Thứ Tư, 8 tháng 4, 2020

PHẢI CHĂNG Ý THỨC HỆ CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN KHÔNG CÒN PHÙ HỢP VỚI HIỆN NAY



Long Vĩ
Lịch sử chứng kiến nhiều trào lưu tư tưởng đã trở nên lỗi thời, lạc hậu, do không đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ và xu hướng vận động, phát triển của thực tiễn xã hội đặt ra. Trong khi đó, chỉ ý thức hệ của chủ nghĩa Mác – Lênin đã giải đáp đầy đủ, chính xác có cơ sở khoa học những vấn đề về tự nhiên, xã hội và tư duy con người. Nhưng thời gian qua một số kẻ, tiêu biểu là Nguyễn Tân Dân với bài viết “Ý thức hệ Mác – Lênin với những thảm họa nhân loại” đã phủ nhận điều đó, cho rằng “ý thức hệ Mác – Lê không chấp nhận đối lập chính trị, luôn tìm mọi cách bưng bít thông tin, gây nên những đại nạn cho toàn thể nhân loại”… Như vậy, phải chăng ý thức hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin gây ra những thảm họa cho nhân loại? Bài viết này sẽ góp phần làm rõ hơn sức sống ý thức hệ của chủ nghĩa Mác – Lênin
Một là, ý thức hệ của chủ nghĩa Mác – Lênin ra đời, tồn tại và phát triển luôn được đặt trên mảnh đất hiện thực.
C.Mác, Ph.Ănghen và V.I.Lênin là những nhà khoa học, nhà cách mạng, mang trong mình lý tưởng, khát vọng giải phóng hoàn toàn con người khỏi mọi ách áp bức bóc lột, vươn tới cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Do đó, trên con đường tìm kiếm để thực hiện lý tưởng, khát vọng của mình, các ông đã nhận thấy bản chất của chủ nghĩa tư bản là bóc lột sức lao động của giai cấp công nhân, muốn xóa bỏ được tình trạng đó phải tiến hành cuộc cách mạng xã hội, do giai cấp công nhân lãnh đạo, thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản. Với trái tim chan chứa tình cảm, tình yêu đối với giai cấp công nhân và bằng hoạt động thực tiễn phong phú, đa dạng đắm mình vào cuộc sống của những người công nhân, lao động; kế thừa những hạt nhân hợp lý của những nhà tư tưởng trước đó, C. Mác, Ph.Ănghen và V.I.Lênnin đã cho ra đời học thuyết cách mạng và khoa học, đó là ý thức hệ tư tưởng lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, một di sản lý luận đồ sộ, vô cùng quý báu, trở thành vũ khí lý luận để giai cấp vô sản đấu tranh thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình là giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bóc lột, bất công trên phạm vi toàn thế giới. Sức sống và ảnh hưởng của nó được minh chứng bởi những biến đổi sâu sắc trong thế kỷ XIX, XX với cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại năm 1917 và sự ra đời chủ nghĩa xã hội hiện thực, mở ra thời đại mới – thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội.
Hai là, ý thức hệ của chủ nghĩa Mác – Lênin đã hướng con người đến xây dựng một xã hội văn minh, tiến bộ, không còn chiến tranh.
Sự hình thành hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa với những thành tựu phát triển to lớn là chỗ dựa cho các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc đứng lên đấu tranh tự giải phóng, xóa bỏ ách thống trị của chế độ thực dân, đế quốc. Dù ở các châu lục khác nhau, với những trình độ phát triển khác nhau, trong nhiều hoàn cảnh lịch sử đặc thù khác nhau, các đảng cộng sản và giai cấp công nhân ở mỗi nước đều có thể tìm thấy ở ý thức hệ của chủ nghĩa Mác – Lênin về khả năng làm tăng thật nhanh lực lượng sản xuất; về kiểu tổ chức một mô hình xã hội công bằng, bình đẳng; về sự tự do, giải phóng con người, giải phóng giai cấp; về quan hệ giữa các dân tộc, quốc gia trên cơ sở của hòa bình, đoàn kết quốc tế… Thực tiễn hiện nay đã có nhiều thay đổi, khoa học – kỹ thuật có những bước phát triển vượt bậc, phong trào công nhân có sự biến đổi, chủ nghĩa tư bản với những thích nghi mới vẫn tồn tại, song những mâu thuẫn vốn có và những thách thức của chủ nghĩa khủng bố, sự gia tăng về khoảng cách giàu nghèo, ô nhiễm môi trường… đã, đang và sẽ diễn ra ở nhiều nước tư bản bản cho thấy, chủ nghĩa tư bản khó thể dung hòa được những bất ổn đó. Hiện nay, mặc dù các lực lượng thù địch dùng nhiều thủ đoạn chống phá, bôi nhọ, xuyên tạc, thậm chí tìm mọi cách phủ nhận, nhưng ý thức hệ của chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn tồn tại phát triển, vẫn tràn đầy sức sống, vẫn là thế giới quan, phương pháp luận khoa học của hàng triệu triệu người trên trái đất. Nhiều giá trị của chủ nghĩa Mác – Lênin mang sức sống trường tồn vẫn tiếp tục tỏa sáng với chủ nghĩa nhân văn vì con người, với phương pháp biện chứng duy vật, quan niệm duy vật về lịch sử, học thuyết về giá trị thặng dư, học thuyết hình thái kinh tế – xã hội, học thuyết về sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân. Thực tiễn sinh động ấy đã bác bỏ quan điểm cho rằng, ý thức hệ của chủ nghĩa Mác – Lênin đã lỗi thời, lạc hậu, chỉ có những người không thừa nhận mới lỗi thời, lạc hậu.
Nguyễn Tân Dân hãy dừng việc quy kết, đỗ lỗi cho ý thức hệ của chủ nghĩa Mác – Lênin đã lỗi thời, lạc hậu. Việc a dua, hùa theo bọn người xấu để chống lại chế độ, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam tất yếu sẽ thất bại. Một người không thể làm nên lịch sử, cũng không thể cản được con đường phát triển đi lên của dân tộc Việt Nam và sự chống phá đó càng cho thấy sự bất lực, bế tắc về nhận thức và hành động của chúng.


KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN THÀNH TỰU NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM



KHÁNH ANH

Suốt Thời gian qua, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam, nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta. Mới đây, các thế lực phản động đã trắng trợn “lu loa” xuyên tạc rằng, vi phạm quyền con người ở Việt Nam đang trở nên trầm trọng, “Việt Nam thực hành ép buộc người đang bị giam giữ” nhận tội là vi phạm nhân quyền. Những luận điệu này của các thế lực thù địch hoàn toàn là sai trái, bởi lẽ
Thứ nhất, Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm đầy đủ các quyền con người. Trong Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn lại những lời bất hủ trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ và bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 như một sự khẳng định với thế giới về sự bình đẳng được hưởng quyền tự do của con người và dân tộc Việt Nam. Đó là những lẽ phải không thể chối cãi. Thấm nhuần những giá trị ấy và thực tiễn dưới sự áp bức của kẻ xâm lược nên người dân Việt Nam rất thấu hiểu và trân trọng quyền con người. Vì vậy trong các lần sửa đổi, ban hành Hiến pháp, Việt Nam luôn coi trọng và từng bước bảo đảm đầy đủ các quyền hợp pháp của con người.
Hiến pháp năm 2013 đã chuyển Chương “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân” từ vị trí Chương 5 trong Hiến pháp năm 1992 lên vị trí Chương 2. Việc chuyển đổi vị trí của Chương này không thuần túy là động tác kỹ thuật, mà sự chuyển đổi này cho thấy, Việt Nam luôn quan tâm, coi trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân. Hiến pháp năm 2013 xác định: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Theo đó, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền con người. Điều 3, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: Nhà nước phải bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.
Thứ hai, Pháp luật Việt Nam luôn bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, tạm giam. 
Tạm giữ, tạm giam người là các biện pháp ngăn chặn, nhằm hạn chế một số quyền con người, quyền công dân của người bị tạm giữ, tạm giam. Mục đích của các biện pháp này là để đảm bảo cho các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình trong công tác đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, đảm bảo trật tự pháp luật; đồng thời, tránh vi phạm các quy định pháp luật về bảo đảm quyền con người, quyền công dân.
Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm,…”; “Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang…”. Khoản 5, Điều 31, Hiến pháp năm 2013 nhấn mạnh: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự…”.
Thực thi quy định của Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, việc bắt, tạm giữ, tạm giam người phải theo quy định của Bộ luật này. Nghiêm cấm tra tấn, bức cung, dùng nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, tính mạng, sức khỏe của con người”; người bị tạm giữ, tạm giam “có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”. Thực tế ở Việt Nam, việc bảo đảm các quyền con người của người bị tạm giữ, tạm giam đã được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Vì vậy, người vi phạm đã bị tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án với thái độ “tâm phục, khẩu phục” nhận ra lỗi lầm, tích cực cải tạo để về với cộng đồng, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên, ở đâu đó vẫn có những hiện tượng “con sâu làm rầu nồi canh”, vi phạm các quy định bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, tạm giam, nhưng đó chỉ là những hiện tượng cá biệt.
Thiết nghĩ, trong những ngày cả dân tộc Việt Nam và thế giới đang gồng mình chống lại đại dịch COVID – 19, nếu những người có tâm vì các quyền của con người nên suy nghĩ, trăn trở tìm cách thực hiện tốt các biện pháp phòng chống đại dịch COVID – 19, chứ không phải như những kẻ ẩn mình trong “vỏ bọc nhân quyền”, luôn tìm cách mang “nọc độc nhân quyền” của mình đi “gây nhiễm”, kích động, chống phá Đảng, Nhà nước. Với những kẻ như thế, chúng ta phải kiên quyết đấu tranh loại bỏ./.


HÀNH ĐỘNG “NÉM ĐÁ GIẤU TAY” VÀ CUỘC ĐẤU TRANH VỚI “ĐỊCH BÊN TRONG TA”



