Chủ Nhật, 16 tháng 6, 2019

TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI NÂNG CAO MỨC SỐNG DÂN CƯ: LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VIỆT NAM



Để nâng cao mức sống dân cư (MSDC), ngoài điều kiện cần là tăng trưởng kinh tế (TTKT), thì việc điều tiết phân phối kết quả TTKT của chính phủ đóng vai trò hết sức quan trọng. Trong thời gian qua, những thành tựu TTKT đã góp phần nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, song bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại nhiều thách thức đòi hỏi Chính phủ Việt Nam phải có những biện pháp cụ thể, thích hợp để bảo đảm vừa thúc đẩy TTKT, vừa nâng cao mức sống dân cư.
1. Vai trò của tăng trưởng kinh tế với nâng cao mức sống dân cư
Tăng trưởng kinh tế là sự tăng thêm tổng giá trị gia tăng (GDP) của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm. Khi GDP được tạo ra ở năm sau lớn hơn GDP được tạo ra ở năm trước (tính theo giá so sánh), thì đó là sự TTKT.
Mức sống dân cư (MSDC)là một phạm trù kinh tế - xã hội được xác định bằng mức độ thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần của các thành viên trong xã hội. Khi mức độ thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần cho dân cư tăng lên, tức là MSDC được nâng cao. Có 4 nhóm chỉ tiêu đánh giá MSDC, đó là:
(1) Các chỉ tiêu phản ánh đặc điểm và điều kiện lao động như: mức độ bảo đảm việc làm cho người lao động; độ dài thời gian làm việc bình quân trong ngày; thời gian nghỉ ngơi; cường độ lao động; tỷ trọng công việc được cơ giới hóa, tự động hóa; bảo hộ lao động và an toàn, vệ sinh lao động; sinh hoạt văn hóa, tinh thần nơi làm việc; phương tiện đi lại đến nơi làm việc của người lao động.
(2) Các chỉ tiêu phản ánh mức tiêu dùng của cải vật chất trong xã hội như: thu nhập bình quân đầu người; mức tiêu dùng lương thực, thực phẩm thiết yếu; điều kiện nhà ở (diện tích bình quân, loại nhà ở...); đồ dùng lâu bền.
(3) Các chỉ tiêu phản ánh điều kiện sinh hoạt văn hóa, tinh thần và bảo đảm sức khỏe như: sự phát triển của hệ thống giáo dục- đào tạo; trình độ học vấn phổ thông của dân cư; tình trạng chăm sóc sức khỏe nhân dân; sự phát triển của các công trình văn hóa; hệ thống giao thông công cộng; tình hình vệ sinh môi trường.
(4) Các chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả tác động giữa các yếu tố như: tuổi thọ trung bình của dân số; chỉ số phát triển con người HDI; mức độ tham gia quản lý xã hội của dân cư.
Muốn nâng cao MSDC, trước hết phải có TTKT (hay gia tăng thu nhập của nền kinh tế), bởi thu nhập của dân cư phụ thuộc vào tổng thu nhập của nền kinh tế (hay kết quả của quá trình TTKT). Ngoài ra, để gia tăng MSDC, thì mức tăng tổng thu nhập của nền kinh tế phải lớn hơn mức tăng quy mô dân số. Đặc biệt, đối với các quốc gia đang phát triển, tốc độ tăng trưởng dân số cao, thì tốc độ TTKT cần cao hơn tốc độ tăng trưởng dân số.
Tuy nhiên, trên thực tế, có những nước có mức thu nhập bình quân đầu người khá cao, nhưng tỷ lệ dân số đói nghèo, không được tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục lại cao hơn so với các nước có mức thu nhập bình quân đầu người thấp hơn. Thí dụ: năm 2007, Brazil có thu nhập bình quân đầu người cao gấp 1,24 lần của Trung Quốc và 2,73 lần của Việt Nam, nhưng tỷ lệ nghèo của Brazil là 21,5%, cao hơn nhiều so với Trung Quốc (4,6%) và Việt Nam (khoảng 14%). Tỷ lệ người lớn biết chữ của Brazil là 88,6%, thấp hơn của Trung Quốc (90,9%) và Việt Nam (90,3%). Tuổi thọ bình quân của Brazil là 71,7 tuổi, trong khi của Trung Quốc là 72,5 tuổi và Việt Nam là 73,7 tuổi(1).
Từ những phân tích trên, có thể khẳng định là TTKT chỉ là điều kiện cần, không phải là điều kiện đủ để nâng cao MSDC.
Để nâng cao MSDC, ngoài điều kiện cần là TTKT, phải có điều kiện đủ, đó là vai trò điều tiết phân phối kết quả TTKT của chính phủ. Cụ thể là việc chính phủ giải quyết các mối quan hệ sau:
- Quan hệ giữa tiêu dùng cuối cùng với tích lũy, tái đầu tư. Trong điều kiện TTKT có hạn, nếu chính phủ ưu tiên mạnh cho mục tiêu tích lũy, tái đầu tư với kỳ vọng tăng thêm tiềm lực kinh tế để đạt TTKT cao, dài hạn trong tương lai thì trước mắt MSDC sẽ không được nâng lên và ngược lại.
- Quan hệ giữa tiêu dùng cá nhân (nâng cao MSDC), với tiêu dùng chính phủ (cho an ninh, quốc phòng, ngoại giao...). Trong điều kiện TTKT có hạn, nếu chính phủ ưu tiên hơn cho mục tiêu an ninh, quốc phòng... thì phải giảm mục tiêu nâng cao MSDC và ngược lại.
- Chính sách phân phối thu nhập của chính phủ: Trong nền kinh tế thị trường có 2 hình thức phân phối thu nhập là: (i) Phân phối theo sự đóng góp của các yếu tố nguồn lực hay phân phối lần đầu, nghĩa là người lao động hưởng tiền lương, người có đất đai hưởng tiền thuê đất, người có vốn góp hưởng lợi nhuận và người có tiền gửi hưởng lãi suất cho vay. Hình thức phân phối này huy động và sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực của xã hội. Tuy nhiên, trong thực tế, các thành viên trong xã hội lại sở hữu số lượng và chất lượng các nguồn lực rất khác nhau. Do đó, nếu chỉ thực hiện hình thức phân phối này, thì có thể dẫn đến phân hóa giàu nghèo, làm cho tình trạng bất bình đẳng về thu nhập tăng lên, ảnh hưởng xấu đến nâng cao MSDC. (ii) Phân phối lại thu nhập. Hình thức phân phối này có thể thực hiện bằng 2 cách. Một là, phân phối lại trực tiếp, tức là nhà nước thông qua chính sách thuế thu nhập (thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân) để điều chỉnh thu nhập, san sẻ bớt từ người có thu nhập cao sang người có thu nhập thấp thông qua trợ cấp thường xuyên hay đột xuất. Hai là, phân phối lại gián tiếp, thực chất là chính sách ưu tiên trong việc tiếp cận các dịch vụ công cho người nghèo, vùng nghèo, những người yếu thế. Trong thực tế, việc thực hiện phân phối lại thu nhập nếu không đi cùng với nâng cao năng lực sản xuất cho người nghèo, vùng nghèo; nâng cao lòng tự tôn, tự lực, ý chí thoát nghèo... thì có thể làm tăng sự ỷ lại của người nghèo vào chính phủ, làm mất động lực thúc đẩy TTKT.
2. Tăng trưởng kinh tế với nâng cao mức sống dân cư ở Việt Nam
a. Tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện nâng cao mức sống dân cư ở Việt Nam
Trong 2 thập niên (1991-2010), Việt Nam đạt tốc độ TTKT bình quân tương đối cao, khoảng 7,3%/năm. Nhờ đó, quy mô GDP tăng khá nhanh, từ 7,94 tỷ USD năm 1991 lên 101,6 tỷ USD năm 2010 (gấp 12,8 lần năm 1991). GDP bình quân đầu người  theo tỷ giá hối đoái của Việt Nam tăng từ 118 USD năm 1991, lên 1.168 USD năm 2010 (gấp 9,9 lần năm 1991). Thành tựu  này đã góp phần đưa Việt Nam ra khỏi tình trạng kém phát triển và bước vào nhóm nước có thu nhập trung bình thấp từ năm 2008.
Giai đoạn 2011-2018, mặc dù có nhiều khó khăn, song nền kinh tế Việt Nam vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng bình quân khá cao, khoảng 6,08%/năm. Quy mô GDP năm 2018 ước đạt 240,5 tỷ USD, gấp 2,17 lần so với năm 2010; GDP bình quân đầu người tăng lên khoảng 2.540 USD (gấp 6,3 lần năm 2000)(2).
