Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2020

BÁO CHÍ CÁCH MẠNG ĐỒNG HÀNH CÙNG DÂN TỘC KIÊN ĐỊNH MỤC TIÊU ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI



(TG)-  Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Ðảng và nhân dân ta; đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua đã chứng tỏ con đường xã hội chủ nghĩa là sự lựa chọn của Ðảng và của nhân dân ta. Kiên định mục tiêu này là tình cảm, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân; trong đó, báo chí cách mạng Việt Nam là lực lượng quan trọng.
BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VỚI MỤC TIÊU CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, làm báo là để phục vụ cách mạng; để làm cách mạng Người đã trở thành một nhà báo chân chính, với phong cách báo chí đặc sắc. Người luôn coi báo chí là một bộ phận của sự nghiệp cách mạng, là vũ khí sắc bén trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng chế độ xã hội mới, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội và đó chính là "tính Đảng của báo chí cách mạng Việt Nam".
Để hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang đó, báo chí cách mạng Việt Nam không chỉ phải có đường lối chính trị đúng; phải đi tiên phong trong cuộc đấu tranh không khoan nhượng với những gì đi ngược lại quy luật của lịch sử mà còn phải có tính chiến đấu, tính thuyết phục và tính hấp dẫn. Theo đó, báo chí không chỉ tuyên truyền về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, bảo vệ chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; không chỉ là tiến công vào kẻ thù của cách mạng, v.v.. mà còn phải kịp thời phản ánh sinh động những tấm gương tập thể và cá nhân tiêu biểu, anh hùng, những bông hoa người tốt, việc tốt trong vườn hoa đậm sắc hương của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong chiến đấu và lao động sản xuất, để cổ vũ mọi người hăng hái tham gia cách mạng, góp sức mình cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, "báo chí là người tuyên truyền, người cổ động, người tổ chức chung, người lãnh đạo chung”[1], góp phần quan trọng vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, cho nên: 1) “Báo chí của ta thì cần phải phục vụ nhân dân lao động, phục vụ chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, cho hoà bình thế giới”[2]; 2) Đề tài xuyên suốt của báo chí cách mạng Việt Nam là “chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”[3]; 3) “Các báo chí và văn nghệ phải điều tra tuyên truyền, khen ngợi những ưu điểm và phê bình những khuyết điểm trong việc phổ biến sáng kiến và kinh nghiệm. Đó là một nhiệm vụ vẻ vang của báo chí và văn nghệ thiết thực góp phần vào phong trào thi đua ái quốc”[4]; 4) "Báo có mục "ý kiến bạn đọc", bạn đọc thường gửi ý kiến cho báo, đó là một việc rất hay. Vì đó là một cách phê bình và tự phê bình thiết thực, rộng rãi của nhân dân… Ý kiến bạn đọc là những ý kiến đấu tranh. Cái mới đấu tranh với cái cũ, cái tốt đấu tranh với cái không tốt. Ðấu tranh thì phải đấu tranh đến kết quả thắng lợi. Như thế, "ý kiến bạn đọc" mới thật có ích"[5]; 5) Báo chí phải luôn chú trọng tự phê bình và phê bình vì “phê bình và tự phê bình là vũ khí rất cần thiết và rất sắc bén, nó giúp chúng ta sửa chữa sai lầm và phát triển ưu điểm. Vì khéo lợi dụng nó mà Đảng ta và dân ta ngày càng tiến bộ. Đối với báo chí cũng vậy”[6]
Còn "cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ", vì thế, để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình cán bộ báo chí: 1) Phải coi "cái bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng để động viên quần chúng đoàn kết đấu tranh, chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới, chống chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ, vì độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội và hòa bình thế giới”[7]; 2) "Cần phải tu dưỡng đạo đức cách mạng, "cố gắng trau dồi tư tưởng, nghiệp vụ và văn hóa ; chú trọng học tập chính trị"…đi sâu vào thực tế, đi sâu vào quần chúng lao động"[8]: 3) "Mỗi khi viết một bài báo, thì cần tự đặt câu hỏi: Viết cho ai xem? Viết để làm gì? Viết thế nào cho phổ thông dễ hiểu, ngắn gọn dễ đọc? Khi viết xong, thì nhờ anh em xem và sửa giùm. Chớ tự ái, tự cho bài của mình là "tuyệt" rồi[9]
Thực hiện theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, báo chí cách mạng Việt Nam và đội ngũ những người làm báo Việt Nam đã luôn vì cách mạng, vì Đảng, vì nhân dân mà nỗ lực thực hiện đúng chức năng và nhiệm vụ của  mình. Đó cũng chính là mục đích, là điều kiện, là tiêu chuẩn đạo đức trong hoạt động báo chí; đồng thời, thể hiện là tính Đảng của báo chí cách mạng Việt Nam - biểu hiện sự trung thành của báo chí đối với Đảng, cống hiến của báo chí vào sự nghiệp vĩ đại của Đảng. Một trong những kết quả nổi bật của báo chí cách mạng Việt Nam nói chung, của các tạp chí  Tạp chí Cộng sản, Tuyên giáo, Lý luận chính trị, Lịch sử Đảng, Chủ nghĩa xã hội - Lý luận và thực tiễn,v.v.. nói riêng là đã mở và duy trì thường xuyên chuyên trang, chuyên mục với nhiều bài viết chuyên sâu về mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Đảng… Xuyên suốt và nhất quán trong nội dung những bài báo/loạt bài báo trên các chuyên trang, chuyên mục đó là: không chỉ làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và thế giới mà còn tuyên truyền, phổ biến rộng rãi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân mục tiêu của cách mạng Việt Nam, đó là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và nhân dân ta lựa chọn từ trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam (mùa Xuân năm 1930).
