Thứ Tư, 18 tháng 7, 2018


BÀN THÊM NỘI DUNG XÂY DỰNG ĐẢNG VỀ ĐẠO ĐỨC
Đã quá nửa nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng, các cơ quan nghiên cứu, cơ quan tham mưu, các tổ chức đảng cũng mới chỉ dành nhiều thời lượng để nói đến vấn đề đạo đức, lối sống của cá nhân cán bộ, đảng viên theo 9 dấu hiệu nhận biết mà Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã vạch ra. Những vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng Đảng về đạo đức, nhất là nội dung xây dựng Đảng về đạo đức vẫn chưa thực sự được làm sáng tỏ, chưa nhất quán và chưa tương xứng với nội dung xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức.
Không phải đến bây giờ Đảng ta mới nói đến vấn đề đạo đức trong công tác xây dựng Đảng mà sách “Đường Cách mệnh” - “cuốn giáo trình đầu tiên” do chính Nguyễn Ái Quốc biên soạn và giảng dạy cho các thanh niên yêu nước để vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đã viết về “Tư cách một người cách mệnh”. Đó là một trong 15 vấn đề của cuốn sách và được viết ngay từ trang đầu với đầy đủ các mối quan hệ xác định của đạo đức: đối với tự mình, đối với người và đối với việc. 
Ngay từ những năm đầu cầm quyền của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận ra những khuyết điểm, nguy cơ thoái hóa, biến chất, quan liêu, xa dân của một bộ phận cán bộ, đảng viên do thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng. Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” - “cuốn giáo trình thứ hai” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh biên soạn và triển khai học tập trong toàn Đảng cũng dành hẳn 1 chương nói về “Tư cách và đạo đức cách mạng” trong 6 chương của cuốn sách.
Trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thường xuyên cảnh báo, nhắc nhở, răn dạy cán bộ, đảng viên về đạo đức cách mạng bằng rất nhiều bài phát biểu, bài viết trên báo. Đặc biệt, tại Lễ kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng, Người khẳng định: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”; và trong “Di chúc”, vấn đề đạo đức cách mạng được viết nghiêng trong những lời căn dặn căn cốt nhất về xây dựng Đảng: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(1).
Tuy vậy, từ khi giải phóng hoàn toàn đất nước, Đảng cầm quyền trên phạm vi cả nước, vấn đề đạo đức trong xây dựng Đảng lại chưa được đặt xứng tầm. Tại Đại hội IV (năm 1976) Đảng ta mới chỉ xác định phương châm “phải xây dựng Đảng vững mạnh về cả ba mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức”(2). Công tác giáo dục, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên thường chỉ được đề cập một cách khiêm tốn trong nội dung xây dựng Đảng về tư tưởng. 
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, từ Đại hội VI của Đảng đến nay, không có nhiệm kỳ nào mà Đảng ta không đề cập đến tình trạng suy thoái về đạo đức của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, coi đó là một trong 4 nguy cơ đe dọa đến vai trò lãnh đạo của một đảng cầm quyền. Vì thế, tại Đại hội XII của Đảng (năm 2016), vấn đề xây dựng Đảng về đạo đức lần đầu tiên được nhắc đến với tư cách là “mặt thứ tư” trong công tác xây dựng Đảng để trở thành một chỉnh thể: “Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức”(3).
Để nghiên cứu xây dựng Đảng về đạo đức ngang tầm với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, cần nhất quán về sử dụng phương pháp tiếp cận tương thích với đầy đủ những yếu tố cấu thành, như lý luận xây dựng Đảng về đạo đức (khái niệm, vai trò, đặc điểm, nội dung, phương thức, quan điểm, nguyên tắc, nhận diện sự suy thoái về đạo đức...); thực trạng đạo đức trong Đảng và thực trạng công tác xây dựng Đảng về đạo đức (ưu, khuyết điểm, nguyên nhân và những kinh nghiệm); phương hướng và giải pháp xây dựng Đảng về đạo đức trong thời gian tới... 
Xây dựng Đảng về đạo đức là hoạt động của các tổ chức đảng, đảng viên về xây dựng, hoàn thiện những chuẩn mực đạo đức cách mạng; giáo dục, rèn luyện đạo đức cho đội ngũ đảng viên, tạo sự thống nhất trong nhận thức, nâng cao ý thức tự giác rèn luyện, tu dưỡng và thực hành đạo đức cách mạng; đấu tranh chống nhận thức và hành động phi đạo đức và các quan điểm sai trái, thù địch về đạo đức, lối sống, góp phần giữ gìn, phát huy những giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc, xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. 
Nội dung cụ thể xây dựng Đảng về đạo đức được thể hiện như sau:
Trước hết, xây dựng những chuẩn mực đạo đức cách mạng cho tổ chức đảng và đảng viên.
Đạo đức là những chuẩn mực ứng xử do cộng đồng xã hội thừa nhận và hành động theo những chuẩn mực đó, thời nào cũng có và quốc gia nào cũng có. Điểm nhấn về đạo đức trong Đảng là đạo đức cách mạng xoay quanh những chuẩn mực giá trị: Cần - Kiệm - Liêm - Chính và những nguyên tắc sống: chí công, vô tư. Đạo đức đó đối lập với chủ nghĩa cá nhân, cho nên muốn xây dựng đạo đức cách mạng thì đồng thời và kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân. 
Xây dựng Đảng về đạo đức với những chuẩn mực giá trị đạo đức cách mạng đòi hỏi đạo đức trong Đảng phải trở thành phương châm hành động, vì lợi ích của nhân dân và vì thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 
Chuẩn mực đạo đức của mỗi tổ chức là những giá trị xã hội mà tổ chức hướng tới. Mỗi tổ chức đều phải tạo dựng hình ảnh cho mình. Hình ảnh đó mang tính ổn định, đặc trưng trong suốt quá trình ra đời, tồn tại và phát triển. Đó là những chân giá trị riêng do người sáng lập đưa ra, các thành viên trong tổ chức thuộc các thế hệ tự nguyện, thừa nhận, tôn trọng, giữ gìn và phát huy trong suốt thời gian công tác. 
Tổ chức đảng là cầu nối giữa Trung ương Đảng với nhân dân, là cơ quan lãnh đạo địa phương, đơn vị nên các giá trị về chuẩn mực đạo đức của tổ chức đảng là rất cần thiết và cần phải được đặc biệt quan tâm. Với vai trò là lực lượng lãnh đạo, tổ chức đảng phải thực sự là chuẩn mực về việc tuân thủ các nguyên tắc hoạt động, trung tâm đoàn kết và bao gồm những người sống thực sự “có tình có nghĩa”; mẫu mực nhất trong thực hiện tự phê bình và phê bình vì sự phát triển của mỗi người và vì sự vững mạnh của tổ chức. Là cơ quan quyết định các chính sách, chủ trương, quyết định các vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống kinh tế - xã hội của nhân dân, của địa phương, đất nước, vì thế, tính nhân văn của tổ chức đảng nằm ngay trong quá trình nghiên cứu, thảo luận và ban hành các quyết định thuộc thẩm quyền. Chuẩn mực đạo đức của mỗi tổ chức tạo thành văn hóa tổ chức - văn hóa đảng, nó đối lập với chủ nghĩa hình thức, bệnh quan liêu, lợi ích nhóm, tình trạng bè cánh trong tổ chức. Tình trạng độc đoán, chuyên quyền, mất đoàn kết hay những chủ trương sai lầm do tầm nhìn hạn hẹp và lợi ích nhóm chi phối chính là những hành vi vô đạo đức của một tổ chức đảng.
Chuẩn mực đạo đức của người đảng viên thống nhất với lý tưởng của Đảng; có tinh thần yêu nước, lòng trung thành, làm gương, nêu gương, danh dự, tinh thần bảo vệ lẽ phải, phê phán, đấu tranh với sai trái. Những chuẩn mực đạo đức được đúc kết, dễ nhớ, dễ thực hành sẽ làm nền tảng, là căn cứ cho mọi tổ chức đảng và đảng viên trong hành động. 
Theo đó, từ những chuẩn mực đạo đức tốt đẹp của dân tộc, của nhân loại nói chung, mỗi cấp, mỗi ngành cần căn cứ vào các quy định về tư cách của người đảng viên trong Điều lệ Đảng, Quy định những điều đảng viên không được làm hay không mắc những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống được chỉ rõ trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII để xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng cho tổ chức của mình, chuẩn hóa hành vi đạo đức của cán bộ, đảng viên sát với yêu cầu thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao. Ví dụ: chuẩn mực đạo đức của chiến sĩ công an, của anh bộ đội cụ Hồ, đạo đức của người thầy giáo, thầy thuốc, của doanh nhân... Đối với cán bộ, công chức, cần xác định rõ tinh thần trách nhiệm, bổn phận phục vụ nhân dân, tinh thần tiết kiệm chống tham nhũng, lãng phí và mối quan hệ với tập thể, cộng đồng và toàn xã hội. 
Hai là, tuyên truyền, giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành vi đạo đức. 
Xây dựng Đảng về đạo đức được tiến hành thông qua giáo dục, tuyên truyền vai trò, nội dung đạo đức để nâng cao nhận thức, để mỗi đảng viên tự giác rèn luyện, tu dưỡng, gương mẫu, làm gương, nêu gương về đạo đức. 
Giáo dục, rèn luyện đạo đức không chỉ trên trường lớp mà còn trong cả môi trường lao động, chiến đấu và sinh hoạt đời thường; học tập mọi lúc, mọi nơi, học tập suốt đời. 
Giáo dục đạo đức phải kiên trì, thường xuyên vì sự thay đổi tư duy, quan niệm giá trị đạo đức là một quá trình khó khăn, lâu dài. Không phải ai cũng dễ dàng đồng thuận với những tiêu chí, chuẩn mực đạo đức mới vì những ảnh hưởng về văn hóa truyền thống, tập quán của địa phương, dòng họ và gia đình hay những vấn đề về tín ngưỡng, tôn giáo, thậm chí là lợi ích cá nhân chi phối.