Trên nền tảng những thành tựu đạt được trong TTKT (điều kiện cần), Chính phủ Việt Nam đã giải quyết hợp lý các mối quan hệ giữa tiêu dùng cuối cùng với tích lũy, tái đầu tư; giữa tiêu dùng cá nhân (nâng cao MSDC) với tiêu dùng chính phủ (cho an ninh, quốc phòng, ngoại giao...) và áp dụng phù hợp các hình thức phân phối thu nhập, đồng thời kết hợp với các chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm và thực hiện an sinh xã hội... nên MSDC của Việt Nam được nâng lên rõ rệt, thể hiện trên các mặt sau:
Một là, thu nhập bình quân đầu người ngày càng tăng lên
Nếu như năm 1999, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam chỉ ở mức 295 nghìn đồng/người/tháng, thì đến năm 2018 đã tăng lên đạt 3.760 nghìn đồng/người/tháng (tăng gấp 12,74 lần). Tính đến năm 2016, Đông Nam Bộ là vùng có mức thu nhập bình quân đầu người/tháng cao nhất cả nước (4.662 nghìn đồng), tiếp đến là vùng đồng bằng sông Hồng, Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung và thấp nhất là vùng Trung du và miền núi phía Bắc (1.963 nghìn đồng).
Hai là, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh
Năm 1998, tỷ lệ hộ nghèo cả nước là 37,4%, năm 2010 giảm xuống còn 14,2% và giảm mạnh xuống 5,8% năm 2016(3). Tỷ lệ lệ hộ nghèo theo tiếp cận đa chiều năm 2017 là 9,2% và năm 2018 ước khoảng 6,8%(4). Thành tựu giảm nghèo đạt được trên phạm vi cả nước, từ thành thị tới nông thôn và trên tất cả các vùng. Năm 1998, thành thị có 9% hộ nghèo, đến năm 2016 chỉ còn 2%, tương ứng ở khu vực nông thôn tỷ lệ này là 49,9% và 7,5%. Việt Nam nằm trong nhóm 18 quốc gia sớm đạt được Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, hướng tới mục tiêu giảm một nửa số người bị đói vào năm 2015.
Ba là, mức tiêu dùng của cải vật chất của dân cư được nâng lên
Cùng với việc thu nhập bình quân đầu người tăng lên, chất lượng nhà ở và mức độ sở hữu các hàng hóa tiêu dùng lâu bền, khả năng tiếp cận điện và nước sạch của người dân cũng tăng lên đáng kể. Ngoài việc bảo đảm chi tiêu cho đời sống hàng ngày, nhiều hộ gia đình còn mua sắm và tích lũy tài sản, xây dựng nhà ở, chất lượng cuộc sống đã được nâng lên rõ rệt.
Bốn là, điều kiện y tế, giáo dục của dân cư tăng lên
Nhìn chung, điều kiện y tế và giáo dục của người dân ngày một tăng lên. Năm 1995, số bác sỹ trên 1 vạn dân là 4,3 bác sỹ, đến năm 2016 đã tăng lên 8,4 bác sỹ; tương tự, số giường bệnh trên 1 vạn dân tăng từ 17,8 giường lên 27,8 giường. Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên biết chữ khá cao, đạt 95,1% năm 2017, cao hơn so với các nước có thu nhập trung bình (90,0%).
Năm là, tỷ lệ lao động trong độ tuổi bị thất nghiệp giảm xuống
 Tỷ lệ này ở khu vực thành thị giảm từ 6,7% năm 2000 xuống 3,18% năm 2017; ở khu vực nông thôn giảm từ 2,3% năm 2010 xuống 1,78% năm 2017.
b. Một số hạn chế trong nâng cao mức sống dân cư ở Việt Nam
Bên cạnh những thành công trên, còn nhiều thách thức đặt ra cho Việt Nam trong việc nâng cao mức sống dân cư như:
Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam còn thấp và tăng chậm so với nhiều nước
Tính đến năm 2018, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam đạt khoảng 2.500 USD. Ngay cả khi đạt mục tiêu thu nhập bình quân đầu người là 3.000 USD vào năm 2020 thì Việt Nam vẫn nằm trong nhóm các nước có mức thu nhập trung bình thấp, kém xa so với thành tựu phát triển của Hàn Quốc. Năm 1962, mức thu nhập bình quân đầu người của Hàn Quốc là 87 USD, đến năm 1996 đã tăng lên 10.548 USD. Năm 1996, Hàn Quốc chính thức trở thành nước công nghiệp, là nền kinh tế lớn thứ 11 và trở thành thành viên thứ 29 của nhóm các quốc gia thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Thành công này có được là vì trong khoảng thời gian từ 1963-1996, Hàn Quốc đã duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế rất cao; trung bình 8,7%/năm. Trong khi đó, giai đoạn 1991-2018, Việt Nam chỉ đạt mức tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm khoảng 6,5%.
Bất bình đẳng thu nhập dẫn tới bất bình đẳng trong tiếp cận nhà ở, điều kiện vệ sinh và các dịch vụ y tế, giáo dục có xu hướng tăng lên
Hệ số Gini của Việt Nam đã tăng nhẹ từ 0,42 năm 2002 lên 0,431 năm 2016 và chênh lệch thu nhập giữa nhóm 20% dân số giàu nhất với nhóm 20% dân số nghèo nhất tăng từ 6,99 lần vào năm 1995 lên 9,2 lần năm 2010 và 9,8 lần năm 2016. Sự gia tăng chênh lệch về thu nhập dẫn tới sự gia tăng khoảng cách chênh lệch về mặt xã hội như chênh lệch về tỷ lệ nhập học bậc trung và đại học; chênh lệch về khả năng tiếp cận dịch vụ y tế có chất lượng cao. Thực tế cho thấy các hộ giàu thường chi tiêu nhiều hơn cho việc đi học của con cái, đặc biệt là việc học thêm. Với việc đầu tư như vậy, con cái các hộ khá giả thường có thành tích học tập tốt hơn con hộ nghèo. Nhóm các hộ nghèo thường bị bệnh tật nhiều hơn, nhưng họ lại sử dụng các dịch vụ y tế ít hơn các hộ giàu.
Tốc độ tăng HDI có xu hướng giảm xuống
Giai đoạn 2000-2005, tốc độ tăng HDI đạt 1,39%/năm, sang giai đoạn 2006-2010 giảm xuống còn 1,17%/năm và giai đoạn 2011-2015 chỉ đạt khoảng 0,49%/năm.
Số năm đi học bình quân của Việt Nam tăng chậm hơn so với nhiều nước trong khu vực
Năm 1960, số năm đi học bình quân của người Việt Nam cao hơn của Trung Quốc, Malaysia (Việt Nam 3 năm, Trung Quốc 2,3 năm, Malaysia 2,8 năm), nhưng đến năm 2010, hai quốc gia này đã vượt khá xa so với nước ta (Việt Nam 6,4 năm, Trung Quốc 8,2 năm, Malaysia 10,1 năm). Tính đến thời điểm hiện tại, chỉ tiêu này của Việt Nam đứng sau nhiều nước trong khu vực ASEAN.
3. Một số khuyến nghị
Những phân tích trên cho thấy, để vừa thúc đẩy TTKT vừa bảo đảm nâng cao MSDC, Chính phủ cần:
(1) Duy trì môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, trên cơ sở đó thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình TTKT, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả hoạt động của nền kinh tế.
(2) Thực hiện phân bổ nguồn lực phát triển theo cơ chế thị trường. Cần có quy hoạch và kế hoạch cụ thể để cân đối mức đầu tư cho các vùng miền, cũng như các ngành hoạt động khác nhau. Việc dành mức đầu tư cao hơn cho các vùng kinh tế động lực là rất cần thiết nhằm tạo ra những “đầu tàu” tăng trưởng để kéo “đoàn tàu” kinh tế Việt Nam đi lên. Bên cạnh đó, cần đầu tư hợp lý cả về kinh tế, văn hóa, xã hội cho các vùng, miền khác, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số nhằm giảm dần khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng.
(3) Gia tăng cơ hội cho nhóm dân số có thu nhập thấp tham gia và hưởng lợi nhiều hơn từ tiến trình CNH, HĐH đất nước. Mở rộng khả năng tích lũy tài sản cho người dân để nâng cao thu nhập và giảm nghèo bền vững.
(4) Kết hợp hài hòa giữa việc phân phối lại thông qua điều tiết hợp lý thu nhập trong các tầng lớp dân cư với việc xây dựng và kiện toàn hệ thống an sinh xã hội nhiều tầng nấc. Trong hoàn cảnh cụ thể của nước ta hiện nay, các đối tượng của chính sách xã hội là rất đa dạng, do đó cần xây dựng, củng cố và ngày càng kiện toàn hệ thống chính sách an sinh xã hội nhiều tầng nấc.
_____________________
(1) Chương trình phát triển Liên Hợp quốc (UNDP): Báo cáo phát triển con người 2007/2008, tr.236, 244.
(2) Báo cáo “Tình hình kinh tế - xã hội năm 2018, dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2019”, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
(3) Tổng cục thống kê.