95 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, đặc biệt là gần 45 năm được Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, giáo dục và rèn luyện (kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập báo Thanh Niên - cơ quan ngôn luận của Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên, số 1 ra ngày 21/6/1925), báo chí cách mạng Việt Nam đã góp phần làm cho thế giới quan Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội, góp phần giữ vững ổn định chính trị và định hướng xã hội chủ nghĩa; đồng thời, thực hiện được vai trò vừa là tiếng nói của Đảng, của Nhà nước, của các đoàn thể, vừa là diễn đàn của nhân dân; thực sự là lực lượng xung kích trên mặt trận tư tưởng văn hoá.
Trong mọi thời điểm, báo chí cách mạng Việt Nam luôn là công cụ thông tin nhanh nhất, phổ cập nhất, là phương tiện thường xuyên tiếp xúc với nhân dân và giải đáp những vấn đề mới do cuộc sống đặt ra; đồng thời, hằng ngày, hàng giờ chủ động đấu tranh chống những âm mưu, thủ đoạn đen tối của các thế lực thù địch, chống các khuynh hướng tư tưởng sai lầm, góp phần tổ chức, phát động phong trào hành động cách mạng của nhân dân. Hoạt động báo chí đã hướng vào mục tiêu giữ vững ổn định chính trị, tiếp tục sự nghiệp đổi mới, từng bước xây dựng con người mới, lối sống mới, làm cho những nguyên lý cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội; trong đó, "đội ngũ những người làm báo tích cực tuyên truyền về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; những thành tựu của đất nước; đấu tranh chống các âm mưu, thủ đoạn, quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đặc biệt, báo chí đã tham gia hiệu quả bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc và cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Hội đã tích cực tham gia xây dựng cơ chế và chính sách báo chí, giám sát việc tuân thủ pháp luật về báo chí, góp phần thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của báo chí cách mạng Việt Nam”[10]… góp phần quan trọng vào quá trình truyền cảm hứng cho toàn dân tộc kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp thiết thực, cụ thể, có tác dụng góp sức và truyền cảm hứng cho toàn thể nhân dân ta, dân tộc ta trên con đường đi đến tương lai - con đường gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, báo chí cách mạng Việt Nam vẫn còn những hạn chế cần phải khắc phục. Chỉ thị số 43-CT/TW ngày 8/4/2020 của Ban Bí thư về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Hội Nhà báo Việt Nam trong tình hình mới" đã nêu rõ: “Một số tổ chức hội, cơ quan báo chí chưa chú trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ. Một bộ phận hội viên chưa tích cực học tập nâng cao trình độ tác nghiệp báo chí trong tình hình mới. Vẫn còn tình trạng hoạt động báo chí xa rời tôn chỉ, mục đích, thiếu tính định hướng; một số người làm báo thiếu tu dưỡng, rèn luyện, vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức nghề nghiệp”; đồng thời nhấn mạnh rằng, trong những nguyên nhân của sự yếu kém nêu trên có cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan, song nguyên chủ yếu là “công tác xây dựng Đảng, công tác giáo dục, bồi dưỡng lý luận chính trị, đạo đức nghề nghiệp, chuyên môn, nghiệp vụ ở một số cấp hội chưa được quan tâm đúng mức”. 
BÁO CHÍ CÁCH MẠNG GÓP PHẦN TRUYỀN CẢM HỨNG ĐỂ KIÊN ĐỊNH MỤC TIÊU ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
Ðộc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn nhất quán của Ðảng Cộng sản Việt Nam, của Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù thuận lợi hay khó khăn, Ðảng ta, nhân dân ta cũng vẫn không rời xa mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Bởi đó là sự lựa chọn duy nhất đúng, đáp ứng yêu cầu của cách mạng Việt Nam, phù hợp với quy luật và xu thế phát triển của thời đại. Có thể khẳng định rằng, chỉ có đi lên chủ nghĩa xã hội mới bảo đảm dân tộc độc lập thực sự, đất nước phát triển phồn vinh và bền vững, nhân dân mới có được cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, mới thực hiện được mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".
Tuy nhiên, từ thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam, nhất là sau hơn 30 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, một trong những bài học quan trọng hàng đầu được Đảng Cộng sản Việt Nam rút ra là: “Trong quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”[11]. Để hiện thực hóa mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, trong từng giai đoạn cách mạng, Đảng đề ra mục tiêu phù hợp và Văn kiện Đại hội XII của Đảng khẳng định mục tiêu hiện nay là “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”[12]. Đây vừa là mục tiêu, vừa là đặc trưng đầu tiên của xã hội xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta xây dựng. Vì thế, để thực hiện được mục tiêu xuyên suốt, nhất quán và mục tiêu trước mắt, cần phải lôi cuốn và phát huy tốt nhất vai trò, trách nhiệm của mọi tổ chức, mọi lực lượng dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước; trong đó, báo chí là lực quan trọng - một trong ba “binh chủng” của những người làm công tác tư tưởng (nhà lý luận; người tuyên truyền và người cổ động)[13] như V.I. Lênin đã nhấn mạnh. 
Theo đó, báo chí cách mạng cần phải/nhất định phải: “a) Thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của Nhân dân; b) Tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thành tựu của đất nước và thế giới theo tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí; góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hóa lành mạnh của nhân dân, bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”[14] để góp sức truyền cảm hứng cho toàn dân tộc kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Phát huy vai trò của báo chí trong việc truyền cảm hứng cho toàn dân tộc kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là quá trình phát hiện, làm bộc lộ, hình thành, sử dụng những tiềm năng sáng tạo và không ngừng gia tăng tính tích cực, tự giác, năng động, tự chủ, phát huy sức mạnh bên trong của mỗi cá nhân nhà báo kết hợp với sức mạnh của cả đội ngũ nhà báo, cán bộ quản lý báo chí, các hội nhà báo. Thông qua đó, không chỉ thông tin, tuyên truyền, giáo dục và phổ biến cho toàn dân những vấn đề cơ bản về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội để góp phần nâng cao nhận thức cho mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân có thái độ, tình cảm cách mạng đúng, trách nhiệm công dân tốt mà còn nâng cao bản lĩnh chính trị, chủ động phòng và đấu tranh không khoan nhượng với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, cùng kiên định và thực hiện thắng lợi mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Trong đó, việc phát huy vai trò của báo chí trong truyền cảm hứng cho toàn dân tộc kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội phải hướng tới “mục tiêu kép”. Đó là không chỉ định hướng cho toàn dân tộc nhận thức rõ về tính tất yếu, nội dung, đặc điểm, cách thức, tính khó khăn, lâu dài, phức tạp và niềm tin chắc chắn vào thắng lợi vào mục tiêu đó mà đi liền cùng đó là phải xây dựng được đội ngũ nhà báo và cơ quan báo chí thực sự vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Trước hết và hơn ai hết, đội ngũ nhà báo và cơ quan báo chí phải thấm nhuần và luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong từng ấn phẩm báo chí bằng tính chiến đấu cao, sự thuyết phục chặt chẽ và sức hấp dẫn mạnh mẽ đến lôi cuốn.
