Thứ Ba, 10 tháng 9, 2019

ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG ÂM MƯU CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRƯỚC THỀM ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG


    


Thực tế cho thấy, trước mỗi sự kiện chính trị trọng đại của đất nước và dân tộc ta, nhất là trước thềm Đại hội Đảng toàn quốc, các thế lực thù địch lại ra sức chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Trước thềm Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng cũng vậy, trên các trang mạng xã hội, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội liên tục đưa nhiều thông tin tuyên truyền, xuyên tạc nhằm hạ thấp uy tín và thành quả cách mạng của Đảng và Nhà nước ta. Do vậy, chúng ta cần đề cao cảnh giác và kiên quyết đấu tranh làm thất bại những thủ đoạn chống phá đó của chúng.
Thực tiễn đã chứng minh, quá trình hình thành, phát triển phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, những người cộng sản chân chính luôn phải đấu tranh quyết liệt với những phần tử cơ hội, xét lại, những kẻ “mang danh”, “đội lốt” mác xít, để bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin và cương lĩnh, đường lối của Đảng Cộng sản.
Đối với Việt Nam, âm mưu chuyển hóa chế độ xã hội chủ nghĩa luôn là mục tiêu nhất quán, xuyên suốt của chúng. Trong đó, trọng điểm là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội. Điều đó lý giải cho việc tại sao cứ ngay trước, trong và sau mỗi kỳ Đại hội Đảng, hoạt động chống phá của chúng lại được tăng cường, ngày càng ráo riết, bằng những thủ đoạn tinh vi, thâm hiểm trên tất cả các lĩnh vực: Chính trị, tư tưởng, tổ chức và trong mọi mặt công tác, hoạt động của Đảng, nhất là công tác cán bộ. Đại hội lần thứ XIII này của Đảng cũng không phải là ngoại lệ. Vì thế, việc nêu cao cảnh giác, chủ động đấu tranh, làm thất bại các thủ đoạn đó của chúng, là hết sức quan trọng, cấp thiết, không chỉ đảm bảo thành công của Đại hội, mà còn củng cố trận địa tư tưởng của Đảng, niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Nội dung và thủ đoạn chống phá của chúng thường tập chung vào một số vấn đề lớn sau:
Thứ nhất, về chính trị. Đây là lĩnh vực trọng tâm mà các thế lực thù địch, phản động hướng tới, nhằm làm thay đổi, sai lệch quan điểm, đường lối chính trị của Đảng và chệch hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Với thủ đoạn, thổi phồng, bóp méo, khoét sâu những khuyết điểm, hạn chế về vài trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước và Chính phủ, nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, trực tiếp là xuyên tạc, phủ nhận các văn kiện trình Đại hội XIII…,
Thứ hai, về tư tưởng. Chúng sẽ tập trung chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng là Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng tập trung tung ra những luận điểm xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, rằng: “Chủ nghĩa Mác – Lênin đã lỗi thời, lạc hậu”, “tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là phép cộng giản đơn của học thuyết C.Mác và Nho giáo”, “con đường Bác Hồ chọn là con đường dân tộc, không phải chủ nghĩa xã hội”. Và rằng, theo con đường đó sẽ là “sai lầm vô vọng”….
Thứ ba, về tổ chức và công tác cán bộ. Chống phá về tổ chức, là một trong những phương thức cơ bản mà các thế lực thù địch đã sử dụng trong các đợt sinh hoạt dân chủ rộng rãi của toàn dân và các tổ chức chính trị – xã hội. Do vậy, trước Đại hội lần thứ XIII của Đảng, chúng sẽ lợi dụng việc lấy ý kiến đóng góp vào các Văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng, để lôi kéo các phần tử chống đối, bất mãn với chế độ ký tên tập thể đòi yêu sách, gây sức ép, nhằm thay đổi những vấn đề có tính nguyên tắc của Đảng ta. Thủ đoạn nham hiểm này của chúng nhằm dụ dỗ, mua chuộc những cán bộ, đảng viên có biểu hiện thoái hóa, biến chất để làm công cụ xuyên tạc, phủ nhận quan điểm, đường lối của Đảng.
Như vậy, sự chống phá của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch trước thềm Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng sẽ quyết liệt hơn trong thời gian tới. Do đó, chúng ta cần nâng cao tinh thần cảnh giác, chủ động đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn thâm độc, nguy hiểm của chúng, góp phần bảo đảm sự thành công Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.
Khánh Anh


NHẬN DIỆN SỰ CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH ĐỐI VỚI ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VÀ QUÂN ĐỘI TA THỜI GIAN QUA TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG, LÝ LUẬN



                                                                        