(4) Bộ Kế hoạch và Đầu tư:  Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2017, dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018, và Tổng cục thống kê, Tổng quan tình hình kinh tế -xã hội năm 2018, http://www.gso.gov.vn.

PGS,TS Nguyễn Thị Thơm
Viện Kinh tế,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

ĐẢNG TA NHẬN THỨC VÀ GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỔI MỚI, ỔN ĐỊNH VÀ PHÁT TRIỂN



 Trong suốt hơn 30 năm đổi mới, Đảng ta luôn chủ động nhận thức và giải quyết tốt mối quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển. Nhờ vậy, chúng ta đã đạt được những thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được là cơ bản, việc nhận thức và giải quyết mối quan hệ nói trên ở nước ta những năm qua cũng còn bộc lộ những hạn chế: quá trình đổi mới diễn ra chậm và chưa có những bước đột phá mạnh mẽ; vẫn hàm chứa những yếu tố gây mất ổn định chính trị - xã hội... Chính vì vậy, với tinh thần khoa học, thực tiễn, Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh yêu cầu: “Tiếp tục quán triệt và xử lý tốt các quan hệ lớn: quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển...”.
Trong quá trình đổi mới, Đảng ta luôn chú ý quan tâm giải quyết quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển. Tuy nhiên, chỉ đến Đại hội XI, Đảng ta lần đầu tiên đã chỉ ra rằng trong khi thực hiện 8 phương hướng cơ bản xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cần nhận thức và giải quyết tốt 8 mối quan hệ lớn. Trong đó, mối quan hệ lớn đầu tiên là “quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển”(1).
Đại hội VI của Đảng đánh dấu bước đột phá trong đổi mới cách nghĩ, đổi mới cách làm, dám thừa nhận và thay đổi những quyết định sai lầm(2), mở ra một thời kỳ mới trong nhận thức và tổ chức xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đại hội VI đã nhận thức được tiếng gọi của thực tiễn “phải đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy, chúng ta mới có thể vượt qua khó khăn,...”(3). Nhưng điều quan trọng cần lưu ý là chính Đại hội VI của Đảng cũng khẳng định: “Đổi mới tư duy không có nghĩa là phủ nhận những thành tựu lý luận đã đạt được, phủ nhận những quy luật phổ biến của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, phủ nhận đường lối đúng đắn đã được xác định, trái lại, chính là bổ sung và phát triển những thành tựu ấy”(4). Về thực chất, đổi mới để ổn định và phát triển. Điều này được thể hiện rõ trong Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội VI: “Trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên, phải thực hiện những biện pháp có hiệu quả để nhanh chóng ổn định tình hình kinh tế - xã hội, đưa mọi mặt vào quỹ đạo phát triển bình thường”(5). Báo cáo Chính trị còn chỉ rõ: “Ổn định và phát triển gắn liền với nhau trong quá trình vận động tiến lên, ổn định để phát triển và có phát triển mới ổn định được”(6). Như vậy, tại Đại hội VI, Đảng ta chưa nêu ra mối quan hệ giữa ổn định, đổi mới và phát triển như một quan hệ lớn nhưng trên thực tế Đại hội VI đã nhận thức và đặt ra nhiệm vụ giải quyết tốt quan hệ này.
Đại hội VII của Đảng nhận thức đúng đắn mục tiêu của đổi mới: “Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu của xã hội chủ nghĩa mà làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có kết quả bằng những quan niệm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội, bằng những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp”(7). Rõ ràng, đổi mới mà Đảng ta đề ra không phải vì bản thân sự đổi mới, cũng không phải vì cho có đổi mới mà cuối cùng vì xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, là vì sự phát triển bền vững của dân tộc. Muốn phát triển được thì nhất định phải có ổn định. Chính vì vậy, khi đề ra đường lối đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, Đại hội VII của Đảng khẳng định “phải tập trung sức làm tốt đổi mới kinh tế, đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của nhân dân về đời sống, việc làm và các nhu cầu xã hội khác, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, coi đó là điều kiện quan trọng để tiến hành thuận lợi đổi mới trong lĩnh vực chính trị”(8). Tại Đại hội VII, Đảng ta đã rất sáng suốt khi nhận thức được rằng “Chính trị là lĩnh vực cực kỳ phức tạp. Khi chưa được chuẩn bị các tiền đề cần thiết mà đã vội vàng đẩy nhanh đổi mới chính trị và đổi mới không đúng sẽ dẫn đến tình trạng mất ổn định về chính trị, mà chính trị không ổn định thì toàn bộ công cuộc đổi mới sẽ gặp nhiều khó khăn, trắc trở”(9). Như vậy, Đại hội VII của Đảng về thực chất đã nhận thức và giải quyết thấu đáo quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển, trước hết trong lĩnh vực đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị.
Tiếp tục tinh thần Đại hội VII về nhận thức và giải quyết quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển, Đại hội VIII của Đảng đánh giá: “Xét trên tổng thể, Đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới từ đổi mới về tư duy chính trị trong việc hoạch định đường lối và các chính sách đối nội, đối ngoại. Không có sự đổi mới đó thì không có mọi sự đổi mới khác. Song, Đảng ta đã đúng khi tập trung trước hết vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đổi mới kinh tế, khắc phục khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo tiền đề cần thiết về vật chất và tinh thần để giữ vững ổn định chính trị, xây dựng và củng cố niềm tin của nhân dân, tạo thuận lợi đổi mới các mặt khác của đời sống xã hội”(10).
Tiếp tục tinh thần đó của Đại hội VIII, Đại hội IX của Đảng ra nghị quyết về Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 và đã xác định một trong những quan điểm cần quán triệt là: “Đẩy mạnh công cuộc đổi mới, tạo động lực giải phóng và phát huy mọi nguồn lực.
Tiếp tục đổi mới sâu rộng, đồng bộ về kinh tế, xã hội và bộ máy nhà nước hướng vào hình thành và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm giải phóng và phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, phát huy sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, tạo động lực và nguồn lực phát triển nhanh, bền vững”(11). Như vậy, một lần nữa, Đảng ta khẳng định đổi mới toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực nhằm phát huy sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, tạo động lực và nguồn lực phát triển nhanh, bền vững đất nước.
Đến Đại hội X (2006), Đảng ta đã tổng kết 20 năm đổi mới và rút ra một trong các bài học kinh nghiệm là: “đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp. Phải đổi mới từ nhận thức, tư duy đến hoạt động thực tiễn; từ kinh tế, chính trị, đối ngoại đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; từ hoạt động lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đến hoạt động cụ thể trong từng bộ phận của hệ thống chính trị. Đổi mới tất cả các mặt của đời sống xã hội nhưng phải có trọng tâm, trọng điểm, có những bước đi thích hợp; bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ và đồng bộ giữa ba nhiệm vụ: phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt và phát triển văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội”(12). Rõ ràng, Đại hội X không nói trực diện về nhận thức và giải quyết quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển nhưng trên thực tế vẫn thực hiện nhất quán tinh thần này từ Đại hội VI.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), tiếp tục nhấn mạnh: “Kiên trì và quyết liệt thực hiện đổi mới. Đổi mới chính trị phải đồng bộ với đổi mới kinh tế theo lộ trình thích hợp, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mở rộng dân chủ trong Đảng và trong xã hội gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương để thúc đẩy đổi mới toàn diện và phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc vì mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Lấy việc thực hiện mục tiêu này làm tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá hiệu quả của quá trình đổi mới và phát triển”(13). Tại Đại hội XI, lần đầu tiên Đảng ta chính thức yêu cầu nhận thức và giải quyết 8 quan hệ lớn, trong đó có quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển.
Đại hội XII của Đảng đánh giá 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XI và khẳng định chúng ta đã đạt được những thành quả quan trọng. Nền kinh tế vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, quy mô và tiềm lực được nâng lên; kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định; lạm phát được kiểm soát. Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường, giữ vững hòa bình, ổn định. Quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng, hiệu quả. Vị thế, uy tín của nước ta tiếp tục được nâng cao. Dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được phát huy(14),v.v.. Tuy nhiên, trên tinh thần nghiêm túc, Đại hội XII tiếp tục đề ra nhiệm vụ “Tiếp tục quán triệt và xử lý tốt các quan hệ lớn: quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển...”(15).