Trong giáo dục đạo đức cách mạng, phải coi trọng học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, học tập các tấm gương tiêu biểu của dân tộc, của ngành mình, địa phương mình. Các cấp ủy đảng phải lãnh đạo tổ chức đảng, đảng viên, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, các cơ quan thông tấn, báo chí tuyên truyền, cổ vũ những tấm gương đạo đức, kiến tạo môi trường lành mạnh trong Đảng và xã hội; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng và phát huy vai trò của nhân dân trong giám sát và phản biện xã hội thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội. 
Khi xây dựng được chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, cần công khai, tuyên truyền, vận động thực hiện, cổ vũ, khích lệ những tấm gương mẫu mực về đạo đức. Chuẩn mực đạo đức đó phải luôn được kiểm điểm, nhắc nhở nhau qua sinh hoạt của tổ chức đảng, của tập thể người lao động. Mỗi đảng viên, nhất là đảng viên là cán bộ lãnh đạo, quản lý cần xây dựng kế hoạch rèn luyện đạo đức cách mạng hằng ngày và tu dưỡng đạo đức cách mạng suốt đời; hình thành phương thức làm chủ bản thân, kiểm soát các ham muốn vật chất và tham vọng quyền lực, nâng cao ý thức cảnh giác, không một phút lơ là trước cám dỗ, cạm bẫy, phòng ngừa nguy cơ rệu rã tâm lý, sống buông thả trước tiền tài, quyền lực, dục vọng.
Làm gương, nêu gương là cách giáo dục đạo đức tốt nhất đối với cán bộ, đảng viên, nhất là việc làm gương của người lãnh đạo, quản lý. Phương châm giáo dục đạo đức là làm gương, nêu gương: “một tấm gương sáng bằng hàng trăm bài diễn văn tuyên truyền”. 
Ba là, đấu tranh tự phê bình và phê bình trong nội bộ về giữ gìn chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.
Chủ tịch Hồ Chí Minh coi tự phê bình và phê bình trong Đảng như việc “rửa mặt hằng ngày”. Người đòi hỏi phải “quét sạch”, phải “tẩy bỏ”, phải “đánh bại giặc nội xâm”, “căn bệnh gốc, bệnh mẹ đẻ ra trăm thứ bệnh con, xấu xa, hư hỏng, lỗi thời” của con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân.”(4). 
Tự phê bình và phê bình là tất yếu khách quan, trở thành quy luật phát triển của Đảng. Tự phê bình, phê bình trong Đảng chủ yếu diễn ra ở chi bộ mà đảng viên sinh hoạt và các cấp ủy đảng mà đảng viên tham gia. Vì vậy phải tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức để nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ. Xây dựng quy định tự phê bình và phê bình, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm và bảo vệ người thẳng thắn, dám đấu tranh cho lẽ phải. Ở những nơi có vấn đề phức tạp, nơi có biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hoặc những nơi có vấn đề về đoàn kết, nhất là khi cán bộ chủ chốt có khuyết điểm, cấp trên cần chủ động gợi ý kiểm điểm và trực tiếp dự, chỉ đạo.
Bốn là, phát huy tính tự giác rèn luyện, tu dưỡng và thực hành đạo đức cách mạng của mỗi cán bộ, đảng viên. 
Với mỗi người, phải rèn đủ cả bốn đức: cần - kiệm - liêm - chính, phải đủ cả bốn đức mới là người hoàn toàn, thiếu một đức thì không thành người. Nếu đào tạo cán bộ là “công việc gốc” của Đảng thì việc giáo dục, rèn luyện cán bộ hằng ngày, phải lấy đức làm gốc. Tài là quan trọng, có đức phải có tài nhưng đức là gốc, là hàng đầu, tài phải được bảo đảm bằng đạo đức và bởi đạo đức.
Trong phương châm hành động, thực hành lối sống và thái độ ứng xử, yêu cầu về đạo đức đó là phải trung thực, khiêm tốn, giản dị, trách nhiệm, có lòng chân thành, có đức bao dung, có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau. Phải nói ít làm nhiều, lời nói đi đôi với việc làm, đã nói thì phải làm, không được làm gì tổn hại tới uy tín, thanh danh của Đảng, tới lợi ích và quyền làm chủ của nhân dân. Phải biết trọng liêm sỉ, danh dự, khí tiết, trong sáng, chính trực, không có gì mờ ám, khuất tất. Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao sự gương mẫu, tính tiên phong “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Người căn dặn cán bộ, đảng viên, nhất là thanh niên tuổi trẻ, phải cần cù và chịu khó, siêng năng và tiết kiệm, chỉ ham muốn phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân, ham học, ham làm, ham tiến bộ; không ham tiền tài, không ham danh vọng, địa vị, quyền chức. Nếu cá nhân cán bộ, đảng viên tự mình không làm chủ được, thì dễ rơi vào hư hỏng, thậm chí vi phạm pháp luật. Cho nên, người có đạo đức gương mẫu là người có đức hy sinh, có lòng vị tha, nhân ái, không vị kỷ, vụ lợi, vượt qua những cám dỗ tầm thường cá nhân chủ nghĩa, tuyệt đối không tham vọng quyền lực.
Đạo đức của Đảng và trong Đảng là đạo đức cách mạng, xa lạ với chủ nghĩa cá nhân và phải suốt đời chống chủ nghĩa cá nhân - “giặc nội xâm” ở trong lòng, chú trọng phát triển mọi khả năng sáng tạo của cá nhân, quan tâm tới lợi ích cá nhân nhưng kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân. Đạo đức cách mạng thể hiện ở cách ứng xử hằng ngày của mỗi người đối với công việc, sinh hoạt hay giao tiếp nên nó gắn bó suốt đời với mỗi cán bộ, đảng viên. Chính vì thế mà mỗi người phải tu dưỡng, tạo dựng, rèn luyện và giữ gìn đạo đức cách mạng suốt đời. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”(5).
Năm là, tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý kỷ luật cán bộ, đảng viên vi phạm đạo đức cách mạng.
Giáo dục nâng cao ý thức chấp hành pháp luật và các quy định của Đảng đối với tổ chức đảng và đảng viên đồng thời phải tăng cường công tác kiểm tra tổ chức đảng, đảng viên thực hiện Cương lĩnh, Điều lệ Đảng và các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và của nhân dân trong phát hiện những đảng viên vi phạm phẩm chất đạo đức, tham nhũng, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân. 
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật. Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân, thì dân mới yêu ta, kính ta”(6).
Tăng cường kiểm tra, giám sát cũng là tăng cường kiểm soát quyền lực trong điều kiện Đảng cầm quyền. Không một cá nhân nào, tổ chức nào của Đảng được phép đặt mình ra ngoài sự kiểm tra, giám sát của Đảng, pháp luật của Nhà nước và của nhân dân. Siết chặt nguyên tắc tập trung dân chủ, thống nhất và bình đẳng trong thực thi Điều lệ Đảng và pháp luật của Nhà nước đối với mọi cán bộ, đảng viên của hệ thống chính trị, không có “vùng cấm”, “hạ cánh an toàn”, không có “đặc quyền” hay ngoại lệ.
Không thể để bất cứ cán bộ, đảng viên nào nằm ngoài sự kiểm tra của tổ chức, sự giám sát của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân, ở bất cứ đâu, trên bất cứ phương diện hoạt động, trên lĩnh vực công tác và địa bàn sinh sống nào... Phát huy dân chủ một cách đúng hướng và thật sự rộng rãi là điều tối cần thiết, nếu không nói là nhân tố quyết định thành công. Xây dựng và thực hiện cơ chế bảo vệ, khuyến khích người dân phản ánh, tố giác và tích cực đấu tranh phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. 
Thiết lập, hoàn thiện định chế xử lý kịp thời cho tất cả công tác kiểm tra, giám sát của các cấp ủy, của bộ máy đảng, của nhân dân đối với mỗi cấp ủy, mỗi tổ chức, mỗi cán bộ, đảng viên. Cùng với việc đổi mới công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức, các cấp ủy, các tổ chức đảng hết sức chú trọng tiếp thu ý kiến góp ý của nhân dân, sự phát hiện của công luận về cán bộ, đảng viên, nhất là đảng viên thuộc quyền quản lý của mình một cách toàn diện, theo hướng chặt chẽ, minh bạch. 
Sáu là, đấu tranh chống nhận thức và hành động phi đạo đức và các quan điểm sai trái, thù địch về đạo đức, lối sống.
Đấu tranh với các quan niệm sai trái, phản động đi ngược lại các giá trị đạo đức cách mạng, như chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa hưởng lạc, chủ nghĩa vị kỷ, chủ nghĩa tự do. Trong điều kiện thông tin nhiều chiều, cần phải hết sức cảnh giác chống lại những luận điệu xuyên tạc của chúng. Hơn nữa, trong điều kiện hội nhập quốc tế, thực hiện chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mặt trái của nền kinh tế thị trường đã làm cho nhiều chuẩn mực đạo đức thay đổi theo chiều hướng tiêu cực.
Như vậy, yêu cầu đấu tranh chống tư tưởng của các thế lực thù địch trong tuyên truyền về lối sống thực dụng, vụ lợi với chủ nghĩa cá nhân - “giặc nội xâm” phá hoại Đảng từ bên trong ngày càng trở nên phức tạp và cấp bách. Do vậy, cần chủ động thông tin trung thực, kiên trì, thường xuyên những chuẩn mực đạo đức tốt đẹp của dân tộc, những chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Đồng thời, trên cơ sở khoa học làm rõ những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, đấu tranh trên lĩnh vực nhận thức về những chuẩn mực đạo đức, lối sống để tạo nên truyền thống đạo đức mới của con người mới xã hội chủ nghĩa.
Cần xây dựng ý thức đạo đức cách mạng và tổ chức thực hành đạo đức cách mạng; chuyển hóa các quan điểm, tư tưởng đạo đức cách mạng thành tình cảm đạo đức cách mạng (về lẽ sống, nghĩa vụ, lương tâm, danh dự...); biến các đòi hỏi của Đảng và xã hội đối với người đảng viên thành nhu cầu nội tâm, hành vi tự giác rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng suốt đời, trong phong cách công tác và lối sống đời thường. Đó cũng là cách miễn dịch tốt nhất trước những luận điệu tuyên truyền của các thế lực thù địch.
