Thứ Năm, 19 tháng 7, 2018


KHÔNG ĐỂ NHỮNG “BÀN TAY ĐEN” TIẾP TỤC KÍCH ĐỘNG, PHÁ HOẠI
Sau khi kích động tụ tập, tuần hành, gây rối hòng tạo ra các đợt “biểu tình toàn quốc kéo dài”, điểm nóng bạo loạn bị thất bại, các thế lực thù địch tiếp tục lợi dụng hai vấn đề Luật An ninh mạng và xây dựng dự luật Đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt để thực hiện các chiêu trò nham hiểm. Cùng với sự tỉnh táo, rút kinh nghiệm đấu tranh vừa qua, chúng ta cần chủ động, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn dân, không để những “bàn tay đen” tiếp tục ném đá giấu tay.
Những thủ đoạn  xuyên tạc, chống phá “hậu biểu tình”
Hiện nay chúng tiếp tục “la làng”, “tát nước theo mưa”, xuyên tạc trắng trợn rằng, việc xử lý những người vi phạm pháp luật vừa qua là “đàn áp dã man” những người biểu tình ôn hòa, yêu nước, kêu gọi đưa vấn đề ra Liên hợp quốc và kêu gọi các tổ chức quốc tế vào cuộc.  
Đặc biệt, sau khi Chủ tịch nước ký lệnh công bố ban hành Luật An ninh mạng, chúng tiếp tục thổi phồng đạo luật này nhằm “bịt mồm nhân dân”, đe dọa nghiêm trọng cuộc sống người dân và vi phạm chính bản Hiến pháp 2013. Từ đó, chúng kêu gọi người dân không chỉ dùng Facebook mà chuyển sang dùng nhiều mạng xã hội khác để “đấu tranh”. Chúng cũng phát động cái gọi là phong trào “bất tuân dân sự” đối với Luật An ninh mạng và sự quản lý của Nhà nước.
Còn đối với dự thảo Luật Đơn vị hành chính- kinh tế đặc biệt, mặc dù Quốc hội đã quyết định lùi thời hạn thông qua để có thời gian bổ sung, hoàn thiện nhưng chúng tiếp tục lập luận bậy bạ rằng đây là đạo luật “bán nước”; kích động phải đưa vấn đề này ra trưng cầu ý dân toàn quốc theo Luật Trưng cầu ý dân 2015.
Không dừng lại ở đó, chúng tiếp tục kích động, cho rằng để giải quyết tận gốc của vấn đề thì không chỉ dừng ở đấu tranh cho 1, 2 đạo luật mà phải thực hiện đa nguyên, đa đảng theo mô hình dân chủ phương Tây, lật đổ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Chúng tiếp tục lợi dụng lòng yêu nước, cổ súy các đợt biểu tình, tuần hành vừa qua bằng những mỹ từ mị dân như “khơi dậy lòng yêu nước và ý thức trách nhiệm công dân”, “nhiều người trong bộ máy cầm quyền thức tỉnh”… Chúng kêu gọi cần tiếp tục biểu tình phản đối với những chiêu trò mới như gây kẹt xe ở các đô thị, biểu tình trên mạng, hô hào các tổ chức phản động tổ chức biểu tình ở nước ngoài…
Tỉnh táo hơn, chủ động hơn, kiên quyết hơn
Những sự việc gần đây cho thấy, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch ngày càng thể hiện rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng Việt Nam bằng chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn chính trị; bộc lộ rõ lực lượng, phương tiện, phương thức, âm mưu thủ đoạn tinh vi, nguy hiểm; có lúc công khai, trực diện, có sự hỗ trợ, tham gia của các đối tượng từ nước ngoài… Từ kích động tuần hành, biểu tình, tạo cớ đẩy lên thành bạo loạn; từ thăm dò phản ứng, hiệu quả ứng phó của cơ quan chức năng, chúng có thể tập dượt để đi tới tổng biểu tình đi kèm bạo loạn lật đổ chính quyền, hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chế độ XHCN ở nước ta.
Thời gian vừa qua, tuy có địa phương xử lý ban đầu còn chậm trễ, lúng túng, thiếu linh hoạt, thiếu kiên quyết nhưng nhìn chung, chúng ta đã tập trung chỉ đạo xử lý quyết liệt, kịp thời, hiệu quả, chặn đứng những “bàn tay đen”, không để tình hình phức tạp kéo dài. Dù các thế lực thù địch ra sức cổ súy, ba hoa cho rằng, đó là “thắng lợi lớn” và tiếp tục nhiều lần kêu gọi các đợt “tổng biểu tình toàn quốc” vào các ngày nghỉ sau đó nhưng âm mưu của chúng đã bị ngăn chặn. Đông đảo nhân dân, trong đó có phần lớn người dân ở những nơi từng xảy ra sự cố đã đề cao cảnh giác, đấu tranh, lên án làm thất bại mọi thủ đoạn kích động.
Trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá “hậu biểu tình” hiện nay, từ kinh nghiệm thời gian qua, đòi hỏi cấp ủy, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể ở Trung ương, địa phương và nhân dân phải tỉnh táo hơn nữa, cảnh giác hơn nữa, chủ động hơn và kiên quyết hơn trong phòng ngừa, đấu tranh. Cần chủ động nắm chắc tình hình, âm mưu, ý đồ của kẻ xấu để có biện pháp ngăn chặn, dập tắt ngay từ đầu những mầm mống mới phát sinh. Khi có tình huống phải xử lý kịp thời, linh hoạt, mạnh mẽ, kiên quyết, hiệu quả. Đối với lực lượng vũ trang (LLVT), phải làm tốt công tác phối hợp theo Nghị định số 77/2010/NĐ-CP của Chính phủ về phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội và nhiệm vụ quốc phòng. Đặc biệt, cán bộ, chiến sĩ LLVT phải gương mẫu, đi đầu trong đấu tranh và tuyên truyền vận động nhân dân, gia đình, người thân trước âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch.
Bảo vệ, hoàn thiện pháp luật vì sự phát triển của đất nước
Không phải ngẫu nhiên mà Luật An ninh mạng được Quốc hội thông qua với tỷ lệ 86,86%. Đây là một đạo luật rất cần thiết không chỉ để bảo vệ an ninh quốc gia mà còn nhằm bảo vệ người dân, để có môi trường xã hội phát triển lành mạnh trên không gian mạng.
Theo thống kê, Việt Nam xếp ở vị trí thứ 4 trong top 10 quốc gia bị mất an toàn an ninh mạng. Để giải quyết vấn đề an ninh mạng, hàng chục quốc gia trên thế giới đã ban hành, thậm chí có những quy định khắt khe hơn cả Việt Nam. Tại Đức, Facebook nếu không quản lý tốt để người dân kích động bạo lực, xuyên tạc xúc phạm cá nhân, tổ chức sẽ bị phạt nặng cả nhà cung cấp và người dùng; thậm chí nhà cung cấp phải lưu trữ dữ liệu về lịch sử truy cập lên đến 6 tháng để phục vụ điều tra. Các hành vi bịa đặt, nói xấu và bôi nhọ danh dự hoặc tổ chức, kích động bạo lực trên Facebook, kêu gọi gây rối trật tự công cộng sẽ bị truy tố. Tại Singapore, cơ quan an ninh mạng được phép tiến hành cuộc điều tra và công ty hoặc thực thể bị ảnh hưởng sẽ phải chia sẻ thông tin với cơ quan này trong vài giờ, nếu không sẽ bị phạt khoản tiền lên tới 100.000 SGD Singapore hoặc bị phạt tù đến 10 năm. Tại Thái Lan, Luật Tội phạm máy tính được thông qua từ năm 2016 quy định mức phạt tới 5 năm tù đối với những người đăng tải những thông tin sai sự thật nhằm phá hoại an ninh quốc gia, an toàn công cộng, gây hoang mang dư luận...