Để phát huy vai trò của báo chí trong quá trình truyền cảm hứng cho toàn dân tộc kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, cần phải sử dụng tổng hợp các cách thức và biện pháp, trong đó tập trung thực hiện một số giải pháp sau:
Một là, "tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với hoạt động của Hội Nhà báo Việt Nam. Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với báo chí theo hướng bảo đảm báo chí phát triển đúng định hướng chính trị, tư tưởng của Đảng và quyền tự do, dân chủ của nhân dân. Tổ chức quán triệt, thực hiện tốt các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng và pháp luật liên quan đến hoạt động báo chí và Hội Nhà báo Việt Nam”[15]. Đồng thời, tăng cường tính Đảng, tính chiến đấu của báo chí cách mạng để báo chí có thể và đảm bảo đóng góp tích cực nhất vào quá trình truyền cảm hứng cho toàn dân tộc kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Cụ thể, báo chí phải tự giác phục tùng và tranh thủ tối đa sự lãnh đạo của Đảng. Đây là nguyên tắc nguyên tắc bất di, bất dịch bảo đảm cho báo chí cách mạng hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Ban Chấp hành Trung ương phải kiểm soát các báo chí của Đảng để tránh những khuyết điểm về kỹ thuật và chính trị”[16]; đồng thời, "phải có tính chất quần chúng và tinh thần chiến đấu”[17] vì “báo chí ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ nhân dân, để tuyên truyền giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ”[18]
Hai là, đội ngũ các nhà báo, các cơ quan báo chí và Hội Nhà báo Việt Nam tiếp tục thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 43-CT/TW ngày 8/4/2020 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Hội Nhà báo Việt Nam trong tình hình mới, Quyết định số 362/QĐ-TTg ngày 3/4/2019 của Thủ tướng Chính phủ về Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025 gắn với thực tốt Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ" trong các cơ quan báo chí, trong các cấp hội nhà báo và Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. 
Ba là, tiếp tục xây dựng đội ngũ những người làm báo “vừa hồng, vừa chuyên”, luôn có “tâm sáng, lòng trong, ngòi bút sắc”. Theo đó, đội ngũ những người làm báo phải thường xuyên tự trau dồi đạo đức cách mạng, đạo đức nghề nghiệp; tự học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ lý luận, kỹ năng, nghiệp vụ báo chí, nhất là có đủ tri thức cơ bản để thấm nhuần và kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; thực sự là người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng - văn hóa để hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang, vì "muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ ấy thì phải cố gắng học tập chính trị, nâng cao tư tưởng, đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản; phải nâng cao trình độ văn hoá, phải đi sâu vào nghiệp vụ của mình. Cần phải luôn luôn cố gắng, mà cố gắng thì nhất định thành công”[19]. Theo đó, mỗi người làm báo, mỗi hội viên Hội Nhà báo Việt Nam cần nhận thức sâu sắc trách nhiệm của mình để học tập, tu dưỡng, rèn luyện về mọi mặt và nêu cao tinh thần cống hiến, tăng cường đoàn kết, nỗ lực phấn đấu góp phần xây dựng nền báo chí cách mạng Việt Nam giàu tính chiến đấu, nhân văn, chuyên nghiệp và hiện đại, vì lợi ích của đất nước và nhân dân.
Bốn là, tăng cường mối quan hệ biện chứng giữa tính cách mạng và tính khoa học trong công tác tư tưởng của báo chí để truyền cảm hứng cho toàn dân tộc kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội hiện nay gắn với thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị khóa XII  về "Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới" trong các cơ quan báo chí. Theo  đó, báo chí và đội ngũ những người làm báo: 1) Phải giữ vững và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết đấu tranh với những tư tưởng sai trái, thù địch; kiên trì mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; 2) Phải nắm vững đặc điểm, đối tượng, tăng cường tính Đảng, tính thuyết phục và hấp dẫn trong công tác tuyên truyền của báo chí; 3) Tăng cường sử dụng những hình thức, phương pháp, phương tiện thu hút sự chú ý và phát triển trí sáng tạo ở đối tượng truyền cảm hứng trên cơ sở đổi mới nội dung cơ bản của công tác tuyên truyền, cổ động cho phù hợp yêu cầu thực tiễn của đất nước từng lúc, từng nơi và thích hợp nhu cầu, đặc điểm nhận thức của các loại đối tượng cụ thể.
Năm là, trên cơ sở đổi mới nội dung tuyên truyền bảo đảm tính Đảng, tính khoa học và tính chiến đấu cao, các cơ quan báo chí phải sử dụng hiệu quả loại hình báo chí đa phương tiện để thu hút độc giả; khắc phục nguy cơ báo chí có thể bị truyền thông xã hội chi phối, lấn át, gây ra những tác hại không đáng có. Đặc biệt, không để các thế lực thù địch cài cắm lực lượng vào các tổ chức của những người làm báo hoặc bị mua chuộc. Đồng thời, thực hiện tốt chính sách và quan tâm hơn nữa việc bảo vệ quyền lợi chính đáng và hợp pháp của hội viên, của người làm báo; trong đó, chú trọng và kịp thời động viên khen thưởng xứng đáng đối với các đơn vị và cá nhân có thành tích xuất sắc trong hoạt động báo chí, công tác hội; nhất là các tổ chức hội, hội viên trực tiếp hoạt động ở những lĩnh vực, địa bàn có nhiều khó khăn, những điển hình tiên tiến của tập thể và cá nhân tiêu biểu trong phong trào thi đua yêu nước trên con đường thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội./.

