Thứ Hai, 14 tháng 2, 2022

Việt Nam luôn nỗ lực để bảo đảm nhân quyền cho mọi người dân

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân là mục tiêu phấn đấu”; “Phát triển con người toàn diện và xây dựng văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”. Quyền con người được khẳng định trong bản Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1992 và 2013. Hiến pháp năm 2013 có 11 chương, 120 Điều. Trong đó, chương về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là chương có điều luật nhiều nhất, gồm 36 điều (từ Điều 14 đến Điều 49).

Để có cơ sở pháp lý thúc đẩy và bảo vệ, bảo đảm quyền con người, Nhà nước Việt Nam đã có những nỗ lực không ngừng cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người. Tính từ năm 2014 đến nay, Quốc hội nước ta đã sửa đổi, bổ sung, ban hành mới hơn 100 văn bản luật, pháp lệnh liên quan đến việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong số đó có những luật cơ bản, quan trọng như: Bộ luật Hình sự 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Bộ luật Dân sự 2015, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015, Luật Trưng cầu dân ý 2015, Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016, Luật Trẻ em 2016, Luật Báo chí 2016, Luật Tiếp cận thông tin 2016, Luật An ninh mạng 2018, Luật Đặc xá 2018… Việc hoàn thiện khung pháp luật về quyền con người, quyền công dân nói trên đã phản ánh đúng bản chất của chế độ ta, đó là xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tăng cường cơ chế dân chủ, công khai để mọi cá nhân trong xã hội đều có thể tham gia xây dựng, quản lý xã hội, giám sát các hoạt động của cơ quan nhà nước, cũng như tạo ra khuôn khổ pháp lý để các cơ quan nhà nước hoạt động tốt hơn, phục vụ tốt hơn nhu cầu của mọi tầng lớp nhân dân.

Hiện nay, Việt Nam là một trong những nước tích cực, chủ động tham gia vào hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người do Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác ban hành. So với nhiều nước trong khu vực và các nước phát triển, Việt Nam không thua kém về số lượng là thành viên các công ước quốc tế về quyền con người. Tính đến năm 2021, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con người; phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), trong đó có 7/8 công ước cơ bản. Việt Nam đã phê chuẩn hoặc tham gia nhiều điều ước quốc tế về nhân quyền. Việt Nam luôn khẳng định trên thực tế là thành viên nỗ lực tham gia các công ước quốc tế với tinh thần, trách nhiệm cao nhất, được nhiều tổ chức quốc tế, các quốc gia đánh giá cao.

Mặc dù nước ta đang gặp không ít những trở ngại, thách thức do thiên tai, dịch bệnh và từ sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị nhưng vấn đề nhân quyền của Việt Nam luôn được thực thi trên thực tế. Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và vững chắc về nhân quyền. Điều đó không chỉ thể hiện ở những nỗ lực của chúng ta trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, mà còn được thể hiện ở việc bảo đảm quyền còn người, quyền công dân trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Đánh giá về nhân quyền cần phải đảm bảo cách nhìn khách quan, toàn diện, không thể phán theo kiểu “thầy bói xem voi”, không thể lấy một số vụ việc tiêu cực, những hiện tượng sai lệch mà quy chụp thành bản chất. Những thông tin để làm căn cứ đánh giá, báo cáo, xếp loại nhân quyền Việt Nam của một số tổ chức quốc tế thiếu thiện chí đều khai thác từ số đối tượng thù địch, phản động, bất mãn, cơ hội chính trị, số này luôn có những hành động hủy hoại mọi nỗ lực, thành tựu của Việt Nam trong vấn đề nhân quyền. Khi không có bất kỳ các hoạt động khảo sát, trải nghiệm vấn đề nhân quyền của một quốc gia thì mọi đánh giá về nhân quyền của quốc gia đó đều mang tính chủ quan, thiếu tính thực tiễn, sai lệch. Mặt khác, không thể mượn danh nhân quyền để tung hô cho lối sống tự do “vô pháp” để biện minh việc làm sai trái, quay lưng lại Tổ quốc, dân tộc.

