên phạm vi rộng lớn hơn, xung quanh vấn đề cái gọi là "lỗi thời và sai lầm" của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Điều tập trung nhất họ cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin bước sang thế kỷ XXI không chỉ là lỗi thời, mà thậm chí nếu tiếp tục áp dụng nó là một sai lầm lớn vì chủ nghĩa ấy không còn thích hợp với thời đại ngày nay và càng không thích hợp với thực tiễn Việt Nam.
Chúng ta cần nhận thức rõ chủ nghĩa Mác - Lênin là một học thuyết cách mạng và khoa học. Hồ Chí Minh từ lâu đã khẳng định: bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, những học thuyết chắc chắn nhất, cách mạng nhất, triệt để nhất  đó là chủ nghĩa Mác - Lênin. Người giải thich như sau:
Chủ nghĩa Mác - Lênin là khoa học của các quy luật phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy. Nó không chỉ tham gia giải thích thế giới, mà điều quan trọng là trực tiếp tham gia chỉ đạo cải tạo thế giới.
 Chủ nghĩa Mác - Lênin là khoa học cách mạng của quần chúng bị áp bức bóc lột trên thế giới.
 Chủ nghĩa Mác - Lênin là khoa học về thắng lợi của chủ nghĩa xã hội ở tất cả các nước.
 Chủ nghĩa Mác - Lênin là khoa học để nhân loại hướng tới xây dựng một xã hội cộng sản chủ nghĩa ngày càng tốt đẹp hơn.
Hồ Chí Minh nói, Cách mạng Tháng Mười Nga là một cuộc cách mạng diễn ra đầu tiên ở một nước rộng lớn bằng 1/6 thế giới. Tiếp sau đó là sự ra đời của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Đó là một thắng lợi vĩ đại mới của chủ nghĩa Mác - Lênin ở một nước nửa thuộc địa và nửa phong kiến với bảy trăm triệu dân do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo.
Ở nước ta, Hồ Chí Minh nói: "Chúng ta đã trải qua cuộc đấu tranh chống khuynh hướng cải lương tư sản, manh động tiểu tư sản, chống khuynh hướng Trốtkít, chống khuynh hướng tả khuynh và hữu khuynh trong Đảng, chúng ta đã thành công. Nhờ có chủ nghĩa Mác - Lênin đã giúp Đảng ta vượt qua những thử thách to lớn ấy", Người nhấn mạnh: "Chủ nghĩa Mác - Lênin là yếu tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Thắng lợi của chúng ta do nhiều nhân tố, nhưng cần phải nhấn mạnh rằng thắng lợi đó trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế được - đó là chủ nghĩa Mác - Lênin".
Nội dung các luận điệu xuyên tạc về cơ bản không có gì mới, vẫn là thủ đoạn đoạn bóp méo sự thật, đi ngược lại bản chất, thực tế ở Việt Nam, lợi dụng những hạn chế, khuyết điểm trong quản lý nhà nước để nói xấu, xuyên tạc, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta và cá nhân các bậc lãnh đạo tiền bối.
Đứng trước tình hình đó, mỗi người dân Việt Nam, chúng ta cần có thái độ đúng đắn, hết sức bình tĩnh xem xét, phân tích và nhìn rõ những vấn đề trọng tâm, trọng điểm mà các thế lực thù địch đang tập trung chống phá để có biện pháp phản bác trúng trọng tâm, trọng điểm. Chúng ta không ngỡ ngàng, không bất ngờ và càng không hoảng hốt trước sự tấn công quyết liệt của các thế lực cơ hội, thù địch, bởi lẽ chúng ta đã biết rất rõ mục đích này của chúng từ trước đến nay. Trong cuộc đấu tranh này cần có sự phân biệt các loại đối tượng, không vơ đũa cả nắm. Cần phân biệt các thư, ý kiến phát biểu, kiến nghị của một số người có ý thức tổ chức, tâm huyết với đất nước nhưng đã bị các phần tử xấu lợi dụng các tài liệu đó để kích động, chia rẽ; đã bị cắt xén, xuyên tạc để phục vụ ý đồ phản tuyên truyền; từ đó tạo sức đề kháng tốt trước các thủ đoạn xuyên tạc, vu cáo, bôi nhọ của các thế lực cơ hội, thù địch. Làm được như vậy, thì cho dù bọn họ có vu cáo, xuyên tạc thế nào đi nữa, khối đoàn kết dân tộc vẫn vững vàng, đủ sức mạnh để vạch trần và đánh bại những mưu toan thâm độc đó. /.