[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia-Sự Thật, Hà Nội, 2011, t.12, tr.166
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia-Sự Thật, Hà Nội, 2011, t.12, tr.166
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia-Sự Thật, Hà Nội, 2011, t.12, tr.171
[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia-Sự Thật, Hà Nội, 2011, t.7, tr.405
[5]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia-Sự Thật, Hà Nội, 2011, t.9, tr.229-230
[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia-Sự Thật, Hà Nội, 2011, t.13, tr.464
[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia-Sự Thật, Hà Nội, 2011, t.14, tr.540
[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia-Sự Thật, Hà Nội, 2011, t.13, tr.466
[9] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia-Sự Thật, Hà Nội, 2011, t.13, tr.466
[10] Ban Chấp hành Trung ương: Chỉ thị số 43-CT/TW ngày 8/4/2020 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Hội Nhà báo Việt Nam trong tình hình mới, Hà Nội, tr.1
[11] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự Thật, Hà Nội, 2011, tr.69
[12] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự Thật, Hà Nội, 2011, tr.65
[13] V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến Bộ, Mátxcơva, 1975, t.6, tr.85
[14] Luật Báo chí năm 2016: Mục a và b, điểm 1, Điều 4
[15] Ban Chấp hành Trung ương: Chỉ thị số 43-CT/TW ngày 8/4/2020 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Hội Nhà báo Việt Nam trong tình hình mới, Hà Nội, tr.1
[16] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia-Sự Thật, Hà Nội, 2011, t.3, tr.168
[17] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia-Sự Thật, Hà Nội, 2011, t.12, tr.166
[18] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia-Sự Thật, Hà Nội, 2011, t.12, tr.166
[19] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia-Sự Thật, Hà Nội, 2011, t.12, tr.166

BẰNG Ý CHÍ VÀ NIỀM TIN, “TỪ THÀNH PHỐ NÀY NGƯỜI ĐÃ RA ĐI”...



Nay chúng ta có đến lại Bến Nhà Rồng, xem lại nơi mà 109 năm trước, sáng ngày 4/6/1911, người thanh niên yêu nước mang tên Văn Ba đã xuống chiếc tàu Latousetrvel, rồi sáng ngày hôm sau, con tàu nhổ neo đưa Người ra đi tìm con đườngcứu nước. Nơi đây, vẫn như đọng lại những hình ảnh xưa, khi Người đã vào Sài Gòn với đất trời phương Nam.
Hồi ức về ngôi trường xưa hơn 110 tuổi
Những ngày Tháng 5 lịch sử này, chúng tôi hành hương về ngôi trường Dục Thanh do các nhà yêu nước từ đầu thế kỷ trước sáng lập, thăm lại ngôi trường cổ kính nhất nhì này ở vùng Nam Trung bộ, không ai không khỏi xúc động. Đây là ngôi trường nằm trung tâm của Thành phố Phan Thiết hiện nay. Đứng lặng hồi lâu, ngắm lại bộ tràng gỗ đã khá cũ kỹ đến hơn trăm năm, bên chiếc bàn đơn sơ ấy, giá sách gọn gẽ, ngăn nắp ấy, đã mang đậm dấu ấn thời gian 110 năm của ngôi trường cổ kính nhất nhì đất miền Nam. Khi ta được nhìn những bức ảnh cổ của ngôi trường về cảnh trí xưa vẫn còn lưu lại nơi đây, hình ảnh người thanh niên Nguyễn Tất Thành từng là một thầy vào những ngày đầu năm 1910 lại hiện lên dung dị và giáo thực sự đáng kính. Lúc đó, từ Huế vào đây, Người được cụ Trương Gia Mô (bạn thân cụ Nguyễn Sinh Sắc) trong tổ chức Liên Thành Thơ Xã giúp đưa vào dạy học tại trường Dục Thanh - tỉnh lỵ cũ của đất Phan Thiết từ xưa.
Trước đó, thưở còn là học sinh tại trường Quốc học Huế, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã trực tiếp chứng kiến bao thăng trầm của cảnh cố đô Huế, các triều vua quan Huế đang cảnh suy tàn; cũng như đất nước ta vào lúc đầu thế kỷ XX đang suy tàn trong vòng nô lệ, lầm than. Những ý thức làm người, kiến thức được học từ trường Quốc học Huế đã nung nấu ý chí và quyết tâm cho Người trở thành một thầy giáo chú tâm giảng giải những điều nhân - nghĩa, mà lịch sử đất nước ta đã thấm hiểu sâu cho những học sinh tại trường Dục Thanh.
Ngôi trường Dục Thanh được ra đời năm Bính Ngọ - 1906, là ngôi trường vào loại đầu tiên đất Phan Thiết; do các nhân sĩ Liên Thành Thương Quán sáng lập, như: Trần Lệ Chất, Hùynh Thúc Kháng Phan Chu Trinh, Nguyễn Qúy Anh… đều là những nhà nho nổi tiếng của Liên Thành Thơ xã, có ảnh hưởng lớn ở vùng Nam Bộ và Nam Trung Bộ.