Bảy là, phát huy vai trò của nhân dân trong xây dựng Đảng về đạo đức.
Các cấp ủy, chính quyền phải nhận thức sâu sắc, quán triệt và thực hiện nghiêm Quyết định số 217-QĐ/TW về Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội và Quyết định số 218-QĐ/TW, ngày 12-12-2013, của Bộ Chính trị quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Xây dựng các cơ chế bảo đảm và phát huy vai trò của nhân dân trong công tác xây dựng Đảng, nhất là xây dựng đội ngũ đảng viên về phẩm chất đạo đức, lối sống, tinh thần nêu gương và giữ mối liên hệ mật thiết với nhân dân. 
Xây dựng Đảng về đạo đức hiện nay góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(7). /. 
-----------------------------------------------------
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 15, tr. 611 - 612
(2) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, t. 37, tr. 625
(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội 2016, tr. 202
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 672
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 612
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 64 - 65
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 611 - 612
Nguyễn Minh Tuấn
PGS, TS, Viện trưởng Viện Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2018/51513/Ban-them-noi-dung-xay-dung-Dang-ve-dao-duc.aspx


NẮM VỮNG TÍNH QUY LUẬT CỦA SỰ HÌNH THÀNH,
CHỦ ĐỘNG XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG VÀ ĐIỀU KIỆN
 ĐỂ THỰC THI TRONG THỰC TIỄN HỆ GIÁ TRỊ VĂN HÓA,
HỆ GIÁ TRỊ CHUẨN MỰC CON NGƯỜI VIỆT NAM
TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
Tổng kết thực tiễn 30 năm đổi mới toàn diện đất nước, nhận thức lý luận của Đảng ta trong lĩnh vực văn hóa tiếp tục có bước phát triển đột phá khi xác định gắn xây dựng văn hóa với xây dựng con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước với quan điểm phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa. Trong xây dựng văn hóa trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp.
Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9-6-2014, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” xác định mục tiêu chung là xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng tới chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Một trong những mục tiêu cụ thể được Nghị quyết đề ra là hoàn thiện các chuẩn mực giá trị văn hóa và con người Việt Nam, tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, thể chất, tâm hồn, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật, đề cao tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, lương tâm, trách nhiệm của mỗi người với bản thân mình, với gia đình, cộng đồng, xã hội và đất nước.
Để thực hiện mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể trên, vấn đề có ý nghĩa quyết định là nắm vững tính quy luật của sự hình thành và hoàn thiện hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, phát triển bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tính quy luật của sự hình thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội mới là kế thừa, phát huy các giá trị truyền thống, bản sắc dân tộc, kết hợp với tiếp thu chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại. Tính quy luật này là định hướng có tính nguyên tắc cho quy trình xác lập hệ giá trị và chuẩn mực xã hội mới.
Trên cơ sở tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết hội nghị Trung ương 5 khóa VIII “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” và nhận thức sâu sắc quy luật hình thành hệ giá trị chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, trong Nghị quyết số 33-NQ/TW “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, Đảng ta đã xác định những nội dung cốt lõi của hệ giá trị chuẩn mực của con người Việt Nam thời kỳ mới là yêu nước, nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật. Sự khái quát những nội dung cốt lõi của hệ giá trị chuẩn mực con người Việt Nam trên đây vừa phản ánh sự kế thừa các giá trị truyền thống, bản sắc con người Việt Nam, vừa bước đầu có bổ sung, phát triển một số giá trị đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Trên cơ sở những nội dung cốt lõi này cần xác lập hệ giá trị chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ mới, như chuẩn mực giá trị lòng yêu nước hiện nay là có tinh thần tự hào, tự trọng, tự tôn, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí, có khát vọng phát triển đất nước trở thành nước công nghiệp, hiện đại, đoàn kết với nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Nội dung cốt lõi của chuẩn mực lao động trong thời kỳ mới là lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, lao động có kỹ thuật, sáng tạo, có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao; lao động với tinh thần liên kết, hợp tác vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội...
Sau khi cơ bản hình thành hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới, vấn đề có ý nghĩa quyết định là tự giác, chủ động xây dựng môi trường và điều kiện để thực thi trong thực tiễn, hay nói một cách khác để hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị chuẩn mực con người Việt Nam định hướng mục tiêu, phương thức và hành động của mỗi con người, trên cơ sở đó hệ giá trị này tham gia điều tiết sự phát triển của xã hội:
1- Môi trường và điều kiện cơ bản, quan trọng hàng đầu để giáo dục, đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học đó là môi trường giáo dục - đào tạo.
Sau hơn 20 năm thực hiện định hướng chính sách giáo dục và đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII “Về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000”, chúng ta đã đạt được những kết quả rất quan trọng nhưng cũng còn nhiều bất cập, hạn chế, yếu kém cần khắc phục như chất lượng, hiệu quả giáo dục đào tạo còn thấp, nhất là giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp; hệ thống giáo dục đào tạo thiếu liên thông, còn nặng về lý thuyết và nhẹ về thực hành; đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, với sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động, chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc; phương pháp giáo dục, việc thi, kiểm tra, đánh giá kết quả còn lạc hậu, thiếu thực chất, quản lý giáo dục đạo đức còn nhiều yếu kém, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu, một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí vi phạm đạo đức nghề nghiệp; đầu tư cho giáo dục và đào tạo chưa hiệu quả, chính sách, cơ chế, tài chính cho giáo dục đào tạo chưa phù hợp, cơ sở vật chất kỹ thuật còn thiếu và lạc hậu, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Để thực hiện mục tiêu tổng quát về giáo dục - đào tạo, tạo chuyển biến căn bản và mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục đào tạo đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì nhu cầu học tập của nhân dân, giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, tình yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, sống tốt và làm việc hiệu quả, hơn lúc nào hết phải thực sự tự giác, chủ động, tích cực thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04-11-2013, “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”. Phải nắm vững 7 quan điểm chỉ đạo, nhất là quan điểm giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục - đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các ngành học, bậc học. Trong quá trình đổi mới cần kế thừa và phát huy những thành tựu, phát triển những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới; kiên quyết chấn chỉnh những nhận thức và việc làm lệch lạc. Đổi mới phải bảo đảm tính hệ thống, tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp học; các giải pháp phải đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, bước đi phù hợp. Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. Phát triển giáo dục đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học - công nghệ; phù hợp quy luật khách quan; chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng.
Trên cơ sở nắm vững các quan điểm chỉ đạo, cần xây dựng được chương trình hành động thực hiện 9 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, khả thi. Đến nay, Nghị quyết này đã ban hành hơn 4 năm nhưng kết quả thực hiện còn khiêm tốn và bộc lộ không ít bất cập. Tình hình này yêu cầu Đảng cần tiến hành kiểm tra toàn diện việc thực hiện Nghị quyết, tạo các nguồn lực mới cho sự nghiệp đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo. Sau khi Đảng có đường lối, cán bộ là nhân tố quyết định đưa nghị quyết vào cuộc sống. Do đó cần làm rõ trách nhiệm của đội ngũ cán bộ trực tiếp thực hiện 9 nhiệm vụ, giải pháp đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo. Khi 9 nhiệm vụ, giải pháp được thực hiện, môi trường giáo dục và đào tạo mới được hình thành và vận hành thông suốt thì hằng ngày, hàng giờ hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị chuẩn mực con người Việt Nam mới sẽ không ngừng được truyền bá, được bồi dưỡng để thấm sâu vào từng con người, nhất là học sinh, sinh viên. Môi trường học phải thực sự là một trung tâm văn hóa giáo dục - rèn luyện con người về lý tưởng, phẩm chất, nhân cách, lối sống, giáo dục truyền thống văn hóa...
2- Gia đình là tế bào của xã hội, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp chống lại những tác nhân làm tha hóa con người, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do đó trên cơ sở sơ kết 5 năm thực hiện Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030, các cấp, các ngành phải bổ sung chương trình hành động, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ chủ yếu của Chiến lược. 
Công tác gia đình là một nội dung quan trọng trong kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế - xã hội của các cấp, các ngành, các địa phương, các cơ quan, doanh nghiệp, do đó các cấp, các ngành, các địa phương, các cơ quan doanh nghiệp phải gắn chặt thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm với thực hiện các nội dung trong Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam. Trên cơ sở quán triệt, nắm vững mục tiêu xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, các cấp, các ngành, các địa phương, cơ quan đơn vị, doanh nghiệp khi triển khai thực hiện Chiến lược phát triển gia đình cần tập trung làm tốt một số nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, tổ chức giáo dục, tuyên truyền nhằm trang bị kiến thức cơ bản về gia đình cho nam, nữ thanh niên trước khi kết hôn. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần phối hợp chặt chẽ với Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam... để chủ động tổ chức tốt các lớp bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, chống bạo lực gia đình, thực hiện bình đẳng giới.
Thứ hai, tăng cường và tổ chức hiệu quả các hoạt động tuyên truyền và thực hiện Luật Hôn nhân và gia đình, Chính sách Dân số và phát triển, Luật Bình đẳng giới, phong trào xây dựng gia đình văn hóa... nhằm thực hiện đầy đủ các quyền, trách nhiệm của các thành viên trong gia đình, đặc biệt đối với trẻ em, người cao tuổi, phụ nữ có thai, nuôi con nhỏ; trách nhiệm của các gia đình trong việc dành thời gian chăm sóc dạy bảo con cháu, tạo điều kiện cho con cháu phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, đạo đức và tinh thần.
Thứ ba, các ngành phối hợp chặt chẽ với các hội để tổ chức tuyên truyền, bồi dưỡng, nâng cao năng lực của gia đình trong phát triển kinh tế, ứng phó với thiên tai, tạo việc làm, tăng thu nhập và phúc lợi, đặc biệt là đối với các hộ gia đình chính sách, hộ nghèo.