Vẫn chiêu bài cũ rích: “chọc gậy bánh xe” của các thế lực phản động khi xuyên tạc, bôi nhọ Quân đội

Gần đây, Cơ quan điều tra Bộ Quốc phòng tống đạt quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam một số quân nhân thuộc cơ quan, vị trong Quân đội để điều tra những vi phạm pháp luật trong quá trình công tác về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí theo quy định tại Điều 219 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đây là việc xử lý cần thiết nhằm giữ gìn kỷ cương phép nước, kỷ luật quân đội. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lợi dụng vụ việc trên để xuyên tạc, bôi nhọ quân đội. Hành vi đen tối đó chính là chiêu bài cũ rích: “chọc gậy bánh xe” của các thế lực phản động.

Lợi dụng sự việc trên lập tức được một số trang mạng xã hội xuyên tạc, “chọc gậy bánh xe”, tạo dựng mâu thuẫn nội bộ với những luận điệu phản động, suy diễn. Từ những hiện tượng đơn lẻ, hành vi vi phạm của một số cá nhân..., các thế lực thù địch xuyên tạc thực tiễn, hướng lái sang luận điệu xưa cũ khi “khuyến cáo” Đảng và Nhà nước “xem lại” chủ trương quân đội làm kinh tế... Nghiêm trọng hơn, từ những hiện tượng nêu trên, một số trang thông tin điện tử, facebook bới móc, thêm thắt, dắt dây, bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Bộ Quốc phòng.

Những luận điệu xuyên tạc, gây kích động lần này cũng chỉ là “bổn cũ soạn lại”, không khác nhiều so với những lần trước mỗi khi Đảng, Nhà nước, quân đội phát giác và thực hiện quy trình tố tụng với các cán bộ vi pháp pháp luật. Lần này, vẫn với chiêu thức cũ, chúng đã biến những sự việc cụ thể và sai phạm của các cá nhân, để xuyên tạc, phủ nhận chủ trương đúng đắn trong tham gia xây dựng kinh tế của doanh nghiệp quân đội và bôi nhọ lãnh đạo cấp cao. Từ đó, hạ thấp uy tín của quân đội, phá hoại sức mạnh, chỗ dựa của Đảng, Nhà nước và nhân dân, công phá vào “thành trì của niềm tin”. Luận điệu thâm độc ấy cần được vạch trần, làm rõ và “bài trừ” ngay tức khắc!

Cảnh giác với các luận điệu tuyên truyền kêu gọi xóa bỏ Điều 117, bộ luật hình sự!

Trong những năm qua, các đối tượng chống phá Đảng, Nhà nước ta không ngừng đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền đòi xóa bỏ Điều 117, Bộ luật hình sự để đạt được các mục tiêu, ý đồ nhằm phá vỡ quy tắc Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, thúc đẩy hoạt động lợi dụng “quyền tự do ngôn luận” để tuyên truyền chống phá chế độ, tạo tiền đề, điều kiện để chuyển hóa, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Các luận điệu tuyên truyền kêu gọi xóa bỏ Điều 117, Bộ luật hình sự trong thời gian qua được các đối tượng phản động, chống đối tuyên truyền rộng khắp, đặc biệt là trên không gian mạng xuất hiện nhiều thông tin tuyên truyền, đưa ra các lý lẽ yêu cầu Việt Nam xóa bỏ điều luật này. Đài RFA (Đài Á Châu Tự do) dẫn lời của Ủy ban Bảo vệ nhà báo (CPJ) cùng một số đối tượng chống đối trong nước vu cáo rằng Điều 117, Bộ luật hình sự là “mơ hồ, dập tắt tiếng nói trái chiều”.  Trước đó, diễn đàn “Văn Việt” cũng đã đăng tải một bức thư của nhóm hành nghề luật sư ở hải ngoại kêu gọi hủy bỏ Điều 117, Bộ luật hình sự với nội dung qui kết rằng: “Điều 117 vi phạm Hiến pháp và đang sử dụng như là một phương tiện trấn áp nhằm phục vụ cho mục tiêu chính trị dưới danh nghĩa luật pháp quốc gia…”. Chúng kêu gọi xóa bỏ Điều 117, Bộ luật hình sự với luận điệu “Điều 117 là hạn chế và cản trở quyền công dân qui định tại điều 25 Hiến pháp…”.