Thứ Ba, 21 tháng 2, 2017

MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG ĐẤU TRANH
 VỚI CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, XUYÊN TẠC VỀ HỒ CHÍ MINH
                                                                            Trần Trí Nam
Thời gian gần đây, trên các phương tiện thông tin truyền thông xuất hiện nhiều quan điểm sai trái, xuyên tạc về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đáng chú ý như Trọng Đạt, Thụy Khuê, Ngô Kỷ… và các tổ chức người Việt lưu vong ở nước ngoài. Chúng thường tán phát, đăng tải các tài liệu, clip bóp méo thông tin, xuyên tạc, đổi trắng thay đen, cực đoan, thậm chí một số còn dùng những lời lẽ hằn học, chửi bới, mạt sát Hồ Chí Minh, v.v… Bằng các thủ đoạn như: bịa đặt nhân chứng, tài liệu, hoặc dựa trên một vài sự kiện có thật để xuyên tạc về cuộc đời, sự nghiệp Hồ Chí Minh, cộng với cách trình bày lắt léo, với bút pháp có vẻ ly kỳ hấp dẫn nên chúng đã đánh lừa được không ít người nhẹ dạ cả tin.
Ngoài ra, số người viết sách, báo, cả báo viết, cả báo mạng, để cố tình xuyên tạc Hồ Chí Minh cho đến nay không ít. Họ xuyên tạc đủ điều, “bôi đen” Hồ Chí Minh từ đời riêng, đến cả các mối quan hệ công tác và cố ý khái quát cả những hiện tượng nhất thời, không đúng. Một số cá nhân bất mãn đã cực đoan, xuyên tạc, hằn học, thâm thù Hồ Chí Minh. Họ làm ra vẻ là những người “trong cuộc”, là những người nằm trong lòng các sự kiện đó, nên họ cho rằng, họ là những người nắm chắc được bản chất của sự kiện để đưa ra thông điệp cho người đọc, người nghe rằng, những điều họ viết, họ nói mới là sự thật. Đáng nực cười còn có những kẻ tự phong cho mình là người “vén những tấm màn bí mật” ở chốn “thâm cung bí sử”. Song dễ nhận thấy rằng họ thường là người bất mãn với chế độ chính trị, với cách mạng Việt Nam, bị nhiều người coi là “những phần tử phản động”,… Vì vậy, họ có thái độ cay cú, sẵn sàng bịa chuyện, hoặc dựa trên một vài sự kiện, tài liệu có thật để rồi thêm thắt, bình luận, hoặc viết rất ly kỳ, tinh vi để nói xấu Hồ Chí Minh, nói xấu cách mạng, tự bào chữa cho những sai lầm của họ hoặc gia đình họ trong quá khứ, hoặc nhấn mạnh, tô đậm những sai lầm, khuyết điểm của Đảng.
Rõ ràng các quan điểm sai trái, xuyên tạc về Hồ Chí Minh đều thiếu cơ sở khoa học và đều mang tính suy diễn, chủ quan, áp đặt, thêu dệt, thổi phồng, đánh tráo thông tin. Và tất cả các công trình khoa học đúng đắn về Hồ Chí Minh cả ở trong nước và ngoài nước được công bố tự nó là những mũi tiến công vào những luận điệu xuyên tạc về Hồ Chí Minh. Nhưng, chừng ấy thôi chưa đủ. Rất cần tới việc mọi người, trước hết là cán bộ, đảng viên phải tự nâng cao ý thức cảnh giác, không ngộ nhận trước những loại thông tin gọi là “mới” loan truyền trên mạng hoặc qua con đường rỉ tai nhau có nội dung xuyên tạc, bôi nhọ về Hồ Chí Minh, về cả những bài viết, những tác phẩm đấu tranh trực diện để chống lại những luận điệu đó.