Các tư liệu sử học ghi lại: Vào những năm đầu thế kỷ XX, khi cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp sắp bước vào lần thứ 3, hưởng ứng phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục ở Hà Nội, cụ Trần Lệ Chất, một nhà nho yêu nước ở Nam Trung Bộ đứng ra chiêu hiền, lập ra Hội Liên Thành Thơ xã, tại Nhà Võ Ca đình làng Phú Tài, tỉnh lỵ Phan Thiết lúc đó. Khi thành lập xong, các ông cho mở các lớp dạy chữ Hán và Pháp văn, chương trình do những nhà nho yêu nước đảm trách. Các lớp học được dạy vào mỗi buổi tối do các trợ giáo Nguyễn Hiệt Chi - quê Hà Tĩnh - dạy Hán văn; ông Phán sự Lệ Chất, phụ trách dạy Pháp văn. Tất cả sách học đều do phong trào Đông  Kinh Nghĩa Thục biên khảo, chú giải, mà người trực tiếp gửi vào Phan Thiết là ông Đình nguyên Hoàng giáp Đào Nguyên Phổ, người giao thân chí thiết của cụ Trần Lệ Chất đích thân mua gữi cho trường Dục Thanh.
Dạy làm người ở trường Dục Thanh
Tài liệu lưu trữ của người Pháp để lại tại Kho Lưu trữ Quốc gia II – Cục Lưu trữ Quốc gia cho chúng ta biết, tại ngôi trường cổ kính này còn lưu giữ nhiều sách, thư án cũ, từ đầu thế kỷ XX. Nay ta vào vẫn thấy Phòng Ngọa Sào – tức nơi đích danh người thanh niên Nguyễn Tất Thành từng đến đọc sách, nghiên cứu các tài liệu người Pháp đang có ở Đông Dương lúc đó, để mở mang nhận thức, khi về đây làm thầy giáo. Phòng Ngọa Sào trên căn gác gỗ, tuy nhỏ và hẹp so với nay, song từ hơn 110 năm trước, các căn phòng này đã là nơi sinh ra bao ý tưởng yêu nước cho những nhà nho trẻ, vừa đến dạy học tại ngôi trường có chí hướng tân tiến về cách dạy và học.        
Học sinh những năm đầu thành lập, đến từ nhiều tỉnh ở Nam Trung Bộ, Nam Bộ ra khá đông, chia làm 4 lớp học. Năm cao nhất, trường có 102 học sinh, học từ lớp đệ nhất, đến đệ tứ, với các chương trình độc lập do trường mở. Tại trường, nay còn lưu lại những kỷ niệm về Người, khi từ Huế vào khoảng tháng 9 -10/1910, và Người đã lưu lại đây dạy học đến tháng 2/1911 khi vào Sài Gòn. Thầy giáo Nguyễn Tất Thành dạy chữ Quốc ngữ và Hán văn, nhiều lúc thêm tiếng Pháp. Khi về đây, Người đề nghị các vị quản lý trường, mở môn thể dục - thể thao, và chính Người trực tiếp dạy học sinh môn học mới mẻ và hứng thú này cho các em. 
Về lại thăm trường, bên dòng sông xanh, nhìn căn phòng cũ Bác từng ở, đọc sách, và những kỷ vật đã cũ, mà trước tháng 2 năm 1911, Người đã rèn luyện ý chí từ trang sách, tài liệu của trường, để rồi quyết chí ra đi tìm đường cứu nước, mới thấy những kỷ vật đó thấm đẫm với Người lúc là thầy giáo dạy những học trò Nam bộ biết học chữ, tu chí làm người.
Học trò vào học tại đây, phải chịu nội quy học tập rất nghiêm, cho tất cả 4 lớp từ lớp nhất, nhì đến lớp đệ tam, đệ tứ. Mỗi sáng, từ 6 giờ sáng, học trò dậy tập bài tập thể dục, sau bài tập thể dục cuối ngày xong, học sinh xếp hàng đi vào lớp ngay ngắn từng người. Vào lớp rồi, tất cả học sinh phải xếp tay vòng trước ngực hát cao giọng Bài ca Ái Quốc, do Nhà chí sĩ Phan Chu Trinh sáng tác năm 1907. Đây là bài hát thuộc lòng cho mỗi môn sinh trước khi vào đây. Lời bài hát là:                                 
                   Nước Nam ta từ thời Hồng Lạc;
                   Mấy ngàn năm khai phá đến nay.
                  Á  Âu riêng một cõi này;
                  Giống vàng ta cũng xưa nay một loài.
                  Vuông mấy dặm, ba mươi mấy vạn;
                  Nào bạc vàng nhan nhản thiếu chi.
                  Đồng tươi, ruộng tốt tư bề;
                  Có điều lợi đất, ai bì được đâu![1]
       Mỗi khi cả lớp ca xong, thầy giáo mới rung chuông, các môn sinh mới được ngồi xuống bắt đầu buổi học. Thầy giáo Nguyễn Tất Thành dạy ở trường mấy tháng, song học trò ai cũng quý mến với đức tính ham hiểu biết, gợi mở rộng ra các kiến thức khi truyền dạy nhiều môn học mà kiến thức những bài học từ lớp Nhất, đến đệ Tứ luôn được Thầy giáo Thành đưa lại sự hứng thú cho học sinh. 
Trở về nơi Người đi tìm chân lý cho non sông, cho dân tộc Việt Nam
Đầu năm 1911, thầy giáo Nguyễn Tất Thành được cụ Trương Gia Mô giúp đỡ để đi vào Sài Gòn. Đầu tiên vào, ở tại căn nhà anh Lê Văn Đạt, ở xóm Rạch Bần, là số nhà 185/1 đường Cô Bắc - Quận 1 nay. Có một chi tiết, mà nay ta về thăm trường Dục Thanh, nhìn thấy bức ảnh của người đánh xe ngựa đưa Người ra ga xe lửa đi Sài Gòn - cụ Võ Văn Trang, một người chuyên được các nhân sĩ Liên Thành Thương Quán tin tưởng chuyên chở đi - về. Chính cụ là người đã đón thầy giáo Thành lúc từ Huế vào, và cũng là người đã đánh xe ngựa đưa thầy giáo Nguyễn ra ga xe lửa, vào Sài Gòn. Trong chuyến đi này, cụ Võ Văn Trang còn là người cất giữ 9 (chín) đồng bạc Đông Dương do chính thầy giáo Nguyễn Tất Thành gửi cụ, để trả bớt lại cho Liên Thành Thương Quán lúc chia tay Trường. Đó là một ngày tháng 2 năm 1911, thầy giáo Nguyễn Tất Thành trước khi vào Sài Gòn.
