Thứ Năm, 4 tháng 8, 2022

Nhân dân Việt Nam luôn được nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo

 Tháng 5/2022 vừa qua, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa ra “Báo cáo tình hình nhân quyền thế giới”, trong đó có những thông tin sai lệch về vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam với các góc nhìn phiến diện, dẫn chứng thiếu khách quan. Với 52 trang, bên cạnh sự ghi nhận những mặt tích cực của Việt Nam về vấn đề dân chủ, nhân quyền trong năm qua, báo cáo cho rằng: “Việt Nam đã bắt giữ, tra tấn, tước đoạt mạng sống của người dân một cách tùy tiện”; “can thiệp vào đời sống riêng tư của người dân”; “hạn chế quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do Internet”... Trong đó, báo cáo nói đến tình hình tự do tôn giáo, tín ngưỡng của người dân, đồng thời đưa ra các chỉ trích chính quyền Việt Nam phân biệt đối xử người dân theo đạo và không theo đạo.

Thực tiễn cho thấy, Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, đa tôn giáo. Theo thống kê chưa đầy đủ cho thấy, Việt Nam có khoảng 95% dân số có đời sống tín ngưỡng và tôn giáo (trong hàng nghìn tín ngưỡng thì tín ngưỡng phổ biến là thờ cúng ông bà tổ tiên và tín ngưỡng thờ Mẫu). Tính đến nay, cả nước có khoảng 45.000 cơ sở tín ngưỡng, trong đó có hơn 2.900 di tích gắn với cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, một số di tích được UNESCO công nhận là di sản thế giới. Hàng năm, Việt Nam có gần 13.000 lễ hội, gồm 5 loại: lễ hội dân gian, lễ hội lịch sử cách mạng, lễ hội tôn giáo, lễ hội du nhập từ nước ngoài, lễ hội văn hóa - thể thao và ngành nghề.

Số lượng tín đồ, chức sắc, cơ sở thờ tự, trường đào tạo, số lượng kinh sách được xuất bản của các tôn giáo tăng lên nhanh chóng trong thời gian qua, những hoạt động quan hệ quốc tế của các tổ chức tôn giáo ngày càng được mở rộng và thực tế hoạt động sôi động của các tổ chức tôn giáo hiện nay là những minh chứng rõ nhất cho những thành tựu của việc tôn trọng, đảm bảo quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam.

Bên cạnh đó, ở Việt Nam xuất hiện không ít hoạt động tôn giáo trái pháp luật của một số tổ chức Tin Lành nước ngoài chưa được cấp phép, điển hình là các đạo lạ mang danh nghĩa Tin Lành truyền vào Việt Nam như Tân Thiên địa, Hội thánh của Đức Chúa Trời mẹ... Hoạt động của phần lớn các tổ chức này trái với văn hóa truyền thống của dân tộc, nhuốm màu mê tín dị đoan, có dấu hiệu trục lợi, nhiều tổ chức vi phạm pháp luật. Đối với các hoạt động vi phạm pháp luật của các tổ chức này, lực lượng chức năng Việt Nam đã nhắc nhở, chấn chỉnh và xử lý dựa trên quy định pháp luật.

Chúng ta cần khẳng định rằng, ở Việt Nam hoàn toàn không có cái gọi là đàn áp tôn giáo. Việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và một số quốc gia phương Tây thường xuyên tổ chức các cuộc điều trần về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam, đưa Việt Nam vào danh sách các quốc gia “không có tự do tôn giáo” cũng chỉ nhằm mục đích tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta.

Vì vậy, những luận điệu cho rằng những chính sách tôn giáo của Việt Nam không phù hợp với luật pháp quốc tế là vô căn cứ. Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của người dân; nỗ lực bảo đảm cho các tôn giáo được hoạt động bình thường trong khuôn khổ pháp luật.

Nguyễn Đình Thắng kẻ bán rẻ lương tâm

 Nguyễn Đình Thắng không chỉ là kẻ phản bội Tổ quốc Việt Nam, mà còn là một “con buôn” sống bằng nghề đầu cơ chính trị, nhiều lần cộng đồng người Mỹ gốc Việt vạch mặt. Thời gian vừa qua lợi dụng Hội nghị Thượng đỉnh về tự do tôn giáo quốc tế năm 2022 để chống phá Việt Nam.

Hội nghị được tổ chức từ ngày 28 - 30/6 tại Washington DC, Hoa Kỳ. Nguyễn Đình Thắng - đối tượng cầm đầu tổ chức Ủy ban cứu người vượt biển (gọi tắt là BPSOS) tiếp tục lợi dụng hội nghị này để tuyên truyền, xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam nhằm đánh bóng tên tuổi cho tổ chức và tìm kiếm các nguồn tài trợ từ các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ.

Hội nghị Thượng đỉnh tự do tôn giáo quốc tế 2022, đây là một diễn đàn mở để các tổ chức có thể tham gia, miễn là có tiền. Do đó, để tham gia hội nghị này, Nguyễn Đình Thắng chỉ cần đăng ký và nộp lệ phí tham gia làm “đối tác tài trợ”. Sau đó, đối tượng tuyên truyền là thành viên ban tổ chức hội nghị, được phân công chủ trì 2 phiên thảo luận với chủ đề “giới trẻ lãnh đạo” và “chiến dịch toàn cầu cho các tù nhân tôn giáo”. Đồng thời tự nhận mình là tổ chức người Việt duy nhất tham dự hội nghị này. Thực hiện ý đồ chống phá Việt Nam, từ ngày 28 - 30/6/2022, BPSOS đã tham gia, tổ chức nhiều hoạt động như: Tham gia tuần hành và vận động đòi trả tự do cho số đối tượng trong nước như Nguyễn Bắc Truyển, Nguyễn Văn Hoá và Ybum Byă; tổ chức thảo luận, đưa ra cái gọi là “bằng chứng” nhằm xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo tại Việt Nam…