Cuối năm 2018 và 8 tháng đầu năm 2019, các thế lực thù địch, nhất là các tổ chức phản động người Việt lưu vong câu kết với các phần tử chống đối, bất mãn, cơ hội, lợi dụng dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, các sự kiện chính trị ở trong nước và quốc tế, đẩy mạnh các hoạt động chống phá nước ta trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận.
Về thủ đoạn, chúng phát tán tài liệu, viết thư gửi các tổ chức quốc tế và cơ quan Đảng, Nhà nước; trả lời phỏng vấn đài, báo quốc tế về tình hình Việt Nam, cổ súy cho đấu tranh tự do; điều trần về tình hình tự do, dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam; giới thiệu sách, báo, hồi ký, phát tán các videoclip có nội dung xấu độc, nhằm xuyên tạc tình hình chính trị, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước ta. Chúng cho rằng, mô hình chế độ xã hội ở Việt Nam hiện nay đã “lỗi thời” lạc hậu cần phải xóa bỏ để xây dựng một xã hội mới, đồng thời chúng vu cáo Đảng, Nhà nước ta cấm đoán tự do, bóp nghẹt dân chủ, nhân quyền, báo chí, tôn giáo; kêu gọi chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ, gây sức ép với Việt Nam, kích động nhân dân, nhất là giáo dân đấu tranh đòi tự do, dân chủ.
Chúng trích dẫn, cắt xén, thêm bớt những nguyên lý, lý luận nền tảng tư tưởng của Đảng để soi xét vào thực tiễn tình hình đất nước, đối lập chủ nghĩa Mác – Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chủ trương, chính sách và luật pháp của Nhà nước. Chúng triệt để lợi dụng những điểm “nóng” trên các lĩnh vực của Việt Nam, để vu cáo, thổi phồng, bóp méo, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Quốc hội và cá nhân các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, Quân đội và Công an, nhằm xuyên tạc tình hình mọi mặt của đất nước, hướng lái những tư tưởng và hành động sai trái, chống đối, bất tuân, bạo lực và bạo động trong cộng đồng nhân dân và xã hội, từ đó lôi kéo, tập hợp những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị trong – ngoài nước, các tổ chức quốc tế và chính phủ các nước can dự vào công việc nội bộ của Việt Nam.
Về lực lượng, trong 8 tháng đầu năm 2019, nổi lên có: các nhân vật cực hữu trong các chính phủ các nước; tổ chức phản động “Việt Tân”, đảng Đại Việt ở nước ngoài câu kết với một số Linh mục phản động ở Hà Nội, Nghệ An, Hà Tĩnh, Tp. Hồ Chí Minh; Mạng lưới blogger Việt Nam, Liên đoàn Quốc tế vì Nhân quyền (FIDH), một số nhân vật cực hữu trong Ủy Ban Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc; “Cộng đồng người Việt tự do ở hải ngoại”; “Hội Cựu quân nhân Quân lực VNCH”; “Hội Thanh niên Phật giáo Hòa hảo thuần túy”; “Tăng đoàn Phật giáo Việt Nam thống nhất”; các đài VOA, BBC, RFI…
Về nội dung chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận trong 8 tháng đầu năm, nổi lên các vấn đề chính như: Xuyên tạc, kích động tẩy chay chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xuyên tạc, phủ nhận chế độ xã hội chủ nghĩa; nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín của các đồng chí lãnh Đảng, Nhà nước và Quân đội, đặc biệt là sự xuyên tạc, thổi phồng, bóp méo trắng trợn về tình hình sức khỏe của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng; chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam, trọng tâm là Hội nghị Trung ương 10 khóa XII, kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XIV; xuyên tạc lịch sử chiến tranh giải phóng dân tộc, đấu tranh bảo vệ chủ quyền biên giới, biển, đảo của Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân ta; phát tán tư tưởng dân chủ tư sản, xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam; tuyên truyền, xuyên tạc chống phá chức năng, nhiệm vụ của quân đội và cố tình làm xấu hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân …
Về hình thức chống phá, chúng sử dụng những trang mạng như: Việt Nam Thời Báo; Blog Ðài Tiếng nói Hoa Kỳ; Dân Làm Báo; Blog RFA; Chân Trời Mới Media; Tiếng Dân; Bauxite Việt Nam…để phát tán các bài viết tuyền truyền xuyên tạc sai sự thật về Việt Nam, đồng thời đăng những vidieoclip xấu độc lên Faebook, Yuotube…, thư gửi, kiến nghị, tuyên bố, hội thảo của các tổ chức, cá nhân; trao giải thưởng của các tổ chức quốc tế, phi chính phủ và của các tổ chức phản động, đối lập; trả lời phỏng vấn, bình luận của các báo đài…
Đây là những chiêu trò không mới, nhưng nó được các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội chính trị “diễn lại” khi có một sự kiện nào đấy để lừa gạt những ai nhẹ dạ cả tin, chúng ta phải hết sức cảnh giác, kiên quyết đấu tranh, vạch trần và bác bỏ những quan điểm, luận điệu này.
    Khánh Anh

CẦN TÁCH BẠCH GIỮA QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ TRONG LUẬT THANH NIÊN HIỆN HÀNH



Sáng 10-9, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) thảo luận, cho ý kiến về dự án Luật Thanh niên (sửa đổi).
Theo Tờ trình của Chính phủ do Bộ trưởng Bộ Nội vụ Lê Vĩnh Tân trình bày, một trong những điểm mới của dự thảo Luật Thanh niên (sửa đổi) là tách quyền với nghĩa vụ của thanh niên thành hai điều khác nhau, đồng thời quy định chính sách của Nhà nước gắn liền với quyền, nghĩa vụ trong từng lĩnh vực.