Những kẻ xuyên tạc cũng đưa ra không ít thông tin mù mờ, như Luật An ninh mạng sẽ khiến nhiều công ty lớn cung cấp dịch vụ mạng xã hội rời khỏi Việt Nam, sự ngăn chặn dòng chảy thông tin có thể giảm 1,7% GDP và giảm 3,1% vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam... Song thực chất, đây là thông tin được tung ra bởi chính những doanh nghiệp đang có hoạt động kinh doanh nhưng không đóng thuế, không làm tăng GDP cho Việt Nam nhiều năm qua. Họ đã cản trở Luật An ninh mạng để chậm nghĩa vụ đóng thuế.
Ngược lại, chính việc quản lý chặt chẽ, kể cả việc yêu cầu lưu trữ dữ liệu người dùng và các dữ liệu quan trọng khác tại Việt Nam, đặt văn phòng đại diện tại Việt Nam cũng là cơ sở phục vụ tốt công tác quản lý doanh nghiệp và bảo vệ người dân. Thực tế, trong quá trình soạn thảo luật, nhiều công ty lớn như Google, Facebook, Amazon đề nghị được làm việc với ban soạn thảo và chính họ đã đồng ý phối hợp cơ quan chức năng Việt Nam. Trong khi đó, một số công ty nước ngoài khác, trong đó có nhiều công ty ở Mỹ đã tìm cách đối phó với hoạt động quản lý mạng chặt chẽ của các quốc gia ASEAN, trọng tâm là Việt Nam, Thái Lan và Indonesia. Song hiện nay, đã có 19 quốc gia trên thế giới trong đó có Mỹ quy định về lưu trữ dữ liệu quan trọng quốc gia trong nước. Các quy định của Việt Nam trong luật đã trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, không vi phạm các cam kết quốc tế.
 Còn đối với dự án Luật đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt, hiện nay Quốc hội đã lùi thời hạn thông qua để có thời gian rà soát, tiếp thu ý kiến của xã hội, tiếp tục hoàn thiện tốt nhất để trình Quốc hội thông qua. Tiếp xúc cử tri gần đây, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng khẳng định: Luật Đặc khu (gọi tắt của Luật đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt-PV) thì tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện, có lợi thì thông qua”.
Trên báo chí quốc tế gần đây, đã có nhiều phân tích đáng suy nghĩ về vấn đề này. Thậm chí, BBC, hãng truyền thông từng đăng tải nhiều thông tin thiếu thiện chí về Việt Nam song cũng đã có bài viết đa chiều, trong đó có những ý kiến khách quan về đặc khu kinh tế. Theo đó, kinh nghiệm từ Ba Lan, một đất nước công nghiệp hóa thành công, từ "bán lông thú đi lên bán máy móc" hiện còn 14 đặc khu kinh tế. Tiến sĩ Beata Glinkowska, Đại học Lodz (Ba Lan) cho rằng, ở Trung và Đông Âu, trong đó có Ba Lan, đặc khu kinh tế trở thành công cụ biến đổi kinh tế. Đặc khu kinh tế phổ biến ở nhiều nước, hỗ trợ phát triển kinh tế. Các quốc gia cần tạo điều kiện thông thoáng cho doanh nghiệp và các điều kiện cần minh bạch”. Tiến sĩ Arpita Mukherjee, Hội đồng Nghiên cứu Quan hệ Kinh tế Quốc tế Ấn Độ cho rằng, nhiều nước, trong đó có Nhật Bản, hiện đang cổ vũ cho đặc khu kinh tế. Ở các nước đang phát triển như Việt Nam, nơi có khoảng trống hạ tầng, các đặc khu này cung cấp hạ tầng tuyệt hảo để thu hút đầu tư (cả trong nước và nước ngoài) và công nghệ. Ban đầu, có thể có biểu tình nhưng chốt lại, chính sách đặc khu là có lợi nhưng phụ thuộc vào cách thiết kế và nội dung cụ thể”.
Những ý kiến nêu trên phần nào cho thấy, xây dựng các đặc khu kinh tế là chủ trương đúng chứ không phải là mô hình “lỗi thời, lạc hậu”, thậm chí bôi đen rằng là để “bán nước” như những luận điệu xuyên tạc. Vấn đề là việc hoàn thiện dự án luật phải làm sao cho thật chặt chẽ, bảo đảm hiệu quả, không để các lỗ hổng ảnh hưởng đến an ninh quốc gia và để các thế lực thù địch tiếp tục lợi dụng xuyên tạc, chống phá.
Thượng tôn pháp luật, không chấp nhận cái gọi là “bất tuân dân sự”
Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mọi công dân đều bình đẳng, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Luật An ninh mạng đã được Quốc hội thông qua, được Chủ tịch nước ký lệnh ban hành thì đạo luật đó phải được tôn trọng, thực thi. Theo Bộ Công an, từ nay đến khi Luật An ninh mạng có hiệu lực, còn có tới 25 nghị định và thông tư được thông qua. Vì thế, không thể tiếp tay cho các thế lực xấu phá hoại sự thượng tôn pháp luật bằng những thông tin vu vơ, không có cơ sở.
Còn với dự án Luật Đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt, người dân có quyền được tiếp tục góp ý để Quốc hội hoàn thiện. Chúng ta tin tưởng rằng, dự án luật sẽ được hoàn thiện tốt nhất, tiếp thu đầy đủ nhất mọi góp ý, không để tồn tại những sơ hở, thiếu sót phương hại đến an ninh quốc gia. Nhưng những góp ý phải trên cơ sở tìm hiểu dự thảo luật và có cơ sở khoa học, không tiếp tay cho sự xuyên tạc, kích động, phá hoại đất nước. Không thể dựa trên những bịa đặt vô căn cứ và những ý kiến phiến diện, không đúng quy định của Luật Trưng cầu ý dân để kêu gọi phải trưng cầu ý dân để thông qua dự án luật.
Mặt khác, cũng cần cảnh giác với cái gọi là bất tuân dân sự trước Luật An ninh mạng. Bất tuân dân sự với nguồn gốc là một phong trào đấu tranh từ đầu thế kỷ 20 chống thực dân về sau trở thành phong trào người dân phản kháng những đạo luật không công bằng. Nhưng gần đây, nó đã bị biến tướng gắn với các cuộc “cách mạng nhung” ở Đức, Tiệp Khắc, “cách mạng hoa hồng”, “cách mạng cam” ở Liên Xô (cũ)… Gần đây, các thế lực thù địch đang tìm cách du nhập nó về Việt Nam, kêu gọi nhen nhóm bất tuân dân sự bằng việc lợi dụng một số quy định của pháp luật hay vấn đề thu phí đường bộ… Tuy nhiên, ngay cả luật sư từng có nhiều hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước cũng từng phải thừa nhận, không nên cổ súy cho hành vi vi phạm pháp luật khi “bất tuân dân sự”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Pháp luật của ta hiện nay bảo vệ quyền lợi cho hàng triệu người lao động” nhưng cũng chỉ rõ: “Người nào sử dụng quyền tự do quá mức của mình mà phạm đến tự do của người khác là phạm pháp”. Pháp luật nước ta chỉ hạn chế quyền tự do của những người lợi dụng pháp luật xâm hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, cộng đồng. Chúng ta ủng hộ phản biện xã hội chân chính để hoàn thiện pháp luật, xây dựng xã hội thượng tôn pháp luật nhưng cái gọi là bất tuân dân sự để cổ súy và bảo vệ những hành vi vi phạm pháp luật cần phải được ngăn chặn, đẩy lùi.