Cứ mỗi dịp diễn ra đại hội đảng các cấp, đơn thư nặc danh, mạo danh, thông tin lan truyền về công tác nhân sự đại hội lại rộ lên.
Điều rất đáng bàn là nhiều thông tin sai trái, xuyên tạc xuất phát từ động cơ không trong sáng, “ném đá giấu tay”; tiềm ẩn nguy cơ chia rẽ, bè phái, mất đoàn kết; cán bộ, đảng viên và quần chúng dễ nảy sinh tư tưởng nghi ngờ, đố kỵ, thậm chí gây hoang mang, lo lắng. Đấu tranh mạnh mẽ xua tan “đám mây mù” làm thanh sạch bầu không khí thông tin không chỉ là trách nhiệm chính trị của từng tổ chức và mỗi người, mà còn là yếu tố cơ bản để tổ chức đại hội thành công…
“Địch bên trong ta đáng sợ hơn”
Theo Từ điển Thành ngữ và Tục ngữ Việt Nam do Nhà xuất bản Văn hóa phát hành năm 1997 thì thành ngữ “ném đá giấu tay” chỉ hành động "làm những việc độc ác một cách lén lút không dám công khai, cố tỏ ra không liên quan gì đến hậu quả của nó". Những kẻ “ném đá giấu tay” hay “ném đá” rồi giấu mặt, hoặc xúi giục người khác “ném đá” thay mình thường đứng đằng sau cổ xúy, bơm thổi, khuếch tán… Mục đích của họ là làm cho người khác ngộ nhận về những thông tin sai trái, xuyên tạc, qua đó hướng lái dư luận theo ý đồ, động cơ không trong sáng của một hoặc nhóm người.
Xuyên tạc, gây nhiễu thông tin, phá hoại tổ chức theo kiểu “ném đá giấu tay” không chỉ là những đối tượng phản động, thù địch với Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa mà trong bài viết này, chúng tôi tập trung vào đối tượng là cán bộ, đảng viên, hoặc những phần tử thoái hóa biến chất, cơ hội có nhận thức, hành động sai trái trên.
Qua các kỳ đại hội đảng trước đây, cũng như diễn biến gần đây cho thấy, những người có hành vi “ném đá giấu tay” tiến hành với nhiều chiêu thức, thủ đoạn, ngày càng tinh vi để bôi nhọ, xuyên tạc về công tác nhân sự. Họ thường lôi kéo, mua chuộc, xúi giục những người bất mãn, nhẹ dạ, hoặc đang có mâu thuẫn, xung đột trong nội bộ để kích động, tuyên truyền, xuyên tạc thông tin. Họ lợi dụng công nghệ thông tin, mạng xã hội, dưới nhiều danh nghĩa hoặc mạo danh, nặc danh để đăng tải những tài liệu dưới dạng “kiến nghị”, “thư ngỏ”, “tâm thư”, lồng vào đó là nội dung tố cáo người này, người khác, nhất là những người dự kiến quy hoạch nhân sự của khóa mới. Cũng có thể chỉ với một chiếc điện thoại, máy tính, họ núp bóng để tán phát thông tin tới cơ quan chức năng, các tổ chức, cá nhân liên quan gây nên các “đám mây mù”, nhiễu loạn thông tin, chia rẽ nội bộ, nghi ngờ trong quần chúng, hòng phá hoại sự thành công của đại hội. Điều này được Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) chỉ rõ: “Lợi dụng và sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ nội bộ, nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân”.
Thủ đoạn, luận điệu xuyên tạc mà các đối tượng “ném đá giấu tay” hay sử dụng thường là: Tung tin thất thiệt, xuyên tạc về phẩm chất, đạo đức, lối sống cán bộ; phán xét về trình độ năng lực, chuyên môn cán bộ thông qua việc khoét sâu những hạn chế, khuyết điểm ở những lĩnh vực mà cán bộ đó phụ trách, hoặc công việc cụ thể theo kiểu “bới lông tìm vết”, “bé xé ra to”, thậm chí “đổi trắng thay đen”, dựng chuyện để hạ thấp uy tín; bịa đặt về tình hình sức khỏe, các quan hệ xã hội, gia đình, thậm chí bới móc chuyện riêng tư để bôi nhọ hoặc kê kích, cường điệu hóa…
Ở trong nội bộ cơ quan, đơn vị có những người mang thói “ném đá giấu tay” sẽ làm tiềm ẩn nguy cơ chia rẽ, bè phái, mất đoàn kết; cán bộ, đảng viên và quần chúng dễ nảy sinh tư tưởng nghi ngờ, đố kỵ, thậm chí có thể gây hoang mang, lo lắng, nhất là vào thời điểm tổ chức đại hội đảng các cấp.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới công tác xây dựng nội bộ, bồi dưỡng đạo đức, tư cách cán bộ, đảng viên. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Người đề cập hàng loạt chứng bệnh và mỗi chứng bệnh là một kẻ địch. Người phân tích sâu sắc: “Mỗi kẻ địch bên trong là một bạn đồng minh của kẻ địch bên ngoài. Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá hoại từ trong phá ra”. Nguồn gốc bắt nguồn từ “bệnh cá nhân”:  “Tất cả đều vì cá nhân, vì gia đình mình, vì phe nhóm mình... Mắc những căn bệnh đó là do “kém tính Đảng”, mắc một trong những bệnh đó “là hỏng việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định.
Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, nguyên Tư lệnh Quân khu 4 đã nói với chúng tôi: Ông từng chứng kiến trong chiến tranh, kẻ thù đã tung tin đích danh vị chỉ huy cấp cao của ta đầu hàng, hay tuyên truyền, nói xấu cán bộ, hòng làm cho bộ đội ta hoang mang. Tuy nhiên, khi ấy kỷ luật chiến trường rất nghiêm nên những luận điệu ấy luôn thất bại. Giờ đây, khi khoa học-công nghệ phát triển thì thông tin xấu tác động và lây lan rất nhanh. Nguy hiểm hơn khi thông tin ấy lại phát nguồn từ nội bộ, từ những người có hành vi “ném đá giấu tay”. Vì thế chúng ta phải có biện pháp mạnh, xử lý nghiêm những vi phạm cả về đạo lý và pháp lý đó.