Tuy nhiên qua thẩm tra sơ bộ, Thường trực Ủy ban Văn hoá, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng thấy rằng, mục đích chính của việc xây dựng quyền, nghĩa vụ cũng như chính sách đối với thanh niên là nhằm tạo hành lang pháp lý để thanh niên phát huy sức trẻ, khả năng, trí tuệ đóng góp vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, không phải tạo ra đặc quyền, đặc lợi cho thanh niên so với những công dân khác.
“Vì vậy, Thường trực Ủy ban đề nghị Ban soạn thảo xác định lại cách tiếp cận để từ đó xây dựng nội dung các quyền, nghĩa vụ và chính sách một cách khoa học, có giá trị trong thực tiễn thi hành”, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hoá, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng Phan Thanh Bình nói.
Thảo luận tại phiên họp, Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển cho rằng, nói đến dự án luật này ông kỳ vọng rất lớn, tuy nhiên khi đọc hồ sơ dự án luật thì chưa thoả mãn. “Có một điều cứ vang vọng mãi trong đầu là “Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta mà cần hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay” thì luật này khiến tôi rất băn khoăn. Vì thể hiện nghĩa vụ thì ít mà đòi hỏi Tổ quốc cho mình nhiều quá. Quyền lợi đòi hỏi nhiều, nghĩa vụ thì không rõ”, ông thẳng thắn.
Đồng thời, ông đánh giá dự án luật dẫn chiếu nhiều, trong khi nếu thay từ “thanh niên” bằng từ “công dân” thì cũng vẫn vậy, tức là không có nét gì của riêng biệt thanh niên. Phó Chủ tịch Quốc hội cũng cho rằng, quy định trong luật nghĩa vụ thì mờ nhạt, tính cụ thể không rõ, mang tính khẩu hiệu nhiều...
Trưởng ban Dân nguyện Nguyễn Thanh Hải lại bày tỏ sự trăn trở vì vừa qua một số phong trào thanh niên, một bộ phận thanh niên xuống cấp về đạo đức, lối sống thì trách nhiệm thuộc về đâu, do trách nhiệm quản lý nhà nước hay sự phối hợp giữa Đoàn Thanh niên và cơ quan nội vụ các cấp?
“Thực sự đọc luật này những cái hừng hực của tuổi trẻ và điểm mới không nhiều. Tôi đã được đi dự nhiều diễn đàn của thanh niên, thế giới chú ý sự tham gia của thanh niên vào việc hoạch định chính sách. Đây là điều mà trên thế giới hay nhấn mạnh, đề nghị trong luật cần phải quan tâm, nhấn mạnh hơn nữa”, bà đề nghị.
Cho ý kiến tại phiên họp, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đề nghị Ban soạn thảo bám sát tinh thần của Hiến pháp ở khoản 2, Điều 37, quy định “thanh niên được nhà nước, gia đình và xã hội tạo điều kiện học tập, lao động, giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ, bồi dưỡng đạo đức, truyền thống văn hoá dân tộc, ý thức công dân, đi đầu trong công cuộc lao động sáng tạo và bảo vệ Tổ quốc”. Cần bám sát tinh thần này, cụ thể hoá trong luật và làm rõ điều kiện để thanh niên thực hiện được.
Chủ tịch Quốc hội yêu cầu, những vấn đề về quyền, nghĩa vụ của thanh niên cơ bản đã được quy định khá rõ trong các luật chuyên ngành, cái gì mà luật chuyên ngành chưa quy định hoặc quy định chưa cụ thể thì mới tiếp cận, đưa vào luật này. Đặc biệt là làm rõ quy định của Hiến pháp năm 2013 về các điều kiện bảo đảm cho thanh niên học tập, lao động, giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ...
“Tôi nhấn mạnh ở chỗ, điều kiện nào bảo đảm cho thanh niên tiếp cận được những quyền mà Hiến pháp quy định. Đây là những nội dung hết sức quan trọng cần được tiếp tục nghiên cứu để quy định cụ thể trong luật. Vấn đề không phải thanh niên có quyền gì, trách nhiệm gì mà thanh niên cần những điều kiện đảm bảo gì để có thể với tới, thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của mình trước xã hội?”, Chủ tịch Quốc hội nói.
Chủ tịch Quốc hội lưu ý việc giáo dục, bồi dưỡng đạo đức, truyền thống dân tộc, ý thức công dân của thanh niên trong điều kiện hiện nay. “Đặc biệt những thanh niên tham gia mạng xã hội, tiếp cận thông tin rồi bình luận. Khi có thông tin giả, thông tin sai thì nhiều thanh niên ùn ùn tiếp cận, làm “anh hùng bàn phím”, bỏ hết tất cả truyền thống dân tộc, ý thức công dân, trách nhiệm trước xã hội...”, Chủ tịch Quốc hội đánh giá đây là cái khó của công tác thanh niên hiện nay.
Mặt khác, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đề nghị cần tách bạch, tránh sự lẫn lộn giữa quyền và nghĩa vụ như ở Luật Thanh niên hiện hành. Về đối thoại với thanh niên cần đảm bảo thiết thực, hiệu quả, tránh hình thức, trùng lặp...
Kết lại nội dung thảo luận, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Tòng Thị Phóng đề nghị Ban soạn thảo cần viết lại nội dung dự án luật theo tinh thần chỉ đạo của Chủ tịch Quốc hội và phát biểu góp ý của các đại biểu tại phiên họp, có giải trình rõ ràng, thực hiện đúng Hiến pháp, không chồng chéo với các luật khác.
“Nếu hồ sơ được thực hiện đúng quy định, cập nhật và sửa đổi cho phù hợp thì Uỷ ban Văn hoá, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng sẽ thẩm tra chính thức, nếu được thì đề nghị Tổng Thư ký Quốc hội cho sắp xếp thảo luận cuối kỳ họp. Nếu trong thời gian khoảng 2 tháng luật đáp ứng yêu cầu thì sẽ trình ra Kỳ họp thứ 8 để xin ý kiến Quốc hội”, Phó Chủ tịch Quốc hội kết luận.