Điều 117, Bộ luật hình sự quy định: “Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung từ Điều 88 Bộ luật hình sự năm 1999 với một số điểm mới về tên điều luật, nội dung điều luật theo hướng qui định cụ thể hơn và mở rộng phạm vi khách quan của tội này. Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện Bộ luật hình sự nói chung, Điều 88 của Bộ luật hình sự cũ nói riêng nhằm phù hợp với tình hình thực tiễn, các mặt khách quan trong công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới. Trước đó, Điều 88 Bộ luật hình sự năm 1999 cũng là điều luật mà các đối tượng chống phá Nhà nước ra sức tuyên truyền, yêu cầu xóa bỏ. Sau khi điều luật này được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện theo Điều 117, Bộ luật hình sự 2015 thì các phần tử chống đối cũng không từ bỏ âm mưu, mà tiếp tục “bài ca” kêu gọi xóa bỏ nhằm đạt được âm mưu, ý đồ chống phá Đảng, Nhà nước với mục tiêu xóa bỏ vai trò cầm quyền, lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thực tế cho thấy, mọi hoạt động tuyên truyền, kêu gọi xóa bỏ Điều 117, Bộ luật hình sự của các đối tượng phản động, chống phá là một đòi hỏi phi lý, đi ngược lại với lợi ích chung của toàn xã hội. Phải khẳng định rằng, Điều 117, Bộ luật hình sự nói riêng, Bộ luật hình sự nói chung được ban hành hoàn toàn hợp hiến, không vi hiến như các đối tượng chống đối vẫn tuyên truyền, xuyên tạc. Việc thảo luận, lấy ý kiến trước khi ban hành điều luật này dựa trên các căn cứ, cơ sở ý kiến đóng góp của các cơ quan, ban, ngành, của toàn xã hội và tuân theo một quy trình rất chặt chẽ, đồng thời nhận được sự đồng thuận của toàn xã hội, ngoại trừ các đối tượng có mục đích, ý đồ xấu. Các dấu hiệu, hành vi liệt kê trong Điều 117, Bộ luật hình sự đe dọa đến an ninh quốc gia, chế độ và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vì vậy, việc ban hành điều luật này là hoàn toàn phù hợp với các quy định của Hiến pháp.

Mỗi công dân Việt Nam, trước hết là đội ngũ cán bộ, đảng viên hãy cảnh giác trước các luận điệu tuyên truyền kêu gọi xóa bỏ Điều 117, Bộ luật hình sự của các thế lực thù địch, phản động đối với Đảng, nhà nước ta.

Cảnh giác trước luận điệu vu cáo “tự do báo chí”

Trong những năm qua, một số tổ chức có quan điểm, tư tưởng chống phá Việt Nam như:  Tổ chức phóng viên không biên giới (RSF), Tổ chức Bảo vệ ký giả (CPJ), Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW), Ngôi nhà tự do (Freedom House), Đài Á châu tự do (RFA)... đăng tải nhiều bài viết, hình ảnh xuyên tạc, vu cáo Việt Nam “đàn áp tự do ngôn luận, tự do báo chí”, vi phạm quyền con người, quyền tự do ngôn luận đã được nêu trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị.

Thủ đoạn của luận điệu này thể hiện ở chỗ: Thứ nhất, lợi dụng vào vấn đề tự do báo chí, những điểm khác nhau trong quy định của luật pháp Việt Nam và các nước để xuyên tạc. Từ đó nhằm làm mất niềm tin vào nền báo chí, những thông tin, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước mà báo chí chuyển tải. Thứ hai, cố tình đánh đồng hiện tượng để quy kết thành bản chất. Lấy sự việc một số đối tượng tự xưng là “nhà báo độc lập”, “nhà báo tự do”, blocger… vi phạm pháp luật Việt Nam để quy kết thành bản chất là Việt Nam không có tự do báo chí. Thứ ba, kích động, cổ súy, bảo trợ cho những đối tượng lợi dụng tự do báo chí nói trên để chống phá Việt Nam. Thứ tư, lợi dụng vấn đề tự do báo chí để công kích, lấy đó như một cái cớ để tổ chức phản động và tổ chức khác vốn có cái nhìn thiếu thiện cảm đối với Việt Nam báo cáo, suy diễn, xuyên tạc, làm méo mó hình ảnh đất nước, con người, tình hình Việt Nam, từ đó gây sức ép lên nhiều vấn đề kinh tế, chính trị, ngoại giao của Việt Nam.