Thật nực cười cho những hành động của BPSOS khi vận động đòi trả tự do cho số đối tượng vi phạm pháp luật chỉ vì họ theo một tôn giáo nào đó và chúng huyễn hoặc rằng đây là hành động “đàn áp tôn giáo”. Trong khi đó, các trường hợp như Nguyễn Bắc Truyển, Nguyễn Văn Hoá và Ybum Byă đều là các đối tượng vi phạm pháp luật Việt Nam, đã được đưa ra xét xử công khai, bản án dành cho các đối tượng là đúng người, đúng tội, hoàn toàn thích đáng và mọi hành động vận động đòi trả tự do cho số đối tượng trên là phi lý.

Về vấn đề tự do tôn giáo, chính sách nhất quán của Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Trên thực tế, thời gian vừa qua, Việt Nam không ngừng nỗ lực hoàn thiện hệ thống pháp luật về tôn giáo, chính sách tín ngưỡng, trong đó có việc thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.

Bộ ngoại giao Hoa Kỳ đánh giá sai lệch về công tác phòng, chống mua bán người ở Việt Nam

Ngày 19/7 vừa qua, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã công bố báo cáo tình hình buôn người năm 2022. Đây là báo cáo hằng năm theo Đạo luật Bảo vệ nạn nhân bị mua bán của Hoa Kỳ năm 2000 do Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ trình lên Quốc hội nước này, trong đó nhận xét công tác phòng, chống mua bán người của 188 quốc gia trên thế giới nhằm kêu gọi Chính phủ các nước thực hiện nghiêm túc Công ước của Liên hợp quốc (LHQ) về phòng, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và Nghị định thư bổ sung.

Trong báo cáo tình hình buôn người năm 2022, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ xếp Việt Nam trong nhóm 3, tụt 18 bậc so với năm 2021 (năm 2021, đánh giá Việt Nam thuộc nhóm 2) cùng với các nước như Brunei, Campuchia, Malaysia, Myanmar tại Đông Nam Á và một số nước khác như Trung Quốc, Cuba... Cũng theo báo cáo này, những nước nằm trong nhóm 3 có thể bị hạn chế nhận một số viện trợ từ Hoa Kỳ trong tương lai. Báo cáo trên có những nhận xét không khách quan, không phản ánh những nỗ lực to lớn của Việt Nam trong việc đấu tranh, phòng chống tội phạm mua bán người trong thời gian qua.

Ngày 21/7/2022, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng ngày khẳng định: “Bộ Ngoại giao Mỹ ra báo cáo năm 2022 về tình hình mua bán người trên thế giới với các thông tin không xác thực, không phản ánh đầy đủ, chính xác về tình hình và nỗ lực phòng, chống mua bán người của Việt Nam”.

Việc nhìn nhận, đánh giá một vấn đề cần phải dựa trên những thông tin xác thực, có các hoạt động kiểm chứng, khảo sát thực tế, nếu không sẽ đưa ra những nhận xét thiếu khách quan, phiến diện. Điều này tác động không tốt đến quan hệ ngoại giao hai nước, gây ra những hiểu lầm đáng tiếc và tạo cớ để các thế lực thù địch suy diễn, xuyên tạc về công cuộc phòng, chống tội phạm mua bán người ở Việt Nam nói riêng, công tác đảm bảo quyền con người nói chung.

Thực tế, việc phòng, chống mua bán người được Đảng, Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm, có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và được tiến hành trên nhiều lĩnh vực, từ phòng ngừa, phát hiện, xử lý tội phạm cũng như hỗ trợ nạn nhân. Việt Nam không ngừng hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chính sách về phòng, chống mua bán người. Những nỗ lực, cố gắng của Việt Nam trong đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người thời gian qua là toàn diện, rõ nét.

Phó phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng nhấn mạnh: “Chúng tôi mong muốn phía Hoa Kỳ trong thời gian tới hợp tác chặt chẽ hơn nữa để có đánh giá đầy đủ về tình hình và nỗ lực phòng, chống mua bán người của Việt Nam. Chúng tôi cũng sẵn sàng trao đổi với các nước, trong đó có cả Hoa Kỳ cũng như các bên liên quan về các vấn đề hợp tác cụ thể để cùng nhau triển khai hiệu quả công tác phòng, chống mua bán người”.

Thứ Tư, 15 tháng 6, 2022

Cán bộ có chức, quyền và ý thức tự giáo dục liêm chính

Kết quả công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng thời gian qua đã chỉ ra tình trạng cán bộ, đảng viên suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống không còn mơ hồ, chung chung mà hiện hữu ở nhiều lĩnh vực, cấp, ngành, địa phương, đơn vị, với mức độ ngày càng nghiêm trọng, cần được loại bỏ triệt để.

Nhìn từ những sai phạm của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên liên quan các vụ án xảy ra tại Công ty cổ phần Công nghệ Việt Á; Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao; các kết luận gần đây của Ủy ban Kiểm tra Trung ương kiểm tra dấu hiệu vi phạm đối với Ban Cán sự đảng Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ nhiệm kỳ 2016-2021; Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ đội Biên phòng tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu các nhiệm kỳ 2015-2020, 2020-2025; Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ đội Biên phòng tỉnh Trà Vinh các nhiệm kỳ 2015-2020, 2020-2025… cho thấy một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, sa vào chủ nghĩa cá nhân, không giữ được liêm chính trước cạm bẫy lợi quyền. Nghiêm trọng hơn khi những người được giao quyền hạn, trách nhiệm đã lợi dụng tình trạng khẩn cấp trong phòng, chống dịch bệnh, bất chấp kỷ cương, phép nước, đạo đức xã hội để thực hiện hành vi vơ vét, trục lợi cá nhân.