KHAI MẠC HỘI NGHỊ CẤP BỘ TRƯỞNG VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỢP TÁC ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM MA TÚY XUYÊN QUỐC GIA



Chiều 10-9, tại Hà Nội, Bộ Công an tổ chức Hội nghị cấp Bộ trưởng về nâng cao hiệu quả hợp tác đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy xuyên quốc gia. Đồng chí Trương Hòa Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ dự chỉ đạo và phát biểu khai mạc Hội nghị. Đại tướng Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì Hội nghị.
Hội nghị có sự tham dự của gần 200 đại biểu đại diện cho các nước và tổ chức quốc tế: Campuchia, Lào, Trung Quốc, Thái Lan, Myanmar, Philippines, Việt Nam, Cơ quan phòng, chống ma túy Mỹ (DEA), Văn phòng Cảnh sát Liên bang Australia (AFP), Văn phòng khu vực Đông Nam Á và Thái Bình Dương Cơ quan phòng, chống ma túy và tội phạm của Liên Hợp Quốc (UNODC), cùng đại diện các bộ, ngành thành viên Ủy ban quốc gia phòng, chống AIDS và tê nạn ma túy, mại dâm và các tỉnh giáp biên với Trung Quốc, Lào, Campuchia.
Phát biểu khai mạc Hội nghị, Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình chỉ rõ, ma túy là hiểm họa và là vấn nạn chung của toàn cầu, đã và đang gây ra những hậu quả tiêu cực đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Đây là loại tội phạm sản sinh ra các loại tội phạm khác như tài trợ khủng bố, tham nhũng và rửa tiền. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa sâu rộng, hoạt động của các tổ chức, đường dây tội phạm mua bán, vận chuyển trái phép ma túy xuyên quốc gia đang ngày càng diễn biến tinh vi, phức tạp và khó lường. 
Trong khi đó, chính sách phòng, chống ma túy khác biệt trên toàn cầu đã gây ra những khó khăn nhất định trong giải quyết có hiệu quả vấn đề này. Từ đó, Phó Thủ tướng khẳng định, việc đẩy mạnh hợp tác giữa các nước có liên quan trong khu vực và trên thế giới trong giải quyết vấn nạn ma túy là đòi hỏi tất yếu, khách quan và cần được nâng lên tầm cao mới, nhằm đạt được hiệu quả, thiết thực hơn.
Trong khuôn khổ hợp tác về phòng, chống ma túy những năm qua, Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình ghi nhận và đánh giá cao nỗ lực của các quốc gia ở khu vực và thế giới trong phòng, chống ma túy toàn cầu, trong đó có các tổ chức Liên hợp quốc, đặc biệt là Cơ quan phòng, chống tội phạm và ma túy Liên hợp quốc và Ủy ban Kiểm soát ma túy Liên hợp quốc. 
Phó Thủ tướng cũng ghi nhận những kết quả đạt được trong phòng, chống ma túy của các nước thông qua việc chủ động xây dựng chính sách, chiến lược quốc gia phòng, chống ma túy; củng cố và đẩy mạnh thực hiện các hoạt động hành pháp, trấn áp quyết liệt tội phạm ma túy trong nước và trên các tuyến biên giới; tăng cường hợp tác quốc tế, triển khai tích cực các nội dung trong cơ chế hợp tác song phương, đa phương với các nước láng giềng, khu vực và thế giới. Theo Phó Thủ tướng, với sự quyết tâm lớn của Chính phủ các nước, tội phạm ma túy thời gian qua phần nào đã được ngăn chặn, kiềm chế và đẩy lùi.
Trong bài phát biểu của mình, Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình nêu rõ, trong hơn 20 năm qua, Chính phủ Việt Nam luôn nhất quán về chính sách, tập trung chỉ đạo quyết liệt các cấp, các ngành triển khai đồng bộ các giải pháp giảm cung, giảm cầu kết hợp với giảm tác hại do ma túy gây ra. 
Việt Nam cũng luôn tích cực, chủ động tăng cường hợp tác phòng, chống ma túy với các nước ký kết Hiệp định hợp tác, các nước có chung đường biên giới, các tổ chức quốc tế, khu vực và các nước đối tác tài trợ như Cơ quan phòng, chống tội phạm và ma túy của Liên hợp quốc (UNODC), Cơ quan phòng, chống ma túy của Mỹ (DEA), Cảnh sát Liên bang Úc (AFP), các quốc gia như Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Campuchia, Philippines, Myanma..Qua đó góp phần tăng cường sự gắn kết, thúc đẩy hiệu quả thực thi pháp luật, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ phòng, chống ma túy ở trong nước.
Trước tình hình ma túy ở khu vực và trên thế giới đang có những diễn biến phức tạp mới rất đáng lo ngại, Phó Thủ tướng kỳ vọng Hội nghị cấp Bộ trưởng về nâng cao hiệu quả hợp tác đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy xuyên quốc gia do Việt Nam khởi xướng sẽ là một diễn đàn thiết thực để lực lượng chức năng phòng, chống ma túy các nước chia sẻ, trao đổi thông tin cập nhật về diễn biến tình hình, kết quả đấu tranh trấn áp tội phạm ma túy, cũng như bàn các giải pháp cụ thể và có hiệu quả để kịp thời ứng phó với tội phạm ma túy. 
Phó Thủ tướng đồng thời khẳng định quyết tâm, thiện chí và cam kết của Việt Nam trong việc tăng cường hợp tác với Cơ quan phòng, chống ma túy và tội phạm của Liên hợp quốc, với các quốc gia trong khu vực và thế giới. “Việt Nam đã, đang và sẽ luôn là một thành viên tích cực và có trách nhiệm, luôn sát cánh cùng các thành nước trong khu vực và trên thế giới thực hiện nghiêm túc những cam kết và thỏa thuận đã đạt được; nỗ lực phấn đấu cho các mục tiêu chung của khu vực, vì hoà bình, ổn định, phát triển thịnh vượng và xây dựng một khu vực không có ma tuý”, Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình nói.
Trong thời gian tới, Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình đề nghị các quốc gia cần khẳng định tính chất nền tảng trong xây dựng và điều chỉnh chính sách phòng chống ma túy của 03 Công ước Liên hợp quốc về kiểm soát ma túy, Tuyên bố chính trị và kế hoạch hành động phòng, chống ma túy năm 2009, Tuyên bố Bộ trưởng 2014, Văn kiện UNGASS 2016. 
Trên cơ sở đó, các nước chủ động vận dụng chính sách phòng, chống ma túy một cách linh hoạt, phù hợp bối cảnh và tình hình ma túy ở mỗi nước. Bảo đảm nguyên tắc cốt lõi, chính sách, công tác đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy nói chung và tội phạm ma túy xuyên quốc gia nói riêng của mỗi quốc gia không làm ảnh hưởng, hạn chế tới nỗ lực, giải pháp phòng chống ma túy của quốc gia khác.
Bên cạnh đó, Phó Thủ tướng cho rằng các nước cần tham gia tích cực và nâng cao hơn nữa vai trò chủ đạo trong xây dựng các chính sách, chiến lược kiểm soát ma túy của quốc gia và khu vực; tăng cường hơn nữa tính tự chủ, trực tiếp tham gia đóng góp và chia sẻ trách nhiệm huy động các nguồn lực cho các sáng kiến phòng, chống ma tuý của khu vực và thế giới, trong bối cảnh nguồn lực của quốc tế dành cho công tác phòng, chống ma túy suy giảm; các chương trình, khuôn khổ hợp tác quốc tế phòng, chống ma túy của khu vực cần được xây dựng, thiết kế đảm bảo tính thực tiễn, phù hợp với tình hình của khu vực và khả năng nguồn lực; gắn kết các cơ chế hợp tác khu vực hiện có với các nỗ lực chung của thế giới và các khu vực khác; khuyến khích các hoạt động hợp tác song phương giữa các quốc gia thành viên.
Phó Thủ tướng cũng hi vọng các nước đối tác, tổ chức ủng hộ các sáng kiến phòng, chống ma túy của các nước khu vực, hỗ trợ các nguồn lực để triển khai các sáng kiến hợp tác phòng, chống ma túy; tài trợ trang thiết bị, tổ chức các khóa tập huấn nâng cao nghiệp vụ về phòng, chống ma túy cho sĩ quan các nước trong khu vực.
Trong khuôn khổ Hội nghị cấp Bộ trưởng về nâng cao hiệu quả hợp tác đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy xuyên quốc gia, các đại biểu sẽ cùng chia sẻ thông tin cập nhật, cảnh báo xu hướng mới nổi và nguy cơ tiềm ẩn đang ảnh hưởng nghiêm trọng không chỉ Việt Nam, mà cả những nước khác trong và ngoài khu vực; tập trung phân tích và đánh giá tình hình, nắm bắt biến động mới của các tuyến, địa bàn và đối tượng mua bán, vận chuyển ma túy bất hợp pháp trong khu vực; thảo luận thống nhất, các giải pháp cấp bách, chiến lược nhằm phối hợp đấu tranh có hiệu quả với tội phạm ma túy trên tuyến biên giới, các tuyến vào và từ Tam giác Vàng đi các khu vực khác; khẳng định cam kết và nhận thức ở cấp cao về tính cấp thiết của việc tăng cường hợp tác và hợp hợp tác chiến trong đấu tranh trấn áp tội pham ma túy ở trong và ngoài khu vực.

Thứ Hai, 9 tháng 9, 2019

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN ĐƯỢC MỐI QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM - CUBA