Như vậy, khi các nhiệm vụ của Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 được tích cực triển khai gắn chặt với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, chắc chắn chúng ta sẽ nhận được kết quả tích cực của mối quan hệ biện chứng là mỗi bước tăng trưởng, phát triển bền vững của nền kinh tế - xã hội sẽ gắn liền với sự phát triển gia đình theo hướng ấm no, tiến bộ, hạnh phúc.
3- Xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một nhiệm vụ chiến lược, là khâu đột phá quan trọng, tạo động lực để phát triển nhanh và bền vững, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Nếu cơ chế này được xây dựng, hoàn thiện và hoạt động thông suốt sẽ là môi trường, điều kiện có ý nghĩa quyết định để hình thành, phát triển các phẩm chất tốt đẹp cho mọi người lao động, như tính tích cực, năng động sáng tạo, tính thực tế, tính hiệu quả, tính cạnh tranh lành mạnh, tính chủ động liên kết hợp tác và ý thức thượng tôn pháp luật.
Do đó cần tập trung xây dựng môi trường kinh tế mà trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu đến năm 2020 hoàn thiện một bước đồng bộ hơn thể chế này theo các chuẩn mực phổ biến của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế, trong đó cơ bản phải tiếp tục hoàn thiện thể chế về sở hữu, phát triển các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp. Cơ bản hoàn thiện thể chế phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường (thị trường hàng hóa, dịch vụ, thị trường văn hóa, thị trường tài chính, thị trường khoa học - công nghệ, thị trường bất động sản, thị trường lao động). Cơ bản hoàn thiện thể chế gắn kết tăng trưởng kinh tế với bảo đảm phát triển bền vững, tiến bộ và công bằng xã hội, quốc phòng - an ninh, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. Hoàn thiện cơ chế đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế.
4- Xây dựng môi trường văn hóa trong các cơ quan, đơn vị của hệ thống chính trị phải coi trọng chăm lo xây dựng văn hóa trong Đảng, trong các cơ quan nhà nước và các đoàn thể. Đây là giải pháp quan trọng để xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, là điều kiện cơ bản để bồi dưỡng, giáo dục, huấn luyện xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức, tận tụy hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, có ý thức thượng tôn pháp luật, dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương, tự do cá nhân gắn với trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân.
5- Xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật là xây dựng và phát triển một lĩnh vực rất quan trọng, đặc biệt tinh tế của văn hóa, là nhu cầu thiết yếu thể hiện khát vọng chân - thiện - mỹ của con người, là một trong những động lực to lớn trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam.
Để tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới cần quán triệt sâu sắc 3 quan điểm chỉ đạo để thực hiện đồng bộ các chủ trương, giải pháp trong Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 16-6-2008, của Bộ chính trị “Về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới”, phấn đấu xây dựng văn học, nghệ thuật Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, cần thực sự chăm lo phát triển đội ngũ văn nghệ sĩ có tài năng có tâm huyết gắn bó với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, sáng tạo nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật. Phát triển mạnh mẽ hoạt động lý luận phê bình đồng hành, thẩm định và định hướng cho sáng tạo và tiếp nhận của công chúng. Với nền văn học, nghệ thuật phát triển sẽ là môi trường rất tốt đẹp trực tiếp bồi dưỡng tâm hồn tình cảm xây dựng nhân cách con người Việt Nam đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng về chân thiện mỹ của các tầng lớp nhân dân, phục vụ có hiệu quả sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
Đào Duy Quát 
PGS, TS, nguyên Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương
http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2018/51559/Nam-vung-tinh-quy-luat-cua-su-hinh-thanh-chu-dong-xay.aspx

Chủ Nhật, 15 tháng 7, 2018


VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ “GẮN LÝ LUẬN VỚI THỰC TIỄN, HỌC ĐI ĐÔI VỚI HÀNH” TRONG VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ NGHIÊN CỨU, GIẢNG DẠY LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ HIỆN NAY

Nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập lý luận chính trị hiện nay là yêu cầu cấp bách đã được Đảng ta khẳng định trong Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 9-2-2018 của Ban Bí thư. Để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quan trọng này, cần quán triệt và vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về “Gắn lý luận với thực tiễn, học đi đôi với hành” trong nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị hiện nay.
1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về gắn lý luận với thực tiễn, học đi đôi với hành
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, con người muốn cải tạo được thế giới cần phải có những hiểu biết về nó, nhưng những hiểu biết ấy không có sẵn trong con người. Muốn có hiểu biết (tri thức), con người phải tác động vào thế giới khách quan thông qua hoạt động thực tiễn. Trên cơ sở đó con người tích lũy được những tri thức kinh nghiệm. Tuy nhiên, những tri thức kinh nghiệm đó mới chỉ đem lại sự hiểu biết về từng mặt riêng lẻ, bề ngoài của sự vật. Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Sự quan sát dựa vào kinh nghiệm tự nó không bao giờ có thể chứng minh được đầy đủ tính tất yếu”(1). Do đó, để hiểu được tính tất yếu, bản chất của sự vật, con người phải khái quát những tri thức, kinh nghiệm thành lý luận. Thực tiễn là cơ sở góp phần rèn luyện giác quan của con người, làm cho chúng phát triển tinh tế, hoàn thiện hơn. Trên cơ sở đó giúp con người nhận thức hiệu quả hơn, khái quát lý luận đúng đắn hơn. Thông qua hoạt động thực tiễn, con người cũng cải biến chính bản thân, phát triển năng lực, trí tuệ của mình. Ph.Ăngghen viết: “…chính việc người ta biến đổi tự nhiên chứ không phải một mình giới tự nhiên, với tính cách giới tự nhiên, là cơ sở chủ yếu nhất và trực tiếp nhất của tư duy con người, và trí tuệ con người phát triển song song với việc người ta đã học cải biến tự nhiên”(2).
Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác, Hồ Chí Minh cho rằng: “Lý luận là sự tổng kết kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá tình lịch sử”(3). Lý luận được hình thành trên cơ sở khái quát kinh nghiệm thực tiễn, nhưng không phải cứ có kinh nghiệm thực tiễn là có được lý luận. Vì vậy, lý luận không thể ra đời một cách tự phát và luôn luôn phải được bổ sung, hoàn thiện, phát triển bằng tổng kết kinh nghiệm thực tiễn mới, phong phú.
Để tránh tình trạng lý luận không phản ánh đời sống thực tiễn, thiếu tính  khoa học và cách mạng, Hồ Chí Minh đặc biệt nhắc nhở cán bộ đảng viên tránh tình trạng rất dễ mắc phải là lý luận suông, lý luận thuần túy sách vở, xa rời cuộc sống, không có căn cứ, giáo điều, kinh viện. Người chỉ rõ: “Lý luận mà không có liên hệ thực tiễn là lý luận suông”(4).
Về hoạt động thực tiễn và vai trò của lý luận với thực tiễn, Hồ Chí Minh cho rằng, thực tiễn đúng đắn phải được chỉ đạo, soi đường, dẫn dắt bởi một lý luận khoa học, đúng đắn, nếu không thực tiễn sẽ là thực tiễn mù quáng, mò mẫm, mất phương hướng. Người nhắc nhở: “Thực tiễn không có lý luận dẫn đường thì thành thực tiễn mù quáng”(5).
V.I.Lênin đã chỉ rõ: người ta có thể trở thành người cộng sản khi biết làm giàu trí tuệ của mình bằng cách không ngừng học tập để thâu thái vào đầu óc của mình toàn bộ kho tàng tri thức của nhân loại và hiểu biết đó phải dẫn tới cuộc sống và hành động. Hồ Chí Minh cho rằng, học để hiểu biết, để làm việc, học để phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân, học để làm người. Muốn vậy phải có thói quen đem lý luận liên hệ với thực tiễn, đem những lý luận đã tiếp thu được cùng với những kinh nghiệm đã tích lũy được trong đời sống hàng ngày mà áp dụng vào các công việc thực tế.
Với tinh thần đó, Hồ Chí Minh luôn chú trọng đến tính thực tế, bất cứ việc gì cũng phải xuất phát từ yêu cầu thực tế, phải thiết thực. Muốn đạt được kết quả đó thì việc học phải xuất phát từ yêu cầu của công việc và phải học cặn kẽ, thấu đáo. Người mong muốn việc học -  hành, tức là nhận thức - hành động phải đạt tới chỗ thấy cho hết, nhìn cho thấu. Vì vậy theo Người, học tập ở trong nhà trường, trong sách vở chưa đủ, phải học cả trong cuộc sống, học ở người khác…Nội dung học tập cũng phải toàn diện: chương trình học vấn phổ thông, đại học, chuyên môn nghiệp vụ, học tập lý luận Mác - Lênin, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước… Trong đó, việc học tập lý luận Mác - Lênin, đường lối chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước là nội dung quan trọng.
Đề cập đến học tập chủ nghĩaMác- Lênin,Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Chủ nghĩa Mác-Lênin không phải là những giáo điều, không phải là kinh thánh mà là kim chỉ nam cho hành động. Học tập chủ nghĩa Mác-Lênin không phải là thuộc câu, thuộc chữ mà nắm lấy tinh thần và toàn bộ phương pháp để ứng xử với con người và thực hành trong công tác thực tế. Do đó, trong nhà trường,các hình thức và phương pháp tổ chức hoạt động dạy và học từ truyền thụ tri thức, tự nghiên cứu, thảo luận, xêmina, các hoạt động ngoại khóa, thâm nhập thực tế…không phải để cho người học nhận thức được cái hình thức lôgíc của nó là các khái niệm, phạm trù và cái kết luận lôgíc của nó là các nguyên lý, quy luật…, không phải chỉ giúp cho người học có tri thức mà quan trọng,quyết định hơn là làm sao cho người học nắm được phương pháp luận, giúp người học biết dùng phương pháp một cách sáng tạo để tự mình chiếm lĩnh những tri thức vàcó thể “sản xuất” ra những tri thức mới; biết vận dụng lý luận để giải quyết những vấn đề thực tiễn cuộc sống đặt ra.