Qua các vụ án, vụ việc liên quan tham nhũng, tiêu cực vừa qua cho thấy, số lượng tổ chức đảng và đảng viên bị kỷ luật đảng, kỷ luật hành chính và truy cứu trách nhiệm pháp lý ở mức đáng lo ngại, với tính chất, mức độ, phạm vi, hậu quả rất nghiêm trọng. Phần lớn cán bộ, đảng viên vi phạm bị kỷ luật đều là những người có chức, có quyền, nắm giữ những vị trí trọng trách, người đứng đầu cấp ủy, đơn vị ở nhiều cấp, ngành, địa phương. Trước mỗi quyết định kỷ luật, câu hỏi thường được đặt ra là vì đâu nên nỗi, khi rất nhiều trong số đó là những cán bộ, đảng viên được đào tạo bài bản, có trình độ học vấn, trình độ lý luận chính trị cao, có quá trình trưởng thành từ thực tiễn. Trên cương vị của mình, hơn ai hết họ phải là người hiểu rõ về các quy định, quy chế làm việc, thẩm quyền, mối quan hệ trách nhiệm cá nhân-tập thể, quy trình xử lý công việc... Nhưng tất cả đã bị bỏ qua chỉ vì danh lợi trước mắt, vì lợi ích cá nhân đã đặt lên trên hết, cao hơn cả tự trọng của chính mình.

Trong các quyết định gần đây của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương về thi hành kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, đã chỉ ra cái gốc của vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng, làm thất thoát lớn ngân sách nhà nước, ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng, Nhà nước, suy giảm niềm tin trong nhân dân, chính là bắt nguồn từ sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống. Điều này khẳng định, suy thoái là nguyên nhân của mọi nguyên nhân, là căn nguyên vi phạm kỷ luật Đảng và pháp luật Nhà nước.

Tình trạng suy thoái như Trung ương đã cảnh báo, chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, cơ hội, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Trong các nguyên nhân dẫn đến suy thoái, Trung ương đã nhận định, có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân, từ việc bản thân cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng; sa vào chủ nghĩa cá nhân, quên mất trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước dân. Không thể ngụy biện, suy diễn bi quan mà đổ lỗi cho cơ chế, bởi không có cơ chế, chế tài nào có thể kiểm soát hết được diễn biến nội tại trong mỗi con người, cũng không thể cưỡng chế lòng tham khi họ cố tình vi phạm.

Các quyết định kỷ luật nghiêm khắc tổ chức đảng, đảng viên vi phạm thời gian qua thể hiện sự nghiêm minh, nhất quán trong chỉ đạo và hành động của Đảng, thống nhất giữa nói và làm, cấp trên làm gương cho cấp dưới. Đây là những bản án nghiêm khắc, đúng người, đúng tội được dư luận đánh giá cao về tính công khai, minh bạch, khẩn trương trong kiểm tra, điều tra, xử lý. Đó tiếp tục là bài học đắt giá trong công tác xây dựng Đảng nói chung, đối với mỗi tổ chức đảng nói riêng; là bài học cảnh tỉnh cho mỗi đảng viên, nhất là những cán bộ lãnh đạo, quản lý về tự soi, tự sửa, tự tu dưỡng, rèn luyện chính mình.

Đấu tranh với sai phạm làm trong sạch nội bộ, củng cố đoàn kết trong Đảng để hướng tới mục tiêu cuối cùng là xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh, đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ tâm, đủ tầm. Điều đó đòi hỏi hành động của mỗi cấp ủy, cán bộ người có vị trí càng cao càng phải làm gương về tự giáo dục liêm chính, rèn luyện bản lĩnh vững vàng, phải đặt lợi ích quốc gia, dân tộc, nhân dân và của Đảng lên trên hết.

Trò lố của những con rối lưu vong

Ngắt câu, cắt ý, chẻ chữ, lên giọng giễu cợt, mỉa mai, ám chỉ, xuyên tạc, suy diễn, dạy đời... là những trò lố của một số đối tượng bất mãn, phản động lưu vong.

 Lên internet cóp nhặt thông tin, với mớ kiến thức lỗ mỗ, một số đối tượng cố làm ra vẻ hiểu biết, thực hiện những hình thức gọi là “bình luận”, “phân tích”, “hội luận”, “đánh giá”... tình hình chính trị của đất nước nhằm lòe bịp công chúng. Hành vi sai trái của họ đã bị công chúng yêu nước lật tẩy, lên án...

“Tôi thấy bạn nên xóa kênh và đi học lại, nhất là môn Giáo dục công dân đi bạn ơi!...”. Đó là dòng bình luận của tài khoản có tên “Tu Nguyen” ngay bên dưới một clip trên kênh YouTube của đối tượng Đường Văn Thái (còn gọi là Thái Văn Đường) khi đối tượng này “bình luận” việc người dân Việt Nam xuống đường ăn mừng đội tuyển bóng đá U.23 Việt Nam vô địch SEA Games 31. Lấy chuyện ăn mừng chiến thắng của đội U.23 Việt Nam để suy diễn, xuyên tạc tình hình chính trị của đất nước, luận điệu bất mãn của Đường Văn Thái bị công chúng yêu nước gọi là “bình loạn” kiểu “ếch ngồi đáy giếng”. Đáng tiếc, một bộ phận người dùng mạng xã hội (MXH) do thiếu hiểu biết hoặc tò mò, lại hùa theo những luận điệu sai trái đó. Tuy nhiên, với tinh thần xây dựng, đấu tranh, rất nhiều tài khoản MXH đã góp ý, lên tiếng khuyên Đường Văn Thái hãy tỉnh ngộ, sám hối, quay đầu là bờ. Một số người vì quá bức xúc trước hành vi xúc phạm đất nước, chối bỏ quê hương của Thái, đã thẳng thừng gọi đối tượng này là kẻ phản bội, vô ơn, “qua cầu rút ván”...