Có người cho rằng, những luận điệu xuyên tạc với cái tâm xấu ấy, những giọng điệu cực đoan, chửi rủa, mạt sát ấy không đáng để chúng ta viết bài chống lại; cách tốt nhất là hãy cứ “lờ” đi, chỉ cần có những công trình nghiên cứu nghiêm chỉnh, đúng đắn về Hồ Chí Minh là đủ, v.v… Tuy nhiên, vấn đề không đơn giản như vậy. Trong tình hình hiện nay, rất cần thiết phải có những bài viết trực diện phản bác lại những luận điệu xuyên tạc cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh. Để làm tốt điều này, cần chú ý đến đối tượng phản bác. Những người xuyên tạc Hồ Chí Minh thường có cái tâm xấu, hoàn toàn có quan điểm, lập trường khác chúng ta. Do vậy, không nên lấy lời lẽ chửi rủa để đối lại lời lẽ chửi rủa của những người xuyên tạc. Những luận điệu xuyên tạc Hồ Chí Minh của những người không có tâm trong sáng thường là rất cực đoan. Sự phê bình nào cũng cần cái chất văn hóa, có như thế sự phê bình, phê phán mới ở tầm trí tuệ, mới có tác dụng. Những bài phê phán, phản bác sắc bén bao giờ cũng cần đi kèm với lối lập luận, với hành văn trong sáng, hấp dẫn, đầy tính nhân văn, hướng thiện, hướng cho người đọc vào cái đẹp của tình và lý. Nên chăng chúng ta cần chú ý một số vấn đề sau:
Thứ nhất, chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ xung kích đấu tranh chống lại các luận điệu xuyên tạc Hồ Chí Minh. Cần có những bài viết phản bác kịp thời. Muốn vậy, phải có bộ phận chuyên trách theo dõi để phối hợp hoạt động nhịp nhàng giữa nhân tố nòng cốt với công chúng.
Thứ hai, kịp thời, đúng lúc cung cấp tài liệu cho cả người viết và người đọc. Đây là yếu tố rất quan trọng, bởi lẽ kịp thời, đúng lúc là một nhân tố bảo đảm sự thắng lợi trong cuộc đấu tranh tư tưởng nói chung, nhất là trong thời buổi công nghệ thông tin phát triển nhanh đến chóng mặt như hiện nay. Theo đó, chúng ta cần tận dụng các phương tiện một cách phong phú, hiệu quả. Chưa bao giờ mặt trận tư tưởng được mở rộng với nhiều phương tiện, hình thức như giai đoạn hiện nay. Do vậy, người chiến sĩ trên mặt trận này cần nắm bắt và tận dụng những lợi thế đó để phục vụ cho đấu tranh trên mặt trận tư tưởng.
Thứ ba, quan tâm, đầu tư kinh phí và xã hội hóa vấn đề này để huy động tiềm lực của toàn xã hội cho hoạt động đấu tranh chống xuyên tạc về Hồ Chí Minh. Chắc chắn rằng với điều kiện kinh phí từ nhiều nguồn lực khác nhau chúng ta có thể nâng cấp các phương tiện hoạt động đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, cũng như động viên, khích lệ và thu hút trí tuệ của các cấp, các ngành và cả hệ thống chính trị vào nhiệm vụ đấu tranh, phủ nhận các quan điểm sai trái, xuyên tạc về Hồ Chí Minh.