CÔNG MINH - NGUYÊN MINH
http://www.qdnd.vn/chong-dien-bien-hoa-binh/khong-de-nhung-ban-tay-den-tiep-tuc-kich-dong-pha-hoai-542883


NHẬN DIỆN RÕ RÀNG, ĐẤU TRANH KIÊN QUYẾT VỚI ÂM MƯU LỢI DỤNG VẤN ĐỀ THAM NHŨNG ĐỂ CHỐNG PHÁ VIỆT NAM
Đấu tranh phòng, chống tham nhũng (PCTN) là một bộ phận quan trọng cấu thành toàn bộ sự nghiệp đấu tranh cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Không phải đến bây giờ mà cuộc đấu tranh PCTN đã được tiến hành ở Việt Nam kể từ khi Đảng ta ra đời và lãnh đạo cách mạng Việt Nam năm 1930 cho đến nay...
Có thể nói, chưa bao giờ công tác đấu tranh PCTN lại được Đảng, Nhà nước ta lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt như thời gian gần đây. Giữa lúc quyết tâm chính trị, tinh thần đấu tranh PCTN của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang lên cao thì các thế lực thù địch, phản động, những phần tử cơ hội lại ra sức lợi dụng vấn đề này để tiến hành các hoạt động chống phá. Hơn lúc nào hết, trách nhiệm của mỗi chúng ta là phải nhận thức rõ ràng, đấu tranh kiên quyết với những âm mưu, thủ đoạn đó.
Những giọng điệu xuyên tạc, bịa đặt trắng trợn
Trong thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động và những phần tử cơ hội chính trị thường xoáy sâu vào những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, trong đó tham nhũng là vấn đề được chúng triệt để lợi dụng. Cả thế giới đã thừa nhận, tham nhũng là tệ nạn mang tính toàn cầu, tham nhũng xuất hiện và tồn tại ở mọi quốc gia trên thế giới, các nước dù đi theo chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) hay tư bản chủ nghĩa đều phải đối mặt với tệ nạn này, nguyên nhân dẫn đến tham nhũng không phải do chế độ chính trị hay do đảng phái nào nắm quyền lãnh đạo đất nước... Thế nhưng các thế lực thù địch, phản động lại ra sức rêu rao rằng: “Chế độ một đảng cầm quyền là nguyên nhân sinh ra tệ tham nhũng”; “do đảng cầm quyền độc đoán cai trị nên tình trạng tham nhũng xảy ra...”; “tham nhũng là sản phẩm tất yếu của chế độ công hữu tư liệu sản xuất, chuyên chế độc đảng”... Không chỉ vậy, họ còn cho rằng: Tham nhũng chỉ xuất hiện ở những nước đi theo con đường XHCN, “tham nhũng là vấn đề thuộc bản chất của chế độ XHCN ở Việt Nam”... Thực chất của giọng điệu ấy không gì khác là lợi dụng cuộc đấu tranh chống tham nhũng để xuyên tạc, bịa đặt, nói xấu hòng làm suy giảm uy tín tiến tới mục tiêu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam. Khi mà chúng ta chưa đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng hoặc đã làm nhưng kết quả chưa rõ nét thì họ cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam không thể đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái thành công vì Đảng cũng tham nhũng, suy thoái”... Khi Đảng và Nhà nước ta thể hiện quyết tâm chính trị, đẩy mạnh cuộc đấu tranh PCTN, kiên quyết xử lý hàng loạt cán bộ, đảng viên có hành vi tham nhũng, tiêu cực thì chúng lại tung ra những giọng điệu lạc lõng, dựng chuyện, xuyên tạc rằng thực chất cuộc đấu tranh PCTN ở Việt Nam hiện nay là “cuộc chiến thanh trừng phe phái trong nội bộ Đảng”, "là sự đấu đá nội bộ, phe phái trong Đảng Cộng sản Việt Nam". Đề cập đến câu hỏi làm thế nào để dẹp bỏ nạn tham nhũng ở Việt Nam, họ cho rằng: “Chỉ khi nào ở Việt Nam có chế độ đa đảng thì nạn tham nhũng mới có thể dẹp bỏ được”... Từ những thông tin cóp nhặt trên mạng xã hội, họ còn vẽ ra, dựng nên những câu chuyện nói rằng các phe nhóm nội bộ ở Trung ương và địa phương đang đấu đá nhau... Đặc biệt, họ thường suy diễn, chụp mũ, xuyên tạc những ý kiến chỉ đạo chống tham nhũng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước... Những giọng điệu ấy không nhằm mục đích gì khác là xuyên tạc mục đích, ý nghĩa tốt đẹp của cuộc đấu tranh này; bôi nhọ, hạ thấp uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; chia rẽ nội bộ ta, gây phân tâm trong xã hội, làm giảm sút ý chí, quyết tâm PCTN và lòng tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ.
Kết quả của công tác chống tham nhũng là không thể phủ nhận
Cần khẳng định rõ rằng những âm mưu, thủ đoạn nham hiểm, tinh vi, những giọng điệu xuyên tạc, bịa đặt lạc lõng ấy không thể phủ nhận được sự cố gắng, quyết tâm chính trị và những thành quả trong cuộc đấu tranh PCTN của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Trong 5 năm gần đây, đặc biệt là những năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XII, công tác PCTN được Đảng, Nhà nước ta chỉ đạo rất quyết liệt, tạo được một bước tiến mạnh, đạt được nhiều kết quả quan trọng, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội. Nhiều vụ án tham nhũng, kinh tế đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm được phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh, đúng pháp luật, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai. Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng đến nay, có gần 1.300 đảng viên bị thi hành kỷ luật do tham nhũng và cố ý làm trái. Tòa án nhân dân các cấp cũng đã xét xử sơ thẩm 436 vụ án, với 1.118 bị cáo về các tội tham nhũng. Các lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng đã được Thanh tra Chính phủ tập trung thanh tra, kiểm tra. Qua đó, đã chuyển cơ quan điều tra xử lý hình sự 188 vụ với 335 đối tượng. Kiểm toán Nhà nước cũng đã kiểm toán 434 đơn vị đầu mối, kiến nghị thu hồi về cho ngân sách Nhà nước hơn 65.000 tỷ đồng.
Các cơ quan chức năng đã chủ động, công khai cung cấp thông tin, định hướng dư luận trong hoạt động PCTN, phát huy vai trò tích cực của các cơ quan truyền thông, báo chí trong PCTN. Vai trò, trách nhiệm của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội, các tổ chức xã hội và người dân trong PCTN ngày càng được phát huy tốt hơn... Hoạt động hợp tác quốc tế về PCTN được mở rộng. Kết quả công tác PCTN của Việt Nam những năm gần đây đã được các tổ chức quốc tế ghi nhận có nhiều chuyển biến tích cực. Theo đánh giá của Tổ chức Minh bạch quốc tế, chỉ số cảm nhận tham nhũng của Việt Nam tăng liên tiếp trong hai năm sau nhiều năm giữ nguyên, từ 31 điểm năm 2015 tăng lên 35 điểm trong năm 2017.