Sau khi khống chế thành công đại dịch Covid-19, thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về việc huy động nguồn lực để phục hồi kinh tế-xã hội, đất nước ta đã diễn ra nhiều sự kiện chính trị-xã hội quan trọng, được dư luận khu vực và thế giới đánh giá cao. Những sự kiện nổi bật, tiêu biểu thời gian gần đây là chuyến thăm và làm việc của đoàn đại biểu cấp cao do Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dẫn đầu tại Hoa Kỳ và Liên hợp quốc; SEA Games 31 tổ chức thành công rực rỡ tại Việt Nam; Hội nghị Trung ương 5 (khóa XIII); điều tra, xử lý các đối tượng tham nhũng liên quan đến Công ty Việt Á... Sự thành công rất tốt đẹp của các sự kiện chính trị, ngoại giao quan trọng đã góp phần củng cố, nâng tầm vị thế, uy tín của Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á và thế giới. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta thể hiện lòng tin, niềm tự hào dân tộc, tinh thần yêu nước trên khắp các lĩnh vực đời sống xã hội. Hình ảnh cả rừng cờ sao xuống đường mừng chiến thắng; người dân Việt Nam thân thiện, nghĩa tình đón tiếp, phục vụ, cổ vũ đoàn vận động viên của các nước trên khắp các khán đài, khắp các địa phương; hai tiếng Việt Nam được xướng lên đầy trân trọng trên truyền thông quốc tế... đã trở thành cảm hứng chủ lưu trên truyền thông và MXH của người dân cả nước.

Tuy nhiên, chính những dấu ấn rất đáng tự hào của dân tộc đã khiến các thế lực thù địch, những đối tượng bất mãn, phản động lưu vong cay cú. Họ tìm mọi cách cắt ghép, bẻ câu, chẻ chữ... để lấy cớ xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta, giễu cợt đồng bào (trong đó có cả người thân, gia đình của chính họ), phỉ báng văn hóa dân tộc, vị thế quốc gia... Có khá nhiều thành phần dạng này, trong đó, những đối tượng có hành vi chống phá liên tục thời gian gần đây có thể nhắc đến là: Đường Văn Thái, Trương Quốc Huy, Nguyễn Văn Đài, Lê Minh Nguyên, Bùi Thanh Hiếu (Người buôn gió)... Họ lập nhiều tài khoản trên MXH, nhất là YouTube, liên tục thực hiện các video có nội dung thù địch, xuyên tạc, chống phá đất nước. Một trong những nội dung được các đối tượng phản động lưu vong tập trung xuyên tạc nhiều nhất là chuyến thăm và làm việc của đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam do Thủ tướng Phạm Minh Chính dẫn đầu tại Hoa Kỳ và Liên hợp quốc. Đáng tiếc là trong dòng thông tin mang tư tưởng thù địch, chống phá đất nước còn có sự tham gia của một số cá nhân người Mỹ gốc Việt đang làm việc trong hệ thống chính quyền và quân đội Hoa Kỳ. Những luận điệu của họ dưới các hình thức gọi là “phỏng vấn”, “hội luận”, “đàm luận”, “phóng sự cộng đồng”... có nội dung phiến diện, quy chụp vô căn cứ đã trở thành đề tài của một số phương tiện truyền thông phát tiếng Việt có tư tưởng thù địch ở hải ngoại khai thác. Họ thực hiện các chiến dịch tuyên truyền xuyên tạc với mưu đồ chống phá đất nước, phá hoại mối quan hệ đối tác toàn diện Việt Nam-Hoa Kỳ...

Trong một clip đăng tải trên kênh YouTube những ngày qua, Nguyễn Văn Đài, đối tượng đang lưu vong tại Cộng hòa Liên bang Đức, với thái độ huênh hoang kiểu “ngụy hàn lâm”, đã lấy hình ảnh rác thải sinh hoạt để “bình loạn” về tình hình chính trị trong nước. Bằng nhận thức của một người bình thường cũng đủ nhận ra, Nguyễn Văn Đài đang cố tình khoe mẽ, muốn chứng tỏ bản thân là người hiểu biết, kiến thức “uyên thâm”, am hiểu thời cuộc. Thực chất, những thông tin cóp nhặt và mớ kiến thức lỗ mỗ ấy không thể che giấu được sự thật là Nguyễn Văn Đài và những thành phần phản động lưu vong đang phải đương đầu với cuộc sống thường nhật nơi xứ người. Người dùng MXH không khỏi bật cười khi xem clip Nguyễn Văn Đài trò chuyện với “Người buôn gió” Bùi Thanh Hiếu. Trong lúc Đài huênh hoang giới thiệu là đã đến xem “các cơ sở sản xuất của Bùi Thanh Hiếu” ở Đức thì “Người buôn gió” mặt ỉu xìu nói rằng, hoàn toàn không có “cơ sở sản xuất” nào cả, mà Hiếu chỉ là người đang đi làm thuê kiếm ăn. Ngay từ khi còn ở trong nước, tính ảo tưởng, thích khoe mẽ, dương dương tự đắc của Nguyễn Văn Đài đã bị dư luận tẩy chay, lên án, cho đến khi đã lưu vong xứ người, Đài vẫn chứng nào tật ấy. Tương tự, những đối tượng như Đường Văn Thái, Trương Quốc Huy, Hoài An... cũng luôn huênh hoang khoe mẽ kiểu “ngụy hàn lâm”, thực hiện các clip với thái độ trịch thượng, giễu cợt... để bôi nhọ đất nước.