Thứ tư, thường xuyên bồi dưỡng cho đội ngũ chuyên trách trên mặt trận tư tưởng văn hóa cũng như các lực lượng khác tham gia đấu tranh chống xuyên tạc về Hồ Chí Minh. Đương nhiên, phương tiện vẫn chỉ là phương tiện, cái quan trọng nhất phải là con người sử dụng phương tiện đó. Do vậy, cái lôgíc của vấn đề còn lại là ở chỗ, con người đó phải được đào tạo, phải được luôn luôn được bồi dưỡng, được tu dưỡng. Điều này đòi hỏi chất lượng người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần nâng cao nhận thức và có thể tự đấu tranh có hiệu quả với các quan điểm sai trái, xuyên tạc về Hồ Chí Minh./.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG ĐẤU TRANH
 VỚI CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, XUYÊN TẠC VỀ HỒ CHÍ MINH
                                                                            Trần Trí Nam
Thời gian gần đây, trên các phương tiện thông tin truyền thông xuất hiện nhiều quan điểm sai trái, xuyên tạc về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đáng chú ý như Trọng Đạt, Thụy Khuê, Ngô Kỷ… và các tổ chức người Việt lưu vong ở nước ngoài. Chúng thường tán phát, đăng tải các tài liệu, clip bóp méo thông tin, xuyên tạc, đổi trắng thay đen, cực đoan, thậm chí một số còn dùng những lời lẽ hằn học, chửi bới, mạt sát Hồ Chí Minh, v.v… Bằng các thủ đoạn như: bịa đặt nhân chứng, tài liệu, hoặc dựa trên một vài sự kiện có thật để xuyên tạc về cuộc đời, sự nghiệp Hồ Chí Minh, cộng với cách trình bày lắt léo, với bút pháp có vẻ ly kỳ hấp dẫn nên chúng đã đánh lừa được không ít người nhẹ dạ cả tin.
Ngoài ra, số người viết sách, báo, cả báo viết, cả báo mạng, để cố tình xuyên tạc Hồ Chí Minh cho đến nay không ít. Họ xuyên tạc đủ điều, “bôi đen” Hồ Chí Minh từ đời riêng, đến cả các mối quan hệ công tác và cố ý khái quát cả những hiện tượng nhất thời, không đúng. Một số cá nhân bất mãn đã cực đoan, xuyên tạc, hằn học, thâm thù Hồ Chí Minh. Họ làm ra vẻ là những người “trong cuộc”, là những người nằm trong lòng các sự kiện đó, nên họ cho rằng, họ là những người nắm chắc được bản chất của sự kiện để đưa ra thông điệp cho người đọc, người nghe rằng, những điều họ viết, họ nói mới là sự thật. Đáng nực cười còn có những kẻ tự phong cho mình là người “vén những tấm màn bí mật” ở chốn “thâm cung bí sử”. Song dễ nhận thấy rằng họ thường là người bất mãn với chế độ chính trị, với cách mạng Việt Nam, bị nhiều người coi là “những phần tử phản động”,… Vì vậy, họ có thái độ cay cú, sẵn sàng bịa chuyện, hoặc dựa trên một vài sự kiện, tài liệu có thật để rồi thêm thắt, bình luận, hoặc viết rất ly kỳ, tinh vi để nói xấu Hồ Chí Minh, nói xấu cách mạng, tự bào chữa cho những sai lầm của họ hoặc gia đình họ trong quá khứ, hoặc nhấn mạnh, tô đậm những sai lầm, khuyết điểm của Đảng.
Rõ ràng các quan điểm sai trái, xuyên tạc về Hồ Chí Minh đều thiếu cơ sở khoa học và đều mang tính suy diễn, chủ quan, áp đặt, thêu dệt, thổi phồng, đánh tráo thông tin. Và tất cả các công trình khoa học đúng đắn về Hồ Chí Minh cả ở trong nước và ngoài nước được công bố tự nó là những mũi tiến công vào những luận điệu xuyên tạc về Hồ Chí Minh. Nhưng, chừng ấy thôi chưa đủ. Rất cần tới việc mọi người, trước hết là cán bộ, đảng viên phải tự nâng cao ý thức cảnh giác, không ngộ nhận trước những loại thông tin gọi là “mới” loan truyền trên mạng hoặc qua con đường rỉ tai nhau có nội dung xuyên tạc, bôi nhọ về Hồ Chí Minh, về cả những bài viết, những tác phẩm đấu tranh trực diện để chống lại những luận điệu đó.