Những kết quả của những thành tựu quan trọng trên có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân là Đảng ta đã nhận thức và giải quyết tốt mối quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển trong suốt quá trình đổi mới. Không có đổi mới thì không thể có phát triển. Đổi mới là quy luật tất yếu khách quan của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tình hình thế giới luôn có nhiều biến đổi, khoa học, công nghệ cũng có nhiều bước phát triển vượt bậc, phong trào công nhân quốc tế cũng có nhiều thay đổi. Tình hình kinh tế thế giới có những biến động khó lường,v.v.. Trước những biến đổi ấy, chủ nghĩa xã hội không thể không được đổi mới. Nhưng đổi mới không phải vì mục tiêu thay đổi, xáo trộn, mất ổn định, mất nguyên tắc. Đổi mới tất phải có sự thay đổi nhưng đó là sự thay đổi theo quy luật, có mục tiêu, mục đích rõ ràng, theo những trật tự, nguyên tắc, bước đi phù hợp với tình hình khách quan. Nghĩa là sự thay đổi nhưng ổn định về mục tiêu, ổn định về mục đích, ổn định về nguyên tắc, ổn định về tổng thể. Có ổn định như vậy thì đổi mới mới có thể thúc đẩy phát triển. Với nghĩa đó giữa đổi mới, ổn định và phát triển có mối quan hệ biện chứng với nhau. Không đổi mới dễ dẫn tới trì trệ, ngưng đọng, không phát triển. Nếu đổi mới nhưng không có nguyên tắc, không có phương pháp đúng, không có bước đi phù hợp dễ dẫn tới mất ổn định, rối loạn. Bài học thực tế của Thái Lan cách đây mấy năm, bài học của Ucraina và một số nước hiện nay cho thấy rất rõ điều này. Như vậy sẽ không có và không thể phát triển. Đường lối đổi mới của Đảng ta xét đến cùng là vì phát triển bền vững đất nước về mọi mặt. Nhưng nếu không ổn định tích cực sẽ không thể có phát triển. Do vậy, đổi mới phải trên nền tảng ổn định tích cực, trước hết là ổn định chính trị - xã hội. Có như vậy mới phát triển bền vững. Bản thân sự phát triển bền vững lại đòi hỏi thường xuyên phải đổi mới và ổn định.
Trong hơn 32 năm đổi mới, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa bước ngoặt trên cơ sở giải quyết tốt các quan hệ lớn, nhất là quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển. Sau 10 năm đầu đổi mới (1986-1996), nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội; từ giữa thập kỷ 80 thế kỷ XX, tạo được tiền đề cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đại hội VIII (1996), nhấn mạnh: Xét trên tổng thể, việc hoạch định và thực hiện đường lối đổi mới những năm qua về cơ bản là đúng đắn, đúng định hướng xã hội chủ nghĩa(16). Điều này vẫn hoàn toàn đúng với tinh thần của Đảng ta hiện nay. Chúng ta phải nắm vững và kiên trì đường lối đó, thường xuyên nghiên cứu, tổng kết thực tiễn để có những điều chỉnh, bổ sung và phát triển cần thiết, đưa sự nghiệp đổi mới tiến lên giành những thắng lợi to lớn hơn nữa. Giai đoạn (1996-2006), nước ta đã chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và hiện nay đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, đang nỗ lực hướng tới phát triển nhanh và bền vững, theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng.
Bên cạnh những thành tựu đạt được là cơ bản, việc nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển ở nước ta trong hơn 32 năm qua cũng bộc lộ những hạn chế nhất định. Quá trình đổi mới diễn ra chậm và chưa có những bước đột phá mạnh mẽ. Hiện nay, đời sống của nhân dân đã có thay đổi cơ bản so với 32 năm về trước. Tuy nhiên, ở nhiều nơi, sức sản xuất chưa phát triển, đời sống của nhân dân còn rất khó khăn. Trong 32 năm qua, ổn định chính trị đã tạo tiền đề quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội, nhưng sự ổn định vẫn hàm chứa những yếu tố mất ổn định, tạo ra những khoảng trống trong xã hội, đó là sự mất niềm tin của nhân dân đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý. Thậm chí ở một số nơi, tình trạng mất ổn định chính trị - xã hội có dấu hiệu ngày càng phức tạp đã cản trở quá trình phát triển đất nước. “Tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng với những biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp, xảy ra trên nhiều lĩnh vực, ở nhiều cấp, nhiều ngành, làm cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội, gây bức xúc trong dư luận, là thách thức nghiêm trọng đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước, đe dọa sự tồn vong của chế độ”(17). Tình trạng phát triển chưa bền vững và thiếu ổn định đã cho thấy chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời gian qua vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định. Nói khái quát, việc nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển còn bộc lộ những hạn chế, bất cập nhất định. Các yếu tố này về nội dung có sự gắn bó chặt chẽ với nhau, nhưng thực tế sự kết hợp và giải quyết chúng chưa được thực hiện một cách đồng bộ. Điều này đã cản trở quá trình phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
Quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển là vấn đề có tính quy luật trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Con đường và xu thế tất yếu của sự phát triển đất nước chỉ có thể là đổi mới, mở cửa, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Nguyên tắc chính trị tổng quát để thực hiện thành công đổi mới trên cơ sở ổn định và hướng tới phát triển đó là: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ - đó là quan điểm chỉ đạo. Điều đó có nghĩa là, đổi mới, ổn định và phát triển phải luôn luôn nhất quán với định hướng xã hội chủ nghĩa; bảo đảm giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và nâng cao năng lực, hiệu lực quản lý của Nhà nước; để đổi mới, ổn định và phát triển được thực hiện ở trình độ cao hơn, bền vững hơn, phải phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm, lấy văn hóa làm nền tảng tinh thần của xã hội, lấy xây dựng Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức làm then chốt. Bảo đảm dân sinh, nâng cao dân trí, thực hiện dân quyền, phát huy dân chủ, coi nhân dân lao động Việt Nam là mục tiêu, động lực và chủ thể của đổi mới, của phát triển trong tiến trình xây dựng và hiện đại hóa đất nước, từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Từ những nội dung có tính nguyên tắc trên đặt ra yêu cầu phải xem xét mối quan hệ đổi mới - ổn định - phát triển trên quan điểm biện chứng, hệ thống, thực tiễn, lịch sử - cụ thể và trong trạng thái động. Tiếp cận các yếu tố đổi mới, ổn định và phát triển phải đa chiều, từ nhiều phía; phải có cả quan điểm chính trị, kinh tế, lịch sử, xã hội để phân tích chiều sâu các khía cạnh của mối quan hệ. Chúng ta tiếp tục bài học kinh nghiệm mà Đại hội VII đã đúc rút là: “... đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để, nhưng phải có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp...”, “Nếu chỉ đổi mới một lĩnh vực hoặc một khâu nào đó thì công cuộc đổi mới không thể đạt kết quả mong muốn. Đồng thời trong mỗi bước đi lại phải xác định đúng khâu then chốt để tập trung sức giải quyết làm cơ sở đổi mới các khâu khác và lĩnh vực khác”(18). Mặt khác, phải nhận thức rằng ổn định chính trị không có nghĩa là bảo thủ, trì trệ, ngược lại nó có vai trò quan trọng bảo đảm điều kiện cho các lĩnh vực khác phát triển, làm cho quá trình đổi mới trở nên toàn diện hơn. Ổn định chính trị cũng đồng thời góp phần tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong quá trình đổi mới đất nước.
Như vậy, quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển là một quan hệ  thống nhất tự thân. Trong đó, đổi mới là yếu tố quan trọng nhất và phải thực thi trước tiên. Phát triển phải dựa trên điều kiện quan trọng là ổn định và thông qua đổi mới đúng đắn. Nhìn một cách khái quát, ổn định và đổi mới được xem như điều kiện cần thiết để phát triển. Tuy đổi mới sẽ dẫn đến ổn định thông qua phát triển nhưng chính nhờ có phát triển mới có được ổn định tích cực, bảo đảm cho đổi mới thành công và phát triển bền vững. Thực hiện được điều đó cũng có nghĩa là phải khắc phục những nguyên nhân kìm hãm sự phát triển hay chỉ giữ thế ổn định bị động, trì trệ, không phát triển. Hơn 32 năm qua, Đảng ta luôn nhận thức và giải quyết đúng đắn quan hệ này. Đây cũng là một trong những nguyên nhân thúc đẩy nước ta phát triển bền vững và đạt được những thành tựu quan trọng trên tất cả các mặt đời sống kinh tế; chính trị; văn hóa, xã hội, con người; quốc phòng, an ninh; đối ngoại. 
______________________
(1), (13) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.72-73, 99-100.
(2), (3), (4), (5), (6) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1986, tr.55, 125, 125, 42, 43.
(7), (8), (9), (18) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1991, tr.53, 54, 122- 123, 53- 54.
(10) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.71.
(11) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.165-166.
(12) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.70-71.
(14) Xem ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.14-15.
(15), (17) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.80, 196.
(16) Xem ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.13.