Làm thanh sạch bầu không khí đại hội
Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng là đợt sinh hoạt chính trị quan trọng, phải được chuẩn bị và tiến hành chặt chẽ, nghiêm túc, trong đó nội bộ ổn định, đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động là yếu tố có tính quyết định tới thành công đại hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Đại hội Đảng rất quan hệ đến tương lai cách mạng của Đảng ta và của nhân dân ta. Đại hội sẽ làm cho Đảng ta đã đoàn kết càng đoàn kết hơn nữa, tư tưởng và hành động đã nhất trí, càng nhất trí hơn nữa. Cho nên, toàn thể đồng chí ta phải thảo luận kỹ càng các đề án và đóng góp ý kiến dồi dào, để đảm bảo Đại hội thành công thật tốt đẹp”.
Để chuẩn bị cho đại hội đảng các cấp, nhất là công tác nhân sự, Trung ương đã có các chỉ thị, hướng dẫn chặt chẽ và toàn diện. Kết luận số 55-KL/TW ngày 15-8-2019 của Ban Bí thư về việc tiếp tục chấn chỉnh công tác cán bộ để chuẩn bị tốt nhân sự đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XIII của Đảng, nhấn mạnh: Chủ động phòng ngừa, cảnh giác, ngăn chặn, đấu tranh, không để tác động, chi phối bởi những thông tin giả, thông tin không chính thức, xấu độc, có dụng ý bịa đặt, xuyên tạc, gán ghép trên internet, mạng xã hội liên quan đến công tác chuẩn bị nhân sự.
Trong cuộc họp Tiểu ban Nhân sự Đại hội XIII ngày 19-3 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tiếp tục chỉ đạo: Phải làm tốt công tác nhân sự từ đại hội đảng bộ các cấp để góp phần chuẩn bị tốt nhân sự Đại hội XIII của Đảng; phải xác định đây là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, là nhiệm vụ “then chốt” của “then chốt,” có liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ. Công tác nhân sự, đặc biệt là nhân sự cấp cao phải được tiến hành theo quy trình chặt chẽ, khoa học và nhất quán, bảo đảm thật sự dân chủ, công tâm, thật sự trong sáng, khách quan; cách làm phải thận trọng, làm từng khâu, từng công đoạn, theo một quy trình chặt chẽ, làm đến đâu chắc đến đó.
Quán triệt tinh thần đó, trong quá trình làm công tác nhân sự các cấp, Đảng ta luôn chú trọng phát huy dân chủ, trân trọng lắng nghe và tiếp thu các ý kiến đóng góp với tinh thần xây dựng để phát hiện được nhiều nhân tố mới, cán bộ có đức, có tài. Mặt khác, kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm minh với các tư tưởng, hành động lợi dụng dân chủ để xuyên tạc, bôi nhọ, hạ uy tín, kích động gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ. Trả lời báo chí mới đây, ông Vũ Quốc Hùng, nguyên Phó chủ nhiệm Thường trực Ủy ban Kiểm tra Trung ương cho rằng: Phải hết sức khách quan, phân biệt rõ những người tố cáo sai, những người có động cơ xấu. Nếu là đảng viên, tổ chức đảng thì phải làm đến nơi đến chốn. Kết luận là tố cáo sai, động cơ không đúng như làm mất đoàn kết, đại diện phe này, phe kia trong tổ chức đảng thì phải xử lý kỷ luật theo các quy định của Đảng. Nếu người đó chỉ do hồ đồ thì cũng phải xử lý bằng một hình thức thích hợp. Còn những người cố ý, muốn bôi nhọ thì luật cũng đã quy định hình thức xử lý.
Để đấu tranh với các “đám mây mù”, “virus” thông tin, tác động tiêu cực, làm “ô nhiễm” bầu không khí khi tiến hành đại hội đảng, cấp ủy, cơ quan chức năng các cấp một mặt phải thực hiện nghiêm các nguyên tắc, quy trình công tác nhân sự, đồng thời phải công minh, khách quan, tỉnh táo khi tiếp nhận và xử lý các thông tin. Cung cấp kịp thời các thông tin chính thống, xác minh, kết luận của tổ chức, cơ quan có thẩm quyền nhằm vạch trần các luận điệu xuyên tạc, vu khống, bảo vệ cán bộ và định hướng dư luận.
Không ít người có hành vi “ném đá giấu tay” là những cán bộ hoặc nguyên cán bộ có chức, có quyền, biết rõ tình hình nội bộ nhưng do động cơ cá nhân không trong sáng đã đứng đằng sau để “giật dây”, “tiếp sức”, tuyên truyền các thông tin sai trái. Cho nên, vừa phải xử lý đối tượng tung tin xấu độc, vừa phải điều tra, làm rõ và xử nghiêm cả những người tiếp tay, làm cho thông tin lan truyền với động cơ xấu. Việc xử lý ấy cần căn cứ vào các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, bảo đảm chặt chẽ, đúng người, đúng việc, đúng khuyết điểm.
Một giải pháp rất căn bản là phải nâng cao khả năng “đề kháng”, “miễn dịch” cho cán bộ, đảng viên trước thông tin thất thiệt, gây chia rẽ nội bộ. Mỗi người phải nâng cao trình độ, kiến thức về mọi mặt, bình tĩnh, sáng suốt để phân biệt thông tin, đồng thời phải có thái độ kiên quyết bảo vệ cái đúng, cái tích cực; đẩy lùi bóng tối thông tin, làm trong sạch nội bộ, góp phần vào thành công đại hội đảng.


GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH LÀ KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN!



Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã khẳng định: "Tư tưởng Hồ Chí Minh là linh hồn, ngọn cờ thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong suốt hơn nửa thể kỷ qua. Cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta, nhân dân ta. Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi soi sáng con đường cách mạng Việt Nam, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội của toàn dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam".
 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH SOI SÁNG CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành, phát triển trên cơ sở kế thừa, chọn lọc những tư tưởng, giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam, phù hợp với thực tiễn hoàn cảnh lịch sử của Việt Nam. Cùng với đó là sự tiếp thu, tiếp biến và vận dụng sáng tạo tinh hoa văn hóa nhân loại: văn hóa phương Đông và phương Tây mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác - Lênin; trong đó, nét đặc sắc chính là sự kết hợp các giá trị truyền thống của văn hóa phương Đông với thành tựu hiện đại của văn minh phương Tây và tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin trên nền tảng những tri thức văn hóa tinh túy, chắt lọc, hấp thụ được tích lũy qua thực tiễn. Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành bởi tư duy, trí tuệ, phẩm chất đạo đức và năng lực hoạt động thực tiễn của Người. Đó cũng là quá trình tiếp thu, làm giàu, rèn luyện từ học tập, nghiên cứu, trải nghiệm thực tiễn, khám phá các quy luật vận động, đời sống văn hóa, xã hội và cuộc đấu tranh của các dân tộc vì độc lập, tự do và tiến bộ xã hội để khái quát thành lý luận, đem lý luận chỉ đạo hoạt động thực tiễn, kiểm nghiệm trong thực tiễn nên mang giá trị khách quan, cách mạng và khoa học.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện, sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam; là kết quả của sự kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại; là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam; không chỉ giải quyết vấn đề thuộc về tư duy lý luận mà cao hơn, đó là tư duy hành động. Trong khi tập trung giải quyết những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin phù hợp với xu thế khách quan của thời đại, đặc biệt là lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội ở các nước thuộc địa và phụ thuộc.
Đặc sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh là sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, đạo đức và phong cách; là quan điểm và tấm gương mẫu mực của người chiến sĩ cộng sản trung thành và kiên định lý tưởng cách mạng, luôn đặt lợi ích của Đảng, dân tộc và nhân dân lên trên hết, luôn tận trung với nước, tận hiếu với dân; luôn cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư; là phong cách tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, phong cách làm việc dân chủ, khoa học; phong cách ứng xử văn hóa, nhân văn, trọng nghĩa tình, nói đi đôi với làm, sống giản dị, hòa đồng với thiên nhiên,v.v.. tự mình nêu gương về đạo đức cách mạng, thể hiện sinh động, tự nhiên, đầy cảm hóa trong công tác và ứng xử hằng ngày.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng lý luận và định hướng để Đảng Cộng sản Việt Nam xây dựng đường lối cách mạng đúng đắn, tổ chức lực lượng và lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành thắng lợi trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, sáng lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trong các cuộc chiến tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và những thành tựu quan trọng về mọi mặt trong hơn 30 năm đổi mới và hội nhập quốc tế. Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần to lớn, quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta trên hành trình kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Không thể phủ nhận giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh, song các thế lực thù địch không ngừng thực hiện âm mưu và hoạt động "diễn biến hòa bình”, xuyên tạc về tư tưởng Hồ Chí Minh khi nói và viết: “Hồ Chí Minh du nhập những tư tưởng ngoại lai vào Việt Nam”; “Hồ Chí Minh đi trên cỗ xe Nho giáo đến với chủ nghĩa Mác - Lênin”; “Tư tưởng Hồ Chí Minh là tư biện, lý thuyết, giáo điều”; tư tưởng Hồ Chí Minh là sự sao chép, máy móc chủ nghĩa Mác - Lênin, không phù hợp với thực tiễn hiện nay, bởi thế, cần từ bỏ nó để “kịp đi với con đường chung mà thế giới hiện nay đang đi” - con đường tư bản chủ nghĩa. Có những người tìm mọi cách đả kích, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, tấm gương đạo đức cách mạng của Người để “hạ bệ thần tượng” và lung lạc những người nhẹ dạ, cả tin để phủ nhận những giá trị cơ bản, đúng đắn của tư tưởng Hồ Chí Minh. Thậm chí, có người lại “cực đoan” đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, cho rằng ở Việt Nam chỉ cần tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ và coi tư tưởng Hồ Chí Minh chính là chủ nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam nên Việt Nam chỉ cần tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ, để xuyên tạc và nhằm hạ thấp sự cống hiến của Hồ Chí Minh với cách mạng Việt Nam và thế giới, hạ thấp tư tưởng của Người mà không hiểu và cố tình không hiểu rằng: Cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và là kim chỉ nam cho hành động của Đảng, tiếp tục dẫn dắt, soi đường cho Đảng và nhân dân Việt Nam trên con đường xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Những giọng điệu "lạc dòng", phủ nhận của một bộ phận những người không hiểu, thậm chí cố tình không hiểu đúng bản chất tư tưởng Hồ Chí Minh đó không hề làm giảm đi giá trị tư tưởng của Người, vì “trong khi giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin trên nhiều vấn đề quan trọng, đặc biệt là lý luận vế cách mạng giải phóng dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội ở các nước thuộc địa và phụ thuộc..." như Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 18/2/1995 của Bộ Chính trị khóa VII đã khẳng định.
ĐẢNG LẤY CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH LÀM NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG, KIM CHỈ NAM CHO HÀNH ĐỘNG
Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin khi đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa và Người nhận thấy: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”. Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”[2]. Người nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, thấm nhuần những chỉ dẫn của V.I.Lênin: “Chỉ đảng nào được một lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong”[3] để nỗ lực hoạt động, chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam sau đó và khẳng định: Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt; "Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”, "bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”[4]. Sau đó, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã lấy chủ nghĩa Mác- Lênin làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động và điều này được khẳng định trong Luận cương chính trị năm 1930 Đảng: “Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản lấy chủ nghĩa Các Mác và Lênin làm gốc”[5].
Trung thành với những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhưng Hồ Chí Minh không giáo điều mà nắm lấy tinh thần, bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin để vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam trong quá trình: 1) Thành lập Đảng và xây dựng Đảng cầm quyền; 2) Tập hợp lực lượng, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân trong tiến trình cách mạng; 3) Xây dựng nhà nước kiểu mới; 4) Xây dựng chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, bỏ qua chế độ chế độ tư bản chủ nghĩa… Lý luận Mác - Lênin là thế giới quan, nhân sinh quan, là lý luận tiên phong của thời đại được Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng sáng tạo trong tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Cùng với thời gian, Đảng Cộng sản Việt Nam đã không chỉ khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam và tư tưởng của Người đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và dân tộc ta mà còn nhấn mạnh tại Đại hội VI (12/1986) - Đại hội khởi xướng công cuộc đổi mới của Đảng: “Muốn đổi mới tư duy, Đảng ta phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa di sản quý báu về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh”[6]. Tại Đại hội VII (6/1991), Đảng nhấn mạnh việc phải “Nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh”[7]; thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991) và khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của dân tộc và nhân loại, nắm vững quy luật khách quan và thực tiễn đất nước để đề ra cương lĩnh chính trị đúng đắn và phù hợp với nguyện vọng của nhân dân”[8]. Bước phát triển trong tư duy, nhận thức và hoạt động thực tiễn về nền tảng tư tưởng của Đảng này đã cho thấy cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ phận cơ bản cấu thành hệ tư tưởng, thế giới quan, phương pháp luận của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng thời, sự khẳng định này cũng bảo đảm sự thống nhất nhận thức trong toàn Đảng, thể hiện rõ ý chí kiên quyết đấu tranh đối với những những luận điệu sai trái, thù địch, đi ngược lại tư tưởng cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Nhận thức đầy đủ, sâu sắc giá trị to lớn, toàn diện cống hiến vô giá về lý luận, tư tưởng Hồ Chí Minh được thực tiễn cách mạng Việt Nam và thế giới trong thế kỷ XX chứng thực, Đại hội IX (4/2001) của Đảng và khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại… Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”[9]. Tư tưởng Hồ Chí Minh được xác định gồm 9 nội dung cơ bản: 1) Tư tưởng về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. 