Ông Nguyễn Quý Anh, phụ trách phân cuộc Liên Thành thương quán ở Sài Gòn, chỉ đạo ông Phạm Phú Hữu (cháu nội quan đại thần triều đình Huế Phạm Phú Thứ) chi 27 đồng bạc Đông Dương để trao cho Nguyễn Tất Thành làm lộ phí. Nhận tiền, Nguyễn Tất Thành do dự một hồi rồi chỉ nhận 18 đồng còn 9 đồng gửi lại. Thấy vậy, ông Võ Văn Trang với lòng xúc động và kính trọng đã nhận giữ và gửi trả lại bằng 9 đồng bạc giấy cho ông Phạm Phú Hữu nộp vào quỹ Liên Thành thương quán. Cũng từ tháng 5/1911 người cha của Người, cụ Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc, cũng đã từ quan Tri huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định - giã từ chốn quan trường, cũng lên đường vào Nam.
Lịch sử căn nhà số 5 Châu Văn Liêm, quận 5 nay vẫn còn ghi, sáng ngày 4/6 Người tạm biệt ngôi nhà này, để đến làm chân phụ thợ bếp cho tàu Đô đốc Latousestơrevila. Và sáng ngày 5/6/1911 đã đi vào lịch sử dân tộc ta, như một dấu ấn không bao giờ phai nhạt trong trái tim mỗi con người Việt Nam. Khi ra đi, Người chỉ có hai bàn tay trắng, hai bàn tay của lòng yêu nước, hai bàn tay con người lao động lầm than dưới hầm tàu, để vượt qua bao dông bão, vượt qua bao cám dỗ, vượt qua bao ngặt nghèo cảnh tù đày… nhằm để 30 năm mới mang về cho dân tộc con đường cứu nước chính đáng nhất.
Xem lại những tư liệu tại trường Dục Thanh, có một mối liên quan rất hiện hữu từ ý chí và niềm tin đã đưa Người quyết chí ra đi và vững bước trên mọi chân trời bốn biển, năm châu. Suốt 30 năm trời sau năm 1911 đó, Người đã từ một lao động nghèo, một ký giả nghèo cùng sống, cùng đấu tranh, cùng hòa mình vào bao cuộc đời cần lao, với các tổ chức yêu nước khắp năm châu, để đi đến tìm ra một chân lý chính đáng nhất - đó là chân lý của độc lập và tự do.
Cũng vào mùa Xuân sau đó 30 năm, vào tháng 2-1941 Người đã trở về Tổ quốc tại Fắk Bó - Cao Bằng, để cùng Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo toàn diện cuộc cách mạng cho dân tộc Việt Nam - đưa đến những chiến thắng sáng ngời của toàn dân tộc. Đó là, phải đánh đuổi cho được những tên đế quốc to, mạnh nhất thế giới xâm lược nước ta. Những đại thắng mùa Xuân vào năm 1954,1975, thực hiện thành công ước mơ, hoài bão của Người khi ra đi tìm đường cứu nước. Đó cũng là chân lý mà Người mang lại: Độc lập - Tự do - Bình đẳng - Bác ái cho toàn dân tộc, nhân dân ta./.  
[1] - Trích trong: Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc - Khu Di tích Đồng Tháp, 1990, Tr. 70 - 71

XU HƯỚNG GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TRỰC TUYẾN



 Bên cạnh việc tiến hành giáo dục lý luận chính trị theo phương pháp truyền thống, thì phải đồng thời triển khai thực hiện giáo dục lý luận chính trị trực tuyến, bởi đây là xu hướng tất yếu trong bối cảnh công nghệ số hiện nay.
             Xuất hiện tại Mỹ bắt đầu từ năm 1999, trải qua một thập niên, đến khoảng năm 2010 thì đào tạo  - giáo dục trực tuyến dần trở thành một xu thế mang tính toàn cầu. Sự phát triển mạnh mẽ của các ứng dụng trên nền tảng di động và mạng xã hội như Facebook, Google Plus, Instagram... cho phép người dùng tăng cơ hội và phương tiện tương tác mọi lúc, mọi nơi. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho học trực tuyến phát triển lên bậc cao hơn.
Với tốc độ phát triển nhanh, học trực tuyến được ghi nhận mang lại doanh thu lớn, nhất là tại các quốc gia đứng đầu thế giới về đào tạo trực tuyến, như: Mỹ, Ấn Độ, Anh, Hàn Quốc, Nam Phi, Malaysia, Trung Quốc. Con số thu về 51,5 tỷ USD từ lĩnh vực đào tạo trực tuyến toàn cầu vào năm 2016 đã cho thấy tốc độ phát triển của ngành này. Theo Economist, số người đăng ký học trực tuyến trên thế giới tăng từ khoảng 60 triệu người (năm 2016) lên khoảng 70 triệu người (năm 2017).
Việt Nam là một trong những nước châu Á bắt kịp và phát triển mạnh việc đào tạo trực tuyến. Ở Việt Nam hiện nay đang có hàng chục trang đào tạo trực tuyến như: Hocmai.vn, Viettel Study, FUNiX... phát triển bài bản, thu hút lượng lớn người học, đặc biệt là học sinh từ tiểu học cho tới trung học phổ thông cho thấy sự phát triển sôi động của phương pháp này.
Năm 2017, theo số liệu thống kê của University World News, châu Á là thị trường lớn thứ hai thế giới về đào tạo trực tuyến và Việt Nam đứng trong top 10 các nước châu Á phát triển lĩnh vực này. Cũng trong năm 2017, theo số liệu của Ambient Insight, Việt Nam là quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao nhất về học trực tuyến (với 44.3%), lớn hơn 4.9% so với Malaysia - một đất nước vốn đã có tốc độ tăng trưởng mạnh trong lĩnh vực này.