Đằng sau luận điệu xuyên tạc Việt Nam không có tự do báo chí là ý đồ sâu xa cố tình phê phán thể chế chính trị, vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và hệ thống chính trị trong đời sống xã hội ở Việt Nam; cố tình ca ngợi, cổ súy, hướng lái, thúc đẩy cái gọi là giá trị “tự do, dân chủ, nhân quyền” phương Tây. Do đó, vấn đề “tự do báo chí” cần được hiểu đúng và nhận diện rõ âm mưu, ý đồ xấu để lên án, đấu tranh.

Chúng ta cần khẳng định rằng, tự do báo chí là quyền tự do cơ bản, thiêng liêng, biểu hiện cho sự tiến bộ, phát triển của xã hội. Mặt khác cũng cần hiểu tự do báo chí không phải là tự do chung chung, tự do vô bờ bến, tự do không có giới hạn mà bao giờ nó cũng phải gắn và nằm trong khuôn khổ pháp luật. Vấn đề có tính nguyên tắc trong tư tưởng lập pháp được mọi quốc gia thừa nhận, vận dụng, thể chế hóa thành các quy phạm pháp luật là tự do luôn gắn liền với trách nhiệm, quyền lợi luôn gắn liền với nghĩa vụ. Trong khuôn khổ, quy tắc ấy, tự do báo chí được thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ; báo chí sẽ thực hiện tốt vai trò của mình, tạo môi trường thông tin lành mạnh, là phương tiện hữu hiệu thúc đẩy phát triển xã hội, phục vụ mục tiêu tốt đẹp cho con người.

Thực tế, tự do báo chí ở phương Tây mà một số đối tượng ca ngợi, cổ súy có phải là thứ tự do không giới hạn, nằm ngoài khuôn khổ pháp luật? Theo Hiến pháp Hoa Kỳ (năm 1791) thì Quốc hội Mỹ không được phép ban hành bất cứ văn bản nào hạn chế tự do ngôn luận và báo chí. Nhưng theo nhiều văn bản pháp luật khác, ví dụ đạo luật năm 1798 thì sẽ là tội phạm nếu viết, in, phát biểu và phổ biến những văn bản sai sự thật, cố ý xúc phạm hay chống lại chính quyền. Hay như ở Ðức, các quy định cụ thể về tự do báo chí thuộc thẩm quyền của các tiểu bang. Ví như, Luật Báo chí ở tiểu bang Bavaria ghi rõ: “Chống lại các loại văn chương bẩn thỉu và độc hại là nhiệm vụ của Nhà nước và các cơ quan địa phương. Sự hưởng thụ tự do cho mỗi người đều phụ thuộc vào việc tất cả mọi người thực hiện nghĩa vụ trung thành với nhân dân, Hiến pháp, Nhà nước và luật pháp”. Ðức còn có lực lượng của các cơ quan nhà nước theo dõi sách báo, tin tức do các cá nhân và tổ chức phát tán trên mạng để thu thập tin tức và bằng chứng, khi cần thiết sẽ phục vụ cho các thủ tục xét xử hình sự… Như vậy, tự do báo chí ở phương Tây hay bất cứ quốc gia nào cũng không nằm ngoài khuôn khổ pháp luật. Hiểu tự do ngôn luận, tự do báo chí như vậy sẽ giúp nhìn nhận, đánh giá khách quan về tự do báo chí ở Việt Nam.