Ai cũng biết, các đối tượng có tư tưởng phản bội quê hương, cho dù là ai, làm gì, sống ở quốc gia, vùng lãnh thổ nào... cũng đều khó ngẩng đầu lên được. Bởi, khó có một nền văn hóa nào, không một tổ chức tiến bộ nào lại dung túng, dung nạp những kẻ vong ân bội nghĩa với nơi chôn nhau cắt rốn. Trên các nền tảng MXH, nhiều tài khoản đã thẳng thắn lên tiếng rằng, đến quê hương, đất nước mình mà còn chối bỏ thì còn sống được ở đâu? Hiện nay, nhiều người trong số đó, để kiếm tiền mưu sinh, những người này đã lập các tài khoản trên MXH, kiếm ăn bằng công việc chửi bới để “câu view”, bất chấp đạo lý. Một số thì được các thế lực thù địch lợi dụng, tận dụng như những con rối...

Chính sự suy thoái, suy đồi về đạo đức khiến luận điệu của những đối tượng phản động lưu vong chỉ là một thứ “rác” thông tin trên không gian mạng. Nó làm vấy bẩn môi trường truyền thông văn hóa, tiến bộ. Nói như vậy là bởi, hầu hết những đối tượng phản động lưu vong đều có lai lịch chẳng hay ho gì. Chẳng hạn, Đường Văn Thái, từng có thời gian lao động hợp đồng tại Phòng Quản lý đất đai và Giải phóng mặt bằng thuộc UBND huyện Đông Anh, TP Hà Nội. Dù đã qua đào tạo, có kiến thức chuyên môn nhưng do ý thức rèn luyện, phẩm chất đạo đức kém nên Thái không được tuyển dụng. Tính tự cao, tự đại, tự huyễn hoặc bản thân khiến Thái bất mãn, đưa chân vào con đường chống đối chính quyền Nhà nước. Được các thế lực thù địch lôi kéo, Thái ngày càng lún sâu vào vũng bùn đen tối. Năm 2019, Thái trốn ra nước ngoài, trở thành con rối lưu vong. Cuộc sống khó khăn khiến Đường Văn Thái bất chấp đạo lý, tận dụng mớ kiến thức lỗ mỗ, lên MXH kiếm ăn bằng những trò lố.

Bên cạnh những đối tượng được cho là “có học” thì Trương Quốc Huy chỉ là một tên côn đồ, trình độ văn hóa lớp 7, từng có tiền án tiền sự, đang sống lưu vong tại Mỹ. Dù trình độ ở mức “viết câu văn chưa sạch nước cản” nhưng được tổ chức khủng bố Việt Tân dung nạp, Trương Quốc Huy lập tài khoản N10TV, liên tục thực hiện các video, khua môi múa mép xuyên tạc tình hình đất nước với thái độ lố bịch. Với những trò vô văn hóa đó, Trương Quốc Huy bị ngay kiều bào yêu nước tại Mỹ gọi là “kẻ tâm thần chính trị”. Thực tế là ở nước ngoài hiện nay tồn tại khá nhiều đối tượng đã và đang bị các thế lực thù địch biến thành con rối kiểu như Trương Quốc Huy, Nguyễn Văn Đài...

Với tinh thần lấy xây để chống, lấy cái đẹp dẹp cái xấu, công chúng yêu nước cần tỉnh táo nhận diện thật-giả, trắng-đen... trên không gian mạng để có thái độ ứng xử đúng mực, đúng đắn. Không ở đâu có thể tốt bằng chính nhà mình, Tổ quốc mình! Không một thế lực phản động nào có thể làm lung lay ý chí của một dân tộc kiên cường như dân tộc Việt Nam! Không luận điệu nào, dù xảo biện, xảo quyệt đến đâu có thể làm đảo lộn chân lý cách mạng và thực tiễn phát triển của đất nước ta hiện nay!

Không gian mạng như một khu vườn mênh mông. Hoa thơm trái ngọt, mình góp sức chăm bẵm để cùng hưởng thụ! Cỏ dại, rác rưởi thì dứt khoát phải nhổ bỏ, dọn sạch.

Phát triển kinh tế tư nhân không phải là từ bỏ mục tiêu chủ nghĩa xã hội

Phát triển kinh tế tư nhân (KTTN) là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với nước ta. Từ tư duy phải xóa bỏ KTTN, đến nay Đảng ta khẳng định KTTN là một động lực quan trọng của nền kinh tế.

Đây là chủ trương khoa học, đúng đắn với thực tiễn vận động của các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH), mang lại thành tựu đột phá cho phát triển kinh tế đất nước, góp phần bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn luôn đưa ra những luận điệu chống phá, xuyên tạc, bóp méo chủ trương phát triển KTTN, trong đó có luận điệu rất thâm độc: Phát triển KTTN là từ bỏ mục tiêu CNXH. Bằng lý luận và thực tiễn, chúng ta khẳng định: Luận điệu trên là hoàn toàn sai trái.

Trước yêu cầu của thực tiễn phát triển lực lượng sản xuất (LLSX), xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH, Đảng ta chủ trương đột phá phát triển KTTN, coi nó là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Ngày 3-6-2017, Hội nghị Trung ương 5 khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển KTTN trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN).