So với phương pháp học tập truyền thống, học tập trực tuyến có chi phí rẻ, thời gian - địa điểm - phương tiện hỗ trợ linh hoạt và chủ động trong việc điều chỉnh tốc độ, lộ trình học tập. Những ưu điểm này đã kích thích nhu cầu sử dụng các khóa học trực tuyến ngày càng cao.
Phương pháp học tập trực tuyến có độ phủ đối tượng rộng, từ học sinh các cấp, sinh viên tới người đi làm. Với đặc thù riêng và nhiều ưu điểm trong đào tạo, phương pháp này đã làm thay đổi mạnh mẽ quá trình tự học của người học.
Việc đổi mới trong cung cấp và sử dụng công nghệ số để ứng dụng vào dạy và học trực tuyến đã góp phần thúc đẩy công cuộc chuyển đổi số tại Việt Nam. Việc ứng dụng công nghệ số vào dạy và học trực tuyến cũng chính là phát triển kinh tế số góp phần thực hiện thành công đề án “Đưa Việt Nam trở thành nước mạnh về công nghệ thông tin và truyền thông” và hội nhập quốc tế thành công(1).
Giải pháp đào tạo trực tuyến chỉ có thể thực hiện trên cơ sở kết hợp 4 yếu tố: E-Learning (Học trực tuyến) + E-Teaching (Giảng dạy trực tuyến) + E-Management (Quản trị trực tuyến) + Social (Mạng xã hội). Cụ thể:
E-Learning: Cung cấp cho sinh viên/học sinh tài liệu, công cụ và môi trường học tập một cách trực quan nhất. Các bài học đều có phần kiểm tra, đánh giá trực tiếp. Có bài thi cuối khóa học. Toàn bộ quá trình và kết quả học của người học được lưu lại trên hệ thống.
E-Teaching: Trong hệ thống của Nettop, giáo viên có thể tạo những khóa học, bài giảng của riêng mình một cách đơn giản và linh hoạt. Các bài giảng có thể dễ dàng được tích hợp video hoặc âm thanh, hình ảnh. Một trong những chức năng chính của giáo viên là chấm điểm và quản lý, theo dõi học sinh của mình.
E-Management: Quản trị viên có những công cụ quản trị đắc lực để có thể kết xuất ra những báo cáo chuyên biệt: quản trị người dùng, quản trị khóa học, tài nguyên, quản lý hồ sơ, kết quả học tập của học sinh theo lớp, theo trường…
Social: Mạng xã hội giúp kết nối người học với giáo viên, kết nối những người học với nhau để tạo nên một môi trường học tập tích cực hơn(2).
Từ mô hình trên, việc đào tạo trực tuyến có những lợi thế sau:
Giảm chi phí. Với sự phát triển của Internet, hầu hết các lĩnh vực kinh doanh đều có lợi trong việc xây dựng chính sách giá cho khách hàng của mình, và dịch vụ E-learning không phải là ngoại lệ. Theo đó, chi phí khóa học sẽ được giảm đến mức đáng kể. Ví dụ, một học viên phải trả cho một khóa học dạy về Quản lý thương hiệu trung bình khoảng 5 triệu đồng, thì đối với một khóa học trực tuyến chi phí vào khoảng 500.000 đồng, nghĩa là chỉ còn 1/10. Hay một khóa học tiếng Anh có giá khoảng 3 triệu đồng thì nếu học theo kiểu e-learning, học viên chỉ phải tốn khoảng 300.000 đồng.
Tự định hướng. Người học có thể tự định hướng cho mình bằng cách chọn khóa học phù hợp nhất đối với trình độ, sở thích, mục tiêu của bản thân, hoặc một công ty có thể yêu cầu công ty cung cấp dịch vụ học trực tuyến thiết kế khóa học theo yêu cầu của mình, theo định hướng hay theo nhu cầu kiến thức nhân viên.
Tự điều chỉnh. Là một học viên học trực tuyến, người học có thể tự điều chỉnh nhịp điệu khóa học cho mình, nghĩa là có thể học từ từ hay nhanh phụ thuộc vào việc bố trí, sắp xếp thời gian hay khả năng tiếp thu kiến thức của bản thân người học.
Tính linh hoạt. Bản chất của Internet và nền tảng công nghệ cho phép người học có được sự linh hoạt trong quá trình học trực tuyến. Từ khi đăng ký học cho đến lúc hoàn tất, người học hoàn toàn có thể tự định ra và thiết lập thời gian biểu cho riêng mình; dù đang ở trong lớp học “ảo” nhưng người học không bị gò bó bởi thời gian và không gian lớp học như phương thức truyền thống. Tính linh hoạt còn thể hiện ở “tự định hướng” và “tự điều chỉnh” như trình bày ở phần trên.
Tính đồng bộ. Giáo trình và tài liệu của các khóa học trực tuyến có tính đồng bộ cao, vì hầu hết học trình, chương trình giảng dạy được soạn thảo, xem xét và đưa đưa lên trang trực tuyến ngay từ đầu.
Tương tác và hợp tác. Học trực tuyến tạo điều kiện và cơ hội giao lưu, tương tác cho người học với nhiều người cùng lúc. Học sinh/sinh viên có thể hợp tác với bạn bè trong nhóm học trực tuyến để thảo luận và làm bài tập về nhà. Hiện nay, việc tương tác và hợp tác trên Internet đươc thực hiện phổ biến qua Forum, Blog, Facebook… do đó, người học có thể tận dụng những tiện ích để “vừa làm vừa học vừa chơi”.
Hiệu quả. Học trực tuyến giúp mỗi cá nhân và tổ chức/công ty/đơn vị tham gia không chỉ tiết kiệm chi phí mà còn đáp ứng đúng với nhu cầu của mình.
Dễ tiếp cận và thuận tiện. Dịch vụ học trực tuyến dựa trên nền tảng công nghệ Internet, vì vậy việc tiếp cận rất dễ dàng, thuận tiện. Người học có thể tiếp cận và tham gia học ở bất cứ không gian, địa điểm nào.