Như vậy, học tập tư duy Hồ Chí Minh về phương châm học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn, chúng ta càng thấy được vai trò to lớn của lý luận khoa học, trên cơ sở đó mỗi cán bộ, đảng viênphảikhông ngừng học tập, nâng cao trình độ lý luận,thấm nhuần lời dạy của V.I.Lênin “Học, học nữa, học mãi”. Tuy nhiên, khi học tập lý luận không được tuyệt đối hóa lý luận mà phải liên hệ với thực tiễn đất nước và thời đại; phải thấm nhuần lời dạy của Hồ Chí Minh: “Lý luận rất cần thiết nhưng nếu cách học tập không đúng thì sẽ không có kết quả. Do đó, trong lúc học tập lý luận chúng ta cần nhấn mạnh: lý luận phải liên hệ với thực tiễn”(6).
Đối với người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị, học tập tư duy Hồ Chí Minh về học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn là phải tự xây dựng cho mình phương pháp làm việc khoa học, hiệu quả, trong công tác nghiên cứu cần làm giàu lý luận bằng cách tổng kết thực tiễn và vận dụng lý luận phù hợp để giải quyết được các vấn đề cụ thể của thực tiễn.
2. Thực trạng công tác nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị hiện nay
Trong thời gian qua, công tác giáo dục lý luận chính trị đã đạt được những kết quả quan trọng. Nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về ý nghĩa, vai trò và các giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được nâng lên. Ðội ngũ cán bộ, đảng viên có bước phát triển về nhận thức, trình độ, bản lĩnh chính trị và năng lực tư duy. Công tác học tập, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu, vận dụng và phát triển lý luận đã và đang giải đáp nhiều vấn đề thực tiễn đặt ra. Song nhìn chung, chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chưa cao; tri thức kinh điển chưa được coi trọng đúng mức; một số quan điểm, học thuyết của các nhà kinh điển chậm được nghiên cứu, nhận thức một cách đầy đủ và chậm được bổ sung, phát triển để đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Chưa kịp thời phát hiện, nghiên cứu thấu đáo những vấn đề mới về lý luận và thực tiễn trong nước và thế giới. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ chưa bị đẩy lùi. Ðấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình" chưa sắc bén, hiệu quả chưa cao(7).
Nguyên nhân của những hạn chế trên chủ yếu là do chủ thể tham gia quá trình nghiên cứu, giảng dạy, học tập nhận thức chưa đầy đủ về ý nghĩa, vị trí, tầm quan trọng của việc đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy chưa sâu sát, còn có sự chồng chéo, trùng lặp và chậm đổi mới trong nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy, học tập trong đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên. Căn nguyên của tình trạng trên là do sự bất cập, hạn chế trong việc gắn lý luận với thực tiễn, giữa học tập lý luận chính trị với tổ chức thực hiện trong hoạt động thực tiễn. Trong giảng dạy lý luận chính trị và một số hệ đào tạo, bồi dưỡng, cả người dạy và người học chưa gắn chặt lý luận với thực tiễn, còn giảng lý luận chung chung hoặc lựa chọn, xác định vấn đề thực tiễn để liên hệ, minh chứng và diễn giải lý luận chưa điển hình, chưa thực sự phù hợp với nội dung bài giảng và đối tượng học nên chưa cung cấp được những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực tế cho học viên.
Một bộ phận cán bộ, đảng viên không thường xuyên cập nhật những thông tin, hiểu biết mới; chưa có sự trăn trở và sáng tạo trong quá trình học tập mà chỉ học tập lý luận chính trị một cách thụ động nên chưa hiểu thấu đáo các vấn đề nghiên cứu. Tình trạng lý luận xa rời thực tiễn đang diễn ra khá phổ biến ở không ít cán bộ, đảng viên. Trên thực tế, đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay có người am hiểu lý luận, nhưng ít hiểu biết thực tiễn; số khác có hiểu biết thực tiễn, nhưng yếu về lý luận; hoặc là vừa không am hiểu lý luận, vừa xa rời thực tiễn. Số cán bộ, đảng viên vừa am hiểu lý luận, vừa sâu sát thực tiễn không nhiều. Điều đó dẫn đến một số chủ trương, nghị quyết của Đảng được xây dựng chưa phù hợp với thực tiễn, hoặc phù hợp nhưng triển khai vào thực tế chậm và kém hiệu quả, thậm chí xảy ra những sai phạm nghiêm trọng. Tình trạng này gây những hệ lụy không nhỏ cho Đảng, cho Nhà nước và xã hội, làm ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. 
3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu, giảng dạyvà học tập  lý luận chính trị
Một là, tiếp tục đổi mới phương pháp tiếp cận các vấn đề nghiên cứu, phương thức triển khai thực hiện trong công tác lý luận. Khẳng định mạnh mẽ và cụ thể hóa những giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp với thực tiễn nước ta. Trên nền tảng đó, nghiên cứu, xây dựng và phát triển hệ thống lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH của Việt Nam trong thời kỳ mới; làm rõ những vấn đề cần bổ sung, phát triển; tập trung nghiên cứu để giải quyết tốt các mối quan hệ lớn phản ánh quy luật đổi mới và phát triển ở nước ta đã được Ðại hội XII của Ðảng chỉ ra. Làm rõ một số vấn đề nảy sinh trong thực tiễn đổi mới đất nước, từ đó cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Hai là, phát huy dân chủ trong công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, tôn trọng tính sáng tạo và nâng cao ý thức trách nhiệm của nhà khoa học, tăng cường trao đổi, đối thoại trong nghiên cứu lý luận. Hạn chế tình trạng hành chính hóa, cơ chế xin cho, phân bổ chỉ tiêu trong hoạt đông nghiên cứu khoa học, đặc biệt là khoa học lý luận chính trị. Ðổi mới cơ chế và tăng cường đầu tư cho tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận. Rà soát, bổ sung, sửa đổi chức năng, nhiệm vụ các cơ quan, đơn vị nghiên cứu, giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Trong đó, đặc biệt là phát huy vai trò, vị trí của hệ thống trường Đảng; xây dựng các trường Đảng (trường Chính trị) trở thành trung tâm nghiên cứu khoa học, góp phần bổ sung, phát triển đường lối lý luận chính trị cho Đảng.
Ba là, đổi mới mạnh mẽ về nội dung, phương pháp học tập, nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh theo hướng phù hợp với từng đối tượng, phát huy tính tự giác, tinh thần trách nhiệm, thường xuyên tự học tập, tự nghiên cứu để nâng cao trình độ, bản lĩnh chính trị và phương pháp công tác của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là thế hệ trẻ. Tiếp tục đổi mới nội dung giáo trình theo hướng giảng dạy, truyền thụ đầy đủ những nội dung cơ bản, cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cập nhật những học thuyết đương đại, vận dụng sáng tạo, tăng cường liên hệ thực tiễn. Bảo đảm  cho người học vận dụng tốt lý luận vào hoạt động thực tiễn. Cán bộ, đảng viên sau khi học lý luận chính trị phải là những người cán bộ thấm nhuần lý luận và năng động, sáng tạo trong mọi hoạt động thực tiễn.
Bốn là,  từ việc gắn lý luận với thực tiễn, học đi đôi với hành, trong thực tế hiện nay cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo đấu tranh phản bác có hiệu quả, kịp thời các quan điểm sai trái, thù địch. Ða dạng hóa hình thức đấu tranh bảo vệ nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước. Nâng cao chất lượng thực hiện cơ chế phối hợp và trao đổi thông tin, chủ động nắm bắt âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch, đối tượng cơ hội chính trị; chú trọng xây dựng luận cứ đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc, thù địch. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nhân cách trong sáng, tinh thần cách mạng triệt để tiến hành thành công sự nghiệp cách mạng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
____________________
(1), (2) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t. 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.781, 720.
(3, (4), (5), (6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996,  tr.497, 496, 497, 496.
(7) Xem: ĐCSVN: Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 9-2-2018 của Ban Bí thư về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới.

ThS Nguyễn Văn Điều
                                                        Trường Chính trị Nghệ An



TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ ĐỒNG CHÍ CAY XỎN PHÔM VI HẢN VỀ VAI TRÒ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN Ở CÁC NƯỚC THUỘC ĐỊA (THAM CHIẾU QUA CÁCH MẠNG VIỆT NAM VÀ LÀO)

     
Sự thống nhất về tư tưởng của lãnh tụ Hồ Chí Minh và đồng chí Cay xỏn Phôm vi hản về vai trò của Đảng Cộng sản ở các nước thuộc địa như Việt Nam và Lào, chính là cội nguồn cho sự đoàn kết giữa hai Đảng, hai dân tộc trên con đường thực hiện mục tiêu Độc lập-Tự do-Hạnh phúc cho dân tộc và nhân dân hai nước. Cội nguồn tư tưởng đó cần phải được giữ gìn và phát triển trong hiện tại và tương lai trong quan hệ hai nước.   
Nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh và Cayxỏn Phômvihản về vai trò của Đảng Cộng sản ở các nước thuộc địa trên cơ sở tham chiếu với lịch sử Việt Nam và Lào, chúng tôi xuất phát từ hai góc độ sau đây:
1. Từ lịch sử của hai Đảng
Nghiên cứu “Tư tưởng Hồ Chí Minh và Cayxỏn Phômvihản về vai trò của Đảng Cộng sản ở các nước thuộc địa Việt Nam và Lào”, chúng tôi thấy cần thiết phải bắt đầu từ việc đặt tư tưởng Hồ Chí Minh và Cay xỏn Phômvihản vào trong tiến trình lịch sử với mối quan hệ đặc biệt của sự hình thành, phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào.   
Đặt vấn đề như vậy vì đặc điểm nổi bật của tiến trình lịch sử hình thành và phát triển của hai Đảng. Đó là tiến trình lịch sử Hồ Chí Minh tiến hành thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu năm 1930, sau đó, theo yêu cầu của Quốc tế Cộng sản, tháng 10-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương. Từ đây, phong trào cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương. Cho đến năm 1951, Đại hội II của Đảng Cộng sản Đông Dương đã quyết định tổ chức ở mỗi nước một Đảng đại diện cho giai cấp vô sản và dân tộc để lãnh đạo cách mạng cho phù hợp với hoàn cảnh thế giới và điều kiện lịch sử của mỗi nước.