QĐND - Thời gian qua, các thế lực thù địch bên ngoài, cả một số người trẻ tuổi trong nước thông qua mạng xã hội tìm cách phủ nhận mối quan hệ giữa hai đất nước anh em Việt Nam-Cuba. Họ tìm cách gây chia rẽ, mất đoàn kết giữa hai dân tộc, phủ nhận vai trò và sự giúp đỡ chí tình của nhân dân Cuba trong kháng chiến cứu nước và trong xây dựng đất nước của nhân dân Việt Nam; cũng như sự giúp đỡ về vật chất, tinh thần mà nhân dân Việt Nam đã dành cho Cuba.
Đó là những luận điệu thù địch nhằm xuyên tạc lịch sử, phá vỡ mối quan hệ gắn bó bền chặt giữa hai dân tộc vốn được Nhà nước và nhân dân hai nước gìn giữ, vun đắp bấy lâu nay.
"Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu mình", câu nói bất hủ của Chủ tịch Cuba Fidel Castro đã in sâu vào trái tim các thế hệ người Việt Nam, thể hiện sâu sắc tình anh em, tình đồng chí keo sơn giữa Việt Nam-Cuba trong những năm tháng chiến tranh ác liệt và trong công cuộc xây dựng, đổi mới đất nước hiện nay. Quan hệ đoàn kết, anh em giữa Việt Nam và Cuba do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Fidel Castro đặt nền móng được thúc đẩy ngày càng phát triển lớn mạnh không ngừng. Ngay sau ngày cách mạng Cuba thành công (1-1-1959), Cộng hòa Cuba là quốc gia Mỹ Latin đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ với Việt Nam (2-12-1960), đồng thời công nhận Phái đoàn đại diện thường trú của Mặt trận (7-1962) và thành lập Ủy ban toàn quốc đoàn kết với miền Nam Việt Nam (25-9-1963); công nhận về mặt ngoại giao Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (20-12-1965) và cũng là nước đầu tiên cử Đại sứ bên cạnh Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng (3-1969). Những năm thập niên 1970 của thế kỷ trước, trong thời kỳ gian khổ nhất cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam, dù cuộc sống còn khó khăn, song Đảng, Nhà nước và nhân dân Cuba luôn đồng hành, chắt chiu dành cho Việt Nam sự ủng hộ lớn nhất cả về vật chất lẫn tinh thần; đã bán hàng vạn tấn đường lấy ngoại tệ gửi cho Mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam đánh Mỹ; gửi nhiều kỹ sư, công nhân, bác sĩ và nhân viên y tế cùng thuốc men, dụng cụ y tế giúp chữa trị cho người dân Việt Nam. 
Trong chuyến thăm chính thức Việt Nam lần đầu tiên vào tháng 9-1973, bất chấp tình hình nguy hiểm, Chủ tịch Fidel Castro đã đến tận khu giải phóng Quảng Trị. Thay mặt nhân dân Cuba, Chủ tịch Fidel Castro tặng Việt Nam 5 công trình kinh tế-xã hội (KT-XH) có giá trị vật chất rất lớn, gồm: Khách sạn Thắng Lợi, Trại bò giống Ba Vì, tuyến đường Sơn Tây-Xuân Mai (Hà Nội), Bệnh viện Việt Nam-Cuba (Đồng Hới, Quảng Bình), Xí nghiệp gà Lương Mỹ(1). Trong đó, việc đưa Bệnh viện Việt Nam-Cuba hiện đại nhất lúc bấy giờ vào hoạt động mở ra chặng đường mới trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân. Trong suốt thập niên 1980-1990, dù phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, đặc biệt là chống lại chính sách bao vây, cấm vận của Mỹ, Cuba tiếp tục viện trợ thuốc men, vacxin, lương thực cho Việt Nam.
Đáp lại tình cảm to lớn của nhân dân Cuba đã dành cho Việt Nam, khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Ðông Âu sụp đổ, Mỹ siết chặt cấm vận, Cuba đã phải đương đầu với muôn vàn khó khăn, trong hoàn cảnh đó, Việt Nam đã dành cho đất nước anh em Cuba sự ủng hộ hết lòng, đã gửi gạo, quần áo, đồ dùng học tập và nhiều mặt hàng tiêu dùng thiết yếu sang giúp nhân dân Cuba. Từ đó đến nay, Việt Nam tiếp tục viện trợ lương thực, thực phẩm, máy móc và trang thiết bị giúp nước bạn, đồng thời tích cực vận động các quốc gia trên thế giới kêu gọi Mỹ bỏ bao vây cấm vận Cuba.
Những năm qua, Việt Nam và Cuba đã thúc đẩy mạnh mẽ hợp tác kinh tế song phương trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là nông nghiệp, dầu khí, viễn thông, giáo dục và y tế… Việt Nam hiện là đối tác thương mại lớn thứ hai của Cuba tại khu vực châu Á và châu Đại Dương. Tổng kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam-Cuba năm 2018 đạt mức gần 350 triệu USD và có khả năng tăng hơn nữa bởi trong chuyến thăm chính thức Việt Nam của Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Cuba Miguel Mario Diáz Canel hồi tháng 11-2018, hai bên đã ký nhiều văn bản, thỏa thuận hợp tác, tạo căn cứ pháp lý cho hợp tác kinh doanh trước mắt cũng như lâu dài. Trong đó, Hiệp định Thương mại mới giữa Việt Nam và Cuba khi được ký kết sẽ đưa quan hệ kinh tế, thương mại giữa hai nước lên ngang tầm quan hệ chính trị đặc biệt sẵn có, tạo cơ sở để nâng kim ngạch thương mại hai chiều lên 500 triệu USD trong vòng 5 năm tới. Phía Cuba cũng chủ động đề xuất doanh nghiệp Việt Nam tham gia đầu tư vào các lĩnh vực tiềm năng, như: Công nghiệp, du lịch, công nghệ sinh học và các lĩnh vực ưu tiên phát triển tại Đặc khu phát triển kinh tế Mariel (ZEDM) và lĩnh vực mới như sản xuất vaccine, dược phẩm. Trong hành trình xúc tiến đầu tư vào ZEDM, Cuba đã chọn Việt Nam là đối tác đầu tiên được cấp phép đầu tư 100% vốn nước ngoài để phát triển khu công nghiệp được khởi công vào tháng 11-2018.
Về quan hệ chính trị, ngoại giao, hai nước luôn nỗ lực duy trì, phát triển quan hệ song phương ngày càng tốt đẹp, gắn bó mật thiết với sự tin cậy cao, thể hiện qua việc thường xuyên trao đổi đoàn ở các cấp trên tất cả các kênh Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội cũng như giao lưu nhân dân, nhất là cơ chế hợp tác liên chính phủ giữa hai nước; nhất quán ủng hộ lẫn nhau trên các diễn đàn quốc tế, nhất là tại Liên hợp quốc. Trong chuyến thăm cấp Nhà nước tới Cuba vào tháng 3-2018, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (nay là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước) đã khẳng định: Với nhân dân Việt Nam, hai tiếng Cuba đồng nghĩa với biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng, khí phách hiên ngang, ý chí quật cường, niềm tin mãnh liệt vào lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Quan hệ Việt Nam-Cuba là quan hệ anh em, đồng chí thân thiết, chân thành, trong sáng và đã trải qua một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ ở mỗi nước, đã được thử thách, rèn luyện qua hơn nửa thế kỷ đến ngày nay và đang tiếp tục phát triển tốt đẹp, trở thành biểu tượng của thời đại. 
Gần 60 năm qua, dù tình hình thế giới và khu vực có những biến đổi sâu sắc, với những diễn biến phức tạp, khó lường; song Đảng, Nhà nước, nhân dân hai nước luôn kiên trì và quyết tâm đưa mối quan hệ hợp tác lên tầm cao mới nhằm kế thừa, phát huy mạnh mẽ truyền thống tốt đẹp mà hai dân tộc đã dày công vun đắp, phấn đấu đưa quan hệ giữa hai nước trở thành mối quan hệ đặc biệt, không có tiền lệ, là hình mẫu của quan hệ quốc tế(2). Với đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây", Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam mãi ghi nhớ tình cảm sâu đậm, sự giúp đỡ vô giá mà nhân dân Cuba đã dành cho nhân dân Việt Nam, đồng thời luôn coi việc đoàn kết, ủng hộ và hợp tác với Cuba là mệnh lệnh của trái tim, là chủ trương nhất quán không bao giờ thay đổi. Thực tiễn những năm qua đã chứng minh rằng, chủ trương đó luôn được bảo đảm thực hiện với tinh thần và trách nhiệm cao nhất. Đó cũng là minh chứng sinh động nhất đập tan mọi luận điệu xuyên tạc mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước, phủ nhận vai trò, sự giúp đỡ của nhân dân Cuba với Việt Nam và tình cảm đặc biệt mà nhân dân Việt Nam dành cho đất nước Cuba anh em trong xây dựng và phát triển đất nước những năm qua và trong thời gian tới. 
Quan hệ đoàn kết, hữu nghị giữa Việt Nam và Cuba do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Fidel Castro đặt nền móng mãi mãi là biểu tượng bất diệt của chủ nghĩa quốc tế trong sáng, vô tư và thủy chung, là niềm tự hào của các thế hệ sau này của nhân dân hai nước. Được xây dựng, vun đắp từ tình cảm, trí tuệ và sức lực của hai dân tộc, được thử thách qua những năm tháng khó khăn nhất của lịch sử, quan hệ Việt Nam-Cuba trở thành tài sản vô giá và nguồn cổ vũ lớn lao cho sự nghiệp cách mạng ở mỗi nước; là nhân tố quan trọng góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở hai quốc gia.    
_____________________________________________
(1),(2). Nguyễn Văn Toàn, Việt Nam-Cuba: Hình mẫu của quan hệ quốc tế, Thế giới & Việt Nam online, ngày 31-12-2016a