Nghị quyết đánh giá cao vai trò, sự đóng góp to lớn của KTTN về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm, ứng dụng khoa học công nghệ, thúc đẩy tăng năng suất lao động, tỷ trọng đóng góp vào GDP, quy mô doanh nghiệp, trách nhiệm xã hội... Đồng thời xác định rõ quan điểm, chủ trương, mục tiêu, giải pháp phát triển KTTN đến năm 2030.

Phát triển KTTN là sự phát triển tư duy lý luận về sử dụng các thành phần kinh tế cho mục đích xây dựng CNXH. Tuy nhiên, các thế lực thù địch thường cố tình chống phá, xuyên tạc gây hoang mang, hoài nghi về chủ trương đúng đắn này của Đảng ta.

Một luồng quan điểm chống phá khá phổ biến cho rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam coi KTTN là một động lực quan trọng của nền kinh tế là thừa nhận bóc lột, thừa nhận quan hệ sản xuất (QHSX) tư bản chủ nghĩa (TBCN), là từ bỏ mục tiêu CNXH. Cũng vì bị ảnh hưởng của những luận điệu chống phá đó, do chưa hiểu bản chất của vấn đề mà có một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân hoài nghi tính đúng đắn của chủ trương này, dẫn tới hoài nghi con đường đi lên CNXH.

Vậy thừa nhận và tạo điều kiện cho KTTN phát triển có phải là Đảng ta đã từ bỏ mục tiêu CNXH? Đây là vấn đề lớn cả về lý luận và thực tiễn cần được luận giải khoa học, thuyết phục.

Dựa trên lý luận kinh tế của Chủ nghĩa Mác-Lênin và thực tiễn xây dựng CNXH ở Việt Nam, chúng ta có đủ cơ sở khoa học để khẳng định rằng chủ trương phát triển KTTN không phải là từ bỏ mục tiêu CNXH, mà ngược lại là sử dụng chính nó để rút ngắn hơn chặng đường ở thời kỳ quá độ (TKQĐ) đi lên CNXH. Điều đó được luận giải trên các vấn đề sau đây:

Chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ ra trong TKQĐ cần thiết phải sử dụng các thành phần kinh tế phi XHCN cho mục đích xây dựng CNXH. Về xây dựng QHSX trong TKQĐ lên CNXH, V.I.Lênin đã khẳng định: “Không thể quá độ trực tiếp lên CNXH mà phải qua con đường gián tiếp, không thể quá vội vàng, thẳng tuột, không được chuẩn bị”(1). V.I.Lênin chỉ rõ cần xây dựng QHSX mới thông qua con đường gián tiếp là CNTB nhà nước: “Việc chuyển sang chủ nghĩa cộng sản, thì cần thiết phải có những bước quá độ như CNTB nhà nước”(2).

Bước quá độ thông qua CNTB nhà nước thể hiện trong chính sách kinh tế mới, trong đó, cần thiết phải có sự nhượng bộ tạm thời và cục bộ đối với CNTB nhằm phát triển LLSX, từng bước xã hội hóa sản xuất trên thực tế. V.I.Lênin chỉ ra một số hình thức CNTB nhà nước như: Tô nhượng, đại lý, cho thuê xí nghiệp, khu mỏ....(3). 

Như vậy, cả về lý luận và thực tiễn xây dựng CNXH ở nước Nga Xô viết, V.I.Lênin cũng đã chỉ dẫn rằng trong TKQĐ cần phải sử dụng cả thành phần kinh tế phi XHCN như tư bản nhà nước, tư bản tư nhân cho mục tiêu phát triển LLSX. V.I.Lênin coi đó là biện pháp tối ưu để khơi dậy động lực, giải phóng sức sản xuất, tăng năng suất lao động, nhờ đó giải quyết được khó khăn kinh tế sau chiến tranh, đồng thời từng bước xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH.

Đối với Việt Nam, nền kinh tế thị trường nước ta được xác định là nền kinh tế có “nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế”. Các thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật, được xác định là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Quá độ lên CNXH là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn, phức tạp... Việt Nam đi lên CNXH từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ TBCN, LLSX rất thấp, lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề, các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại cho nên lại càng khó khăn, phức tạp, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế-xã hội đan xen nhau”(4).

Thực tiễn cũng cho thấy việc áp đặt QHSX vượt trước rất xa so với trình độ của LLSX còn lạc hậu đã trở thành lực cản. Động lực của sản xuất không được phát huy, sức sản xuất không được khơi dậy, điều đó dẫn tới sự trì trệ không chỉ đối với LLSX mà còn làm méo mó đi mục đích hoàn thiện QHSX. Khi KTTN còn dư địa phát triển trong TKQĐ mà nôn nóng xóa bỏ là một sai lầm cả về lý luận và thực tiễn. Điều cần làm là phải tạo cơ chế cho KTTN phát triển, hay nói cách khác là khơi dậy, phát huy, sử dụng nó cho mục đích hiện đại hóa LLSX, xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH.

Việt Nam thừa nhận KTTN không đồng nghĩa với xác lập địa vị thống trị của QHSX TBCN. Thừa nhận KTTN không có nghĩa là chúng ta thừa nhận bóc lột và tạo điều kiện cho bóc lột được hiện diện trong các quan hệ kinh tế ở nước ta. Mục tiêu nhất quán của cách mạng nước ta là xóa bỏ áp bức, bóc lột, bất công, xây dựng một xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”(5).