Tiến trình trên chính là một nguồn cội lịch sử hàng đầu để chung đúc và tạo nên những quan điểm chung về vai trò của Đảng Cộng sản ở Việt Nam và Lào của hai lãnh tụ - Hồ Chí Minh và Cayxỏn Phômvihản- trong xây dựng Đảng Cộng sản ở mỗi nước để lãnh đạo công cuộc giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới vì sự nghiệp giải phóng toàn diện con người ở mỗi nước. Cội nguồn đó được minh chứng qua các hoạt động rất nỗ lực của Hồ Chí Minh trong những năm 1928 và 1929, khi Người từ Thái Lan sang Lào để phát triển cơ sở cách mạng và sau khi Người về nước (1941) đã từng bước xây dựng đội ngũ những người cộng sản ở Lào để những người cộng sản Lào trong đội ngũ Đảng Cộng sản Đông Dương thành công trong lãnh đạo Cách mạng năm 1945. Và sau đó, năm 1951, với tư cách là lãnh tụ của Đảng Cộng sản Đông Dương, thông qua Đại hội II của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại chủ trương tổ chức ở mỗi nước một Đảng Cộng sản và đồng chí Cayxỏn Phômvihản đã xác nhận những quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của Đảng Cộng sản trong giải phóng dân tộc ở mỗi nước và đã thành công trong việc tổ chức đội ngũ tiên phong của giai cấp công nhân và dân tộc mang tên Đảng Nhân dân cách mạng Lào.             
Tiến trình lịch sử trên cho thấy, nguồn cội sâu xa của tư tưởng về vai trò của Đảng Cộng sản trong lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc của hai lãnh tụ trong thời đại mới cũng như sự ra đời của hai Đảng, dù có tên gọi và sự hiện diện trong lãnh đạo cách mạng của mỗi Đảng ở từng nước ở những thời điểm lịch sử có khác nhau nhưng đều có một xuất phát điểm. Điểm xuất phát đó chính là tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của Đảng Cộng sản trong cách mạng giải phóng các dân tộc thuộc địa được phát hiện từ những năm 20 của thế kỷ XX và sau này được kế tục, phát triển bởi đồng chí Cayxỏn Phômvihản, với tư cách là đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương (1949), trong việc thành lập và trở thành người đứng đầu Đảng Nhân dân Cách mạng Lào vào năm 1955.
2. Từ tư tưởng Hồ Chí Minh đến tư tưởng Cayxỏn Phômvihản.
Có hai sự kiện lịch sử liên quan đến những quan điểm đầu tiên của Hồ Chí Minh về vai trò của Đảng Cộng sản trong công cuộc giải phóng dân tộc: Một là, đó là nhận thức được tính chất của thời đại mới sau Cách mạng Tháng Mười Nga, Hồ Chí Minh đã đứng trong hàng ngũ của những người cộng sản vào năm 1920 để thực hiện mục đích giành độc lập dân tộc và tự do cho con người Việt Nam; Hai là, chính trên cơ sở nhìn nhận được xu hướng phát triển của nhân loại trong thời đại mới, đặt cách mạng giải phóng dân tộc trong quỹ đạo của cách mạng vô sản, Người đã xác định cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa muốn thắng lợi triệt để phải đi theo con đường cách mạng vô sản.
Việc Hồ Chí Minh trở thành người cộng sản và sự định hướng của Người cho cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa theo con đường cách mạng vô sản có ý nghĩa cực kỳ sâu sắc: giải phóng dân tộc, giành được độc lập mới chỉ là bước thứ nhất của nhiệm vụ giải phóng con người và nó mới chỉ là giải phóng về chính trị nhằm thoát khỏi ách đô hộ, áp bức của chủ nghĩa đế quốc, thực dân; phải tiến tới giải phóng triệt để cho con người trên phương diện xã hội bằng bước tiếp theo là xây dựng xã hội mới tạo ra các điều kiện để thực hiện sự giải phóng toàn diện cho con người bằng xây dựng xã hội mới - xã hội XHCN.   
Với ý nghĩa to lớn đó, những sự kiện cơ bản trên chính là tiền đề về tư tưởng để Hồ Chí Minh xác định cách mạng giải phóng ở Việt Nam muốn thắng lợi triệt để với mục tiêu giải phóng hoàn toàn đối với con người, phải đi theo con đường cách mạng vô sản. Theo đó, mối quan hệ biện chứng mà Hồ Chí Minh chỉ ra là: công cuộc giải phóng dân tộc trong thời đại mới phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đồng thời cũng xác định những nét khái quát, nhưng đặc trưng nhất về vai trò của Đảng Cộng sản trong nhiệm vụ giải phóng con người ở các nước thuộc địa.    
Chính vì vậy, sau khi tìm được con đường giải phóng dân tộc và xác định rõ vai trò của Đảng Cộng sản, thì những nỗ lực hàng đầu trong hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh là tiến hành cuộc vận động xây dựng Đảng Cộng sản ở các nước thuộc địa nói chung và đặc biệt là cho cách mạng Việt Nam nói riêng. Trong quá trình hoạt động đó, cũng như trong tiến trình xây dựng, phát triển Đảng sau khi thành lập, Người luôn nhấn mạnh tới sự cần thiết phải có Đảng Cộng sản để lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới, giải phóng toàn diện con người ở các nước thuộc địa.
Có thể thấy, những quan điểm đó của Hồ Chí Minh trong các bài giảng của Người tại các lớp chính trị đào tạo những chiến sĩ cách mạng đầu tiên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, từ năm 1925 đến năm 1927, mà sau đó được in thành sách Đường Cách mệnh (xuất bản năm 1927), xuất phát từ tình hình thực tế của nhân dân Việt Nam, Người đã bước đầu chỉ ra vai trò cụ thể của Đảng:
Một là, trước tình hình “tư bản và đế quốc chủ nghĩa nó lấy tôn giáo và văn hóa làm cho dân ngu, lấy phép luật buộc dân lại, lấy sức mạnh làm cho dân sợ, lấy phú quý làm cho dân tham. Nó làm cho dân nghe đến hai chữ cách mệnh thì sợ rùng mình”, nên vai trò hàng đầu của Đảng cách mệnh là “phải làm cho dân giác ngộ”(1).
Hai là, các cuộc bạo động của nhân dân ta Trung Kỳ kháng thuế, Hà thành đầu độc, Nam Kỳ phá khám; không có chủ nghĩa, không có kế hoạch, đến nỗi thất bại, nên phải có Đảng để “giảng giải lý luận và chủ nghĩa cho dân hiểu”(2).
Ba là, “Dân vì không hiểu tình thế trong thế giới, không biết so sánh, không có mưu chước, chớ nên làm thì lại làm, khi nên làm lại không làm”. Vì vậy, phải Đảng “phải bày sách lược cho dân”(3).
Bốn là, “Dân thường chia rẽ phái này bọn kia, như dân ta người Nam thì nghi người Trung, người Trung thì  khinh người Bắc, nên sức yếu đi, như đũa mỗi chiếc mỗi nơi”.
Vậy nên sức cách mệnh phải tập trung, muốn tập trung phải có đảng cách mệnh”(4).
Hồ Chí Minh chỉ rõ vai trò trọng yếu của Đảng là:
1) “trong thì vận động và tổ chức dân chúng”
2) “ngoài thì liên lạc với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản mọi nơi”(5).
Điều đặc biệt là, Hồ Chí Minh xác định vai trò của Đảng như “người cầm lái”, người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy”(6)
Trong“Sách lược vắn tắt của Đảng”do Hồ Chí Minh soạn thảo và được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930, Người xác định vai trò “Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp” nên trong công cuộc vận động cách mạng giải phóng dân tộc, Đảng phải(7): (1) Thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng; (2) Phải làm cho các đoàn thể thợ thuyền và dân cày (công hội, hợp tác xã) khỏi quyền lực và ảnh hưởng của bọn tư bản quốc gia; (3) Phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản tri thức, trung nông, thanh niên Tân việt...để  kéo họ đi vào phe giai cấp vô sản; (4) Trong khi liên lạc với các giai cấp... phải đồng tuyên truyền và thực hành liên lạc với bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp.
Năm 1953, trong sách Chính trị thường thức, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Có Đảng lãnh đạo, cách mạng và kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công. Vì sao?”. Người đã giải thích: “Kinh nghiệm thế giới và trong nước chứng tỏ rằng: những cuộc đấu tranh tự phát của nhân dân, thường không có mục đích rõ ràng, kế hoạch đầy đủ, tổ chức chắc chắn. Vì vậy mà lực lượng  rời rạc, nơi này lên thì nơi khác xẹp. Kết quả là thất bại. Muốn thắng lợi, thì cách mạng phải có đảng lãnh đạo”(8). Do vậy, vai trò của Đảng được Người chỉ ra một cách tổng quát là:
 “Đảng phải làm cho quần chúng giác ngộ vì đâu mà họ bị áp bức bóc lột; phải dạy cho quần chúng  hiểu các quy luật phát triển của xã hội, để họ nhận rõ  vì mục đích gì mà đấu tranh; chỉ rõ con đường  giải phóng cho quần chúng, cổ động cho quần chúng kiên quyết cách mạng; làm cho quần chúng  tin chắc cách mạng nhất định thắng  lợi.
Trên một khía cạnh khác, Người giải thích rõ rằng: 
1)“Cách mạng là cuộc đấu tranh rất phức tạp. Muốn khỏi đi lạc phương hướng, quần chúng phải có Đảng lãnh đạo để nhận rõ tình hình, đường  lối và định phương châm cho đúng.
2) Cách mạng là cuộc đấu tranh rất gian khổ. Lực lượng kẻ địch rất mạnh. Muốn thắng lợi thì quần chúng  phảitổ chức rất chặt chẽ; chí khí phải kiên quyết. Vì vậy, phải có Đảng để tổ chức và giáo dục nhân dân thành  một đội quân thật mạnh, để đánh đổ kẻ địch, giành lấy chính quyền”(9).