Thực tiễn được cộng đồng quốc tế đánh giá cao là tình hình nhân quyền ở Việt Nam nói chung, tự do ngôn luận, báo chí nói riêng đã liên tục phát triển. Tuy nhiên, bất chấp thực tế đó, các thế lực thù địch, phản động vẫn coi đây là một chiêu bài để chống phá Việt Nam. Vì vậy, mỗi công dân Việt Nam, trước hết là đội ngũ cán bộ, đảng viên hãy nêu cao cảnh giác trước luận điệu vu cáo “Tự do báo chí” của các thế lực thù địch, phản động đối với Đảng, nhà nước ta.

Các giải pháp đấu tranh phòng, chống thủ đoạn phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay

Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang ra sức phấn đấu thực hiện Cương lĩnh của Đảng, Hiến pháp của Nhà nước, đẩy mạnh toàn diện và đồng bộ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa hội nhập quốc tế, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vsững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; trước hết là đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Bối cảnh quốc tế và tình hình trong nước bên cạnh mặt thuận lợi, thời cơ, cũng có nhiều khó khăn, thách thức đan xen. Chúng ta đứng trước nhiều vấn đề mới phải xử lý, nhiều việc hết sức phức tạp phải giải quyết. Tình hình đó đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, hơn bao giờ hết, phải quán triệt và thực hiện tốt các vấn đề căn cốt sau:

Thứ nhất, kiên quyết đấu tranh, phản bác thủ đoạn xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Đây là nhiệm vụ thường xuyên, cấp bách, lâu dài, đòi hỏi cấp ủy, tổ chức đảng luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, tích cực xây dựng nội bộ vững mạnh, để không có ai dao động trước những thủ đoạn phá hoại của kẻ thù. Tổ chức đảng các cấp cần tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. 

 Thứ hai, luôn coi trọng và thực hiện thường xuyên việc bồi dưỡng, giáo dục và rèn luyện cán bộ đảng viên. Những cán bộ có biểu hiện đặc quyền, đặc lợi, xa hoa, trụy lạc đều bị xử lý nghiêm khắc, thích đáng. Những kết quả đạt được trong công cuộc phòng, chống tham nhũng của Đảng thời gian qua đã thể hiện rõ tính quyết liệt, thường xuyên và “không có vùng cấm”. Đại hội XIII của Đảng xác định: “...phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ” . Trong đó, xây dựng Đảng về đạo đức là “nền tảng”, là “cái gốc” cho Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Thứ ba, cần đặc biệt quan tâm đến vấn đề kiểm soát quyền lực. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng nhấn mạnh “phải nhốt quyền lực vào lồng cơ chế, pháp luật”. Theo đó, Cương lĩnh, Điều lệ, kỷ luật Đảng; Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước; sự tín nhiệm của nhân dân là những yếu tố quyết định đến chất lượng giám sát quyền lực, khắc phục những biểu hiện tha hóa, lộng quyền, củng cố và phát huy vai trò, uy tín của lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Xét trên phương diện thực tiễn, phần lớn đội ngũ cán bộ đảng viên, trong đó có cán bộ lãnh đạo của Đảng, Nhà nước luôn giữ vững tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống; cống hiến trí tuệ, tài năng và nhiệt huyết, đóng góp xứng đáng vào “những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử” của đất nước. Vì thế, không thể “lấy ví dụ” một số trường hợp suy thoái, sai phạm đã bị xử lý kỷ luật, truy tố để coi là “cái phổ biến” và “là bản chất” của Đảng ta.

Thứ tư, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện nhiệm vụ; kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng, đảng viên chấp hành Cương lĩnh chính trị, điều lệ, nghị quyết, quy định của Đảng và kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh đối với sai phạm. Kiên quyết không để các thế lực thù địch lợi dụng những sơ hở trong công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng đề chống phá. Đồng thời, tăng cường đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, nhất là âm mưu, thủ đoạn lôi kéo cán bộ, đảng viên và nhân dân để gieo rắc sự hoài nghi về vai trò và khả năng lãnh đạo của Đảng ta. Lãnh đạo, chỉ đạo các phương tiện thông tin đại chúng thực hiện tốt chức năng tuyên truyền, giáo dục, định hướng về tư tưởng chính trị, hướng dẫn hành động đúng.