Ngoài việc góp phần tạo ra bước phát triển về kinh tế-xã hội, công tác đấu tranh PCTN góp phần tăng cường, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng, vào chế độ XHCN. Kết quả của công tác PCTN đã tạo động lực mới, khí thế mới để toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng. Những kết quả ấy càng khẳng định rõ quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước về PCTN. Đồng thời đó cũng là minh chứng để khẳng định rõ việc đẩy mạnh PCTN, xây dựng, chỉnh đốn Đảng, kiên quyết xử lý nghiêm khắc nhiều cán bộ, đảng viên sai phạm không làm hạn chế sức sáng tạo, tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của những người tâm huyết, vì sự nghiệp đổi mới của Đảng, với động cơ trong sáng, lành mạnh, không “làm chậm” sự phát triển, mà ngược lại làm trong sạch, tạo sức mạnh thật sự của bộ máy và đội ngũ cán bộ, củng cố và tăng cường lòng tin của nhân dân, tạo động lực mới, khí thế mới để thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ, thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới đất nước. Những kết quả đó càng chứng tỏ những luận điệu của các thế lực phản động về cuộc đấu tranh PCTN của Việt Nam là xuyên tạc, bịa đặt, vô căn cứ.
Không thế lực nào có thể làm nhụt ý chí của chúng ta
Thực tế đã khẳng định cuộc đấu tranh PCTN của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta là trong sáng, công khai, minh bạch, khách quan, tôn trọng nhân dân và coi trọng dư luận; không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai. Những kết quả bước đầu đã để lại cho chúng ta những bài học quan trọng. Nhưng cần đặc biệt nhấn mạnh, đó là sự thống nhất một ý chí, một quyết tâm chống tham nhũng trong toàn Đảng. Chính quyết tâm chính trị của Đảng là lời hiệu triệu lòng dân và những cán bộ, đảng viên đồng lòng trong cuộc chiến này. Kết quả của cuộc đấu tranh PCTN thời gian qua cho thấy quần chúng nhân dân và toàn xã hội đã đặt trọn niềm tin, tích cực ủng hộ ý chí quyết tâm, nỗ lực đấu tranh PCTN của Đảng... Nhưng cũng cần phải thấy ngay rằng những kết quả quan trọng đạt được mới chỉ là bước đầu. Tình hình tham nhũng, tiêu cực và tệ quan liêu, lãng phí vẫn còn nhiều, phổ biến trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Bên cạnh sự vào cuộc quyết liệt của nhiều cơ quan, tổ chức, lực lượng, đơn vị, địa phương thì ở đâu đó vẫn còn những biểu hiện thiếu kiên quyết, né tránh, tình trạng "trên nóng, dưới lạnh", "trên vội vã, dưới thư thả". Thực tế ấy đòi hỏi muốn làm sạch đội ngũ đảng viên trong toàn Đảng, trong sạch đội ngũ cán bộ trong toàn bộ máy, Đảng ta phải có bản lĩnh và quyết tâm chính trị cao.
Thời gian tới, khi mà cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực càng được đẩy mạnh thì các thế lực thù địch, phản động cũng sẽ gia tăng sự chống phá. Dù cam go, phức tạp, dù khó khăn đến mấy cũng không ai có thể phủ nhận, xóa nhòa những thành công của chúng ta, không ai có thể làm nhụt ý chí, quyết tâm của chúng ta. Vấn đề đặt ra là chúng ta phải đề cao cảnh giác, nhận diện rõ ràng về những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, những phần tử cơ hội để từ đó kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái, phản động hòng phá hoại, ngăn cản cuộc đấu tranh PCTN của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta./.
 KIM NGỌC
http://www.qdnd.vn/chong-dien-bien-hoa-binh/nhan-dien-ro-rang-dau-tranh-kien-quyet-voi-am-muu-loi-dung-van-de-tham-nhung-de-chong-pha-viet-nam-542295

Thứ Tư, 18 tháng 7, 2018


BÀN THÊM NỘI DUNG XÂY DỰNG ĐẢNG VỀ ĐẠO ĐỨC
Đã quá nửa nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng, các cơ quan nghiên cứu, cơ quan tham mưu, các tổ chức đảng cũng mới chỉ dành nhiều thời lượng để nói đến vấn đề đạo đức, lối sống của cá nhân cán bộ, đảng viên theo 9 dấu hiệu nhận biết mà Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã vạch ra. Những vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng Đảng về đạo đức, nhất là nội dung xây dựng Đảng về đạo đức vẫn chưa thực sự được làm sáng tỏ, chưa nhất quán và chưa tương xứng với nội dung xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức.
Không phải đến bây giờ Đảng ta mới nói đến vấn đề đạo đức trong công tác xây dựng Đảng mà sách “Đường Cách mệnh” - “cuốn giáo trình đầu tiên” do chính Nguyễn Ái Quốc biên soạn và giảng dạy cho các thanh niên yêu nước để vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đã viết về “Tư cách một người cách mệnh”. Đó là một trong 15 vấn đề của cuốn sách và được viết ngay từ trang đầu với đầy đủ các mối quan hệ xác định của đạo đức: đối với tự mình, đối với người và đối với việc. 
Ngay từ những năm đầu cầm quyền của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận ra những khuyết điểm, nguy cơ thoái hóa, biến chất, quan liêu, xa dân của một bộ phận cán bộ, đảng viên do thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng. Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” - “cuốn giáo trình thứ hai” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh biên soạn và triển khai học tập trong toàn Đảng cũng dành hẳn 1 chương nói về “Tư cách và đạo đức cách mạng” trong 6 chương của cuốn sách.
Trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thường xuyên cảnh báo, nhắc nhở, răn dạy cán bộ, đảng viên về đạo đức cách mạng bằng rất nhiều bài phát biểu, bài viết trên báo. Đặc biệt, tại Lễ kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng, Người khẳng định: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”; và trong “Di chúc”, vấn đề đạo đức cách mạng được viết nghiêng trong những lời căn dặn căn cốt nhất về xây dựng Đảng: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(1).
Tuy vậy, từ khi giải phóng hoàn toàn đất nước, Đảng cầm quyền trên phạm vi cả nước, vấn đề đạo đức trong xây dựng Đảng lại chưa được đặt xứng tầm. Tại Đại hội IV (năm 1976) Đảng ta mới chỉ xác định phương châm “phải xây dựng Đảng vững mạnh về cả ba mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức”(2). Công tác giáo dục, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên thường chỉ được đề cập một cách khiêm tốn trong nội dung xây dựng Đảng về tư tưởng. 
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, từ Đại hội VI của Đảng đến nay, không có nhiệm kỳ nào mà Đảng ta không đề cập đến tình trạng suy thoái về đạo đức của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, coi đó là một trong 4 nguy cơ đe dọa đến vai trò lãnh đạo của một đảng cầm quyền. Vì thế, tại Đại hội XII của Đảng (năm 2016), vấn đề xây dựng Đảng về đạo đức lần đầu tiên được nhắc đến với tư cách là “mặt thứ tư” trong công tác xây dựng Đảng để trở thành một chỉnh thể: “Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức”(3).
Để nghiên cứu xây dựng Đảng về đạo đức ngang tầm với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, cần nhất quán về sử dụng phương pháp tiếp cận tương thích với đầy đủ những yếu tố cấu thành, như lý luận xây dựng Đảng về đạo đức (khái niệm, vai trò, đặc điểm, nội dung, phương thức, quan điểm, nguyên tắc, nhận diện sự suy thoái về đạo đức...); thực trạng đạo đức trong Đảng và thực trạng công tác xây dựng Đảng về đạo đức (ưu, khuyết điểm, nguyên nhân và những kinh nghiệm); phương hướng và giải pháp xây dựng Đảng về đạo đức trong thời gian tới... 