GS, TS Trần Văn Phòng
Viện Triết học,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON NGƯỜI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA



Trong kho tàng lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam có một nội dung bao chứa rộng lớn cả về lý luận và thực tiễn, nhằm xây dựng chế độ mới và giải phóng con người, vì con người, đó là: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”(1). Dưới sự lãnh đạo của Đảng, minh triết đó đã trở thành phương châm hành động, sợi chỉ đỏ xuyên suốt của cách mạng Việt Nam.
Thực tiễn, bao giờ và ở đâu cũng vậy, muốn xây dựng một xã hội đương đại cũng cần có những con người tiêu biểu đại diện cho lực lượng phát triển của xã hội đó, mà lịch sử thường gọi là “thời đại” và “con người của thời đại”. Đối với chủ nghĩa xã hội (CNXH), theo học thuyết Mác-Lênin, là xã hội tốt đẹp, nằm ở nấc thang phát triển cao hơn chủ nghĩa tư bản (CNTB). Vì thế, giai cấp vô sản muốn thực hiện được sứ mệnh của mình, phải xây dựng được đội ngũ tiên phong của giai cấp, đáp ứng với mục tiêu phát triển của xã hội tốt đẹp đó. Theo V.I Lênin, giai cấp vô sản dù đã nắm được chính quyền, nhưng nếu không làm cho xã hội mới có trình độ phát triển cao hơn CNTB, thì giai cấp vô sản vẫn chưa xây dựng xong CNXH, thậm chí, “công cuộc xây dựng CNXH chỉ còn là một mớ sắc lệnh”(2). Trên thực tế, nếu xét đến cùng thì giải phóng xã hội vẫn phải được quyết định bởi năng suất lao động và tinh thần dân chủ. Đó là cái quan trọng nhất, chủ yếu nhất quyết định thắng lợi của chế độ xã hội mới. Lênin từng chỉ ra: “CNTB chỉ có thể bị đánh bại hẳn, và sẽ bị đánh bại hẳn vì CNXH tạo ra nền dân chủ mới gấp triệu lần dân chủ tư sản và năng suất lao động mới cao hơn nhiều”(3).
Trên nền tảng lý luận Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra: Cách mạng xã hội chủ nghĩa (XHCN) là cuộc cách mạng sâu sắc nhất, triệt để nhất, chưa từng có trong lịch sử nước nhà. Nhưng, “nói một cách đơn giản và dễ hiểu là: CNXH không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động”, để “ai cũng được làm việc, được ăn no mặc ấm, được học hành, người già yếu được giúp đỡ, các cháu bé thì được chăm sóc”(4). Người cũng chỉ rõ: “Trong sự nghiệp xây dựng CNXH, chúng ta nhất định có những khó khăn. Biến đổi một xã hội cũ thành một xã hội mới, không phải là một chuyện dễ”(5). Điều lớn lao nhất của cách mạng XHCN là phải xây dựng được nền tảng, vật chất của CNXH. Mà muốn xây dựng được nền tảng, vật chất cho CNXH, điều quan trọng nhất lại phải có những con người XHCN theo cách nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vì ý nghĩa đó, trong quá trình lãnh đạo cách mạng gắn với CNXH, Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn quan tâm đến chủ thể xây dựng CNXH.
Theo Hồ Chí Minh, chủ thể xây dựng CNXH là “những con người mới XHCN”. Đó là những con người “có tư tưởng và tác phong XHCN”, “có ý thức làm chủ Nhà nước”, “thấm nhuần sâu sắc tinh thần tập thể XHCN và tư tưởng mình vì mọi người, mọi người vì mình”, “chăm lo việc nước như chăm lo việc nhà”, “biết tự mình lo toan, gánh vác, không ỷ lại, không ngồi chờ, đùn đẩy công việc”; đồng thời, phải biết “thắng được chủ nghĩa cá nhân, lợi mình hại người, tự do vô tổ chức, vô kỷ luật và những tính xấu khác”, bởi nó là “kẻ địch nguy hiểm của CNXH”(6). Người còn chỉ rõ: CNXH là “do nhân dân tự xây dựng lấy”, “muốn xây dựng CNXH thì không có cách nào khác là phải dốc lực lượng của mọi người ra để sản xuất... Muốn phát triển sức sản xuất thì trước hết phải nâng cao năng xuất lao động và muốn nâng cao năng suất lao động thì phải tổ chức lao động cho tốt”(7). Đây chính là một trong những tư tưởng đặc sắc, quan trọng nhất trong hệ thống tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh.
Các giá trị cốt lõi về lý luận, văn hóa, tinh thần ấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên giá trị cho đến ngày nay, soi rọi vào mọi chủ trương, hành động trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước ta.
Lịch sử hiện nay đã có nhiều biến đổi, xu hướng toàn cầu hóa kinh tế và mạng lưới hóa thông tin đang ngày càng phát triển, lan tỏa đến từng lĩnh vực trên khắp thế giới, tác động mạnh mẽ đến quan điểm nhân sinh, quan điểm giá trị của con người. Điều đó làm cho loài người có thể cần phải trải qua một quá trình gian khổ để “định hướng lại triết học và văn hóa”. Sự định hướng ấy, tất yếu sẽ ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực tư tưởng, chính trị, xã hội và tác động trực tiếp đến việc xây dựng các giá trị con người, trong đó có con người XHCN.
Công cuộc đổi mới của đất nước ta cũng đang có nhiều thay đổi, đòi hỏi cần có câu trả lời khiến cho mọi người tin phục về các giá trị của CNXH và những con người XHCN, tạo nên những trụ cột nâng đỡ tinh thần và khát vọng của đại đa số nhân dân. Trên thực tế, được thực tiễn soi rọi, Đảng ta đã từng bước làm sáng tỏ các yêu cầu đó.
Trước hết, về CNXH và con đường đi lên CNXH. Thông qua sáng tạo lý luận, thúc đẩy sáng tạo trên mọi phương diện, Đảng ta đã nhận thức rõ hơn, đầy đủ hơn về quy luật và tính quy luật phát triển của xã hội. Nếu như trước đây, nhận thức về CNXH chỉ đơn giản là “một xã hội tốt đẹp, nằm ở nấc thang phát triển cao hơn CNTB” với 3 thuộc tính cơ bản: Một là,xóa bỏ tư hữu, thiết lập chế độ công hữu (toàn dân và tập thể) đối với tư liệu sản xuất (tư bản, đất đai). Hai là, nguồn lực kinh tế được quản lý, phân phối theo kế hoạch của Nhà nước, sản xuất và phân phối theo chỉ tiêu pháp lệnh, không theo cơ chế thị trường. Ba là, làm theo năng lực và hưởng theo lao động, nhưng thường thì lao động chỉ được đánh giá trên thời gian mà ít quan tâm trên chất lượng,... Thì đến nay, Đảng ta đã định hình rõ nét và cụ thể hơn bằng một hệ thống quan điểm lý luận về CNXH. Trong đó, đã khái quát thành 8 đặc trưng: “Xã hội XHCN mà nhân dân ta đang xây dựng, đó là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”(8).
Cùng với việc khái quát thành 8 đặc trưng nêu trên, Đảng ta đã xác định cụ thể hơn 8 phương hướng xây dựng CNXH và 8 mối quan hệ lớn về đổi mới phát triển XHCN(9). Nếu 8 đặc trưng là những nội dung định hướng XHCN, thì 8 phương hướng, chính là con đường đi lên CNXH, là mô hình xây dựng CNXH trong thực tiễn của nước ta; 8 mối quan hệ có ý nghĩa là những quy luật, những tính quy luật mà công cuộc đổi mới, phát triển ở Việt Nam tất yếu phải tuân thủ.
Việc Đảng ta chủ trương chuyển sang kinh tế thị trường bắt đầu từ chủ trương phát triển sản xuất hàng hóa, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường; xác định rõ về vị trí, vai trò các thành phần kinh tế, coi kinh tế tư nhân là động lực quan trọng trong phát triển kinh tế;... là những bước đột phá lớn về lý luận, hướng cách mạng XHCN ở nước ta đi đúng với quy luật phát triển của lịch sử xã hội. Điều đó, đã làm thay đổi quan trọng cách nhìn, cách đánh giá, ứng xử đối với kinh tế thị trường và nhất là với kinh tế tư nhân, những thành tựu của tư duy nhân loại mà CNTB làm, CNXH cũng phải làm.
Hệ thống các quan điểm nêu trên là những thành tựu nổi bật của đổi mới tư duy, phát triển lý luận của Đảng ta, khắc phục hoàn toàn tư tưởng “duy ý chí” về CNXH như trước đây. Bằng các quan điểm khoa học, sáng tạo, Đảng ta đã trả lời trực tiếp các câu hỏi: CNXH là gì? Xây dựng CNXH ở Việt Nam như thế nào trong điều kiện quá độ lên CNXH, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN)? Mô hình, con đường, phương hướng đi lên CNXH như thế nào?
Thứ hai, về con người XHCN, Đảng ta luôn xác định: Con người là chủ thể sáng tạo văn hóa, đồng thời là chủ thể sáng tạo lịch sử, là mục tiêu và động lực của đổi mới của CNXH. Vì thế, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng luôn chủ trương xây dựng hệ giá trị con người mới XHCN Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Các định hướng giá trị con người Việt Nam XHCN được quán triệt trong xây dựng nền tảng văn hóa của thời kỳ đổi mới là: Con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo.
Cụ thể hóa các đặc tính cơ bản đó với tính cách là những chuẩn mực, thành những giá trị để giáo dục, thực hành, rèn luyện trong đời sống hằng ngày của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, chính là xây dựng con người XHCN. Trong đó, đặc biệt chú trọng xây dựng các giá trị biểu hiện lòng yêu nước; nhân ái, đạo đức, lối sống có nghĩa tình; lòng trung thực - thước đo phẩm chất cốt lõi của đạo đức, nhân cách, lối sống; tình đoàn kết, đồng thuận, hợp tác, cộng đồng chia sẻ trách nhiệm của con người trong hoạt động và ứng xử; phẩm chất mới cần rèn luyện trong đức tính cần cù trong xã hội hiện đại, trong nền sản xuất công nghiệp và trong xu hướng phát triển kinh tế tri thức; sự sáng tạo để phát triển - một năng lực nổi bật, một giá trị ưu trội của con người và nhân cách trong hoàn cảnh đổi mới phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế; tính kế thừa thế hệ trong giáo dục giá trị; trong chiến lược phát triển con người, trong giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội... Đó chính là những điểm mới nổi bật trong phát triển tư duy lý luận của Đảng về con người Việt Nam XHCN thời kỳ đổi mới.
Đổi mới theo định hướng XHCN là một quá trình cách mạng hết sức sâu sắc, triệt để, thường xuyên diễn ra cuộc đấu tranh phức tạp giữa cái cũ “bần cùng lạc hậu” và cái mới “tốt tươi”, để nhằm tạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Do đó, phải trải qua thời kỳ quá độ rất lâu dài và phải tuân thủ các bước đi như một tất yếu khách quan. Trong điều kiện bỏ qua chế độ TBCN như một loại hình “phát triển rút ngắn” với phương thức “quá độ gián tiếp” lên CNXH, đòi hỏi phải có những con người XHCN có trình độ, năng lực vượt trội, hay ít nhất cũng tương xứng với loại hình và phương thức phát triển đó.
Hơn 30 năm đổi mới, con đường đi lên CNXH ở nước ta tuy vẫn còn những khuyết điểm, chưa thực sự đáp ứng với kỳ vọng lớn lao của nhân dân, nhưng nhìn tổng thể, những thành tựu đạt được là rất to lớn có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Những thành tựu đó tạo tiền đề, nền tảng quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong những năm tới; khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên CNXH ở nước ta là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử”(10). Tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn cố tình bỏ qua những nỗ lực và thành tựu đã đạt được của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta, tiếp tục thực hiện nhiều biện pháp âm mưu “diễn biến hòa bình” đối với nước ta. Một mặt, chúng ra sức tuyên truyền về “thế giới tự do” về sự “vĩnh hằng” của CNTB và sự sụp đổ của chế độ XHCN; mặt khác, khai thác triệt để những khuyết điểm của CNXH hiện thực, xuyên tạc về CNXH mà nhân dân ta đang xây dựng; núp dưới các chiêu bài đòi dân chủ đa nguyên chính trị và nhân quyền, kích động các lực lượng chống đối, can thiệp vào công việc nội bộ của Đảng và Nhà nước ta hòng khiến nhân dân ta xa rời con đường đi lên CNXH. Rõ ràng, chủ nghĩa đế quốc không bao giờ thay đổi mục tiêu xoá bỏ CNXH, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhận định: “đế quốc, chết thì chết, nết không chừa”(11). Có khác chăng là trong tình hình mới, chúng sử dụng những sách lược, thủ đoạn mới tinh vi, hiểm độc hơn mà thôi.
Hơn bao giờ hết và hơn ai hết, hiện nay, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp phải tiếp tục giác ngộ lập trường, tư tưởng, nâng cao năng lực, phẩm chất cách mạng, kiên quyết vạch trần những âm mưu xảo quyệt của các thế lực thù địch, cùng nhau phối hợp hành động, đẩy lùi và làm thất bại những thủ đoạn đen tối của chúng. Đồng thời, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của quần chúng nhân dân, nhất là đối với thế hệ trẻ về bản chất tốt đẹp của xã hội XHCN, của công cuộc đổi mới, từ đó, xây dựng hoài bão, lý tưởng cao đẹp của con người mới XHCN. Con người mới Việt Nam XHCN nhất định không thể yếu kém về năng lực, phẩm chất, càng không thể dao động, “a dua” với một số phần tử bất mãn, cực đoan. Cán bộ, đảng viên, thanh thiếu niên phải được tôi luyện như thế hệ cha ông đã từng tôi luyện trong chiến tranh: “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.
Với ý chí kiên cường, sáng tạo và lòng tự tôn dân tộc, chắc chắn, công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng quang vinh, dân tộc ta sẽ trường tồn phát triển, nhân dân ta sẽ được giải phóng hoàn toàn khỏi bần cùng lạc hậu, khỏi tụt hậu và không bị chệch hướng XHCN. Xã hội XHCN mà nhân dân ta đang xây dựng nhất định sẽ đi đến bến bờ./.
Phương Vinh

(Bài đăng TCTG số 5/2019)
 ---------------------------------------------
(1), (4), (5), (6), (7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự Thật, xuất bản lần thứ 3, H, 2011, t.13, tr. 66, 5, 376, 66-67, 69.
(2) V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva 1981, t.42, tr. 37.
(3) V.I.Lênin: Toàn tập, Sđd, t.39, tr. 25.
(8), (9) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự Thật, H, 2011, tr.69-70, 70-73.
(10) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự Thật, H, 2016, tr. 66.
(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t.15, tr. 474.