2) Tư tưởng về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. 3) Tư tưởng về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân. 4) Tư tưởng về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. 5) Tư tưởng về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau. 6) Tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. 7) Tư tưởng về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. 8) Tư tưởng về phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. 9) Tư tưởng về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.
Tiếp đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) cũng khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động… Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là di sản tư tưởng và lý luận vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”[10]. Đây là bước phát triển quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam.
TIẾP TỤC LÀM CHO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH LAN TỎA, THẤM SÂU TRONG ĐẢNG VÀ TRONG XÃ HỘI
Thực tiễn những thành tựu đạt được trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ đất nước, nhất là trong hơn 30 năm đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng của Việt Nam đã chứng minh sự kiên định, nắm vững và vận dụng sáng tạo, đúng đắn chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn, đáp ứng yêu cầu phát triển bức thiết của cách mạng Việt Nam và phù hợp với quy luật phát triển của thời đại của Đảng Cộng sản Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn.
Tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng con đường phát triển của dân tộc Việt Nam, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Ý nghĩa lịch sử và giá trị lý luận, thực tiễn của tư tưởng đã vượt ra ngoài biên giới quốc gia và trở thành một phần giá trị của văn hóa nhân loại. Việt Nam đang đẩy mạnh toàn diện sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế trong bối cảnh thuận lợi và thách thức đan xen, nhất là khi tình hình thế giới, khu vực và trong nước đang diễn biến khó lường cùng những khó khăn, phức tạp trong đời sống xã hội. Thực tế, hệ thống quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh về mục tiêu, con đường, phương pháp đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ xã hội mới ở Việt Nam là cơ sở cho đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong hơn 90 năm xây dựng và phát triển; đồng thời, những thành tựu đã đạt được về mọi mặt ở Việt Nam là không thể phủ nhận. Vì thế, việc tiếp tục giương cao ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh; việc kiên định mục tiêu, con đường phát triển độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là yêu cầu tất yếu khách quan của Đảng, soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam giành thắng lợi mà còn góp phần giữ vững bản chất của một Đảng chân chính, cách mạng.
Để kiên định và bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất trong bối cảnh chuẩn bị Đại hội Đảng bộ các cấp và trước thềm Đại hội XIII của Đảng, toàn Đảng cần tập trung thực hiện một số giải pháp cơ bản sau:
Thứ nhất, tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 9/2/2018 của Ban Bí thư khóa XII về “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới gắn với “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng và chỉnh đốn Đảng, một cách thiết thực, hiệu quả. Trong đó, cấp ủy các cấp, người đứng đầu mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị phải chú trọng nắm chắc tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân để kịp thời nhận diện và kiên quyết phòng, chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, ngăn chặn những diễn biến xấu về tư tưởng, chính trị, phòng và chống những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong  Đảng, trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thứ hai, chú trọng xây dựng, đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy về Hồ Chí Minh học từ đại học đến sau đại học, để đội ngũ cán bộ đó có trình độ chuyên môn chuyên sâu, có năng lực nghiên cứu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn tốt, góp phần bổ sung và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Xây dựng các lực lượng chuyên trách, thường trực, tác chiến nhanh, chính xác, làm xoay chuyển tương quan so sánh lực lượng trên mặt trận đấu tranh tư tưởng, lý luận để thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” gắn với việc tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục lý luận chính trị nói chung, nâng cao tính hấp dẫn trong dạy và học môn tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng trong hệ thống giáo dục quốc dân, góp phần làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc trong Đảng và trong xã hội.
Thứ ba, phát huy sức mạnh tổng hợp của các cơ quan báo chí, truyền thông, kết hợp chặt chẽ với tuyên truyền miệng, các kênh thông tin khác, xây dựng chuyên trang, chuyên mục tuyên truyền sát hợp thực tế để chủ động đấu tranh, phòng, chống và bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh trên báo chí, xuất bản, internet và mạng xã hội gắn với nhân rộng các gương điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đa dạng hóa các phương pháp, hình thức đấu tranh, phê phán những quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch về cuộc đời, sự nghiệp Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng kết hợp với đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, gắn với công tác kiểm tra, đánh giá, tự phê bình và phê bình để không chỉ bảo vệ mà còn góp phần củng cố niềm tin vào tư tưởng Hồ Chí Minh - cội nguồn sức mạnh, tài sản tinh thần vô giá của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong hành trình hướng đến tương lai.
Thứ tư, đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; trong đó, cụ thể từng nội dung của chuyên đề hằng năm trong sinh hoạt của chi bộ, đoàn thể, trong các cuộc họp của cơ quan, đơn vị, trong các phong trào thi đua gắn với việc chủ động phòng, chống, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; coi đó là nhu cầu tự thân, nền nếp của mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị và cá nhân, là một giải pháp căn cốt để bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh. Theo đó, mỗi cán bộ, đảng viên cần nâng cao tính tự giác trong học tập, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tiếp tục nỗ lực học tập và nghiên cứu toàn diện, sâu sắc, có hệ thống di sản tư tưởng tư tưởng Hồ Chí Minh để vận dụng trong thực tiễn và chủ động tuyên truyền, bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho tư tưởng của Người lan tỏa, thấm sâu trong Đảng và trong xã hội, xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.
[1] Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.99
[2] Hồ Chí Minh:  Toàn tập,  Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.12, tr. 562
[3] V.I. Lênin: Toàn tập, Bản Tiếng Việt, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1975, t.6, tr.32
[4] Hồ Chí Minh:  Toàn tập,  Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.2, tr. 289
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 1998, t 2, t.100
[6] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự Thật, Hà Nội, 1987, tr.125
[7] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự Thật, Hà Nội, 1991, tr.127
[8] Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự Thật, Hà Nội 1991, tr.21
[9] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.83-84
[10] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia- Sự Thật, Hà Nội, 2011, tr.88