Thứ Tư, 4 tháng 9, 2019

SỰ BỊA ĐẶT NGU XUẨN VỀ HỒ CHỦ TỊCH



Hồ Chí Minh - người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và người cha già của cả dân tộc Việt Nam, một chiến sĩ xuất sắc, một nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc. Cả cuộc đời của Người chỉ sống để cống hiến cho sự nghiệp cách mạng với mục đích duy nhất là đem lại cuộc sống ấm no, tự do và hành phúc cho tất cả quần chúng nhân dân. Người đã một mình bôn ba khắp năm châu, bốn biển; trải qua không biết bao nhiêu gian nan, khó khăn, thử thách để đến với con đường cứu nước; Người đã không chỉ chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng mà còn góp phần không nhỏ vào thắng lợi chung của phong trào cách mạng giải phóng dân tộc của các quốc gia trên thế giới. Vậy mà… không biết từ đâu ra, có thông tin trên những trang Blog rằng: Báo Anh coi “Hồ Chí Minh là một trong những trùm diệt chủng tàn ác nhất thế kỷ 20”, với những lời lẽ xuyên tạc, bịa đặt sự thật một cách ngu xuẩn, ngớ ngẩn về Người. Chúng to mồm khẳng định “ông Hồ Chí Minh vừa có tên trong danh sách những kẻ diệt chủng tàn ác nhất thế kỷ 20, theo bình chọn của Daily Mail - tờ báo có lượng phát hành hàng đầu nước Anh”. Làm sao một tờ báo có thời lượng phát hành hàng đầu nước Anh lại có thể khẳng định và cho xuất bản một bài báo với những điều bịa đặt, xuyên tạc động trời như thế được? Đó là điều không thể, khi mà quan hệ của Việt Nam - Anh đang trên đà phát triển tốt đẹp với trên 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao.
Một con người đã phải luôn ngày đêm khao tâm, khổ tứ, không ăn, không ngủ, trằn trọc vì nước vì dân; không màng đến hạnh phúc riêng của cá nhân mà chỉ đau đáu vì hạnh phúc của hàng triệu người con nước Việt. Vậy mà, chúng lại dám liệt kê Người vào danh sách với những tội đồ của nhân loại như Pol Pot, Hitler… Đúng là hết chỗ nói…
Với những cống hiến đó của mình, sử sách dân tộc Việt luôn dùng những mỹ từ như: “vị cha già dân tộc'”, “lãnh tụ kính yêu” hay “anh hùng kiệt xuất”… là hoàn toàn đúng đắn. Mà xin thưa rằng, những mỹ từ đó không chỉ người dân Việt Nam, mà người dân trên khắp quả địa cầu này đều dùng để nói về Người. Ghi nhận những công lao to lớn của Người, khóa họp Đại hội đồng UNESCO lần thứ 24 tại Paris (20/10 - 20/11/1987) đã thông qua Nghị quyết 24C/18.65 về kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách là “Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”, vào năm 1990. Thế mà, chúng lại tung tin cho rằng “hệ thống truyền thông CS còn bịa đặt thông tin nói rằng Hồ Chí Minh được UNESCO công nhận là danh nhân văn hóa thế giới”. Điều này càng thể hiện rõ hơn nhận thức kém cỏi, kiến thức què quặt của người viết. Chúng tôi, những người con Nước Việt không bao giờ tự tiện bịa đặt ra những điều không có. Cũng qua đây, tôi xin giới thiệu toàn văn bản dịch của Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam về Nghị quyết của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) về kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho người viết “mục sở thị nhé”. Đây là văn kiện quan trọng của một tổ chức quốc tế lớn thuộc Liên hợp quốc, ghi nhận những đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội; là niềm tự hào chung của dân tộc Việt Nam và của cả bầu bạn quốc tế.
Nhận thấy việc tổ chức kỷ niệm ngày sinh các nhân vật trí thức lỗi lạc và các danh nhân văn hóa trên phạm vi quốc tế góp phần thực hiện các mục tiêu của UNESCO và đóng góp vào sự hiểu biết trên thế giới.
Nhắc lại Nghị quyết số 18 C/4.351 thông qua tại khóa 18 Đại hội đồng UNESCO về việc tổ chức kỷ niệm ngày sinh của các danh nhân và việc kỷ niệm các sự kiện lịch sử quan trọng đã để lại dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại, 

Ghi nhận năm 1990 sẽ đánh dấu 100 năm kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam, 