Xây dựng Đảng về đạo đức là hoạt động của các tổ chức đảng, đảng viên về xây dựng, hoàn thiện những chuẩn mực đạo đức cách mạng; giáo dục, rèn luyện đạo đức cho đội ngũ đảng viên, tạo sự thống nhất trong nhận thức, nâng cao ý thức tự giác rèn luyện, tu dưỡng và thực hành đạo đức cách mạng; đấu tranh chống nhận thức và hành động phi đạo đức và các quan điểm sai trái, thù địch về đạo đức, lối sống, góp phần giữ gìn, phát huy những giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc, xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. 
Nội dung cụ thể xây dựng Đảng về đạo đức được thể hiện như sau:
Trước hết, xây dựng những chuẩn mực đạo đức cách mạng cho tổ chức đảng và đảng viên.
Đạo đức là những chuẩn mực ứng xử do cộng đồng xã hội thừa nhận và hành động theo những chuẩn mực đó, thời nào cũng có và quốc gia nào cũng có. Điểm nhấn về đạo đức trong Đảng là đạo đức cách mạng xoay quanh những chuẩn mực giá trị: Cần - Kiệm - Liêm - Chính và những nguyên tắc sống: chí công, vô tư. Đạo đức đó đối lập với chủ nghĩa cá nhân, cho nên muốn xây dựng đạo đức cách mạng thì đồng thời và kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân. 
Xây dựng Đảng về đạo đức với những chuẩn mực giá trị đạo đức cách mạng đòi hỏi đạo đức trong Đảng phải trở thành phương châm hành động, vì lợi ích của nhân dân và vì thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 
Chuẩn mực đạo đức của mỗi tổ chức là những giá trị xã hội mà tổ chức hướng tới. Mỗi tổ chức đều phải tạo dựng hình ảnh cho mình. Hình ảnh đó mang tính ổn định, đặc trưng trong suốt quá trình ra đời, tồn tại và phát triển. Đó là những chân giá trị riêng do người sáng lập đưa ra, các thành viên trong tổ chức thuộc các thế hệ tự nguyện, thừa nhận, tôn trọng, giữ gìn và phát huy trong suốt thời gian công tác. 
Tổ chức đảng là cầu nối giữa Trung ương Đảng với nhân dân, là cơ quan lãnh đạo địa phương, đơn vị nên các giá trị về chuẩn mực đạo đức của tổ chức đảng là rất cần thiết và cần phải được đặc biệt quan tâm. Với vai trò là lực lượng lãnh đạo, tổ chức đảng phải thực sự là chuẩn mực về việc tuân thủ các nguyên tắc hoạt động, trung tâm đoàn kết và bao gồm những người sống thực sự “có tình có nghĩa”; mẫu mực nhất trong thực hiện tự phê bình và phê bình vì sự phát triển của mỗi người và vì sự vững mạnh của tổ chức. Là cơ quan quyết định các chính sách, chủ trương, quyết định các vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống kinh tế - xã hội của nhân dân, của địa phương, đất nước, vì thế, tính nhân văn của tổ chức đảng nằm ngay trong quá trình nghiên cứu, thảo luận và ban hành các quyết định thuộc thẩm quyền. Chuẩn mực đạo đức của mỗi tổ chức tạo thành văn hóa tổ chức - văn hóa đảng, nó đối lập với chủ nghĩa hình thức, bệnh quan liêu, lợi ích nhóm, tình trạng bè cánh trong tổ chức. Tình trạng độc đoán, chuyên quyền, mất đoàn kết hay những chủ trương sai lầm do tầm nhìn hạn hẹp và lợi ích nhóm chi phối chính là những hành vi vô đạo đức của một tổ chức đảng.
Chuẩn mực đạo đức của người đảng viên thống nhất với lý tưởng của Đảng; có tinh thần yêu nước, lòng trung thành, làm gương, nêu gương, danh dự, tinh thần bảo vệ lẽ phải, phê phán, đấu tranh với sai trái. Những chuẩn mực đạo đức được đúc kết, dễ nhớ, dễ thực hành sẽ làm nền tảng, là căn cứ cho mọi tổ chức đảng và đảng viên trong hành động. 
Theo đó, từ những chuẩn mực đạo đức tốt đẹp của dân tộc, của nhân loại nói chung, mỗi cấp, mỗi ngành cần căn cứ vào các quy định về tư cách của người đảng viên trong Điều lệ Đảng, Quy định những điều đảng viên không được làm hay không mắc những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống được chỉ rõ trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII để xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng cho tổ chức của mình, chuẩn hóa hành vi đạo đức của cán bộ, đảng viên sát với yêu cầu thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao. Ví dụ: chuẩn mực đạo đức của chiến sĩ công an, của anh bộ đội cụ Hồ, đạo đức của người thầy giáo, thầy thuốc, của doanh nhân... Đối với cán bộ, công chức, cần xác định rõ tinh thần trách nhiệm, bổn phận phục vụ nhân dân, tinh thần tiết kiệm chống tham nhũng, lãng phí và mối quan hệ với tập thể, cộng đồng và toàn xã hội. 
Hai là, tuyên truyền, giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành vi đạo đức. 
Xây dựng Đảng về đạo đức được tiến hành thông qua giáo dục, tuyên truyền vai trò, nội dung đạo đức để nâng cao nhận thức, để mỗi đảng viên tự giác rèn luyện, tu dưỡng, gương mẫu, làm gương, nêu gương về đạo đức. 
Giáo dục, rèn luyện đạo đức không chỉ trên trường lớp mà còn trong cả môi trường lao động, chiến đấu và sinh hoạt đời thường; học tập mọi lúc, mọi nơi, học tập suốt đời. 
Giáo dục đạo đức phải kiên trì, thường xuyên vì sự thay đổi tư duy, quan niệm giá trị đạo đức là một quá trình khó khăn, lâu dài. Không phải ai cũng dễ dàng đồng thuận với những tiêu chí, chuẩn mực đạo đức mới vì những ảnh hưởng về văn hóa truyền thống, tập quán của địa phương, dòng họ và gia đình hay những vấn đề về tín ngưỡng, tôn giáo, thậm chí là lợi ích cá nhân chi phối.
Trong giáo dục đạo đức cách mạng, phải coi trọng học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, học tập các tấm gương tiêu biểu của dân tộc, của ngành mình, địa phương mình. Các cấp ủy đảng phải lãnh đạo tổ chức đảng, đảng viên, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, các cơ quan thông tấn, báo chí tuyên truyền, cổ vũ những tấm gương đạo đức, kiến tạo môi trường lành mạnh trong Đảng và xã hội; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng và phát huy vai trò của nhân dân trong giám sát và phản biện xã hội thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội. 
Khi xây dựng được chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, cần công khai, tuyên truyền, vận động thực hiện, cổ vũ, khích lệ những tấm gương mẫu mực về đạo đức. Chuẩn mực đạo đức đó phải luôn được kiểm điểm, nhắc nhở nhau qua sinh hoạt của tổ chức đảng, của tập thể người lao động. Mỗi đảng viên, nhất là đảng viên là cán bộ lãnh đạo, quản lý cần xây dựng kế hoạch rèn luyện đạo đức cách mạng hằng ngày và tu dưỡng đạo đức cách mạng suốt đời; hình thành phương thức làm chủ bản thân, kiểm soát các ham muốn vật chất và tham vọng quyền lực, nâng cao ý thức cảnh giác, không một phút lơ là trước cám dỗ, cạm bẫy, phòng ngừa nguy cơ rệu rã tâm lý, sống buông thả trước tiền tài, quyền lực, dục vọng.