ĐỪNG ĐỂ TÁC PHONG “QUAN PHỤ MẪU” TRỖI DẬY KHIẾN LÒNG DÂN TA THÁN



Sống trong một xã hội cởi mở, trình độ dân trí ngày càng cao, tinh thần dân chủ được coi trọng, thì đương nhiên cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ có chức có quyền cần phải có tư duy hành xử nhân văn, tác phong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành khoa học, vì sự phát triển tiến bộ của tổ chức, cơ quan, đơn vị; vì cuộc sống yên lành, hạnh phúc của nhân dân.
Tuy nhiên, những năm qua, ở nhiều nơi vẫn để xảy ra tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên “độc đoán, gia trưởng, thiếu dân chủ trong chỉ đạo, điều hành”-một biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống đã được Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII chỉ ra. 
Một tàn dư của chế độ quan lại thời phong kiến còn tồn tại dai dẳng

Theo các nhà nghiên cứu văn hóa truyền thống, trong tư duy ứng xử của người Việt, cùng với “trọng tĩnh, trọng tình, trọng văn” (coi trọng sự yên ổn; trân trọng tình nghĩa; quý trọng văn chương, khoa bảng), chúng ta còn “trọng xỉ”, tức là trọng những người cao tuổi, người đi trước, người có kinh nghiệm hơn mình. Dân gian có câu “Triều đình trọng tước, hương ước trọng xỉ” với ý nghĩa, trong triều đình thì trọng những người có chức tước, còn ở làng xã thì trọng những người cao tuổi. Ưu điểm của truyền thống “trọng tước, trọng xỉ” là giáo dục con người sống có trước có sau, quý mến những bậc cao niên và những người có trình độ năng lực, vốn sống, kinh nghiệm hơn mình. Tuy nhiên, vì quá coi trọng tôn ti, thứ bậc trong quan hệ ứng xử cũng khiến nhiều quan chức nảy sinh tâm lý “đàn anh”, tư tưởng “bề trên”, từ đó dễ có thái độ quan cách, tác phong gia trưởng, thậm chí trịch thượng, độc đoán cả trong giao tiếp, ứng xử và sinh hoạt, công tác.
Khi nói đến tác phong gia trưởng, chủ nghĩa gia trưởng, người ta liên tưởng đến những ông quan mũ cao áo dài của một thời phong kiến đầy oai phong lẫm liệt, dù ở chốn quan trường ăn lộc vua, hưởng lộc nước mà lại đi đứng nghênh ngang, coi mình như quan phụ mẫu, tức là cha mẹ của dân, nói gì cũng bắt dân chúng phải nhất nhất tuân lệnh!
Tưởng như tác phong gia trưởng, độc đoán chỉ còn trong chế độ phong kiến chuyên quyền thời xưa, nhưng buồn thay, thói xấu này vẫn tồn tại trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Dù mức độ gia trưởng không hà khắc như thời phong kiến, nhưng những biểu hiện của thói gia trưởng trong một bộ phận cán bộ lãnh đạo thời nay cũng không thể xem thường. Biểu hiện khá phổ biến là không ít cán bộ nhận thức chưa thấu đáo, giải quyết không đúng mực mối quan hệ “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”, mà thực chất là coi nhẹ, hạ thấp vai trò lãnh đạo của tập thể, trong khi lại đề quá cao vị trí của bản thân, lợi dụng chức vụ công tác để đưa cái tôi của mình lèo lái, chi phối, thậm chí lấn át cái ta của tập thể cấp ủy, tổ chức, cơ quan, đơn vị. Trong giải quyết các mối quan hệ ứng xử với nội bộ tập thể hay khi phát biểu đăng đàn thì có cán bộ lãnh đạo coi ý kiến của mình có sức nặng vượt trội, còn ý kiến tham gia của người khác chỉ là phụ, nhẹ tựa lông hồng, nghe rồi bỏ đấy. Nổi cộm của thói gia trưởng của một bộ phận cán bộ lãnh đạo là có thái độ, hành vi can thiệp không đúng nguyên tắc vào công việc của tập thể, nhất là công tác nhân sự (tuyển dụng, quy hoạch, phân công công tác, điều động cán bộ) và các vấn đề liên quan đến các chương trình, dự án đầu tư kinh tế-xã hội, tài chính… Cũng vì mắc bệnh gia trưởng, có người ngấm ngầm thành kiến đối với những người có ý kiến khác mình, thậm chí trù dập những người góp ý kiến phê bình trung thực, thẳng thắn.
Lại có quan chức coi gì mình nói cũng cho là đúng, là nhất, bắt buộc mọi người phải tuân theo. Thế nên, ở một số tổ chức, cơ quan, đơn vị hiện nay xuất hiện câu cửa miệng như: “Với sếp có hai điều phải học thuộc lòng: Điều 1-Sếp luôn luôn đúng; Điều 2-Nếu sếp sai thì xem lại điều 1”. Cá biệt có nơi còn có câu “khẩu hiệu ngầm” của những nhân viên cấp dưới: “Ý sếp là ý trời!”; “Cãi lại ý sếp-dễ sớm kết thúc sự nghiệp!". Những câu nói đó cho thấy phần nào sự gia trưởng, độc đoán vẫn đang ngự trị trong một bộ phận quan chức khiến cấp dưới bày tỏ tâm lý lo ngại, sợ sệt không đáng có.   
Rèn luyện và thể hiện tác phong sâu sát quần chúng, tôn trọng tập thể và cấp dưới
Tác phong gia trưởng là một thói tệ hại của người cách mạng. Ngay từ khi chính quyền cách mạng non trẻ vừa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng cảnh báo, những cán bộ, đảng viên có thái độ gia trưởng lúc nào cũng “Tưởng mình ở trong cơ quan Chính phủ là thần thánh rồi”, “cậy thế mình ở trong ban này ban nọ, rồi ngang tàng phóng túng, muốn sao được vậy”, từ đó “coi khinh dân gian, nói phô, cử chỉ lúc nào cũng vác mặt “quan cách mạng” lên. Không biết rằng thái độ kiêu ngạo đó sẽ làm mất lòng tin cậy của dân, sẽ hại đến oai tín của Chính phủ”.
Cũng đề cập đến thói gia trưởng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng từng chỉ rõ: “Một số người có chức có quyền giữ tác phong quan cách, gia trưởng” và “có thái độ coi thường quần chúng, không lắng nghe ý kiến người lao động, chèn ép quần chúng”.
“Ngang tàng phóng túng”, “vác mặt quan cách mạng”, “chèn ép quần chúng”… là những từ ngữ mạnh mà lãnh tụ, lãnh đạo của Đảng ta đã sử dụng như muốn cảnh tỉnh nghiêm khắc những cán bộ, đảng viên vẫn để cho tư duy, lề lối, cung cách hành xử hách dịch, cửa quyền vốn là tàn dư của chế độ quan lại phong kiến thời xưa ngự trị trong bản thân mình. Điều đó hoàn toàn xa lạ, trái ngược với tư tưởng tiến bộ, thái độ cầu thị, tác phong dân chủ, khoa học của người cộng sản.
Đấu tranh, ngăn ngừa và từng bước loại khỏi thói gia trưởng trong tư tưởng và hành động, suy nghĩ và việc làm trong một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay là góp phần xây dựng nền tảng đạo đức, văn hóa lành mạnh trong bộ máy công quyền.
Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân. Vì vậy, mọi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chỉ là người thay mặt Nhà nước, chính quyền và được tổ chức, cơ quan, đơn vị ủy quyền để giải quyết, xử lý công việc cho người dân theo đúng tinh thần là “công bộc, đầy tớ” của nhân dân. Muốn làm tròn trách nhiệm, bổn phận với nhân dân, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải có quan điểm vì nhân dân phục vụ; thái độ tôn trọng, quý mến nhân dân; tác phong công tác gần gũi, sâu sát quần chúng; thể hiện phong cách ứng xử, lề lối làm việc chuẩn mực, góp phần vun đắp, thắt chặt mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. 
Để phòng ngừa lề thói, tác phong gia trưởng, vấn đề mấu chốt là cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp cần nhận thức đúng đắn và thực hiện nghiêm túc nguyên tắc dân chủ, kiên quyết tránh xa biểu hiện tuyệt đối hóa yếu tố tập trung dẫn tới thái độ độc đoán; hoặc lợi dụng dân chủ của tập thể để làm tấm bình phong lấp liếm, che đậy những hành vi chuyên quyền của mình. Đối với người đứng đầu các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị, địa phương cần tự giác khép mình vào khuôn khổ tổ chức, thực hiện đúng quy chế lãnh đạo của ban thường vụ, cấp ủy; không lợi dụng vị thế công tác để can thiệp, chi phối tập thể hướng theo, làm theo ý định cá nhân không trong sáng của mình. Mặt khác, cán bộ lãnh đạo cần có ý thức tôn trọng, phát huy dân chủ, trí tuệ của tập thể, cơ quan, đơn vị; thật sự gần gũi, sâu sát, yêu thương quần chúng; thành tâm lắng nghe, thấu hiểu nguyện vọng chính đáng của cấp dưới để có cách ứng xử, giải quyết phù hợp, có lý, có tình. Vì thực tế cho thấy, khi cán bộ thực lòng cảm thông, chia sẻ với quần chúng, thì quần chúng mới quý trọng mình, hay nói như Bác Hồ: “Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”. Đó cũng là cơ sở để phòng tránh, ngăn ngừa lề thói, tác phong gia trưởng.
Tuy vậy, cần hiểu rằng, khi cán bộ giữ chức vụ nào đó thì không thể có tác phong dễ dãi, theo đuôi quần chúng, mà phải có tư duy đột phá, phong cách quyết đoán của người lãnh đạo. Vì xuất phát từ nguyên tắc, cơ chế lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay, các tổ chức đảng, chính quyền các cấp ngoài việc phát huy vai trò của tập thể lãnh đạo vẫn phải đề cao, coi trọng tinh thần quyết đoán của cá nhân người đứng đầu. Kiên định, bản lĩnh, quyết đoán là những yếu tố rất cần thiết của người lãnh đạo, mà thiếu nó, vị thế người đứng đầu sẽ trở nên mờ nhạt trong tập thể. Vấn đề là ở chỗ, kiên định mà không cứng nhắc, bản lĩnh mà không liều lĩnh, quyết đoán mà không độc đoán-điều đó mới làm nên phẩm chất chân chính, tư cách chững chạc của cán bộ lãnh đạo, quản lý. Có kỹ năng quyết đoán mới có khả năng quyết định dứt khoát, mạnh mẽ để giải quyết, xử lý được những vấn đề mới, vấn đề cấp bách do cuộc sống, thực tiễn đặt ra. Nhưng tác phong quyết đoán đều phải vì lợi ích chung, vì nguyện vọng chung của tập thể, của số đông người lao động thì mới thể hiện được tài năng, đức độ của cán bộ lãnh đạo, quản lý.
Nguồn: QĐND