Người còn xác định, “Cách mạng thắng lợi rồi, quần chúng vẫn cần có đảng lãnh đạo, vì:
- Dù nhân dân đã nắm chính quyền, nhưng giai cấp đấu tranh trong nước và mưu mô của đế quốc xâm lược vẫn còn.
- Vì phải xây dựng kinh tế, quốc phòng, văn hóa, xã hội cho nên Đảng vẫn phải tổ chức, lãnh đạo và giáo dục quần chúng, để đưa nhân dân lao động đến thắng lợi hoàn toàn”(10).
Như thế, cùng với việc xác định vai trò lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng Cộng sản trong thời đại mới, của “người cầm lái” con thuyền cách mạng ở thuộc địa, trên ý nghĩa với tính chất “là tổ chức cao nhất của giai cấp cần lao và đại diện cho lợi ích của dân tộc”(11), Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ những vai trò cụ thể của Đảng trong hai nội dung chủ yếu: xây dựng đường lối chiến lược, sách lược, phương pháp cách mạng; trong tổ chức và giáo dục nhân dân; trong liên hệ với cách mạng thế giới.  
Tất cả những quan điểm của Hồ Chí Minh trên đây về vai trò lãnh đạo và những vai trò cụ thể của Đảng Cộng sản ở các nước thuộc địa được đồng chí Cayxỏn Phômvihản kế tục, phát triển trong thực tiễn cách mạng Lào. Sự kế tục, phát triển đó được thực hiện một cách sáng tạo mà đồng chí Cayxỏn Phômvihản luôn coi tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là “ngọn đuốc soi đường”, để “dẫn đường, chỉ lối”(12) mà còn là những “chỉ dẫn” của Người cho cách mạng Lào, như cách nói rất kính trọng của đồng chí Cay xỏn Phômvihản đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thực hiện chỉ dẫn của đồng chí (Hồ Chí Minh), trước tình hình hết sức gay go, Đảng bộ Đảng Cộng sản Đông Dương ở Lào đã ra sức vận động cách mạng, đưa lại kết quả là lãnh đạo nhân dân Lào đứng lên làm cách mạng Tháng Tám, cướp chính quyền thắng lợi, tiếp đó trong cuộc đấu tranh cứu nước của Lào, đồng chí Hồ Chí Minh đã luôn luôn giúp đỡ nhiệt tình”(13).
Đồng chí Cayxỏn Phômvihản khẳng định: “Khi cuộc kháng chiến của nhân dân ba nước Đông Dương lớn mạnh, cách mạng ba nước đã trưởng thành, Chủ tịch Hồ Chí Minh với tầm nhìn xa trông rộng, tư tưởng chỉ đạo sáng suốt đã đề nghị Đại hội II của Đảng Cộng sản Đông Dương (tháng 2-1951) quyết định thành lập từng Đảng ở mỗi nước. Quyết định lịch sử hết sức  đúng đắn đó đã phát huy cao độ tinh thần độc lập tự chủ và ý thức trách nhiệm của những người  cách mạng ở mỗi nước đối với vận mệnh của dân tộc mình và thúc đẩy cuộc đấu tranh cứu nước của 3 nước Đông Dương phát triển vượt bậc”(14).
Đồng chí khẳng định: “Bác Hồ luôn giáo dục chúng tôi phải nắm vững sự nghiệp cách mạng Lào là của nhân dân Lào, phải đi vào dân, đi xuống cơ sở, bám chắc lấy dân, lấy việc giáo dục tổ chức nhân dân làm cách mạng là mục tiêu phấn đấu để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng; chăm lo đoàn kết nhân dân các bộ tộc Lào”; nhắc nhở nhân dân ba nước Việt Nam - Lào -Campuchia phải đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau và sự “chỉ bảo chúng tôi nắm vững chiến lược, có sách lược đấu tranh sáng tạo”(15)...        
Trong Điếu văn tại lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Cayxỏn Phômvihản đặc biệt nhấn mạnh tới tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của Đảng Cộng sản đối với cách mạng Lào. Đồng chí viết: “Thực hiện lời chỉ dẫn của đồng chí (Hồ Chí Minh), trước tình hình hết sức gay go, Đảng bộ Đảng Cộng sản Đông Dương  ở Lào đã ra sức vận dộng cách mạng, đưa lại kết quả là lãnh đạo nhân dân lào đứng lên làm cách mạng Tháng Tám”(16) và “Cuối năm 1950, căn cứ vào sự lớn mạnh của cách mạng Lào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ dẫn cho chúng ta là phải tổ chức một Đảng Mác-Lênin chân chính  của Lào để lãnh đạo cách mạng lào. Đảng phải có sự đoàn kết thống nhất về tư tưởng và hành động  phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc vô điều kiện, tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ, làm việc tập thể, có kỷ luật  sắt và tự giác. Đảng phải có đội ngũ cán bộ có phẩm chất đạo đức cách mạng và có đầy đủ khả năng, cán bộ phải là đầy tớ của dân. Thực hiện  nguyên tắc trên đây chúng ta đã thành lập Đảng Nhân dân cách mạng Lào đạt được thắng lợi ngày càng to lớn, đội ngũ cán bộ của Đảng ta ngày càng phát triển  và được tôi luyện trong lò lửa đấu tranh ác liệt. Chúng ta sẽ ra sức phát triển củng cố Đảng và đội ngũ của Đảng ngày càng vững mạnh, nhất là ra sức bảo vệ và tăng cường đoàn kết nội bộ thật chặt chẽ hơn nữa để Đảng ta đủ khả năng làm tròn sứ mệnh lịch sử mà Tổ quốc và giai cấp đã giao phó”(17).
Cần phải thấy rõ sự sáng tạo của tư tưởng Cayxỏn Phômvihản trong việc xác định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, cũng như những vai trò cụ thể trong nhiệm vụ lãnh đạo của Đảng ở một nước chậm phát triển như ở Lào mà sự hình thành và phát triển của giai cấp công nhân ở đây chậm hơn các nước thuộc địa khác cũng như ở Việt Nam. Sự sáng tạo đó thể hiện trong tiến trình thành lập Đảng Nhân dân Cách mạng Lào. Trên cơ sở đội ngũ những người cộng sản trong Đảng bộ Đảng Cộng sản Đông Dương Lào, đồng chí Cayxỏn Phômvihản đã bắt đầu lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang yêu nước (1948) và tiến hành vận động xây dựng mặt trận đoàn kết dân tộc ở Lào (1950). Từ đó, trên cơ sở lực lượng chính trị của khối đại đoàn kết nhân dân các bộ tộc Lào, với việc lựa chọn những chiến sĩ tiên phong của giai cấp vô sản và nhân dân các bộ tộc Lào, đồng chí Cay xỏn Phôm vi hản lãnh đạo tiến tới tổ chức thành Đảng Nhân dân cách mạng Lào (1955). Đó là sự phát triển sáng tạo của đồng chí Cay xỏn Phôm vi hản đối với việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của Đảng trong tiến trình thành lập Đảng Cộng sản ở Lào.
_________________
(1), (2), (3), (4), (5), (6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.288, 288, 288 -289, 289, 289.
(7) Xem Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.3
(8), (9), (10), (11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 273-274, 273, 274, 275.
(12), (14), (15) Phát biểu của đồng chí Cayxỏn Phômvihản tại lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. In trong sách: Đảng Nhân dân Cách mạng Lào- Đảng Cộng sản Việt Nam: Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam 1930-2007 (Hồi ký), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012, tập II, tr. 3, 4, 4- 5.
(13) Điếu văn của đồng chí Cayxỏn Phômvihản trong buổi lẽ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh (Sầm Nưa, ngày 5-9-1969). In trong sách:Đảng Nhân dân Cách mạng Lào- Đảng Cộng sản Việt Nam: Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam 1930-2007 (Hồi ký), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012, tập II, tr. 7 .
(16), (17) Điếu văn của đồng chí Cay xỏn Phôm vi hản trong buổi lẽ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh (Sầm Nưa, ngày 5-9-1969). In trong sách:Đảng Nhân dân Cách mạng Lào- Đảng Cộng sản Việt Nam: Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam 1930-2007 (Hồi ký), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012, tập II, tr.9, 11.

        PGS, TS Phạm Hồng Chương
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh



TÔN GIÁO LÀ ĐỨC TIN CỦA NGƯỜI LÀNH
 HAY LÀ CÔNG CỤ CỦA KẺ ÁC?
Khi những hậu quả nặng nề từ cuộc biểu tình bạo loạn vừa diễn ra ở Bình Thuận vẫn còn chưa khắc phục xong, người dân cả nước vẫn còn bàng hoàng trước hình ảnh những người “biểu tình ôn hòa” cầm gậy gộc, gạch đá, bom xăng ném vào lực lượng chức năng, đốt phá trụ sở UBND, sở PCCC, tấn công bộ chỉ huy biên phòng…
Thì sáng ngày hôm nay tại Hà Tĩnh và Nghệ An, hàng loạt giáo xứ – dưới sự chỉ đạo của những linh mục như Nguyễn Đình Thục – quản xứ Song Ngọc, xã Quỳnh Ngọc, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An và các linh mục thuộc 14 giáo xứ trong giáo hạt Văn Hạnh đóng trên địa bàn xã Thạch Trung, thành phố Hà Tĩnh đã tổ chức biểu tình để phản đối luật đặc khu và luật an ninh mạng. Hàng nghìn giáo dân, già có, trẻ có, trẻ em cũng có, dưới sự chỉ đạo các linh mục đã tuần hành khắp đường ngang ngõ dọc trong địa bàn giáo phận để phản đối những dự luật mà tôi chắc chắn rằng gần như chưa một ai từng đọc qua một dòng nào.