Làm gương, nêu gương là cách giáo dục đạo đức tốt nhất đối với cán bộ, đảng viên, nhất là việc làm gương của người lãnh đạo, quản lý. Phương châm giáo dục đạo đức là làm gương, nêu gương: “một tấm gương sáng bằng hàng trăm bài diễn văn tuyên truyền”. 
Ba là, đấu tranh tự phê bình và phê bình trong nội bộ về giữ gìn chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.
Chủ tịch Hồ Chí Minh coi tự phê bình và phê bình trong Đảng như việc “rửa mặt hằng ngày”. Người đòi hỏi phải “quét sạch”, phải “tẩy bỏ”, phải “đánh bại giặc nội xâm”, “căn bệnh gốc, bệnh mẹ đẻ ra trăm thứ bệnh con, xấu xa, hư hỏng, lỗi thời” của con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân.”(4). 
Tự phê bình và phê bình là tất yếu khách quan, trở thành quy luật phát triển của Đảng. Tự phê bình, phê bình trong Đảng chủ yếu diễn ra ở chi bộ mà đảng viên sinh hoạt và các cấp ủy đảng mà đảng viên tham gia. Vì vậy phải tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức để nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ. Xây dựng quy định tự phê bình và phê bình, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm và bảo vệ người thẳng thắn, dám đấu tranh cho lẽ phải. Ở những nơi có vấn đề phức tạp, nơi có biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hoặc những nơi có vấn đề về đoàn kết, nhất là khi cán bộ chủ chốt có khuyết điểm, cấp trên cần chủ động gợi ý kiểm điểm và trực tiếp dự, chỉ đạo.
Bốn là, phát huy tính tự giác rèn luyện, tu dưỡng và thực hành đạo đức cách mạng của mỗi cán bộ, đảng viên. 
Với mỗi người, phải rèn đủ cả bốn đức: cần - kiệm - liêm - chính, phải đủ cả bốn đức mới là người hoàn toàn, thiếu một đức thì không thành người. Nếu đào tạo cán bộ là “công việc gốc” của Đảng thì việc giáo dục, rèn luyện cán bộ hằng ngày, phải lấy đức làm gốc. Tài là quan trọng, có đức phải có tài nhưng đức là gốc, là hàng đầu, tài phải được bảo đảm bằng đạo đức và bởi đạo đức.
Trong phương châm hành động, thực hành lối sống và thái độ ứng xử, yêu cầu về đạo đức đó là phải trung thực, khiêm tốn, giản dị, trách nhiệm, có lòng chân thành, có đức bao dung, có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau. Phải nói ít làm nhiều, lời nói đi đôi với việc làm, đã nói thì phải làm, không được làm gì tổn hại tới uy tín, thanh danh của Đảng, tới lợi ích và quyền làm chủ của nhân dân. Phải biết trọng liêm sỉ, danh dự, khí tiết, trong sáng, chính trực, không có gì mờ ám, khuất tất. Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao sự gương mẫu, tính tiên phong “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Người căn dặn cán bộ, đảng viên, nhất là thanh niên tuổi trẻ, phải cần cù và chịu khó, siêng năng và tiết kiệm, chỉ ham muốn phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân, ham học, ham làm, ham tiến bộ; không ham tiền tài, không ham danh vọng, địa vị, quyền chức. Nếu cá nhân cán bộ, đảng viên tự mình không làm chủ được, thì dễ rơi vào hư hỏng, thậm chí vi phạm pháp luật. Cho nên, người có đạo đức gương mẫu là người có đức hy sinh, có lòng vị tha, nhân ái, không vị kỷ, vụ lợi, vượt qua những cám dỗ tầm thường cá nhân chủ nghĩa, tuyệt đối không tham vọng quyền lực.
Đạo đức của Đảng và trong Đảng là đạo đức cách mạng, xa lạ với chủ nghĩa cá nhân và phải suốt đời chống chủ nghĩa cá nhân - “giặc nội xâm” ở trong lòng, chú trọng phát triển mọi khả năng sáng tạo của cá nhân, quan tâm tới lợi ích cá nhân nhưng kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân. Đạo đức cách mạng thể hiện ở cách ứng xử hằng ngày của mỗi người đối với công việc, sinh hoạt hay giao tiếp nên nó gắn bó suốt đời với mỗi cán bộ, đảng viên. Chính vì thế mà mỗi người phải tu dưỡng, tạo dựng, rèn luyện và giữ gìn đạo đức cách mạng suốt đời. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”(5).
Năm là, tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý kỷ luật cán bộ, đảng viên vi phạm đạo đức cách mạng.
Giáo dục nâng cao ý thức chấp hành pháp luật và các quy định của Đảng đối với tổ chức đảng và đảng viên đồng thời phải tăng cường công tác kiểm tra tổ chức đảng, đảng viên thực hiện Cương lĩnh, Điều lệ Đảng và các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và của nhân dân trong phát hiện những đảng viên vi phạm phẩm chất đạo đức, tham nhũng, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân. 
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật. Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân, thì dân mới yêu ta, kính ta”(6).
Tăng cường kiểm tra, giám sát cũng là tăng cường kiểm soát quyền lực trong điều kiện Đảng cầm quyền. Không một cá nhân nào, tổ chức nào của Đảng được phép đặt mình ra ngoài sự kiểm tra, giám sát của Đảng, pháp luật của Nhà nước và của nhân dân. Siết chặt nguyên tắc tập trung dân chủ, thống nhất và bình đẳng trong thực thi Điều lệ Đảng và pháp luật của Nhà nước đối với mọi cán bộ, đảng viên của hệ thống chính trị, không có “vùng cấm”, “hạ cánh an toàn”, không có “đặc quyền” hay ngoại lệ.
Không thể để bất cứ cán bộ, đảng viên nào nằm ngoài sự kiểm tra của tổ chức, sự giám sát của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân, ở bất cứ đâu, trên bất cứ phương diện hoạt động, trên lĩnh vực công tác và địa bàn sinh sống nào... Phát huy dân chủ một cách đúng hướng và thật sự rộng rãi là điều tối cần thiết, nếu không nói là nhân tố quyết định thành công. Xây dựng và thực hiện cơ chế bảo vệ, khuyến khích người dân phản ánh, tố giác và tích cực đấu tranh phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. 
Thiết lập, hoàn thiện định chế xử lý kịp thời cho tất cả công tác kiểm tra, giám sát của các cấp ủy, của bộ máy đảng, của nhân dân đối với mỗi cấp ủy, mỗi tổ chức, mỗi cán bộ, đảng viên. Cùng với việc đổi mới công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức, các cấp ủy, các tổ chức đảng hết sức chú trọng tiếp thu ý kiến góp ý của nhân dân, sự phát hiện của công luận về cán bộ, đảng viên, nhất là đảng viên thuộc quyền quản lý của mình một cách toàn diện, theo hướng chặt chẽ, minh bạch. 
Sáu là, đấu tranh chống nhận thức và hành động phi đạo đức và các quan điểm sai trái, thù địch về đạo đức, lối sống.
Đấu tranh với các quan niệm sai trái, phản động đi ngược lại các giá trị đạo đức cách mạng, như chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa hưởng lạc, chủ nghĩa vị kỷ, chủ nghĩa tự do. Trong điều kiện thông tin nhiều chiều, cần phải hết sức cảnh giác chống lại những luận điệu xuyên tạc của chúng. Hơn nữa, trong điều kiện hội nhập quốc tế, thực hiện chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mặt trái của nền kinh tế thị trường đã làm cho nhiều chuẩn mực đạo đức thay đổi theo chiều hướng tiêu cực.