LÝ LUẬN VÀ XÂY DỰNG NỀN TẢNG LÝ LUẬN



Lịch sử chính trị phát triển của các chính đảng trong thế giới cận, hiện đại đã chứng minh, bất kỳ chính đảng nào ra đời cũng có chủ nghĩa của nó, bởi có chủ nghĩa mới có thể tổ chức thành chính đảng. Theo đó, một chính đảng mạnh bao giờ cũng phải có chủ nghĩa “làm cốt” và nền tảng lý luận khoa học dẫn đường. Nếu không, chính đảng ấy sẽ mất phương hướng, “lúng túng như nhắm mắt mà đi” và tất yếu, cách mạng sẽ khó thành công, thậm chí thất bại. 
Lý luận là một hệ thống các quan điểm phản ánh thực tiễn, được thể hiện dưới dạng hệ thống những tri thức đã được khái quát, tạo ra những quan niệm tương đối hoàn chỉnh về các mối liên hệ cơ bản và các quy luật của hiện thực khách quan. Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin, mọi lý luận chân chính đều bắt nguồn từ thực tiễn, phản ánh đúng thực tiễn và trở lại phục vụ thực tiễn. Vì lẽ đó, lý luận là một nội dung, một bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong toàn bộ hoạt động của một chính đảng cầm quyền. Đảng cầm quyền mà không có lý luận dẫn đường thì “cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”(1), cách mạng sẽ không có “phong trào vận động” và đảng sẽ không thể làm nổi “trách nhiệm cách mạng tiền phong”.
Để đạt được mục tiêu cải biến xã hội, xây dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn, đòi hỏi mỗi chính đảng cầm quyền phải xây dựng cho được một nền tảng lý luận, đáp ứng ba yêu cầu cơ bản: Một là, đáp ứng nhu cầu phát triển của quảng đại quần chúng nhân dân. Hai là, thường xuyên tạo ra động lực phát triển của xã hội theo xu thế phát triển của thời đại. Ba là, gắn kết với thực tiễn, giải đáp kịp thời những vấn đề thực tiễn đặt ra. Ba nội dung này có nội hàm gắn kết biện chứng với nhau, không tách rời nhau, làm cho nền tảng lý luận ngày càng thêm phong phú và trở thành vũ khí tư tưởng sắc bén cho phong trào cách mạng của đảng.
Thực tiễn cách mạng luôn cho thấy, lý luận mà không đáp ứng được nhu cầu phát triển của quảng đại quần chúng nhân dân, xa rời mục tiêu, lợi ích của nhân dân thì đảng cầm quyền sẽ không thể tập hợp được sức mạnh to lớn, vĩ đại từ trong quần chúng nhân dân. Nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực sáng tạo ra lịch sử, nếu lý luận không làm thỏa mãn yêu cầu phát triển của nhân dân, thì tất yếu cách mạng sẽ đánh mất cả mục tiêu lẫn động lực. Chỉ khi nào lý luận thâm nhập được vào quần chúng, được quần chúng kiểm nghiệm, thì lý luận mới trở thành sức mạnh vật chất, thành vũ khí tư tưởng sắc bén, như C. Mác đã từng phân tích: “Lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất, nhưng lý luận cũng có thể trở thành lực lượng vật chất một khi nó thâm nhập vào quần chúng”(2).
Lý luận nếu không tạo ra động lực phát triển của xã hội, không đảm bảo được  vai trò đột phá, đi trước, mở đường thì đảng sẽ không làm được “cách mạng vận động”; không  tổ chức, dẫn dắt được nhân dân thực hiện các nhiệm vụ cách mạng. Trên thực tế, tác dụng và sức sống của lý luận luôn phụ thuộc vào khả năng của chính nó. Tức là, khả năng khái quát bản chất của hiện thực khách quan, rút ra quy luật phát triển, giải đáp kịp thời những vấn đề cấp bách của lịch sử để tiếp tục mở đường, thúc đẩy lịch sử phát triển. Ngược lại, thì phong trào cách mạng sẽ bế tắc, đảng cầm quyền sẽ khủng hoảng về đường lối chính trị, niềm tin của nhân dân sẽ bị lung lạc, cách mạng sẽ gặp khó khăn.
Lý luận nếu không gắn kết với thực tiễn, giải đáp kịp thời những vấn đề thực tiễn đặt ra, sẽ không đáp ứng được yêu cầu phát triển liên tục của xã hội cũng như những nguyện vọng thiết tha của quần chúng nhân dân. Về nguyên lý, sự gắn kết giữa lý luận và thực tiễn là có mối quan hệ biện chứng không thể tách rời nhau. Lý luận là cái phản ánh thực tiễn, thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, là căn cứ để kiểm chứng tính đúng đắn của lý luận. Xét đến cùng, lý luận là từ thực tiễn mà đúc kết, khái quát lên để tiếp tục dẫn dắt thực tiễn phát triển. Thực tiễn là cái bổ sung và làm phong phú, sắc bén thêm lý luận. Trong điều kiện phát triển phức tạp của hiện thực, nếu lý luận xa rời thực tiễn thì lý luận trở nên giáo điều, khô cứng, sáo rỗng; còn thực tiễn mà không có lý luận dẫn đường thì đó là thực tiễn “mù quáng”. Trên thực tế, khi nào và ở đâu lý luận gắn kết được với thực tiễn, giải đáp kịp thời những vấn đề thực tiễn đặt ra thì lúc đó, ở đó hệ tư tưởng của đảng và những giá trị văn hóa của dân tộc, những tinh hoa văn hóa thời đại được hội tụ và nhân lên, chiếm vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội, cách mạng sẽ phát triển không ngừng.
Nhận thức rõ tầm quan trọng và vai trò “làm cốt” của lý luận, ngay từ những giai đoạn “trứng nước” của cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thường xuyên quan tâm, nhắc nhở Đảng ta “cần phải chăm lo xây dựng nền tảng lý luận tiền phong của Đảng”; “cần phải giáo dục và yêu cầu đảng viên ra sức học tập lý luận,... chống cái thói xem nhẹ học tập lý luận. Vì không học lý luận thì chí khí kém kiên quyết, không trông xa thấy rộng, trong lúc đấu tranh dễ lạc phương hướng, kết quả là “mù chính trị”, thậm chí hủ hóa, xa rời cách mạng”(3).
Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giương cao ngọn cờ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh: Kiên định và Phát triển nền tảng lý luận Mác xít, xây đắp phong phú thêm hệ thống lý luận cơ bản, đường lối cơ bản, cương lĩnh cơ bản của Đảng, thể hiện trên những phương diện căn bản sau:
Thứ nhấtkiên định nền tảng lý luận của Đảng. Lịch sử Đảng gần 90 năm xây dựng và trưởng thành đã chứng minh, trong mọi hoàn cảnh, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn toàn tâm, toàn ý: “Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam”, xây dựng nền tảng lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng phong phú, sinh động, giúp cho Đảng ta luôn vững vàng về tư tưởng chính trị, tổ chức và tác phong công tác.
Kiên định nền tảng lý luận của Đảng, không có nghĩa là rập khuôn, máy móc mà là kiên định với những nguyên lý cơ bản của nền tảng lý luận đó, thể hiện ở lập trường cách mạng triệt để của giai cấp công nhân; ở quan điểm khoa học, xuất phát từ thực tiễn, phát hiện quy luật và làm theo quy luật; và ở phương pháp biện chứng để giải quyết các vấn đề tự nhiên, xã hội. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ: “Bây giờ chủ nghĩa nhiều, học thuyết nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin”. Luận điểm này đã khẳng định một vấn đề có tính nguyên tắc, đặt nền móng lâu dài cho công tác xây dựng Đảng về tư tưởng, lý luận. Cụ thể với Việt Nam, lý luận của Đảng dựa trên nền tảng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, “là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam…;  là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”(4).
Thứ hai, phát triển sáng tạo nền tảng lý luận của Đảng. Mặc dù chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là vũ khí lý luận sắc bén, là kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng, nhưng tự bản thân nó không phải là một hệ thống lý luận giáo điều, nhất thành bất biến. Chỉ khi nào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được vận dụng và phát triển sáng tạo trong thực tiễn, thì nó mới thực sự có sức sống mãnh liệt, soi rọi con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn và nhân dân ta đang tiếp bước.
Thế giới không ngừng có những diễn biến phức tạp và biến động khó lường, luôn đặt ra rất nhiều tình hình mới, vấn đề mới cần phải trả lời cả về lý luận lẫn thực tiễn. Trong bối cảnh đổi mới, Đảng ta luôn đặt vấn đề cần phải làm rõ những luận điểm nào của Mác và Lênin là đúng, bây giờ vẫn đúng và lâu dài về sau vẫn đúng; những luận điểm nào trước kia đúng nhưng điều kiện lịch sử hiện nay đã thay đổi, không còn phù hợp cần phải bổ sung, phát triển... Từ đó, Đảng luôn chủ trương đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, đánh giá đầy đủ, chính xác thực tiễn, tập trung nghiên cứu lý luận, giải đáp kịp thời những vấn đề lý luận do thực tiễn đặt ra.
Hiện nay, với sự tồn tại cục diện đa dạng hóa các chủ thể lợi ích trong xã hội, sẽ gây nên những ảnh hưởng nhất định tới nền tảng lý luận của Đảng, đó là điều khó tránh khỏi. Nhiều quan điểm lý luận, quan niệm tư tưởng khác nhau nảy sinh và cùng tồn tại, đây là một trong những nguyên nhân làm cho một bộ phận cán bộ, đảng viên dao động về tư tưởng và “chao đảo” về các quan niệm giá trị; thậm chí, bị mê hoặc vào những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch “diễn biến hòa bình”, dẫn đến nghi ngờ chủ nghĩa Mác - Lênin, nghi ngờ chủ nghĩa xã hội (CNXH) và con đường đi lên CNXH ở nước ta. Đó là một thực tế chúng ta đang đang phải đối diện, trong khi vẫn còn nhiều vấn đề lý luận chưa được thống nhất và chưa được giải đáp thuyết phục.
Trên thực tế, đã có một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân có biểu hiện chao đảo về lập trường, mất phương hướng về niềm tin, dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, mà tác hại của nó, như đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần nhấn mạnh: “Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”(5). Bài học lịch sử về sự đổ vỡ của CNXH hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu có nhiều nguyên nhân, nhưng trong đó có một nguyên nhân quan trọng là các đảng cầm quyền ở những nước đó đã đánh mất vai trò soi đường của lý luận Mác xít, xa rời chủ nghĩa Mác - Lênin, làm cho hệ ý thức tư tưởng trong nội bộ bị rối loạn và mất khả năng hiệu triệu quần chúng.
Bên cạnh đó, nếu chỉ kiên trì mà không phát triển thì lý luận sẽ trở nên giáo điều, khô héo, không đáp ứng được nhu cầu phát triển của quảng đại quần chúng nhân dân, không tạo ra được động lực phát triển của xã hội và chắc chắn không thể giải đáp kịp thời, khoa học những vấn đề biến động không ngừng của thực tiễn. Đại hội XII của Đảng đặt ra yêu cầu: “Tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống các quan điểm về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, đẩy mạnh công tác thực tiễn, nghiên cứu lý luận, cung cấp các luận cứ khoa học, lý luận cho việc hoạch định, phát triển đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước”(6). Đây cũng chính là biện pháp tốt nhất để đấu tranh với các khuynh hướng sai lầm, mơ hồ trong nhận thức của cán bộ, đảng viên; đồng thời, làm thất bại âm mưu xuyên tạc của các thế lực thù địch về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta, khi họ cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết đã lỗi thời, không thể giải quyết các vấn đề xã hội đặt ra trong thế giới đương đại; rằng nó chỉ là một môn phái học thuật đơn thuần, không có vai trò chỉ đạo, soi đường đối với cách mạng và kiến thiết đất nước; rằng CNXH là hoang tưởng, chỉ có chủ nghĩa tư bản mới là vĩnh hằng,... Đó là những luận điệu hoàn toàn sai trái và cũng là nguyên nhân tại sao chúng ta phải luôn luôn kiên định và phát triển không ngừng nền tảng lý luận của Đảng.
Kiên định và phát triển là hai phạm trù có nội hàm khác nhau, nhưng thống nhất với nhau, giúp Đảng ta luôn kiên định sự chỉ đạo, soi đường của lý luận khoa học, giải quyết kịp thời các vấn đề thực tiễn đặt ra; đồng thời, trở lại làm phong phú, sâu sắc thêm nền tảng lý luận của Đảng. Từ đó, vượt qua khó khăn, thách thức và những cản trở của thời cuộc, vững bước đi lên cùng thời đại. Kiên định và phát triển vừa là nguyên tắc vừa là phương châm công tác cơ bản và cũng là thái độ ứng xử đúng đắn của Đảng ta đối với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chống giáo điều, xét lại trong nghiên cứu lý luận, xét lại chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm xây dựng nền tảng lý luận của Đảng ngày càng phát triển.
Thấm nhuần phương châm “chân lý là cụ thể, cách mạng là sáng tạo”, Đảng Cộng sản Việt Nam đã giành được nhiều thành quả có ý nghĩa lịch sử to mà trước hết là nhờ vào cái vũ khí không gì thay thế được là nền tảng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đồng thời là sự đổi mới và phát triển không ngừng, đầy sáng tạo nền tảng lý luận. Cách mạng Việt Nam nhờ đó đã khắc phục được những bế tắc, khủng hoảng và khó khăn về đường lối lãnh đạo mà trước đó, các nhà cách mạng tiền bối luôn phải cam chịu “cả trăm thất bại mà không một thành công”. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định: “Có lý luận soi đường thì quần chúng hành động mới đúng đắn, mới phát triển được tài năng và lực lượng vô cùng tận của mình”(7)./.
Phương Vinh
Bài đăng TCTG số 6/2019