Thứ năm, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, phát huy những thành quả cách mạng đã đạt được; tuyệt đối không được chủ quan, tự mãn, không quá say sưa với thắng lợi, ngủ quên trên vòng nguyệt quế. Trước mắt, và coi đây là giải pháp chiến lược, chủ đạo nhất để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng ta đối với cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới.

Với niềm phấn khởi, tự hào, chúng ta tin tưởng vững chắc rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam nhất định sẽ hoàn thành xuất sắc trọng trách của mình, trong đó có nhiệm vụ chính trị trọng tâm và có ý nghĩa trọng đại hiện nay là tổ chức thực hiện có hiệu quả Kết luận số 21-KL/TW về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và vi phạm Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam chung sức, đồng lòng, nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi Di nguyện cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Toàn Đảng toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới” .

Đấu tranh, bác bỏ luận điệu xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội là góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng - nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của cả hệ thống chính trị, của mọi cán bộ, đảng viên; trong đó, cấp ủy và tổ chức Đảng các cấp giữ vai trò nòng cốt.

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VẪN LÀ LỰC LƯỢNG CHÍNH TRỊ DUY NHẤT CÓ ĐỦ KHẢ NĂNG LÃNH ĐẠO ĐẤT NƯỚC ĐI TỪ THẮNG LỢI NÀY ĐẾN THẮNG LỢI KHÁC.

Dù có “lắm mưu nhiều kế” thế nào đi chăng nữa, thì các thế lực thù địch và những kẻ cơ hội chính trị cũng không thể bác bỏ được một sự thật hiển nhiên là: Không ai hết, và hơn tất cả lực lượng chính trị nào khác, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ trong bài “Kiểm điểm công việc của Đảng” từ hơn 73 năm trước (tháng 1-1949) đã khẳng định: “... Đảng ta là Đảng duy nhất lãnh đạo phong trào cách mạng ở nước ta”.

Tại Lễ kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930 - 3-2-2020), trong bài phát biểu, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng một lần nữa tiếp tục khẳng định: “thực tiễn phong phú, sinh động của cách mạng Việt Nam trong 90 năm qua đã chứng tỏ sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, lập nên nhiều kỳ tích trên đất nước Việt Nam. Mặt khác, thông qua quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta được tôi luyện và ngày càng trưởng thành, xứng đáng với vai trò, sứ mệnh lãnh đạo cách mạng và sự tin cậy, kỳ vọng của nhân dân.Thực tiễn đó đã khẳng định một chân lý: Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác” . 

Như vậy, chúng ta phải khẳng định rằng, kể từ ngày ra đời đến nay, Đảng ta vẫn là một tổ chức lãnh đạo duy nhất được đại đa số nhân dân tuyệt đối tin tưởng. Vượt qua những khó khăn, thử thách, thẳng thắn chỉ ra và thật thà sửa chữa những khuyết điểm, hạn chế, quyết tâm một lòng vì dân, vì nước, Đảng đã lãnh đạo đưa đất nước tiến lên, gặt hái nhiều thành tựu quan trọng. Những thành công bước đầu trong công cuộc đổi mới và hội nhập, sự ghi nhận, tôn trọng, khâm phục về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội của thế giới đối với Việt Nam - một đất nước từng “không có tên trên bản đồ thế giới”, đời sống nhân dân có những phát triển vượt bậc cả về vật chất và tinh thần... là những minh chứng rõ nhất, đúng nhất, khách quan nhất về vai trò lãnh đạo sáng suốt và tất yếu của Đảng ta.