Thứ Sáu, 27 tháng 3, 2020

PHÂN CHIA CHỦ NGHĨA MÁC THÀNH “CHỦ NGHĨA MÁC CÁCH MẠNG” VÀ “CHỦ NGHĨA MÁC XÂY DỰNG” - MỘT MƯU ĐỒ CHỐNG PHÁ CHỦ NGHĨA MÁC




                                                                                        Tất Thắng
Chủ nghĩa Mác về bản chất là hệ thống tư tưởng khoa học, lôgic và hoàn chỉnh. Do đó, phân chia chủ nghĩa Mác thành “chủ nghĩa Mác cách mạng” và “chủ nghĩa Mác xây dựng” là một trong những hình thức chặt cụt chủ nghĩa Mác, một hình thức chống lại chủ nghĩa Mác hết sức tinh vi, nguy hiểm của các thế lực thù địch phản động.
          Trong đó, những người theo quan điểm này cho rằng, chủ nghĩa Mác truyền thống chỉ lấy cách mạng là chủ đề của mình, hiện nay trên thế giới đã từng xuất hiện các nước xã hội chủ nghĩa, cho nên chủ đề này của chủ nghĩa Mác đã không đủ nữa, cần tăng thêm chủ đề xây dựng, vì thế không chỉ cần có “chủ nghĩa Mác cách mạng” mà cần có cả “chủ nghĩa Mác xây dựng”.
Trên thực tế, việc phân chia chủ nghĩa Mác thành “chủ nghĩa Mác cách mạng” và “chủ nghĩa Mác xây dựng”, nói từ bất cứ một ý nghĩa nào sau đây cũng đều không khoa học, cũng không thể thành lập được. Từ bản chất của chủ nghĩa Mác mà nói, nó là cách mạng và phê phán. Bản chất hoặc thuộc tính này của chủ nghĩa Mác, không chỉ nói nó chỉ là học thuyết cách mạng chỉ đạo giai cấp vô sản xây dựng thế giới mới. V.I.Lênin có lúc cũng gọi chủ nghĩa Mác là chủ nghĩa cách mạng, điều đó vừa là nhấn mạnh bản chất của nó, vừa là để phản đối chủ nghĩa xét lại cắt xén tính tiên phong cách mạng của nó, chứ không phải nói chủ nghĩa Mác chỉ là chủ nghĩa Mác của thời kỳ cách mạng. Ở thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, bản chất của chủ nghĩa Mác vẫn là cách mạng, phê phán. Cho nên không tồn tại hình thái “chủ nghĩa Mác xây dựng” độc lập đứng ngoài “chủ nghĩa Mác cách mạng”.
Mặt khác, xét về bản chất của chủ nghĩa Mác mà nói, cách mạng và xây dựng đều là đối tượng nghiên cứu và chủ đề nó phải giải quyết, vì thế không nghi ngờ gì trong nội dung lý luận của chủ nghĩa Mác đã bao hàm lý luận về cách mạng và lý luận về xây dựng. Chúng đều là bộ phận quan trọng trong kho tàng lý luận quý báu của chủ nghĩa Mác, chứ không phải hình thái mới của lý luận, đứng độc lập ở ngoài chủ nghĩa Mác thống nhất.
Chính vì vậy, âm mưu và hành động phân chia chủ nghĩa Mác thành “chủ nghĩa Mác cách mạng” và “chủ nghĩa Mác xây dựng” là một trong những thủ đoạn hết sức thâm hiểm của các thế lực thù địch mà chúng ta cần cảnh giác và đập tan.


CẢNH GIÁC VỚI THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH ĐỐI LẬP V.I.LÊNIN VỚI C.MÁC