Thực tiễn đã chứng minh bản chất của chế độ TBCN dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư liệu sản xuất và bóc lột lao động làm thuê không thể là cái đích để chúng ta thực hiện mục tiêu cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trong TKQĐ chúng ta thừa nhận KTTN vẫn còn cơ sở để tồn tại.

Do vậy, chúng ta không thể không tạo điều kiện cho nó phát triển. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là chúng ta chủ trương xác lập vị trí thống trị của QHSX TBCN. Ngược lại, cần hướng nó đi theo mục đích CNXH, điều đó cũng có nghĩa không phải chúng ta để quan hệ bóc lột tự do phát triển.

KTTN được tự do cạnh tranh bình đẳng trong khuôn khổ thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Do vậy, QHSX hình thành trong thành phần KTTN sẽ chịu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và quản lý, điều tiết của Nhà nước pháp quyền XHCN nhằm giữ vững định hướng XHCN.

Coi KTTN là một động lực quan trọng của nền kinh tế không đồng nghĩa từ bỏ vai trò là công cụ, là lực lượng vật chất để định hướng, điều tiết, dẫn dắt của kinh tế nhà nước. Đại hội XIII của Đảng định hướng rõ sự phát triển của từng thành phần kinh tế ở nước ta, trong đó chỉ rõ: “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố, phát triển; KTTN là một động lực quan trọng; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển”(6).

Vai trò của từng thành phần kinh tế theo đó cũng được xác lập theo đúng vị trí đã xác định. Thành phần kinh tế nhà nước nắm giữ nguồn lực vật chất quan trọng, then chốt được khẳng định là công cụ, lực lượng vật chất để nhà nước ổn định vĩ mô, điều tiết, dẫn dắt thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, khắc phục các khuyết tật của cơ chế thị trường.

KTTN được khuyến khích phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm. Trong đó cũng khuyến khích sự hợp tác liên kết với doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, kinh tế hộ, ngoài ra còn khuyến khích phát triển các công ty cổ phần có sự tham gia rộng rãi của người lao động.

Như vậy, KTTN là một động lực quan trọng của nền kinh tế, song động lực đó được phát huy trong chế độ kinh tế-xã hội khác biệt về chất với chế độ TBCN. Trong chế độ kinh tế XHCN, thành phần KTTN cũng không còn thuần túy như trong chế độ TBCN mà có sự đan xen, giao thoa, liên kết, hợp tác với các thành phần kinh tế XHCN.

KTTN được quan tâm tạo điều kiện phát triển không đồng nghĩa với từ bỏ mục tiêu CNXH. Là người lãnh đạo xây dựng nền kinh tế XHCN ở Nga sau Cách mạng Tháng Mười, V.I.Lênin đề xuất chính sách kinh tế mới (NEP). Về bản chất, đó chính là nhận thức rõ và đề xuất lý luận về nền kinh tế nhiều thành phần trong TKQĐ từ một nước tiểu nông.

Trong chính sách này, V.I.Lênin kỳ vọng vào khả năng thu hút đầu tư từ các nước tư bản phát triển và từ tư bản tư nhân trong nước cho lĩnh vực công nghiệp non yếu và kiệt quệ sau chiến tranh. Hơn ai hết, V.I.Lênin nhận thức rất rõ chính sách kinh tế mới về hình thức dường như có bước lùi về CNTB nhưng lại rất cần thiết để tiến bước lên CNXH. V.I.Lênin đã luận chứng rằng sự đồng thuận của nhân dân và sự kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ của nhà nước XHCN sẽ khiến tư bản tư nhân không thể lái nền kinh tế trở về quỹ đạo của CNTB.

KTTN ở Việt Nam thời gian qua đã phát triển cả về quy mô, trình độ, lĩnh vực ngành nghề trong khuôn khổ định hướng XHCN, vì mục tiêu CNXH mà không phải là phát triển tự do như trong thể chế kinh tế TBCN. Điều đó cũng có nghĩa tạo điều kiện cho KTTN phát triển nhưng phải tuân thủ và vận động theo quỹ đạo của CNXH mà không phải là buông bỏ mục tiêu CNXH.

Báo: QĐND

Đối ngoại quốc phòng từ một góc nhìn

Qua hai phần ba thế kỷ, ngành đối ngoại toàn quân đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, nhất là mỗi lần chuyển hướng chiến lược của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân.

 Đối ngoại quốc phòng (ĐNQP) cùng với đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân luôn chủ động vượt qua những thách thức, khó khăn để vươn lên hoàn thành nhiệm vụ, và nhiều lần đã “đi trước một bước” như sau Chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, Đại thắng mùa Xuân 1975, sau năm 1979 và thời kỳ đổi mới.

Thật vậy, qua các thời kỳ, ĐNQP đều đóng góp ở góc độ này hay góc độ khác, của từng nhóm, tổ, phòng và các cơ quan đối ngoại cũng như liên quan đến đối ngoại của toàn quân, gặt hái được nhiều thành tích quan trọng và được Đảng, Nhà nước, quân đội khen thưởng ở rất nhiều cấp trong thực hiện nhiệm vụ ĐNQP ở mức cao.

Những năm gần đây, ĐNQP đã chủ động thực hiện rất rõ việc “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ trong điều kiện tình hình thế giới diễn biến hết sức nhanh chóng, phức tạp, khó lường.

Để tạo nên sức mạnh đó, Quân đội nhân dân Việt Nam đã chủ động tuần tra chung trên biển, tổ chức các cuộc giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới với quân đội các nước như: Trung Quốc, Lào, Campuchia. Hoạt động này không chỉ thể hiện tinh thần “độc lập, tự chủ” mà còn cho thấy sự chủ động, sáng tạo của Quân đội ta trong duy trì và phát triển quan hệ với các nước láng giềng có chung biên giới.