Nhận thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh, một biểu tượng xuất sắc về sự tự khẳng định dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, 
Nhận thấy những đóng góp quan trọng và nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật chính là sự kết tinh của truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam, và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc mong muốn được khẳng định bản sắc văn hóa của mình và mong muốn tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc.
Khuyến nghị các quốc gia thành viên cùng tham gia kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bằng việc tổ chức các hoạt động cụ thể để tưởng niệm Người, qua đó làm cho mọi người hiểu rõ tầm vóc vĩ đại của những tư tưởng và những cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của Người. Đề nghị Tổng giám đốc UNESCO triển khai các biện pháp thích hợp để kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và hỗ trợ các hoạt động kỷ niệm được tổ chức nhân dịp này, đặc biệt là những hoạt động sẽ diễn ra ở Việt Nam”. 
Nghị quyết quan trọng này khẳng định những đóng góp quan trọng và nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã, góp phần quan trọng vào việc tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc…
Trong Nghị quyết này, Đại hội đồng UNESCO cũng khuyến nghị các nước thành viên “cùng tham gia kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bằng việc tổ chức các hoạt động cụ thể để tưởng niệm Người, qua đó làm cho mọi người hiểu rõ tầm vóc vĩ đại của những tư tưởng và những cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của Người”, đồng thời đề nghị ông Tổng giám đốc UNESCO “triển khai các biện pháp thích hợp để kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và hỗ trợ các hoạt động kỷ niệm được tổ chức nhân dịp này, đặc biệt là những hoạt động sẽ diễn ra ở Việt Nam”. Tấm gương và đạo đức Hồ Chí Minh là sự kết tinh những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta và tinh hoa văn hoá của nhân loại, là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và nhân dân ta; là tấm gương sáng để mọi người Việt Nam học tập và noi theo. Trước yêu cầu tăng cường công tác tư tưởng trong tình hình mới, Hội nghị lần thứ 12 Ban Chấp hành Trung ương khoá IX đã quyết định triển khai chỉ đạo điểm cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đến ngày 07-11-2006, Bộ Chính trị (khóa X) đã ban hành Chỉ thị 06-CT/TW về Tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Đây là một chủ trương lớn, vừa mang tính cấp bách trong bối cảnh tình hình hiện nay, vừa có ý nghĩa lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là chủ trương “ý Đảng hợp lòng dân”
Sau hơn 4 năm thực hiện, với sự chỉ đạo thường xuyên, chặt chẽ của các cấp ủy và tổ chức đảng; sự tham gia tích cực của cán bộ, đảng viên và nhân dân, cuộc vận động đã đạt được kết quả bước đầu, góp phần vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng. Kết quả triển khai cuộc vận động đã khẳng định việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là rất quan trọng và cần thiết, chẳng những đáp ứng yêu cầu cấp bách trước mắt mà còn có ý nghĩa cơ bản, lâu dài đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Điều này, thực tiễn trong những năm qua đã chứng minh một cách rõ ràng. Vậy mà, những kẻ không hiểu biết lại lên tiếng bảo: Trong những năm gần đây, CSVN vẫn đang tiếp tục “kêu gào và bắt buộc người dân phải ra sức học tập, làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Trên thực tế, những chiến dịch phong thánh cho Hồ Chí Minh đã nhanh chóng bị phá sản từ đầu.”
Nhận thấy hiệu quả tích cực mà cuộc vận động mang lại, ngày 14 tháng 5 năm 2011, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số Số: 03-CT/TW về Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Việc thực hiện Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị được đẩy mạnh, đi vào nền nếp, gắn với nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước và từng cấp, từng ngành. Ở nhiều địa phương, bộ, ngành, cơ quan, đơn vị đã xuất hiện những cách làm mới thiết thực, hiệu quả, nhiều điển hình tiên tiến gắn với các phong trào thi đua yêu nước ở cơ sở, đặc biệt là phong trào xây dựng nông thôn mới
Những thành tựu đạt được trong những năm tiến hành Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và hơn 3 năm thực hiện Chỉ thị 03 về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã khẳng định sự cần thiết của việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác trong toàn Đảng, toàn dân. Với quyết tâm cao, tôi dám tin chắc rằng, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục đạt được những kết quả quan trọng, để cho những kẻ xuyên tạc, bịa đặt thấy được thế nào là sự thật, thế nào là Hồ Chí Minh./.