         Tất Thắng
 V.I.Lênin là người đã bảo vệ một cách cương quyết và triệt để nhất những quan điểm, tư tưởng, lý luận cơ bản có ý nghĩa thời đại của C.Mác, Ph.Ăngghen nói riêng, chủ nghĩa Mác nói chung. Đồng thời, không ngừng bổ sung, phát triển, làm sinh động, sâu sắc và từng bước hoàn thiện chủ nghĩa Mác. Chính V.I.Lênin đã thực hiện một cách xuất sắc yêu cầu chủ yếu của phương pháp tư duy biện chứng: cách mạng là sáng tạo, chân lý là cụ thể. V.I.Lênin đã thực sự làm phong phú thêm ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác bằng những phát hiện mới - những phát hiện đó không chỉ mang tính chất rời rạc, cục bộ mà làm nằm trong một hệ thống hoàn chỉnh, chặt chẽ.
Thế nhưng các nhà mác học tư sản lại luôn lớn tiếng cho rằng, chủ nghĩa Lênin là một thứ lý luận hoàn toàn trái ngược, mâu thuẫn, đối lập với chủ nghĩa Mác, V.I.Lênin đã làm mờ đi bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác, làm mất đi tư tưởng chân chính, thuần khiết ban đầu của C.Mác. Họ phê phán V.I.Lênin là đã không biết đến con người, mà chỉ say mê, tuyệt đối hóa đấu tranh giai cấp, với sự tàn khốc và bạo lực, nội chiến, chiến tranh cách mạng. Họ cũng lên án V.I.Lênin là kẻ hơn ai hết đã đề xướng một cuộc đấu tranh không điều hòa về mặt ý thức hệ. Và vì thế họ cho rằng, sự phát triển chủ nghĩa Mác của V.I.Lênin đã đi theo giống như cái cách mà Ph.Ăngghen đã từng làm. Trong cuốn sách “Trong thực tế Mác đã nói gì?” (xuất bản năm 1968) để “kỷ niệm” 150 năm ngày sinh của Mác, phần tử xét lại nổi tiếng ở Áo khi đó là E.Phise sau khi nhai lại những luận điệu của bọn tư sản về chủ nghĩa Mác “nhân đạo”, hắn đã viết rằng: Cho đến nay đã từng có bốn loại hình của chủ nghĩa Mác. Đối với chúng ta, thì đã quá rõ ràng là trong dòng nước ngược của chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh, thỏa hiệp giai cấp, đầu hàng giai cấp đang tràn ngập các Đảng dân chủ - xã hội hồi đó.
Bên cạnh đó, thực tiễn cũng đã ghi nhận, sự xuyên tạc của R.Garôdi đối với V.I.Lênin có lẽ là một điển hình ít thấy về thái độ vô liên sỉ của một phần tử biến chất, phản bội. Nếu như vào năm 1964 trong cuốn “Các Mác” và năm 1966 trong cuốn “Chủ nghĩa Mác của thế kỷ XX”, y còn cho rằng V.I.Lênin là người đã hiểu đúng chủ nghĩa Mác với tư cách là “một phương pháp luận của sự sáng tạo lịch sử” (thực chất là nhằm che đậy quan điểm duy tâm chủ quan của y về tính chủ thể ), thì đến năm 1968 trong cuốn sách nhỏ “Lênin”, y lại cho rằng luận điểm của V.I.Lênin về một đảng vô sản kiểu mới được trình bày trong tác phẩm “Làm gì” là bắt nguồn từ Cauxky và là nguyên nhân sâu xa đã dẫn đến sự tha hóa năng lực sáng tạo lịch sử và quyền lực của quần chúng vào bộ máy quan liêu của Đảng, chăn dắt và điều khiển hoạt động của họ từ trên xuống.
Ngoài ra, còn xuất hiện một dạng khác của mưu toan tư sản và xét lại đem đối lập V.I.Lênin với C.Mác. Trong đó, bọn mác học tư sản và bọn xét lại nói rằng, dù cho có lấy sự phát triển về sau của C.Mác (tức là sau 1844) để hiểu chủ nghĩa Mác đi nữa thì cũng vẫn không thể nào tìm ra đường dây thống nhất của sự phát triển từ C.Mác đến V.I.Lênin. Bởi theo họ, ở C.Mác là “quyết định luật kinh tế”, là “sự bất lực của con người trước quy luật kinh tế có tính chất định mệnh”, còn ở V.I.Lênin lại là “ý chí luận”, là “ý muốn, nghị lực của con người có thể đạt tới mọi cái”.
Thật ra C.Mác và V.I.Lênin là những nhà tư tưởng vĩ đại đã sáng tạo ra và phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Qua đó, lần đầu tiên đã giải quyết được một cách khoa học mối quan hệ giữa tất yếu và tự do, giữa khách thể và chủ thể, giữa quy luật khách quan và hoạt động có mục đích, có ý thức của con người, nhờ đó mà làm cho con người nhìn rõ phương hướng đạt tới sự tự do chân chính. Cái mới ở V.I.Lênin so với C.Mác là trên cơ sở các tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về tất yếu - tự do, ông đã vận dụng các tư tưởng đó vào thời đại cách mạng vô sản trực tiếp và nhất là sau khi giai cấp vô sản đã trở thành người chủ tập thể của xã hội. V.I.Lênin đã đặc biệt nhấn mạnh vai trò của nhân tố chủ quan, của chủ thể. Chưa bao giờ trong lịch sử nhân loại, chủ thể - tức là quần chúng nhân dân lại có điều kiện và khả năng to lớn để sáng tạo lịch sử để đẩy nhanh tốc độ phát triển của lịch sử như trong thời đại cách mạng vô sản và trong sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa. Toàn bộ hoạt động cách mạng sôi nổi, chiến đấu và xây dựng đang diễn ra khắp nơi trong thời dại chúng ta chứng minh rằng V.I.Lênin là bậc thầy trong việc vận dụng phép biện chứng để phát hiện ra cái mới xuất hiện trong cuộc sống.
Đưa ra sự đối lập tưởng tượng giữa một C.Mác của “quyết định luận kinh tế” với một V.I.Lênin “ý chí luận”, phải chăng các học giả tư sản và bọn cơ hội xét lại chỉ muốn chứng minh “sự đối lập” giữa C.Mác và V.I.Lênin? Ở đây, C.Mác đã được biến thành một đại biểu của chủ nghĩa duy vật kinh tế tầm thường, còn V.I.Lênin cũng đã được biến thành đại biểu của chủ nghĩa duy vật chủ quan.











Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...