Việc có càng nhiều trang trực tuyến dạy và học để cung cấp kiến thức cho xã hội một cách hiệu quả nhất không chỉ là mong muốn, nhu cầu của nhiều người trong bối cảnh 4.0, mà còn là xu thế tất yếu trong “thế giới phẳng” hiện nay. Vì vậy, một định hướng hoặc một ý tưởng hay cho một trang trực tuyến là yêu cầu và đòi hỏi cần thiết mà các nhà cung cấp dịch vụ E-learning cần không ngừng tìm tòi, phát triển, sáng tạo để phục vụ cho xã hội trong những năm tới(3).
Theo Elliott Masie, một chuyên gia nổi tiếng, học trực tuyến (E-learning) là “việc áp dụng công nghệ để tạo ra, cung cấp, chọn lựa, quản trị, hỗ trợ và mở rộng cách học truyền thống”. Việc phát triển của Internet, với khả năng giúp học viên tiếp cận liên tục các khóa đào tạo một cách hiệu quả và tiết kiệm, đã tạo nên một giai đoạn mới cho việc học và dạy đạt đến những tầm cao mới.
 “Tiếp tục đổi mới việc học tập lý luận chính trị (bao gồm cả nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy, xây dựng đội ngũ giáo viên…) trong hệ thống giáo dục quốc dân có tầm quan trọng chiến lược” là nội dung được đặt ra trong Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo(4). Ban Bí thư Trung ương ương Đảng cũng có yêu cầu rất cụ thể: “Đổi mới phương pháp giảng dạy lý luận chính trị, ứng dụng các phương pháp hiện đại, hấp dẫn người học, tạo hứng thú tìm tòi, nghiên cứu. Đổi mới hình thức, phương pháp kiểm tra, đánh giá thực chất kết quả học tập lý luận chính trị theo hướng thực chất”.(5) 
Công tác giảng dạy, học tập các môn lý luận chính trị trong hệ thống giáo dục quốc dân ở Việt Nam hiện nay đã đạt được những kết quả nhất định. Quá trình đổi mới nội dung chương trình, giáo trình, phương pháp giảng dạy... từng bước được thực hiện, khẳng định chủ trương đổi mới là đúng đắn. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tế thời gian qua cho thấy, công tác giảng dạy, học tập các môn lý luận chính trị trong hệ thống giáo dục quốc dân vẫn còn những hạn chế, thiếu sót, bất cập cần được khắc phục. Nhất là phương pháp giảng dạy ở nhiều nơi vẫn còn xơ cứng, kinh viện, chưa tạo được hứng thú thực sự cho người học. Những phương pháp dạy và học tích cực, đề cao sự tự học, tự nghiên cứu của học sinh, sinh viên, học viên; việc sử dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy, học tập chưa thực sự được phát huy mạnh mẽ và thiếu tính hiệu quả.
Nhìn chung, công tác giáo dục lý luận chính trị hầu như vẫn chưa thực sự “nhập cuộc” vào quá trình học tập trực tuyến, vẫn phụ thuộc vào phương pháp dạy và học truyền thống; còn hạn chế trong việc tạo lập và vận hành giáo dục lý luận chính trị trực tuyến.
Theo khảo sát của Đề án “Đổi mới giảng dạy, học tập các môn lý luận chính trị trong hệ thống giáo dục quốc dân” do Ban Tuyên giáo Trung ương tiến hành năm 2014 thì trong hệ thống giáo dục quốc dân ở Việt Nam, gần như chưa triển khai thực hiện (kể cả thí điểm) hình thức đào tạo lý luận chính trị trực tuyến. Thực tế này cho thấy, chúng ta đang đứng ngoài cuộc đối với một xu hướng đào tạo mới trong tương lai đầy tiềm năng (đào tạo trực tuyến cho tất cả các môn học). Điều đó cũng có nghĩa là chúng ta đang lãng phí và bỏ rơi một công cụ, một cách thức tiếp cận tiên tiến trong giáo dục.
Trong bối cảnh đại dịch COVID-19 làm đình trệ sản xuất và lưu thông, nhất là làm gián đoạn việc học tập ở cả trên thế giới và Việt Nam, thì việc lựa chọn học trực tuyến là giải pháp phù hợp và hiệu quả nhất. Đây là một yêu cầu, đòi hỏi được đặt ra cấp thiết hơn bao giờ hết. Việc dạy và học lý luận chính trị cũng không ngoại lệ.
Từ thực tiễn giảng dạy và học tập lý luận chính trị, cùng với yêu cầu không ngừng đổi mới, sử dụng tối đa những thành quả, tiện ích của công nghệ số, công tác giáo dục lý luận chính trị cần phải chủ động nắm bắt cơ hội để vượt lên trong tiến trình đào tạo trực tuyến.
Khi cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã hiện hữu, khi giáo dục lý luận chính trị truyền thống là chưa đủ và thường bị gián đoạn bởi những khó khăn do những tác động ngoại cảnh đưa lại, thì việc tiến hành giáo dục lý luận chính trị trực tuyến là một xu hướng tất yếu. Cũng nên từng bước coi đây là yêu cầu bắt buộc nhằm đáp ứng những đòi hỏi mới của thực tiễn,góp phần đổi mới phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng, hiệu quả của giáo dục lý luận chính trị trong hệ thống giáo dục quốc dân ở Việt Nam hiện nay./.
___________________________
(1) Thế Đan: Học trực tuyến: Tốc độ phát triển nhanh mở ra kỷ nguyên đào tạo mới, https://vnexpress.net/giao-duc/hoc-truc-tuyen-toc-do-phat-trien-nhanh-mo-ra-ky-nguyen-dao-tao-moi-3841121.html, 19-11-2018.
(2) (3) Học trực tuyến, xu hướng của tương lai, http://www.facework.vn/Blog/hoc-truc-tuyen-xu-huong-cua-tuong-lai-14.html.
(4) Kết luận số 94-KL/TW ngày 28-3-2014 của Ban Bí thư về việc tiếp tục đổi mới việc học tập lý luận chính trị trong hệ thống giáo dục quốc dân.
(5) Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 9-2-2018 của Ban Bí thư về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới.

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...