Có người cho rằng, những luận điệu xuyên tạc với cái tâm xấu ấy, những giọng điệu cực đoan, chửi rủa, mạt sát ấy không đáng để chúng ta viết bài chống lại; cách tốt nhất là hãy cứ “lờ” đi, chỉ cần có những công trình nghiên cứu nghiêm chỉnh, đúng đắn về Hồ Chí Minh là đủ, v.v… Tuy nhiên, vấn đề không đơn giản như vậy. Trong tình hình hiện nay, rất cần thiết phải có những bài viết trực diện phản bác lại những luận điệu xuyên tạc cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh. Để làm tốt điều này, cần chú ý đến đối tượng phản bác. Những người xuyên tạc Hồ Chí Minh thường có cái tâm xấu, hoàn toàn có quan điểm, lập trường khác chúng ta. Do vậy, không nên lấy lời lẽ chửi rủa để đối lại lời lẽ chửi rủa của những người xuyên tạc. Những luận điệu xuyên tạc Hồ Chí Minh của những người không có tâm trong sáng thường là rất cực đoan. Sự phê bình nào cũng cần cái chất văn hóa, có như thế sự phê bình, phê phán mới ở tầm trí tuệ, mới có tác dụng. Những bài phê phán, phản bác sắc bén bao giờ cũng cần đi kèm với lối lập luận, với hành văn trong sáng, hấp dẫn, đầy tính nhân văn, hướng thiện, hướng cho người đọc vào cái đẹp của tình và lý. Nên chăng chúng ta cần chú ý một số vấn đề sau:
Thứ nhất, chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ xung kích đấu tranh chống lại các luận điệu xuyên tạc Hồ Chí Minh. Cần có những bài viết phản bác kịp thời. Muốn vậy, phải có bộ phận chuyên trách theo dõi để phối hợp hoạt động nhịp nhàng giữa nhân tố nòng cốt với công chúng.
Thứ hai, kịp thời, đúng lúc cung cấp tài liệu cho cả người viết và người đọc. Đây là yếu tố rất quan trọng, bởi lẽ kịp thời, đúng lúc là một nhân tố bảo đảm sự thắng lợi trong cuộc đấu tranh tư tưởng nói chung, nhất là trong thời buổi công nghệ thông tin phát triển nhanh đến chóng mặt như hiện nay. Theo đó, chúng ta cần tận dụng các phương tiện một cách phong phú, hiệu quả. Chưa bao giờ mặt trận tư tưởng được mở rộng với nhiều phương tiện, hình thức như giai đoạn hiện nay. Do vậy, người chiến sĩ trên mặt trận này cần nắm bắt và tận dụng những lợi thế đó để phục vụ cho đấu tranh trên mặt trận tư tưởng.
Thứ ba, quan tâm, đầu tư kinh phí và xã hội hóa vấn đề này để huy động tiềm lực của toàn xã hội cho hoạt động đấu tranh chống xuyên tạc về Hồ Chí Minh. Chắc chắn rằng với điều kiện kinh phí từ nhiều nguồn lực khác nhau chúng ta có thể nâng cấp các phương tiện hoạt động đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, cũng như động viên, khích lệ và thu hút trí tuệ của các cấp, các ngành và cả hệ thống chính trị vào nhiệm vụ đấu tranh, phủ nhận các quan điểm sai trái, xuyên tạc về Hồ Chí Minh.

Thứ tư, thường xuyên bồi dưỡng cho đội ngũ chuyên trách trên mặt trận tư tưởng văn hóa cũng như các lực lượng khác tham gia đấu tranh chống xuyên tạc về Hồ Chí Minh. Đương nhiên, phương tiện vẫn chỉ là phương tiện, cái quan trọng nhất phải là con người sử dụng phương tiện đó. Do vậy, cái lôgíc của vấn đề còn lại là ở chỗ, con người đó phải được đào tạo, phải được luôn luôn được bồi dưỡng, được tu dưỡng. Điều này đòi hỏi chất lượng người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần nâng cao nhận thức và có thể tự đấu tranh có hiệu quả với các quan điểm sai trái, xuyên tạc về Hồ Chí Minh./.

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...