Bên cạnh đó, việc thúc đẩy hợp tác song phương với quân đội các nước cũng nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, học tập kinh nghiệm về vũ khí, trang bị kỹ thuật, từ đó chủ động xây dựng quân đội từng bước hiện đại.

Trong hợp tác đa phương ở các diễn đàn quốc tế, trong đó có Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN (ADMM), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng (ADMM+) và Diễn đàn An ninh khu vực ASEAN (ARF), những thành công, thành tích mà công tác ĐNQP đã đạt được cũng rất đáng trân trọng và cần được biểu dương.

Lớp lớp cán bộ của ngành đối ngoại toàn quân ở lĩnh vực này hay lĩnh vực khác đều vận dụng sáng tạo các nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc, toàn quân, đại hội Đảng các cấp đúng hướng, đúng mục đích. 

Tuy vậy, nhìn thẳng vào sự thật và ở từng góc độ khác nhau sẽ thấy rằng, cán bộ các cấp, các cá nhân, tổ công tác, các phòng công tác trong từng thời kỳ và cả hiện nay còn có mặt này, mặt khác cần cố gắng hơn nữa để vươn lên hoàn thành nhiệm vụ.

Chúng tôi-những người đã kinh qua công tác ĐNQP, tự nhận thấy rằng so với yêu cầu của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, bản thân mình cũng có lúc chưa làm hết trách nhiệm cho đến khi về nghỉ. Nhớ lại và suy ngẫm, điều quan trọng nhất đối với những người làm công tác ĐNQP là phải quán triệt quan điểm của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng. Đặc biệt, phải đặt ra câu hỏi giữa “Đảng và tôi”.

Nếu đặt Đảng lớn hơn “cái tôi” thì cơ quan, đơn vị thành công, thắng lợi, đoàn kết, dám nghĩ dám làm và ngược lại, nếu “cái tôi” lớn hơn thì đơn vị trung bình, mất đoàn kết, yếu kém. 

Các đại hội gần đây của Đảng và đặc biệt là Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI đã chỉ ra những đòi hỏi cao hơn đối với nhiệm vụ đối ngoại nói chung và ĐNQP nói riêng. Trong tình hình thế giới hiện nay, diễn biến về địa chính trị, kinh tế, quân sự... rất khẩn trương và khó lường.

Vì thế, yêu cầu mà Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đặt ra đó là ĐNQP cần vươn lên để hoàn thành tốt nhiệm vụ hơn nữa. Do vậy, chúng ta cần quán triệt các nghị quyết của Đảng và nhất là Nghị quyết Đại hội XIII, các nghị quyết chuyên đề về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, nghị quyết của Quân ủy Trung ương, từ đó xây dựng bản lĩnh chính trị để có nhãn quan nắm bắt, đánh giá tình hình, dự báo đúng, trúng, đáp ứng yêu cầu đặt ra. 

Đặc biệt, cần chủ động bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ thuộc các cơ quan, tổ chức làm công tác ĐNQP cũng như liên quan đến ĐNQP về năng lực tổ chức, chỉ đạo, chỉ huy, phân công nhiệm vụ, chức trách rõ ràng, nhất là các nhóm, các tổ, phòng công tác.

Đồng thời phải xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác ĐNQP sao cho được cả đức và tài, luôn đặt Đảng lớn hơn “cái tôi” của bản thân. Bởi, tài nếu hướng dẫn kỹ thì có thể phát triển tốt, nhưng đức vẫn là “gốc” của cán bộ; còn nếu cán bộ lúc nào cũng đặt “cái tôi” lên trên thì khó sửa vô cùng.

Bên cạnh đó, trong điều kiện hiện nay, tinh giản tổ chức biên chế trong quân đội là điều cần thiết song cũng cần nhìn vào những kinh nghiệm mà chúng ta đã đúc kết được. Đó là, những nơi có thể tinh giản hoặc những nơi có chức năng nhiệm vụ gần giống nhau cần tinh giản biên chế trước.

Đối với những nơi có chuyên môn, nhiệm vụ khác nhau, điều quan trọng nhất là phải đào tạo và đào tạo lại, bồi dưỡng, xem xét đánh giá thật khách quan, từ đó loại bỏ dần những cán bộ có “cái tôi” lớn hơn và chọn lọc ra những người đủ đức, đủ tài. Như vậy thì đến năm 2025 ngành đối ngoại toàn quân mới có được một đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại và liên quan đến đối ngoại “vừa hồng, vừa chuyên” trên mọi mặt trận.

Ngoài ra, cũng cần thường xuyên rút kinh nghiệm trong phạm vi cho phép ở từng cấp về nội dung, phương pháp, biện pháp triển khai các hoạt động liên quan tới ĐNQP. Chẳng hạn, các hoạt động tuần tra chung giữa hải quân Việt Nam-Trung Quốc hay các chương trình giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam-Trung Quốc, Việt Nam-Lào, Việt Nam-Campuchia dù đã cho thấy tính thiết thực, hiệu quả, nhưng sau mỗi lần tổ chức cần rút ra những kinh nghiệm để đạt hiệu quả cao hơn.

Với lòng tuyệt đối tin tưởng vào sự nghiệp lãnh đạo của Đảng, với tình cảm chân thành và quý trọng, cá nhân tôi rất mong muốn đội ngũ cán bộ làm công tác ĐNQP hoặc liên quan đến ĐNQP tiếp tục trưởng thành, phục vụ tốt hơn nữa, đáp ứng sự mong đợi của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân!

Báo: QĐNDVN

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...