Như vậy, yêu cầu đấu tranh chống tư tưởng của các thế lực thù địch trong tuyên truyền về lối sống thực dụng, vụ lợi với chủ nghĩa cá nhân - “giặc nội xâm” phá hoại Đảng từ bên trong ngày càng trở nên phức tạp và cấp bách. Do vậy, cần chủ động thông tin trung thực, kiên trì, thường xuyên những chuẩn mực đạo đức tốt đẹp của dân tộc, những chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Đồng thời, trên cơ sở khoa học làm rõ những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, đấu tranh trên lĩnh vực nhận thức về những chuẩn mực đạo đức, lối sống để tạo nên truyền thống đạo đức mới của con người mới xã hội chủ nghĩa.
Cần xây dựng ý thức đạo đức cách mạng và tổ chức thực hành đạo đức cách mạng; chuyển hóa các quan điểm, tư tưởng đạo đức cách mạng thành tình cảm đạo đức cách mạng (về lẽ sống, nghĩa vụ, lương tâm, danh dự...); biến các đòi hỏi của Đảng và xã hội đối với người đảng viên thành nhu cầu nội tâm, hành vi tự giác rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng suốt đời, trong phong cách công tác và lối sống đời thường. Đó cũng là cách miễn dịch tốt nhất trước những luận điệu tuyên truyền của các thế lực thù địch.
Bảy là, phát huy vai trò của nhân dân trong xây dựng Đảng về đạo đức.
Các cấp ủy, chính quyền phải nhận thức sâu sắc, quán triệt và thực hiện nghiêm Quyết định số 217-QĐ/TW về Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội và Quyết định số 218-QĐ/TW, ngày 12-12-2013, của Bộ Chính trị quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Xây dựng các cơ chế bảo đảm và phát huy vai trò của nhân dân trong công tác xây dựng Đảng, nhất là xây dựng đội ngũ đảng viên về phẩm chất đạo đức, lối sống, tinh thần nêu gương và giữ mối liên hệ mật thiết với nhân dân. 
Xây dựng Đảng về đạo đức hiện nay góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(7). /. 
-----------------------------------------------------
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 15, tr. 611 - 612
(2) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, t. 37, tr. 625
(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội 2016, tr. 202
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 672
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 612
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 64 - 65
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 611 - 612
Nguyễn Minh Tuấn
PGS, TS, Viện trưởng Viện Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2018/51513/Ban-them-noi-dung-xay-dung-Dang-ve-dao-duc.aspx


NẮM VỮNG TÍNH QUY LUẬT CỦA SỰ HÌNH THÀNH,
CHỦ ĐỘNG XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG VÀ ĐIỀU KIỆN
 ĐỂ THỰC THI TRONG THỰC TIỄN HỆ GIÁ TRỊ VĂN HÓA,
HỆ GIÁ TRỊ CHUẨN MỰC CON NGƯỜI VIỆT NAM
TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
Tổng kết thực tiễn 30 năm đổi mới toàn diện đất nước, nhận thức lý luận của Đảng ta trong lĩnh vực văn hóa tiếp tục có bước phát triển đột phá khi xác định gắn xây dựng văn hóa với xây dựng con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước với quan điểm phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa. Trong xây dựng văn hóa trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp.
Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9-6-2014, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” xác định mục tiêu chung là xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng tới chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Một trong những mục tiêu cụ thể được Nghị quyết đề ra là hoàn thiện các chuẩn mực giá trị văn hóa và con người Việt Nam, tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, thể chất, tâm hồn, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật, đề cao tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, lương tâm, trách nhiệm của mỗi người với bản thân mình, với gia đình, cộng đồng, xã hội và đất nước.
Để thực hiện mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể trên, vấn đề có ý nghĩa quyết định là nắm vững tính quy luật của sự hình thành và hoàn thiện hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, phát triển bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tính quy luật của sự hình thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội mới là kế thừa, phát huy các giá trị truyền thống, bản sắc dân tộc, kết hợp với tiếp thu chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại. Tính quy luật này là định hướng có tính nguyên tắc cho quy trình xác lập hệ giá trị và chuẩn mực xã hội mới.
Trên cơ sở tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết hội nghị Trung ương 5 khóa VIII “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” và nhận thức sâu sắc quy luật hình thành hệ giá trị chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, trong Nghị quyết số 33-NQ/TW “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, Đảng ta đã xác định những nội dung cốt lõi của hệ giá trị chuẩn mực của con người Việt Nam thời kỳ mới là yêu nước, nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật. Sự khái quát những nội dung cốt lõi của hệ giá trị chuẩn mực con người Việt Nam trên đây vừa phản ánh sự kế thừa các giá trị truyền thống, bản sắc con người Việt Nam, vừa bước đầu có bổ sung, phát triển một số giá trị đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Trên cơ sở những nội dung cốt lõi này cần xác lập hệ giá trị chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ mới, như chuẩn mực giá trị lòng yêu nước hiện nay là có tinh thần tự hào, tự trọng, tự tôn, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí, có khát vọng phát triển đất nước trở thành nước công nghiệp, hiện đại, đoàn kết với nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Nội dung cốt lõi của chuẩn mực lao động trong thời kỳ mới là lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, lao động có kỹ thuật, sáng tạo, có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao; lao động với tinh thần liên kết, hợp tác vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội...
Sau khi cơ bản hình thành hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới, vấn đề có ý nghĩa quyết định là tự giác, chủ động xây dựng môi trường và điều kiện để thực thi trong thực tiễn, hay nói một cách khác để hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị chuẩn mực con người Việt Nam định hướng mục tiêu, phương thức và hành động của mỗi con người, trên cơ sở đó hệ giá trị này tham gia điều tiết sự phát triển của xã hội:
1- Môi trường và điều kiện cơ bản, quan trọng hàng đầu để giáo dục, đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học đó là môi trường giáo dục - đào tạo.
Sau hơn 20 năm thực hiện định hướng chính sách giáo dục và đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII “Về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000”, chúng ta đã đạt được những kết quả rất quan trọng nhưng cũng còn nhiều bất cập, hạn chế, yếu kém cần khắc phục như chất lượng, hiệu quả giáo dục đào tạo còn thấp, nhất là giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp; hệ thống giáo dục đào tạo thiếu liên thông, còn nặng về lý thuyết và nhẹ về thực hành; đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, với sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động, chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc; phương pháp giáo dục, việc thi, kiểm tra, đánh giá kết quả còn lạc hậu, thiếu thực chất, quản lý giáo dục đạo đức còn nhiều yếu kém, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu, một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí vi phạm đạo đức nghề nghiệp; đầu tư cho giáo dục và đào tạo chưa hiệu quả, chính sách, cơ chế, tài chính cho giáo dục đào tạo chưa phù hợp, cơ sở vật chất kỹ thuật còn thiếu và lạc hậu, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Để thực hiện mục tiêu tổng quát về giáo dục - đào tạo, tạo chuyển biến căn bản và mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục đào tạo đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì nhu cầu học tập của nhân dân, giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, tình yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, sống tốt và làm việc hiệu quả, hơn lúc nào hết phải thực sự tự giác, chủ động, tích cực thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04-11-2013, “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”. Phải nắm vững 7 quan điểm chỉ đạo, nhất là quan điểm giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục - đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các ngành học, bậc học. Trong quá trình đổi mới cần kế thừa và phát huy những thành tựu, phát triển những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới; kiên quyết chấn chỉnh những nhận thức và việc làm lệch lạc. Đổi mới phải bảo đảm tính hệ thống, tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp học; các giải pháp phải đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, bước đi phù hợp. Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. Phát triển giáo dục đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học - công nghệ; phù hợp quy luật khách quan; chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng.