Qua vụ việc ở Bình Thuận, an ninh đã được thắt chặt trên toàn quốc, có lẽ bởi vậy mà linh mục Nguyễn Đình Thục đã không dám chỉ đạo giáo dân ra chặn đường quốc lộ 1A như thường thấy. Tuy nhiên việc các linh mục huy động hàng nghìn người tuần hành chật cứng các con đường mà không hề thấy bóng dáng của lực lượng chức năng cho thấy dường như những giáo phận này là một tiểu vương quốc bất khả xâm phạm – nơi những linh mục hành xử như một ông vua, luật pháp không có tác dụng và người của chính quyền có thể bị bắt giữ làm con tin bất cứ lúc nào.
Tuy nhiên cần khẳng định rằng, tất cả các hoạt động trên đây của tín đồ công giáo đều do một số chức sắc suy thoái tư tưởng, đạo đức, đội lốt “đức cha” để lừa bịp, dụ dỗ, ép buộc, kích động giáo dân thực hiện những hành vi sai trái gây rối trật tự an ninh, an toàn xã hội, vi phạm pháp luật, ảnh hưởng tới cuộc sống và sự bình yên của người dân xung quanh. Dường như các linh mục cực đoan đang cố tình chia rẽ lương – giáo, phá bỏ sự đoàn kết giữa tín đồ với chính quyền sở tại.
Những hành đông ngông cuồng của giáo dân Song Ngọc dưới sự chỉ đạo của linh mục Nguyễn Đình Thục đã khiến nhân dân xã Quỳnh Ngọc vô cùng bức xúc, đến mức lương dân phải tuyên bố nếu giáo dân còn tiếp tục làm loạn thì lương dân sẽ không buôn bán với giáo dân nữa.
Còn tại giáo xứ Trung Nghĩa, huyện Lộc Hà tỉnh Hà Tĩnh. Linh mục quản xứ Nguyễn Công Bình cùng Hội đồng mục vụ nhiều lần tổ chức cho giáo dân lên trụ sở UBND xã gây rối dưới danh nghĩa “đòi tiền bồi thường từ Formosa” nhưng rồi khi bà con giáo dân nhận được tiền bồi thường thì vị linh mục này ngang nhiên rao giảng trong nhà thờ về dự định xây dựng các hạng mục mới như: nhà đa chức năng, nhà thờ, khuôn viên, khán đài… và ép buộc bà con giáo dân phải nộp lại 1/3 số tiền bồi thường mà họ nhận được. Không dừng lại ở đó, vị chủ chăn này còn thẳng thừng nói với tất cả mọi người: “Ai cãi lời cha, không chịu nộp lại sẽ không được hưởng các quyền lợi, đặc ân từ các công trình của Chúa, cha cũng sẽ không dâng lễ, ban phúc cho các hộ dân này…”.
Những linh mục này thường xuyên tổ chức thánh lễ cầu nguyện “Hoà bình và công lý” nhưng lại kích động giáo dân đi biểu tình, đập phá, bao vây trụ sở chính quyền, cầu nguyện cho những kẻ vi phạm pháp luật. Vậy hoà bình ở đâu? Công lý ở đâu?
Thử hỏi những con người người được tôn vinh là cha tinh thần liệu có xứng đáng với điều đó hay không.
Nhân danh đức Chúa nhưng thực tế những vị chủ chăn ở các giáo xứ trên đây đã lợi dụng thánh lễ, lợi dung đức tin để tuyên truyền lừa bịp, kích động bà con giáo dân chống đối chính quyền.
Chúa chẳng bao giờ răn dạy các con chiên của mình làm điều ác. Đức Jesus luôn thừa nhận vai trò của chính quyền và răn dạy những người con của Chúa phải phân biệt rạch ròi giữa chính trị và tôn giáo. Tập 27, chương X trong Giáo luật “Cách riêng về Giáo hội” ghi: “Không biến mình thành một lực lượng chính trị vì như thế là sai với bản chất và sứ mạng của Giáo hội”. Đáng tiếc là một số linh mục, giáo dân vì lợi ích riêng mà làm trái lời Chúa dạy. Họ hy vọng rằng qua những cuộc biểu tình như thế này, “tiếng vang” mà họ tạo ra qua mạng xã hội và truyền thông nước ngoài sẽ đến tai các tổ chức nhân quyền, tôn giáo quốc tế. Và từ đó phương Tây sẽ có cớ can thiệp, tác động vào Việt Nam. Dường như đối với họ “Tổ quốc” là một khái niệm không hề tồn tại.
Hình ảnh từ cuộc biểu tình vừa diễn ra ở Bình Thuận cho thấy giữa “ôn hòa” và “bạo động” chỉ cách nhau một tích tắc. Trong bối cảnh an ninh phức tạp như hiện nay, chỉ trong một ngày hôm qua, lực lượng chức năng đã bắt giữ hàng chục đối tượng mặc quân phục cải trang làm công an, thu giữ nhiều vũ khí gây sát thương như súng tự chế, dao găm, lưỡi lê; mục đích của những đối tượng này là trà trộn vào đám đông, tấn công những người biểu tình để vu vạ cho lực lượng chức năng – một kịch bản tương tư như cuộc biểu tình Maidan đã phá nát đất nước Ukraina xinh đẹp năm 2014.
Vì vậy bà con giáo dân cần hết sức cảnh giác trước nhưng lời kích động biểu tình. Bởi bản chất đằng sau các hoạt động xuống đường tuần hành, biểu tình thực chất đều xuất phát từ ý đồ của giám mục, linh mục cực đoan câu kết với bọn phản động lưu vong cùng ngoại bang. Họ muốn tập hợp, phô trương lực lượng, càng đông càng tốt, như là bước chuẩn bị, tập dượt cho “cách mạng dân chủ” “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố” . Tham gia tuần hành, biểu tình dưới bất kỳ hình thức nào, trước là bước vào nguy hiểm khi có thể bị các đối tượng phản động sát hại để châm ngòi cho bạo động, sau là phải đối mặt với sự trừng phạt của pháp luật, tình huống xấu hơn nữa là gây ra bạo loạn trên khắp cả nước như người dân Ukraina đã làm với đất nước mình năm 2014.
TYLLVTNDVN
http://ngheanthoibao.com/ton-giao-la-duc-tin-cua-nguoi-lanh-hay-la-cong-cu-cua-ke-ac/


THÔNG TIN VỀ VIỆC LOA TRUYỀN THANH TẠI NHA TRANG
“CHỈ PHÁT TIẾNG TRUNG QUỐC” LÀ BỊA ĐẶT
NHẰM KÍCH ĐỘNG THÙ ĐỊCH

Trong hai ngày qua, một số trang mạng xã hội đã đăng tải, chia sẻ một video clip về hệ thống loa truyền thanh tại các công viên bờ biển thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa phát tiếng Trung Quốc, kèm theo những bình luận bịa đặt, xuyên tạc.
Thông tấn xã Việt Nam khẳng định nội dung video clip nói trên hoàn toàn không chính xác và người thực hiện có mục đích xấu.
Ngày 27/6, ông Đinh Văn Cường, Trưởng Phòng Văn hóa và Thông tin thành phố Nha Trang, đơn vị chủ quản hệ thống loa nói trên cho biết đơn vị này đã hợp đồng với Đài Phát thanh và Truyền hình Khánh Hòa thu âm tuyên truyền nội quy công viên bờ biển Nha Trang bằng 4 thứ tiếng Việt, Anh, Nga và Trung Quốc, hàng ngày lần lượt phát trên hệ thống loa truyền thanh không dây tại công viên bờ biển dọc tuyến đường Trần Phú, nhằm hướng dẫn du khách tuân thủ các quy định của địa phương về bảo vệ môi trường, cảnh quan, thông báo tình hình an ninh trật tự, diễn biến thời tiết biển… khi đến du lịch tại đây.
Việc này được triển khai từ tháng 5, nhằm ngày càng phục vụ tốt hơn nhu cầu của du khách xa gần.
Tuy nhiên, gần đây có một số đối tượng chỉ quay video clip đoạn phát thanh bằng tiếng Trung Quốc, phát tán trên các trang mạng xã hội, nhằm kích động người dân và du khách hiểu sai về về ý nghĩa và nội dung tuyên truyền.
Trên trang fanpage “Nha Trang ngày mới” nơi kết nối chính thức của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Khánh Hòa với cộng đồng mạng, chiều 27/6 đã phát đi thông tin nhấn mạnh: “Một số người sử dụng video clip đã bị cắt xén chỉ còn nội dung thông tin bằng tiếng Trung Quốc để cho rằng loa truyền thanh của Nha Trang chỉ phát tiếng Trung Quốc là không đúng sự thật, làm ảnh hưởng đến hoạt động du lịch của thành phố Nha Trang và của tỉnh Khánh Hòa nói chung.”
Trong những năm gần đây, tỉnh Khánh Hòa nói chung và thành phố Nha Trang nói riêng đã trở thành điểm đến lý tưởng cho du khách trong nước và quốc tế nhờ phong cảnh biển, đảo tuyệt đẹp; khí hậu trong lành, mát mẻ quanh năm; thức ăn ngon, giá cả phù hợp và môi trường du lịch thân thiện, văn minh.
Theo thống kê của Sở Du lịch Khánh Hòa, chỉ tính 6 tháng đầu năm 2018, địa phương này đã đón hơn 3 triệu lượt du khách đến lưu trú, tăng hơn 18% so với cùng kỳ năm 2017.
Trong đó số du khách quốc tế đạt gần 1,4 triệu lượt và phần lớn ở Nha Trang.
Nhóm du khách quốc tế đến Khánh Hòa nhiều nhất gồm Trung Quốc với ước tính gần 900 nghìn lượt, Nga hơn 235 nghìn lượt, Hàn Quốc gần 30 nghìn lượt; các nước tiếp theo là Australia, Mỹ, Malaysia lần lượt có từ 13-24 nghìn lượt du khách mỗi nước./.
TTXVN
http://ngheanthoibao.com/thong-tin-ve-viec-loa-truyen-thanh-tai-nha-trang-phat-tieng-trung-quoc-la-bia-dat-nham-kich-dong-thu-dich/


Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân hội đàm với Thủ tướng Vương Quốc Thụy Điển

Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Thụy Điển Ulf Kristersson, từ ngày 10 đến 13-11, Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân thăm chính thức Vươ...