BẢN CHẤT CỦA CÁI GỌI LÀ QUỐC GIA HÓA QUÂN ĐỘI



Cùng với việc đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội được xác định tại Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị đang ra sức truyền bá quan điểm đòi “quốc gia hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam, cho rằng: “Quân đội bao giờ cũng là của quốc gia, không phải là của một đảng phái hay một thể chế chính trị nào”, “Quân đội chỉ trung thành với Hiến pháp” và yêu cầu “Luật hóa mọi vấn đề về tổ chức và hoạt động của quân đội” theo kịch bản “Cách mạng pháp luật” của phương Tây... Một số cán bộ, đảng viên và nhân dân ta cũng ngộ nhận về quan điểm này, cho rằng đã có lúc quân đội ta là “Quân đội quốc gia”. 
Thực chất của quan điểm “quốc gia hóa quân đội” là đòi quân đội phải trung lập, “phi đảng hóa”, tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, làm cho quân đội mất định hướng chính trị, cơ chế lãnh đạo, chỉ huy bị suy yếu, bị tha hóa biến chất và mất sức chiến đấu; đồng thời làm cho Đảng không nắm được quân đội, dẫn đến mất vai trò đảng cầm quyền, đưa đất nước lâm vào tình trạng mất ổn định và suy thoái. 
Lịch sử chiến tranh và quân đội đã chứng minh và khẳng định: Quân đội bao giờ cũng là công cụ bạo lực của một giai cấp, Nhà nước, đảng chính trị để tiến hành đấu tranh vũ trang nhằm thực hiện mục đích chính trị nhất định. Bản chất giai cấp, mục tiêu chiến đấu, chức năng, nhiệm vụ, cơ chế lãnh đạo, chỉ huy của quân đội phụ thuộc vào quan điểm, đường lối chính trị của giai cấp, Nhà nước, đảng chính trị tổ chức ra quân đội. Không có quân đội trung lập, đứng ngoài chính trị. V. I. Lê-nin đã chỉ rõ: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị - đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ giả nhân giả nghĩa của giai cấp tư sản..., bọn này trong thực tế bao giờ cũng đã lôi kéo quân đội vào chính trị phản động” (1). 
Ở các nước tư bản thực hiện chế độ đa đảng, các đảng có thể cầm quyền về thực chất là những hình thái tổ chức khác nhau đại diện cho các “tập đoàn lợi ích” khác nhau của giai cấp tư sản. Thực tiễn cho thấy, ở các nước tư bản, các đảng phái có thể thay nhau cầm quyền, song bộ máy Nhà nước cũng như quân đội đều được tổ chức và hoạt động theo thể chế chính trị của xã hội tư bản, đều phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản. Quân đội tư sản không chỉ được sử dụng để bảo vệ lợi ích quốc gia, mà còn để đàn áp sự phản kháng của nhân dân lao động bị áp bức. Hiện ở Mỹ có “quân đội tư nhân” lớn nhất thế giới là đội quân đánh thuê của Công ty Blackwater do tỷ phú Erick Prince lập ra, với quân số hàng trăm ngàn, có cả máy bay, tàu chiến và vũ khí hạng nặng, được coi là lực lượng thiện chiến ở Áp-ga-ni-xtan, I-rắc và có “khả năng lật đổ” nhiều chính phủ trên thế giới. Tuy nhân danh là “Bảo vệ lợi ích và giá trị Mỹ”, nhưng về thực chất, hoạt động của đội quân đó do các ông trùm tư bản điều khiển và bảo vệ thể chế chính trị của xã hội tư bản. 
Cách mạng Tháng Mười năm 1917 là một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử nhân loại đã dẫn tới sự ra đời của Nhà nước kiểu mới - Nhà nước XHCN, gắn liền với sự ra đời của quân đội kiểu mới - quân đội của giai cấp công nhân và nhân dân lao động do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Trong quá trình lãnh đạo công cuộc xây dựng và bảo vệ nước Cộng hòa Xô-viết còn non trẻ, V. I. Lê-nin rất quan tâm xây dựng Hồng quân vững mạnh làm nòng cốt bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, Người đặc biệt chú trọng việc Đảng Cộng sản nắm vững quyền lãnh đạo đối với quân đội, coi đó là nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Nhờ kiên định nguyên tắc đó, Hồng quân và nước Cộng hòa Xô-viết đã vượt qua những thử thách nghiệt ngã của thời kỳ nội chiến chống các thế lực phản cách mạng cùng sự can thiệp của 14 nước đế quốc, tiếp tục vượt qua những gian khổ hy sinh to lớn trong Đại chiến Thế giới lần thứ II, làm nên những chiến thắng vĩ đại, khẳng định sức mạnh vô địch của quân đội kiểu mới và sức sống mãnh liệt của Tổ quốc XHCN, tác động to lớn đến sự phát triển của phong trào cách mạng trên thế giới. 
Quân đội nhân dân Việt Nam là một quân đội kiểu mới mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, đồng thời có tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Những thuộc tính bản chất của quân đội kiểu mới được thể hiện tập trung rõ nét ở lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và CNXH; ở chức năng, nhiệm vụ của đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất; ở cơ sở chính trị-xã hội luôn gắn bó máu thịt với nhân dân; ở nguyên tắc tổ chức và hoạt động, cơ chế lãnh đạo, chỉ huy mang tính cách mạng và khoa học; trong đó vấn đề quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định đối với bản chất và sức mạnh chiến đấu của quân đội là nguyên tắc và cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Thực tiễn gần 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của quân đội ta đã chứng minh và khẳng định: Sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội là nguyên tắc quan trọng hàng đầu, bảo đảm cho quân đội ta luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thực sự là lực lượng chính trị - lực lượng chiến đấu trung thành và tin cậy của Đảng, Nhà nước, Tổ quốc XHCN và nhân dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. 
Đúng là có lúc Đảng ta rút vào hoạt động bí mật, trong tình thế hiểm nghèo phải thực hiện kế sách nhân nhượng để thêm bạn bớt thù, bộ máy Nhà nước có người của lực lượng Việt quốc, Việt cách và người không đảng phái, quân đội ta có lúc mang tên Quân đội quốc gia Việt Nam (1946-1950), nhưng Đảng ta vẫn giữ vững sự lãnh đạo đối với quân đội. Tháng 1-1946, BCHTW Đảng quyết định thành lập Trung ương Quân ủy để tăng cường sự lãnh đạo đối với quân đội và cuộc kháng chiến. Tháng 5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký một số sắc lệnh quan trọng như Sắc lệnh số 71/SL, Sắc lệnh số 47/SL, Sắc lệnh số 60/SL. Theo các sắc lệnh đó, đồng chí Võ Nguyên Giáp (lúc đó là ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng, Bí thư Trung ương Quân ủy) được giao trọng trách là Tổng chỉ huy quân đội và dân quân toàn quốc, Chủ tịch Quân sự ủy viên hội là cơ quan quân sự tối cao có nhiệm vụ điều khiển quân đội toàn quốc; trong quân đội từ cấp trung đội đến cấp trung đoàn có Chính trị viên, cấp chiến khu có Chính trị ủy viên do Chủ tịch nước ký quyết định bổ nhiệm. Điều này thể hiện sâu sắc bản lĩnh và trí tuệ của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa kiên định nguyên tắc chiến lược, vừa mềm dẻo về sách lược để lãnh đạo dân tộc vượt qua hiểm nguy, giành thắng lợi vẻ vang.
Trong khi truyền bá quan điểm “quốc gia hóa quân đội”, các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc, phủ nhận quan điểm, đường lối và nguyên tắc xây dựng quân đội của Đảng ta, bài xích cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, thúc đẩy khuynh hướng tuyệt đối hóa vai trò của người chỉ huy, hạ thấp vai trò và tiến tới bãi bỏ hệ thống tổ chức đảng, hệ thống chính ủy (chính trị viên), cơ quan chính trị và chế độ công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội. Có thể nói, quan điểm đòi “quốc gia hóa quân đội” của các thế lực thù địch rất hiểm độc, tập trung công kích thẳng vào một đặc trưng bản chất có ý nghĩa sống còn của quân đội kiểu mới.
Sẽ mắc sai lầm nghiêm trọng về chiến lược và phải trả ngay những giá rất đắt nếu ngộ nhận về quan điểm “quốc gia hóa quân đội”, mất cảnh giác trước những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm “phi đảng hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội. Sự sụp đổ và tan rã của Liên bang Xô-viết cho chúng ta bài học rất sâu sắc về vấn đề này. Vào những thập niên cuối thế kỷ XX, đáng chú ý là khi ông M.Goóc-ba-chốp làm Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô (1985-1991), những người lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội Liên Xô đã rời bỏ nguyên tắc xây dựng quân đội về chính trị của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, mắc những sai lầm rất nghiêm trọng về chiến lược, nhất là xóa bỏ cơ chế lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với quân đội, làm cho quân đội bị “phi chính trị hóa” và bị vô hiệu hóa. Chỉ trong khoảng hai năm từ 1987-1989, gần 50% cán bộ cơ quan chiến lược của quân đội và khoảng 30% tướng lĩnh bị cho ra quân, trên 100 cán bộ lãnh đạo chính trị cấp chiến dịch-chiến lược bị cách chức với lý do “tư tưởng bảo thủ, yếu kém, không ủng hộ cải tổ”(!). Chính Nguyên soái Sa-pô-xni-cốp trên cương vị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Liên Xô, với những toan tính cá nhân cơ hội, thực dụng đã trực tiếp tham gia khởi xướng và thực thi việc “phi đảng hóa” Quân đội Liên Xô. Ngày 23-8-1991, ông ta đã trở cờ, tuyên bố rời bỏ Đảng Cộng sản Liên Xô và tiếp đó buộc mọi quân nhân là đảng viên cộng sản phải trả thẻ đảng. Ngày 29-8-1991, M.Goóc-ba-chốp ra lệnh giải tán các cơ quan chính trị và từ 1-9-1991 chấm dứt mọi hoạt động của Đảng trong Quân đội Liên Xô. Đó là nguyên nhân rất quan trọng dẫn tới sự sụp đổ và tan rã của Liên bang Xô-viết vào cuối năm 1991. Mặc dù lúc đó Quân đội Liên Xô còn 3,9 triệu quân thường trực, được trang bị rất hiện đại, vượt xa các nước cả về lực lượng chiến đấu thông thường và lực lượng hạt nhân chiến lược, nhưng do bị biến chất về chính trị nên mất sức chiến đấu, không thể bảo vệ được Tổ quốc XHCN.
Từ những bài học sâu sắc được đúc kết trong thực tiễn, trước những diễn biến phức tạp của tình hình và sự phát triển của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc XHCN trong thời kỳ mới, với bản lĩnh và trí tuệ được tôi luyện và kiểm nghiệm nghiêm ngặt trong đấu tranh cách mạng, chúng ta không thể chấp nhận quan điểm “quốc gia hóa quân đội”; trái lại càng phải đặc biệt coi trọng giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Đây là một vấn đề chiến lược và mang tính cấp thiết, không chỉ có ý nghĩa quyết định đối với sức mạnh chiến đấu của quân đội, mà còn liên quan trực tiếp đến sự an nguy của đất nước và sự sống còn của chế độ XHCN.

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...