Trên cơ sở nắm vững các quan điểm chỉ đạo, cần xây dựng được chương trình hành động thực hiện 9 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, khả thi. Đến nay, Nghị quyết này đã ban hành hơn 4 năm nhưng kết quả thực hiện còn khiêm tốn và bộc lộ không ít bất cập. Tình hình này yêu cầu Đảng cần tiến hành kiểm tra toàn diện việc thực hiện Nghị quyết, tạo các nguồn lực mới cho sự nghiệp đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo. Sau khi Đảng có đường lối, cán bộ là nhân tố quyết định đưa nghị quyết vào cuộc sống. Do đó cần làm rõ trách nhiệm của đội ngũ cán bộ trực tiếp thực hiện 9 nhiệm vụ, giải pháp đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo. Khi 9 nhiệm vụ, giải pháp được thực hiện, môi trường giáo dục và đào tạo mới được hình thành và vận hành thông suốt thì hằng ngày, hàng giờ hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị chuẩn mực con người Việt Nam mới sẽ không ngừng được truyền bá, được bồi dưỡng để thấm sâu vào từng con người, nhất là học sinh, sinh viên. Môi trường học phải thực sự là một trung tâm văn hóa giáo dục - rèn luyện con người về lý tưởng, phẩm chất, nhân cách, lối sống, giáo dục truyền thống văn hóa...
2- Gia đình là tế bào của xã hội, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp chống lại những tác nhân làm tha hóa con người, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do đó trên cơ sở sơ kết 5 năm thực hiện Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030, các cấp, các ngành phải bổ sung chương trình hành động, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ chủ yếu của Chiến lược. 
Công tác gia đình là một nội dung quan trọng trong kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế - xã hội của các cấp, các ngành, các địa phương, các cơ quan, doanh nghiệp, do đó các cấp, các ngành, các địa phương, các cơ quan doanh nghiệp phải gắn chặt thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm với thực hiện các nội dung trong Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam. Trên cơ sở quán triệt, nắm vững mục tiêu xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, các cấp, các ngành, các địa phương, cơ quan đơn vị, doanh nghiệp khi triển khai thực hiện Chiến lược phát triển gia đình cần tập trung làm tốt một số nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, tổ chức giáo dục, tuyên truyền nhằm trang bị kiến thức cơ bản về gia đình cho nam, nữ thanh niên trước khi kết hôn. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần phối hợp chặt chẽ với Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam... để chủ động tổ chức tốt các lớp bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, chống bạo lực gia đình, thực hiện bình đẳng giới.
Thứ hai, tăng cường và tổ chức hiệu quả các hoạt động tuyên truyền và thực hiện Luật Hôn nhân và gia đình, Chính sách Dân số và phát triển, Luật Bình đẳng giới, phong trào xây dựng gia đình văn hóa... nhằm thực hiện đầy đủ các quyền, trách nhiệm của các thành viên trong gia đình, đặc biệt đối với trẻ em, người cao tuổi, phụ nữ có thai, nuôi con nhỏ; trách nhiệm của các gia đình trong việc dành thời gian chăm sóc dạy bảo con cháu, tạo điều kiện cho con cháu phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, đạo đức và tinh thần.
Thứ ba, các ngành phối hợp chặt chẽ với các hội để tổ chức tuyên truyền, bồi dưỡng, nâng cao năng lực của gia đình trong phát triển kinh tế, ứng phó với thiên tai, tạo việc làm, tăng thu nhập và phúc lợi, đặc biệt là đối với các hộ gia đình chính sách, hộ nghèo.
Như vậy, khi các nhiệm vụ của Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 được tích cực triển khai gắn chặt với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, chắc chắn chúng ta sẽ nhận được kết quả tích cực của mối quan hệ biện chứng là mỗi bước tăng trưởng, phát triển bền vững của nền kinh tế - xã hội sẽ gắn liền với sự phát triển gia đình theo hướng ấm no, tiến bộ, hạnh phúc.
3- Xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một nhiệm vụ chiến lược, là khâu đột phá quan trọng, tạo động lực để phát triển nhanh và bền vững, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Nếu cơ chế này được xây dựng, hoàn thiện và hoạt động thông suốt sẽ là môi trường, điều kiện có ý nghĩa quyết định để hình thành, phát triển các phẩm chất tốt đẹp cho mọi người lao động, như tính tích cực, năng động sáng tạo, tính thực tế, tính hiệu quả, tính cạnh tranh lành mạnh, tính chủ động liên kết hợp tác và ý thức thượng tôn pháp luật.
Do đó cần tập trung xây dựng môi trường kinh tế mà trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu đến năm 2020 hoàn thiện một bước đồng bộ hơn thể chế này theo các chuẩn mực phổ biến của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế, trong đó cơ bản phải tiếp tục hoàn thiện thể chế về sở hữu, phát triển các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp. Cơ bản hoàn thiện thể chế phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường (thị trường hàng hóa, dịch vụ, thị trường văn hóa, thị trường tài chính, thị trường khoa học - công nghệ, thị trường bất động sản, thị trường lao động). Cơ bản hoàn thiện thể chế gắn kết tăng trưởng kinh tế với bảo đảm phát triển bền vững, tiến bộ và công bằng xã hội, quốc phòng - an ninh, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. Hoàn thiện cơ chế đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế.
4- Xây dựng môi trường văn hóa trong các cơ quan, đơn vị của hệ thống chính trị phải coi trọng chăm lo xây dựng văn hóa trong Đảng, trong các cơ quan nhà nước và các đoàn thể. Đây là giải pháp quan trọng để xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, là điều kiện cơ bản để bồi dưỡng, giáo dục, huấn luyện xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức, tận tụy hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, có ý thức thượng tôn pháp luật, dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương, tự do cá nhân gắn với trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân.
5- Xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật là xây dựng và phát triển một lĩnh vực rất quan trọng, đặc biệt tinh tế của văn hóa, là nhu cầu thiết yếu thể hiện khát vọng chân - thiện - mỹ của con người, là một trong những động lực to lớn trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam.
Để tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới cần quán triệt sâu sắc 3 quan điểm chỉ đạo để thực hiện đồng bộ các chủ trương, giải pháp trong Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 16-6-2008, của Bộ chính trị “Về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới”, phấn đấu xây dựng văn học, nghệ thuật Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, cần thực sự chăm lo phát triển đội ngũ văn nghệ sĩ có tài năng có tâm huyết gắn bó với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, sáng tạo nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật. Phát triển mạnh mẽ hoạt động lý luận phê bình đồng hành, thẩm định và định hướng cho sáng tạo và tiếp nhận của công chúng. Với nền văn học, nghệ thuật phát triển sẽ là môi trường rất tốt đẹp trực tiếp bồi dưỡng tâm hồn tình cảm xây dựng nhân cách con người Việt Nam đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng về chân thiện mỹ của các tầng lớp nhân dân, phục vụ có hiệu quả sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
Đào Duy Quát 
PGS, TS, nguyên Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương
http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2018/51559/Nam-vung-tinh-quy-luat-cua-su-hinh-thanh-chu-dong-xay.aspx

Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...