------------------------------------------------------------------------------
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, t.2, tr.289.

(2) C.Mác - Ph.Ăngghen: Tuyển tập, Nxb. Sự Thật, H,1980, tr.25.

(3), (7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr.280, 277.

(4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự Thật, H, 2011, tr. 88.

(5) Nguyễn Phú Trọng: Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương
4 khóa XII, Báo Nhân dân ngày 14-10-2016.

(6) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự Thật, H, 2016, tr.199-201

KHỞI TỐ, BẮT TẠM GIAM NGUYỄN NĂNG TĨNH



-Ngày 27/5/2019, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Nghệ An đã ra Quyết định khởi tố bị can, bắt tạm giam đối với Nguyễn Năng Tĩnh (SN 1976) trú tại xóm 11, xã Quỳnh Hưng, huyện Quỳnh Lưu về hành vi “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống phá Nhà nước CHXHCN Việt Nam”.  

Nguyễn Năng Tĩnh nguyên là giáo viên Trường Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật Nghệ An. Đây là đối tượng có tư tưởng bất mãn, tiêu cực, có ý thức chống đối sâu sắc, có hoạt động móc nối, lôi kéo và chịu sự tác động của một số đối tượng cực đoan, phản động trong và ngoài nước. Tĩnh có hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia với phương thức thủ đoạn hết sức tinh vi và xảo quyệt, có nhiều thủ đoạn đối phó với cơ quan pháp luật. Trang faceobook cá nhân “Nguyễn Năng Tĩnh” được lập và sử dụng từ năm 2011 đến nay lôi kéo gần 1.000 người theo dõi.
Tĩnh tham gia nhiều hội nhóm hoặc kết bạn với nhiều đối tượng có tư tưởng thù địch chống phá Việt Nam. Ngoài đăng tải, chia sẻ các bài viết, video, hình ảnh nói về cuộc sống của bản thân, facebook cá nhân của Nguyễn Năng Tĩnh còn được sử dụng để đăng tải, chia sẻ các bài viết, hình ảnh, video có nội dung tuyên truyền, xuyên tạc nhằm mục đích chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. 

Trên facebook cá nhân, Tĩnh đã xuyên tạc bản chất của Nhà nước CHXHCN Việt Nam, phủ nhận thành quả cách mạng của dân tộc; bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước; kích động người dân biểu tình, chống chính quyền; các nội dung bịa đặt, gây hoang  mang trong nhân dân, gây mất đại đoàn kết dân tộc. Nguyễn Năng Tĩnh đã chia sẻ các bài viết như “Việt Tân” vào ngày 1/12/2018, “Giải thưởng nhân quyền Lê Đình Lượng” ngày 22/11/2018; cung cấp nhiều thông tin sai lệch về chính sách pháp luật của Nhà nước, về Luật An ninh mạng.
Toàn bộ tài liệu chứa nội dung có dấu hiệu vi phạm pháp luật thu thập được từ trang facebook cá nhân mang tên “Nguyễn Năng Tĩnh” đã được cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Nghệ An ra Quyết định trưng cầu giám định nội dung tại Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Nghệ An. Ngày 4/12/2018, Hội đồng giám định tập thể Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Nghệ An kết luận: “Các tài liệu có nội dung tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; phỉ báng chính quyền nhân dân; Xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ lãnh tụ, xâm phạm chính quyền nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân".  Viện khoa học hình sự Bộ Công an cũng kết luận: Hình ảnh, giọng nói nghi là của Nguyễn Năng Tĩnh trong các video trực tiếp trên facebook “Nguyễn Năng Tĩnh” là của Nguyễn Năng Tĩnh.

Hiện, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Nghệ An đang tiếp tục mở rộng điều tra, làm rõ hành vi của Nguyễn Năng Tĩnh và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
.
Nhóm phóng viên

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...