Điều nguy hiểm từ những luận điệu trên nằm ở chỗ, chúng làm cho một bộ phận nhân dân, nhất là giới trẻ và những người thiếu thông tin chính xác về tình hình đất nước, vì mơ hồ và thiếu ý thức nên vô tình “tiếp tay” cho sự vu khống xuyên tạc, vì thiếu bản lĩnh và nhạy cảm chính trị nên dễ “a dua”, đặc biệt, vì thiếu niềm tin và sức đề kháng nên dễ bị nhiễm “căn bệnh hoài nghi, phủ nhận”.  Về vấn đề này, từ rất sớm Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra, đó là cách nhìn nhận, đánh giá thiếu khách quan, đầy thiên kiến: “Còn anh em ngoài Đảng nghi ngờ Đảng thì có một phần. Khuyết điểm là: thấy cây nhưng không thấy rừng. Thấy đảng viên như vậy thì tưởng Đảng cũng như vậy” . Đây đều là những vấn đề không mới nhưng hết sức nguy hiểm nếu như chúng ta không chủ động nhận diện và vạch trần, bác bỏ.

Nhận diện những thủ đoạn phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam

Trong lịch sử phát triển của dân tộc ta, việc ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 1930) là sự kiện chính trị quan trọng đối với đất nước và dân tộc Việt Nam. Từ đó đến nay, với 92 năm đồng hành cùng dân tộc, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội được thực tiễn lịch sử khẳng định, ghi nhận và quy định trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013. Nhưng vẫn xuất hiện sự vu khống, chống đối của các thế lực thù địch, những tiếng nói lạc lõng xuyên tạc với các thủ đoạn hết sức tinh vi cần phải bị vạch trần, bác bỏ...

Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng – Thủ đoạn không mới nhưng rất nguy hiểm

Không khó để nhận ra những thủ đoạn của những kẻ chống phá, bất mãn với chiêu trò không mới nhưng hết sức nguy hiểm, thâm độc như: tìm mọi cách bôi nhọ, hạ thấp và tiến tới phủ nhận những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà chúng ta đã đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhất là từ khi Đảng ta khởi xướng công cuộc đổi mới đến nay. Chúng rêu rao: Thành tựu của đổi mới là do Đảng, Nhà nước Việt Nam “tự vẽ lên”, “tự mình khen mình”, “là ăn may”. Chúng còn nói xằng rằng, những thành tựu đổi mới nếu có cuối cùng cũng chỉ “chui vào túi của bọn độc tài”, còn nhân dân thì không được thụ hưởng điều gì... Chúng xảo quyệt “lập lờ đánh lận con đen” - đưa ra những hạn chế, khiếm khuyết liên quan đến quá trình lãnh đạo của Đảng, nêu ra những bất cập, khó khăn trong công cuộc đổi mới đất nước... để rồi quy kết, chụp mũ, la lối lên rằng tham nhũng là bản chất của chế độ ta, sự tồn tại của Đảng là căn nguyên dẫn đến mọi trì trệ, yếu kém, sai lầm; muốn đất nước phát triển thì phải xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng...

Đặc biệt, trong tình hình mới khi mà toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị đang đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, quyết tâm phòng chống dịch bệnh Covid – 19, chuẩn bị mọi mặt vui Xuân, đón Tết Nhâm Dần, kỷ niệm 92 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam… Thế nhưng các thế lực thù địch, bọn cơ hội chính trị với những chiêu trò lặp đi lặp lại “đến hẹn lại lên”, tung ra những luận điệu xằng bậy, hằn học. Lợi dụng mạng xã hội, chúng lồng ghép “thêm râu thêm ria” bằng những thông tin, hình ảnh “nửa thật nửa giả”... Dù có “đổi mới” bằng hình thức này hay hình thức khác, dù có “cách tân” tinh vi, tiểu xảo đến đâu, thì những “lý lẽ” chúng đưa ra vẫn chỉ là những “âm mưu, thủ đoạn” đã từng “diễn” trong nhiều năm qua, như: Muốn thực sự có dân chủ cho người dân và xã hội phát triển phải thực hiện “đa nguyên, đa đảng”; chỉ có “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” mới triệt tiêu được căn nguyên gây ra tham nhũng, tiêu cực; “Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết sứ mệnh lịch sử”, “không còn đủ khả năng để độc quyền lãnh đạo đất nước”; muốn đất nước phát triển thì phải bỏ Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa, đổi bổ sung năm 2013)… Đây là những mưu đồ đen tối của các thế lực thù địch hiện nay, chúng ta cần phải vạch trần, bác bỏ.


Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...